Tài liệu Thực hiện chính sách hợp tác quốc tế về giáo dục đại học từ thực tiễn hợp tác việt nam hàn quốc

  • Số trang: 101 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 400 |
  • Lượt tải: 0
dangvantuan

Tham gia: 02/08/2015

Mô tả:

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI LÊ THỊ THU HUYỀN THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH HỢP TÁC QUỐC TẾ VỀ GIÁO DỤC ĐẠI HỌC TỪ THỰC TIỄN HỢP TÁC VIỆT NAM - HÀN QUỐC LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG HÀ NỘI, 2019 VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI LÊ THỊ THU HUYỀN THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH HỢP TÁC QUỐC TẾ VỀ GIÁO DỤC ĐẠI HỌC TỪ THỰC TIỄN HỢP TÁC VIỆT NAM - HÀN QUỐC Chuyên ngành: Chính sách công Mã số: 8 34 04 02 NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS BÙI NHẬT QUANG HÀ NỘI, 2019 LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan số liệu, kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa sử dụng để bảo vệ bất cứ luận văn của một học vị nào. Tôi xin cam đoan mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc. Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về lời cam đoan trên. Hà Nội, ngày tháng 12 năm 2018 Tác giả Lê Thị Thu Huyền MỤC LỤC MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1 Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH HỢP TÁC QUỐC TẾ VỀ GIÁO DỤC ĐẠI HỌC ........................................................... 9 1.1. Các khái niệm cơ bản ................................................................................. 9 1.2. Nội dung thực hiện chính sách hợp tác quốc tế về giáo dục đại học ....... 18 1.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến thực hiện chính sách hợp tác quốc tế về giáo dục đại học ...................................................................................................... 22 Chương 2. THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH HỢP TÁC QUỐC TẾ VỀ GIÁO DỤC ĐẠI HỌC GIỮA VIỆT NAM VÀ HÀN QUỐC ............................................................................................................. 27 2.1. Thực trạng hợp tác giáo dục đại học giữa Việt Nam và Hàn Quốc ......... 27 2.2. Thực trạng thực hiện chính sách hợp tác giáo dục đại học giữa Việt Nam và Hàn Quốc .................................................................................................... 40 2.3. Đánh giá chung về thực trạng ................................................................. 53 Chương 3. ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH HỢP TÁC QUỐC TẾ VỀ GIÁO DỤC ĐẠI HỌC GIỮA VIỆT NAM VÀ HÀN QUỐC ........................................................... 59 3.1. Định hướng hợp tác quốc tế về giáo dục đại học giữa Việt Nam và Hàn Quốc ................................................................................................................ 59 3.2. Giải pháp tăng cường thực hiện chính sách hợp tác quốc tế về giáo dục đại học giữa Việt Nam và Hàn Quốc .............................................................. 67 KẾT LUẬN .................................................................................................... 77 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO PHỤ LỤC DANH MỤC TỪ VIẾT TĂT CTĐT GDĐH HNQT Chương trình đào tạo Giáo dục đại học Hội nhập quốc tế DANH MỤC BẢNG, BIỂU BẢNG Bảng 2.1. Kết quả khảo sát về thực trạng xây dựng và ban hành các văn bản liên quan đến chính sách hợp tác quốc tế trong giáo dục đại học giữa Việt Nam và Hàn Quốc (ĐVT: %) ........................................................... 