Tài liệu Thực hiện chính sách hỗ trợ thanh niên lập nghiệp trên địa bàn quận thanh xuân, thành phố hà nội.

  • Số trang: 60 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 259 |
  • Lượt tải: 0
dangvantuan

Tham gia: 02/08/2015

Mô tả:

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI HỒ ANH TUẤN THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ THANH NIÊN LẬP NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN THANH XUÂN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI Ngành: Chính sách công Mã số: 834 04 02 LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. HOÀNG XUÂN TRUNG Hà Nội, 2018 MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Giải quyết việc làm và hỗ trợ lập nghiệp là một trong những yêu cầu cấp thiết không thể thiếu trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia. Tạo việc làm và lập nghiệp cho người lao động luôn gắn liền với ổn định kinh tế - xã hội, xóa đói giảm nghèo, an sinh xã hội và tạo đà cho phát triển kinh tế đất nước. Quá trình phát triển kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, chủ động hội nhập kinh tế thế giới đã và đang mở ra nhiều cơ hội mới, song cũng đặt ra nhiều thách thức nhất là vấn đề việc làm và lập nghiệp cho người lao động nói chung và thanh niên nói riêng. Việt Nam với hơn 90 triệu dân, nếu giải quyết tốt vấn đề việc làm và hỗ trợ lập nghiệp cho thanh niên sẽ là tiền đề quan trọng để sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực, góp phần thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước bởi thanh niên là nguồn lực mạnh mẽ thúc đẩy sự phát triển xã hội hiện tại và là người chủ của đất nước trong tương lai. Trải qua hơn ba mươi năm đổi mới, những biến đổi của tình hình trong nước và quốc tế có tác động mạnh mẽ đến thanh niên cả nước và mỗi địa phương. Thanh niên đang có những thay đổi về cơ cấu xã hội, địa vị kinh tế, tư tưởng chính trị, tâm lý, lối sống... những thay đổi này diễn ra mạnh mẽ, bên cạnh những yếu tố tích cực là những hạn chế tiêu cực. Do đó, vấn đề tạo việc làm và hỗ trợ lập nghiệp, sử dụng hợp lý nguồn nhân lực là một trong những vấn đề được Đảng, Nhà nước và các địa phương đặc biệt quan tâm. Đối với Quận Thanh Xuân thì hỗ trợ lập nghiệp, tạo việc làm, sử dụng có hiệu quả nguồn nhân lực là mục tiêu quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội của quận. Thanh Xuân là một quận có một vị trí địa lý thuận lợi cho sự phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong những năm qua quận Thanh Xuân đã đạt được những thành tựu đáng kể trong phát triển kinh tế - xã hội và giải quyết việc làm. Hiện nay, cũng như thanh niên cả nước, thanh niên trên địa 1 bàn quận Thanh Xuân cũng đang phải đối mặt với sức ép to lớn về việc làm, lập nghiệp cho chính mình. Do đó, thất nghiệp hoặc thiếu việc làm đối với thanh niên là vấn đề cần đặc biệt quan tâm. Thất nghiệp đối với thanh niên không chỉ ảnh hưởng đến thu nhập, sức mua, gây ra sự chán nản, suy giảm lòng tin của người không có việc làm..., mà còn là một trong những nguyên nhân làm phát sinh các tệ nạn xã hội, gây ra những hậu quả nghiêm trọng cho gia đình và xã hội. Tất cả những vấn đề trên đang gây sức ép trong việc giải quyết việc làm và hỗ trợ lập nghiệp cho người lao động, đặc biệt là thanh niên trên địa bàn quận Thanh Xuân. Vì vậy, cần có sự quản lý