92 Bảng 2.2. Kết quả khảo sát về hoạt động phân công, tổ chức ................. 94 thực hiện chính sách hợp tác quốc tế trong giáo dục đại học .................. 94 giữa Việt Nam và Hàn Quốc .................................................................... 94 Bảng 2.3. Kết quả khảo sát về thực hiện công tác duy trì ........................ 94 và điều chỉnh chính sách hợp tác quốc tế trong giáo dục đại học ............ 94 giữa Việt Nam và Hàn Quốc .................................................................... 94 Bảng 2.4. Kết quả khảo sát về công tác kiểm tra, đánh giá thực hiện chính sách hợp tác quốc tế trong giáo dục đại học giữa Việt Nam.................... 95 và Hàn Quốc ............................................................................................. 95 BIỂU Biểu 2.1. Phân bổ số lượng các trường đại học, học viện theo vùng năm 2017 .......................................................................................................... 90 Biểu 2.2. Phân bổ các trường đại học, học viện theo khối ngành năm 2017 .................................................................................................................. 91 Biểu 2.3. Trình độ giảng viên các trường đại học, học viện năm 2017 ... 91 Biểu 2.4. Phân tầng hệ thống giáo dục Hàn Quốc ................................... 92 Biểu 2.5. Số lượng du học sinh Việt Nam tại Hàn Quốc từ 2015 đến 2018 .................................................................................................................. 92 Biểu 2.6. Kết quả khảo sát về công tác lập kế hoạch thực hiện chính sách hợp tác quốc tế trong giáo dục đại học giữa Việt Nam và Hàn Quốc. .... 93 Biểu 2.7. Kết quả khảo sát về công tác tuyên truyền, phố biến chính sách hợp tác quốc tế trong giáo dục đại học giữa Việt Nam và Hàn Quốc ..... 93 MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Hiện nay, quá trình HNQT đang diễn ra mạnh mẽ, CTĐT liên kết quốc tế ở các trường đại học ngày càng “nở rộ”. Trong đó, nhiều CTĐT được thực hiện rất nghiêm túc nhưng cũng có những CTĐT chỉ vì lợi nhuận mà quên đi chất lượng đào tạo. Do vậy, bên cạnh việc khuyến khích các trường đại học trong nước đẩy mạnh hợp tác quốc tế trong đào tạo và nghiên cứu khoa học, ngành Giáo dục và Đào tạo cần kiểm soát những chương trình liên kết đào tạo này. Hiện có hơn 480 CTĐT liên kết với những CSGDĐH nước ngoài đã và đang thực hiện tại các CSGDĐH ở Việt Nam. Những chương đào tạo liên kết này đã tạo điều kiện cho các CSGDĐH trong nước tiếp cận công nghệ giáo dục tiên tiến ở các nước trên thế giới [7, tr.115]. Thông qua quá trình hợp tác, các trường có thể học hỏi để xây dựng chương trình giảng dạy đạt chuẩn quốc tế; đồng thời tạo ra nhiều cơ hội học tập cho người học. Để triển khai hiệu quả chính sách hợp tác quốc tế trong giáo dục thông qua các hiệp định , thỏa thuận với nước ngoài về hợp tác giáo dục , công nhận văn bằng, tín chỉ với các nước trong khu vực và một số quốc gia trên thế giới; thí điểm một số mô hình giáo dục của một số nước có nền giáo dục tiên tiến; liên kết đào tạo với nước ngoài, Chính phủ đã đề xuất và được Quốc hội thông qua việc bổ sung dịch vụ tư vấn du học vào danh mục ngành nghề kinh doanh có điều kiện. Ban hành Nghị định 86/2018/NĐ-CP ngày 06/6/2018 quy định về hợp tác, đầu tư của nước ngoài trong lĩnh vực giáo dục thay thế Nghị định số 73/2012/NĐ-CP ngày 26/9/2012 của Chính phủ quy định về hợp tác, đầu tư của nước ngoài trong lĩnh vực giáo dục và Nghị định 124/2014/NĐ-CP ngày 29/12/2014 của Chính phủ sửa đổi khoản 6 Điều 31 Nghị định số 73/2012/NĐ-CP [11]. 1 Một số địa phương và CSGDĐH đã ký kết bản ghi nhớ hợp tác giữa trường đại học, cao đẳng với các trường đại học, cao đẳng của Nhật Bản, Hàn Quốc và một số nước trong khu vực ASEAN, tăng cường trao đổi giảng viên, chuyên gia, sinh viên quốc tế; phối hợp với các doanh nghiệp nước ngoài trong việc đào tạo nghề cho học sinh Việt Nam (Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh, Bà Rịa Vũng Tàu, Bắc Ninh…, Đại học Quốc gia Hà Nội, Đaaij học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh, Trường Đại 7học Ngoại Thương, Trường Đại học Cần Thơ, Đại học Thái Nguyên…) [7]. Nhiều chương trình giáo dục, đào tạo giảng dạy trong các cơ sở giáo dục công lập và ngoài công lập trong nước đã được cơ sở giáo dục, đào tạo của nước ngoài, kể cả các nước phát triển thừa nhận và liên thông. Học sinh, sinh viên và đội ngũ nhà giáo có cơ hội tiếp cận nhiều hơn với sách báo và tài liệu nước ngoài hoặc giao lưu trực tiếp với người nước ngoài để tìm hiểu, học hỏi tiếp thu văn hóa tri thức nhân loại, đồng thời chuyển tải văn hóa Việt Nam đến các dân tộc và quốc gia trên thế giới. Bên cạnh những thành tựu to lớn trong thực hiện chính sách hợp tác quốc tế về giáo dục trong đó có hợp tác quốc tế về giáo dục và Đại học đã đạt được, vẫn còn những bất cập trong việc thực hiện chính sách hợp tác quốc tế về giáo dục với nước ngoài như quyền chủ động của CSGDĐH Việt Nam trong việc tìm kiếm đối tác, thủ tục hành chính trong việc xin phép đào tạo liên kết với nước ngoài còn nhiều rườm rà, gây phiền hà cho cả đối tác Việt Nam và nước ngoài. Với lý do trên, với tư cách là học viên ngành chính sách công và đang công tác tại một CSGDĐH có liên kết đào tạo với đối tác Hàn Quốc, em chọn đề tài: “Thực hiện chính sách hợp tác quốc tế về giáo dục đại học từ thực 2 tiễn hợp tác Việt Nam - Hàn Quốc”, làm đề tài bài luận văn Thạc sĩ chuyên ngành chính sách công tại Học viện khoa học xã hội Việt Nam. 2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài Chính sách phát triển giáo dục đã được Đảng và Nhà nước quan tâm ngay từ khi mới giành được độc lập. trong lời kêu gọi cả Chủ tịch Hồ Chí Minh sau ngày thành lập nước (02/09/1945) đã chỉ rõ cho chúng ta phải diệt giặc đói, diệt giặc dốt và diệt giặc ngoại xâm. Từ đó đến nay, trong công cuộc phát triển đất nước giáo dục luôn được coi trọng như là một quốc sách hàng đầu để phát triển đất nước. những năm gần đây, với những thay đổi và sự phát triển của khoa học trên thế giới, ngay sau Đại hội Đảng lần thứ 11 (năm 2011), và nhất là từ khi có Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04/11/2013 của Hội nghị lần thứ 8 ban chấp hành trung ương Đảng (khóa XI) về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng XHCN và HNQT, giáo dục đã được quan tâm đúng mức. Nhiều chính sách phát triển giáo dục đã được ban hành. Trong bối cảnh quốc tế thay đổi và HNQT ngày càng sâu rộng, trong chính sách phát triển giáo dục, chính sách về hợp tác quốc tế trong giáo dục và đào tạo, đặc biệt hơn là hợp tác quốc tế về GDĐH đã được đề cập đến với ý nghĩa hết sức quan trọng là đào tạo nguồn nhân lực theo hướng tiếp cận với các nước tiên tiến trên thế giới. thực hiện chính sách hợp tác quốc tế về GDĐH đã và đang đạt được những thành tựu tốt đẹp. về lĩnh vực này đã có những công trình nghiêm cứu dưới nhiều góc độ khác nhau được thể hiện bằng các đề tài khoa học; bài báo; bài đăng trên tạp chí…có thể khái quát một số công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài: Tác giả Trần Văn Nhung, “chính sách hợp tác quốc tế trong giáo dục và đào tạo ở Việt Nam trong thế kỷ 20”, Sách chuyên khảo của Bộ giáo dục 3 và đào tạo (2005). Trong cuốn sách trên, tác giả đã điểm lại quá trình hợp tác quốc tế trong giáo dục ở Việt Nam trong khoảng thời gian 50 năm; đề cập những quan điểm và nội dung cơ bản của chính sách hợp tác quốc tế về giáo dục của Việt Nam; tình hình thực hiện chính sách hợp tác quốc tế trong giáo dục và đào tạo trong những năm đã qua. Tác giả đánh giá những thành tựu trong sự hợp tác quốc tế về giáo dục và đào tạo; đồng thời rút ra bài học kinh nghiệm cho giai đoạn tiếp theo. Trong cuốn sách đó, tác giả cũng đã nêu những định hướng trong hoạch định chính sách hợp tác quốc tế về giáo dục trong bối cảnh HNQT ngày càng sâu rộng hiện nay. Tác giả Nguyễn Chí Cường trong bài báo: “Những thành tựu trong hợp tác quốc tế về giáo dục sau đổi mới và những vấn đề đặt ra trong chính sách hợp tác quốc tế về giáo dục trong bối cảnh HNQT hiện nay”,Tạp chí giáo dục (2015) đã đề cập những kết quả trong việc thực hiện chính sách hợp tác trong giáo dục với nước ngoài trong những năm gần đây. Tác giả cũng nêu rõ những vướng mắc trong thực hiện chính sách hợp tác quốc tế về giáo dục hiện nay và cần phải có sự đổi mới trong tư duy để thực hiện đưa giáo dục Việt Nam đến với HNQT ngày càng mạnh mẽ hơn nữa. Tác giả Nguyễn Khắc Bình trong bài báo: “Đổi mới đào tạo trình độ thạc sỹ, tiến sĩ ở Việt Nam trong bối cảnh HNQT”, hội thảo quốc tế về giáo dục (2015) đã đề cập đến những yếu tố ảnh hưởng đến thực thi chính sách giáo dục ở Việt Nam đều có yếu tố hợp tác quốc tế. tác giả đã đề cập đến những bất lợi trong việc thực hiện chính sách hợp tác quốc tế trong đào tạo sau Đại học ở Việt Nam và nêu lên những định hướng trong việc xây dựng chính sách hợp tác quốc tế trong giáo dục và đào tạo ở Việt Nam trong những năm đầu của thế kỷ 21. 4 Tác giả Đậu Sỹ Thái (1999), Nâng cao hiệu quả hoạt động hợp tác quốc tế của Trung tâm Khoa học Tự nhiên và Công nghệ Quốc gia, Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường. Tác giả mô tả hiện trạng và sự phát triển của Viện Khoa học Việt Nam (Trung tâm Khoa học Tự nhiên và Công nghệ Quốc gia) và mối quan hệ biện chứng giữa hợp tác quốc tế và nghiên cứu khoa học công nghệ ở Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam, qua đó nêu bật tầm quan trọng của công tác đào tạo nhân lực Khoa học và công nghê ở đây thông qua hợp tác quốc tế. Tuy nhiên, vấn đề thực hiện chính sách hợp tác quốc tế về GDĐH với Hàn quốc chưa có đề tài nào đi sâu nghiên cứu, hy vọng những nghiên cứu sau này về đề tài sẽ góp phần phát triển giáo dục và đào tạo của Việt Nam tiếp cận với các nước tiên tiến trên thế giới. 3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 3.1. Mục đích nghiên cứu Trên cơ sở làm rõ những vấn đề lý luận về thực hiện chính sách hợp tác quốc tế về GDĐH, đánh giá thực trạng hợp tác quốc tế về GDĐH với Hàn quốc trong thời gian qua, đề xuất các giải pháp tăng cường thực hiện chính sách hợp tác quốc tế về GDĐH với Hàn quốc. 3.2. Nhiệm vụ nghiêm cứu - Xác lập cơ sở lý luận thực hiện chính sách hợp tác quốc tế về GDĐH; - Khảo sát và đánh giá thực trạng thực hiện chính sách hợp tác quốc tế về GDĐH với Hàn Quốc; - Đề xuất một số giải pháp tăng cường thực hiện chính sách hợp tác quốc tế về GDĐH với Hàn Quốc trong những năm tới. 4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5 4.1. Đối tượng nghiên cứu Thực hiện chính sách chính sách hợp tác quốc tế về GDĐH 4.2. Phạm vi nghiên