của Nhà nước một cách hiệu quả về thực hiện chính sách hỗ trợ lập nghiệp và giải quyết việc làm cho thanh niên, tạo điều kiện cho thế hệ trẻ kế thừa và phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc, thực hiện thắng lợi sự nghiệp xây dựng xã hội chủ nghĩa trên đất nước ta. Xuất phát từ những vấn đề lý luận và thực tiễn thực hiện chính sách hỗ trợ lập nghiệp và giải quyết việc làm cho thanh niên là yếu tố cơ bản có tính quyết định góp phần đưa ra những giải pháp hữu hiệu nhằm đạt được hiệu quả cao trong thực hiện chính sách hỗ trợ lập nghiệp và giải quyết việc làm cho thanh niên. Đồng thời phát huy tiềm năng nguồn lực lao động của thanh niên, tạo ra sự ổn định về đời sống vật chất và tinh thần của thanh niên, góp phần giữ vững ổn định an ninh, trật tự trên địa bàn quận. Đây là một việc làm cần thiết, khách quan, xuất phát từ nhu cầu của thực tiễn đòi hỏi trong cả nước nói chung và ở quận Thanh Xuân nói riêng. Trên cơ sở những nhận định trên, học viên lựa chọn nội dung: “Thực hiện chính sách hỗ trợ thanh niên lập nghiệp trên địa bàn quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội” làm đề tài luận văn cao học Chính sách công. 2 2. Tình hình nghiên cứu đề tài Nghiên cứu đề tài “Thực hiện chính sách hỗ trợ thanh niên lập nghiệp trên địa bàn quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội” cho thấy đây là một vấn đề cấp thiết, quan trọng trong giai đoạn phát triển hiện nay của đất nước ta. Một số nhà khoa học đã quan tâm, nghiên cứu và tiếp cận theo nhiều cách với những cấp độ khác nhau: - “Thanh niên với việc làm và phát triển tài năng”, Nxb Thanh niên, Hà Nội, 2008, tác giả Dương Tự Đam đã đề cập tới vai trò, trách nhiệm của thanh niên trong việc phát triển kinh tế đất nước. - “Thị trường lao động và định hướng nghề nghiệp cho thanh niên”, Nxb Lao động xã hội, Hà Nội, 2005, tác giả Nguyễn Hữu Dũng đã khái quát về thị trường lao động của nước ta trong giai đoạn tới và một số nghề nghiệp cần được tập trung nguồn lực đào tạo phục vụ đất nước. - Tạp chí Nhà nước và pháp luật, năm 2006, tác giả Nguyễn Hữu Chí đã đưa ra một số góc nhìn về vai trò của Nhà nước trong lĩnh vực giải quyết việc làm. Ngoài ra còn có rất nhiều công trình nghiên cứu về việc làm, thanh niên như: tác giả Đặng Thị Phương Thảo với luận văn Thạc sỹ kinh tế: Việc làm cho thanh niên trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam (2010); Bộ nội vụ (Chủ trì) Đề án xây dựng Bộ chỉ số đánh giá phát triển thanh niên Việt Nam trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước (2005); tác giả Phạm Hồng Tung với báo cáo tổng hợp, đề tài khoa học cấp Nhà nước: “Thực trạng và xu hướng biến đổi lối sống của thanh niên Việt Nam trong quá trình đổi mới và hội nhập quốc tế” (2009). Các công trình nghiên cứu nói trên đã nghiên cứu các chính sách về thanh niên, việc làm, tuy nhiên chưa có tài liệu nào nghiên cứu về thực hiện chính sách hỗ trợ thanh niên lập nghiệp trên địa bàn quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội. Do đó, học viên chọn đề tài “Thực hiện chính sách hỗ trợ thanh 3 niên lập nghiệp trên địa bàn quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội” nhằm nghiên cứu, phân tích, đánh giá và đề xuất giải pháp phù hợp với tình hình thực tế và chủ trương của quận trong thời gian tới. 3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn Mục đích của luận văn Mục đích của luận văn là đề xuất những giải pháp nhằm hoàn thiện việc thực hiện chính sách về hỗ trợ lập nghiệp và giải quyết việc làm cho thanh niên trên địa bàn quận Thanh Xuân đáp ứng yêu cầu đòi hỏi thực tiễn địa phương trong giai đoạn hiện nay. Nhiệm vụ của luận văn Để thực hiện được mục tiêu nêu trên, luận văn có những nhiệm vụ cụ thể sau đây: - Hệ thống hóa cơ sở lý luận về thực hiện chính sách về hỗ trợ lập nghiệp cho thanh niên; - Phân tích thực trạng thực hiện chính sách về hỗ trợ lập nghiệp và giải quyết việc làm cho thanh niên trên địa bàn quận Thanh Xuân, qua đó nêu ra những vấn đề tồn tại cần khắc phục cũng như phân tích các nguyên nhân hạn chế ảnh hưởng đến việc thực hiện chính sách về hỗ trợ lập nghiệp và giải quyết việc làm cho thanh niên trên địa bàn quận Thanh Xuân. - Đề xuất các giải pháp hoàn thiện việc thực hiện chính sách về hỗ trợ lập nghiệp và giải quyết việc làm cho thanh niên trên địa bàn quận Thanh Xuân nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội tại địa phương. 4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu của luận văn: Luận văn nghiên cứu việc thực hiện chính sách về hỗ trợ lập nghiệp cho thanh niên trên địa bàn quận Thanh Xuân. Phạm vi nghiên cứu về không gian: Luận văn giới hạn việc nghiên cứu các chính sách quản lý nhà nước về hỗ trợ lập nghiệp và giải quyết việc 4 làm cho thanh niên, từ đó, tiến hành nghiên cứu việc thực hiện chính sách về hỗ trợ lập nghiệp và giải quyết việc làm cho thanh niên trên địa bàn quận Thanh Xuân gắn với phát triển kinh tế - xã hội tại địa phương. Phạm vi nghiên cứu về mặt thời gian: Các số liệu thu thập và phân tích về đối tượng nghiên cứu được lấy trong giai đoạn 2010 – 2017. Phạm vi nghiên cứu về mặt nội dung: Luận văn chỉ tập trung nghiên cứu về việc thực hiện chính sách hỗ trợ lập nghiệp cho thanh niên trên địa bàn quận Thanh Xuân nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội tại địa phương đến năm 2020 5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu Luận văn vận dụng cách tiếp cận đa nghành, liên nghành khoa học xã hội và phương pháp nghiên cứu chính sách công. Đó là cách tiếp cận quy phạm chính sách công về chu trình chính sách từ hoạch định đến xây dựng, thực hiện và đánh giá chính sách công có sự tham gia của các chủ thể chính sách. Luận văn sử dụng kết hợp các phương pháp nghiên cứu khoa học như: - Phương pháp nghiên cứu định tính: Thu thập, nghiên cứu, hệ thống hóa, khái quát hóa các lý luận về lao động, việc làm, công tác thanh niên, hỗ trợ lập nghiệp, giải quyết việc làm cho thanh niên, quản lý nhà nước về giải quyết việc làm… thông qua các giáo trình, bài giảng, đề án, văn bản luật... - Phương pháp nghiên cứu định lượng: Trong nghiên cứu này, tác giả chỉ tiến hành thu thập và phân tích các số liệu thống kê thứ cấp thông qua các báo cáo và tư liệu hoạt động của các phòng ban, bộ phận trực thuộc quận Thanh Xuân. Từ đó sử dụng phương pháp thống kê, so sánh… để phân tích và làm sáng tỏ vấn đề nghiên cứu. 6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn Ý nghĩa lý luận - Đề tài có ý nghĩa về mặt lý luận, học viên nghiên cứu và vận dụng các lý thuyết về chính sách công. 5 - Kết quả nghiên cứu minh chứng cho cho lý thuyết liên quan đến chính sách công, từ đó hình thành các đề xuất giải pháp chính