cứu Về nội dung: Đề tài nghiên cứu thực hiện chính sách hợp tác quốc tế về GDĐH giữa Việt Nam và Hàn Quốc dưới góc độ khoa học về Chính sách công và chủ thể thực hiện chính sách là cơ quan quản lý nhà nước trong hợp tác quốc tế về GDĐH là Cục hợp tác quốc tế, Bộ Giáo dục và Đào tạo. Về không gian: nghiên cứu về thực hiện chính sách hợp tác quốc tế về GDĐH với Hàn Quốc Về thời gian: Đề tài phân tích các dữ liệu từ năm 2014 đến năm 2018 5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 5.1. Cơ sở lý luận Trong quá trình nghiên cứu luận văn đã sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng, tư tưởng Hồ Chí Minh và các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về thực hiện chính sách hợp tác quốc tế về GDĐH.Luận văn được xây dựng theo phương pháp luận biện chứng duy vật tức là xem xét các chính sách hợp tác quốc tế về GDĐH liên quan tại một thời điểm lịch sử cụ thể của nó, cũng như các mối liên hệ và phát triển theo logic biện chứng của các chính sách về hợp tác quốc tế về GDĐH. Các chính sách này cũng thay đổi và phát triển trong sự tương tác trong hệ thống cũng như theo sự vận động nội tại.Luận văn vận dụng phương pháp nghiên cứu chính sách công kết hợp với nghiên cứu lý thuyết và nghiên cứu thực tế với cách tiếp cận liên ngành, đa ngành liên quan đến chính sách hợp tác quốc tế về GDĐH. 6 5.2. Phương pháp nghiên cứu Phương pháp thu thập thông tin thứ cấp: được sử dụng để thu thập, phân tích và khai thác thông tin từ các nguồn có sẵn liên quan đến đề tài nghiên cứu, bao gồm chủ trương của Đảng, hệ thống các văn bản quản lý của Nhà nước về hợp tác quốc tế về GDĐH; các công trình nghiên cứu, các báo cáo, tài liệu thống kê của Việt Nam và các tổ chức về hợp tác quốc tế về GDĐH giữa Việt Nam và Hàn Quốc. Phương pháp thu thập thông tin sơ cấp: Đề tài thu thập các dữ liệu sơ cấp thông qua khảo sát bằng bảng hỏi, hướng tới các đối tượng là cán bộ quản lý giáo dục, các cán bộ tại vụ hợp tác quốc tế về giáo dục, các nhà khoa học, các nhà chính sách và sinh viên… bằng cách phòng vấn trực tiếp và gửi email. Mẫu khảo sát tại Phụ lục của luận văn. Đề tài phát tra 100 phiếu khảo sát, thu về 92 phiếu trong đó có 02 phiếu không hợp lệ và đề tài luận văn phân tích, tổng hợp dữ liệu từ 90 phiếu hợp lệ. Phương pháp phân tích và tổng hợp: trong nghiên cứu của luận văn được sử dụng để phân tích thực trạng và đánh giá kết quả thực hiện chính sách hợp tác quốc tế về GDĐH giữa Việt Nam và Hàn Quốc. Đồng thời, phương pháp này được áp dụng trong tổng hợp các quan điểm của các tác giả, các tổ chức về chính sách hợp tác quốc tế về GDĐH từ đó đưa ra những quan điểm của riêng tác giả. Phương pháp thống kê: được sử dụng để tập hợp hành các chuỗi số liệu phản ánh thực trạng thực hiện chính sách hợp tác quốc tế về GDĐH giữa Việt Nam - Hàn Quốc, các dữ liệu này phục vụ cho việc phân tích, đánh giá kết quả thực hiện chính sách hợp tác quốc tế về GDĐH giữa Việt Nam và Hàn Quốc. Phương pháp phân tích và đánh giá chính sách: trong nghiên cứu của luận văn được sử dụng để phân tích và đánh giá việc thực hiện chính sách hợp 7 tác quốc tế về GDĐH giữa Việt Nam và Hàn Quốc. Đây là một trong những phương pháp đặc trưng trong nghiên cứu khoa học nói chung và về chuyên ngành chính sách công nói riêng. 6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn Ý nghĩa lý luận: Luận văn sẽ làm sâu sắc thêm những vấn đề lý luận về chính sách và thực hiện chính sách hợp tác quốc tế trong giáo dục và đào tạo ở nước ta trong bối cảnh HNQT ngày càng sâu rộng. Ý nghĩa thực tiễn: Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể dùng làm tài liệu nghiên cứu, tham khải và vận dụng các lý luận chính sách công, thực hiện chính sách công trong lĩnh vực hợp tác quốc tế về giáo dục cho các cơ quan hoạch định chính sách về hợp tác quốc tế trong giáo dục và các nhà quản lý ở các cơ sở đào tạo tham khảo. 7. Kết cấu của luận văn Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn được chia làm 3 chương: Chương 1: Cơ sở lý luận về thực hiện chính sách hợp tác quốc tế về giáp dục đại học Chương 2: Thực trạng thực hiện chính sách hợp tác quốc tế về giáp dục đại học giữa Việt Nam và Hàn Quốc Chương 3: Định hướng và giải pháp tăng cường thực hiện chính sách hợp tác quốc tế về giáp dục đại học giữa Việt Nam và Hàn Quốc 8 Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH HỢP TÁC QUỐC TẾ VỀ GIÁO DỤC ĐẠI HỌC 1.1. Các khái niệm cơ bản 1.1.1. Khái niệm chính sách hợp tác quốc tế về giáo dục đại học 1.1.1.1. Chính sách công Theo tác giả Lê Chi Mai của Học viện Hành chính quốc gia có một số đúc kết quan trọng về nội hàm của chính sách công. Đó là: + Nhà nước chính là chủ thể ban hành chính sách công. + Chính sách công là những quyết định hành động, thể hiện dự định của nhà hoạch định chính sách về một vấn đề nào đó và những hành vi thực hiện các dự định đó. + Mục đích của chính sách công là giải quyết một vấn đề đang đặt ra trong đời sống kinh tế - xã hội theo những mục tiêu xác định [31, tr.21-22]. Kế thừa những tư duy, ý tưởng và đúc kết cac kết quả, thành tựu của các nhà nghiên cứu đi trước, tác giả Đỗ Phú Hải của Học viện Khoa học xã hội đã đưa ra một khái niệm về chính sách công như sau: “Chính sách công là một tập hợp các quyết định chính trị có tính gắn kết của Nhà nước nhằm lựa chọn mục tiêu và giải pháp thực hiện giải quyết các vấn đề của xã hội theo mục tiêu tổng thể đã xác định” [23,tr.67-70]. Từ những phân tích trên, có thể thấy chính sách công có những đặc trưng cơ bản như sau: Thứ nhất, chủ thể ban hành chính sách công là Nhà nước. 9 Thứ hai, các quyết định này là những quyết định hành động, có nghĩa là chúng bao gồm cả những hành vi thực tiễn. Thứ ba, chính sách công tập trung giải quyết một vấn đề đang đặt ra trong đời sống KT - XH theo những mục tiêu xác định. Thứ tư, chính sách công gồm nhiều quyết định có liên quan lẫn nhau. chính sách hợp tác quốc tế về giáo dụcđại học trong luận văn này thuộc phạm vi chính sách công được hiểu với các đặc trưng cơ bản trên. 1.1.1.2. Giáo dục đại học Việc phát triển những ngành công nghệ bản địa cũng như năng lực trong lĩnh vực nông nghiệp, an toàn thực phẩm và các ngành công nghiệp khác của chúng ta [53] chính là nhờ có một hạ tầng GDĐH đẳng cấp quốc tế. GDĐH còn tạo ra các cơ hội cho học tập suốt đời, cho phép con người cập nhật các kiến thức và kỹ năng thường xuyên theo nhu cầu của xã hội. Ở Việt Nam hiện nay, mặc dù chưa có định nghĩa chính thức về GDĐH, nhưng trong nghiên cứu của luận văn có thể hiểu GDĐH là hình thức tổ chức giáo dục cho các bậc học sau giai đoạn bậc phổ thông với các trình độ đào tạo: gồm trình độ cao đẳng, trình độ đại học, trình độ thạc sĩ và trình độ tiến sĩ. Trên thực tế, dễ nhận thấy rằng, chất lượng đào tạo của các trường đại học ảnh hưởng trực tiếp tới sự tăng trưởng kinh tế và các chính sách xã hội. Và, đương nhiên, các trường đại học cũng luôn chịu sự tác động mạnh mẽ của môi trường kinh tế - xã hội và các thành tựu khoa học – công nghệ của nhân loại. Trong nhiều thập kỷ qua, hệ thống giáo dục nước ta đang chứa đựng nhiều yếu tố bất cập, chất lượng GDĐH còn thấp, chưa đáp ứng được kỳ vọng 10 “giáo dục là quốc sách hàng đầu”. Vẫn biết “nhân tài là nguyên khí quốc gia”, nhưng những điều kiện vật chất nghèo nàn, cơ chế quản lý lạc hậu, đội ngũ giảng viên vừa thiếu, vừa yếu… không tương ứng với tốc độ phát triển của quy mô đào tạo chính là những nguyên nhân căn bản dẫn tới sự yếu kém của GDĐH. Chính vì vậy, việc hợp tác quốc tế trong lĩnh vực GDĐH là một hướng đi cần thiết để giải quyết những bất cập trên, qua đó thúc đẩy hệ thống GDĐH của nước ta phát triển. 1.1.1.3. Hợp tác quốc tế hợp tác quốc tế là “một hệ thống những mối quan hệ quốc gia vốn được hình thành, xác định và dựa trên cơ sở chính trị dối ngoại của từng quốc gia, nhưng lại mang trong mình những quy luật hoạt động và phát triển riêng có của chúng”. Hợp tác bao gồm hợp tác song phương (một nước với một nước khác); Hợp tác đa phương (một nước với nhiều nước khác trong một hiệp định ký kết); Hợp tác của một nước với một tổ chức quốc tế như các tổ chức của Liện hiệp quốc, (UN), UNESCO… Cụm từ “hợp tác với nước ngoài” trong luận văn này bao gồm cả hợp tác với các nước và hợp tác với các tổ chức quốc tế. Theo Từ điển Tiếng Việt của Viện ngôn ngữ học xuất bản năm 2010, hợp tác là “cùng chung sức giúp đỡ lẫn nhau trong một công việc, một lĩnh vực nào đó, nhằm một mục đích chung”, còn quốc tế là “các nước trên thế giới trong quan hệ với nhau” [49]. Như vậy, có thể hiểu hợp tác quốc tế là hành vi các chủ thể quan hệ quốc tế đáp ứng lợi ích hay nguyện vọng của nhau, không chống đối nhau. Đặc điểm cơ bản của hợp tác quốc tế là có 2 chủ thể tham gia trở lên và có sự tham gia của yếu tố quốc tế. 11 hợp tác quốc tế về giáo dục - đào tạo là một loại hình hoạt động bao gồm các hình thức phối hợp giữa các nước để cùng nhau tiến hành giảng dạy, đào tạo, nghiên cứu, trao đổi các kết quả nghiên cứu, thông tin khoa học để có thể áp dụng vào thực tiễn hoạt động của nhà trường. Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn tập trung nghiên cứu hoạt động hợp tác quốc tế về GDĐH với vai trò là một bộ phận của hợp tác quốc tế về giáo dụcvà hoạt động này sẽ do cơ quan quản lý nhà nước về GDĐH quản lý (Đề tài không tập trung nghiên cứu các trường hợp cụ thể về hợp tác quốc tế về đào tạo và nghiên cứu khoa học của các trường đại học, học viện cụ thể.Hoạt động hợp tác này còn diễn ra trong các trường đại học với nhau như là hoạt động chủ thể thuộc một trường đại học hợp tác với chủ thể thuộc quốc gia khác nhằm mục đích đáp ứng nguyện vọng của nhau). 1.1.1.4. Chính sách hợp tác quốc tế về giáo dục đại học Giáo dục là một lĩnh vực rộng lớn trong hệ thống kinh tế - xã hội của phần lớn các nước trên thế giới. Số lượng người học, người dạy rất đông (ở nước ta số người học ở mọi loại hình giáo dục chiếm hơn ¼ dân số). Nếu tính những người liên quan đến giáo dục như gia đình, cộng đồng thì giáo dục thực sự liên quan đến mọi người trong xã hội. Các chính sách giáo dục tác động lớnđến toàn bộ xã hội. Vì vậy những quyết định về chính sách giáo dục phải được chuẩn bị cẩn thận, dựa trên việc nắm vững những đặc điểm của chính sách trong giáo dục. Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế, việc tham gia ký kết các hiệp định của WTO và GATS đồng nghĩa với việc chấp nhận một thị trường giáo dục mở cho đầu tư nước ngoài là một bước thay đổi quan trọng về nhận thức và tư duy của các nhà làm chính sách trong việc từng bước chấp nhận những khuôn khổ quản lý mới cho khu vực dịch vụ công nói 12 chungvà cho GDĐH nói riêng. Trong bối cảnh đó các quốc gia đang phải đối mặt với vấn đề là tiếp tục duy trì chính sách quản lý theo kiểu truyền thống hay là áp dụng chính sách quản lý mới (kiểu doanh nghiệp), tức là có sự thay đổi về bản chất - chuyển từ cơ chế hành chính sang cơ chế doanh nghiệp để thị trường có thêm cơ hội điều tiết nhằm tăng năng xuất, chất lượng và hiệu quả. Các nhà nghiên cứu đã chỉ ra bốn mô hình quản lý trường đại học dựa trên tính chất “chặt chẽ” hay “lỏng lẻo” trong việc xác định chính sách và giám sát thực hiện. Kiểu quản lý truyền thống là kiểu mà cả hai khâu xác định chính sách và giám sát thực hiện đều lỏng lẻo. Kiểu quản lý hành chính thì xác định chính sách lỏng lẻo nhưng giám sát thực hiện thì chặt chẽ. Kiểu quản lý nghiệp chủ thì xác định chính sách chặt chẽ nhưng giám sát thì lỏng lẻo. Kiểu quản lý công ty là kiểu mà cả hai khâu xác định chính sách và giám sát thực hiện đều chặt chẽ. Nếu làm tốt các chính sách sẽ thucs đẩy quá trình hợp tác quốc tế về GDĐH và hoạt động này sẽ có nhưng vai trò không nhỏ trong phát triển GDĐH như: Thứ nhất, hoạt động hợp tác quốc tế có vai trò quan trọng trong việc định hướng sự phát triển của GDĐH theo hướng hiện đại, tiếp cận nền GDĐH tiên tiến trong khu vực và trên thế giới. Thông qua hoạt động, các chương trình hợp tác quốc tế với các nền giáo dục tiên tiến, hiện đại, các trường đại học trong nước có thể rút ra các kinh nghiệm quý giá trong việc đổi mới tư duy, phương thức quản lý giáo dục, lựa chọn phương hướng, cải tiến hệ thống và quy trình đào tạo, kết hợp nghiên cứu khoa học với giảng dạy, đồng thời biết tận dụng thời cơ và lợi thế để từng bước kéo gần khoảng cách giữa giáo dục trong nước và thế giới. Ngoài ra, hoạt động này tạo điều kiện cho các trường đại học phát triển bền vững, cung cấp nguồn nhân lực chất lượng cao, phục vụ cho việc phát triển đất nước. 13 Thứ hai, hợp tác quốc tế giúp các trường đại học thiết lập được nhiều hình thức hợp tác đa dạng, phong phú với các chương trình, dự án hợp tác đào tạo, hợp tác nghiên cứu khoa học, hợp tác song phương và đa phương... Thứ ba, việc hợp tác quốc tế mang lại nhiều lợi ích thiết thực đối với sự phát triển của các trường đại học nói riêng và nền GDĐH của các quốc gia nói chung. Đối với sinh viên và giảng viên, hợp tác quốc tế của các trường đại học mang lại cơ hội to lớn trong việc tiếp cận nhanh chóng với nguồn tri thức quốc tế khổng lồ. Đối với các trường đại học, hoạt động hợp tác quốc tế thúc đẩy các tổ chức này cải tiến cơ sở vật chất và nâng cao chất lượng đào tạo để có thể thu hút được các đối tác cũng như tìm được vị thế trên thị trường quốc tế. Ngoài ra, khi hợp tác với nhau hệ thống GDĐH các nước còn có cơ hội giao lưu, học tập kinh nghiệm quản lý và trao đổi kiến thức chuyên môn trong giảng dạy đại học. Nhờ quá trình này, các bên đều có cơ hội nâng cao năng lực quản lý cũng như trình độ chuyên môn của đội ngũ giảng viên. Một lợi ích thiết thực khác đó là hợp tác về GDĐH cũng góp phần không nhỏ trong việc tăng cường mối quan hệ ngoại giao giữa các quốc gia với nhau. Ngoài ra, hợp tác quốc tế còn đóng vai trò tích cực trong việc xây dựng định hướng và đổi mới giáo dục, nghiên cứu khoa học và triển khai ứng dụng để phục vụ sự nghiệp đổi mới và công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Như vậy, có thể khẳng định hợp tác quốc tế về GDĐH là hoạt động tất yếu trong quá trình tồn tại và phát triển của GDĐH hiện đại. Nắm bắt và tận dụng hiệu quả hoạt động này, các trường đại học có thể có cơ hội tốt để cọ xát, học hỏi, cạnh tranh và có động lực ngày càng phát triển theo hướng tiến bộ hơn. 14
- Xem thêm -