sách nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả chính sách đã ban hành. Ý nghĩa thực tiễn - Luận văn đánh giá việc thực hiện chính sách hỗ trợ đào tạo nghề, việc làm và hỗ trợ vay vốn cho thanh niên lập nghiệp trên địa bàn quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội. - Góp phần cung cấp thêm những cơ sở khoa học cho các cơ quan, phòng, ban quận và thành phố trong quá trình hoạch định và thực thi chính sách hỗ trợ thanh niên một cách hiệu quả. 7. Kết cấu của luận văn Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn được chia làm 3 chương. Chương 1: Cơ sở lý luận về thực thi chính sách hỗ trợ thanh niên lập nghiệp cho thanh niên. Chương 2: Thực trạng thực hiện chính sách hỗ trợ thanh niên lập nghiệp và giải quyết việc làm cho thanh niên trên địa bàn quận Thanh Xuân. Chương 3: Đề xuất giải pháp hoàn thiện thực hiện chính sách hỗ trợ thanh niên lập nghiệp và giải quyết việc làm cho thanh niên trên địa bàn quận Thanh Xuân. 6 Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HỖ TRỢ THANH NIÊN LẬP NGHIỆP CHO THANH NIÊN 1.1 Quan niệm về thanh niên và hỗ trợ lập nghiệp cho thanh niên 1.1.1. Quan niệm về thanh niên và vai trò của thanh niên trong xây dựng, bảo vệ và phát triển kinh tế - xã hội đất nước 1.1.1.1. Quan niệm về thanh niên Theo Điều 1 Luật Thanh niên năm 2005 quy định: “Thanh niên là công dân Việt Nam từ đủ mười sáu đến ba mươi tuổi”. Như vậy, độ tuổi là tiêu chí chính để xác định cá nhân nào được coi là thanh niên. Tùy thuộc vào trình độ phát triển kinh tế, chính trị, xã hội, đặc điểm truyền thống, tuổi thọ bình quân v.v. mà mỗi quốc gia có quy định độ tuổi thanh niên khác nhau. Nhưng hầu hết các nước trên thế giới đều thống nhất tuổi thanh niên bắt đầu từ 15 hoặc 16. Còn thanh niên kết thúc ở tuổi nào thì có sự khác biệt. Ở Việt Nam, Điều lệ Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí đều xác định phù hợp với Luật Thanh niên, quy định cụ thể “Thanh niên Việt Nam tuổi từ 16 đến 30”. Để nhìn nhận đánh giá thanh niên một cách tương đối toàn diện, có thể bao hàm được các nội dung về giải quyết việc làm cho thanh niên, phạm vi đề tài này thanh niên được hiểu là một nhóm xã hội có độ tuổi từ đủ 16 tuổi đến 30 tuổi, có mặt trên mọi lĩnh vực hoạt động của đời sống xã hội. Từ những cơ sở trên, có thể quan niệm thanh niên Việt Nam như sau: Thanh niên Việt Nam là những người từ đủ 16 tuổi đến 30 tuổi. Thanh niên bao gồm những người có sức khỏe thể chất đạt đến đỉnh cao, có năng lực lao động. Thanh niên là một lực lượng quan trọng của xã hội hiện tại cũng như trong tương lai. Khái niệm thanh niên có các đặc điểm cơ bản sau: Thứ nhất, phạm vi tuổi của thanh niên khá rộng (từ 16 đến 30). Vì vậy, 7 xét từ góc độ nghề nghiệp của họ, trong thanh niên có nhiều nhóm nhỏ khác nhau. Nhóm trẻ tuổi nhất đang chuẩn bị kết thúc những năm học phổ thông, mối quan tâm lớn nhất của họ là lựa chọn nghề, chọn trường để tiếp tục học cao hơn, hoặc bước vào nghề; một bộ phận khác đang ngồi trên ghế các trường cao đẳng, đại học, tiếp thu kiến thức và kỹ năng chuyên môn ở trình độ cao để trở thành nguồn nhân lực chất lượng cao của đất nước, một bộ phận khác mới bước vào hoạt động nghề nghiệp, đang ứng phó với những khó khăn, thử thách ban đầu của hoạt động này; bên cạnh đó, một bộ phận thanh niên đã khẳng định được vị trí nghề nghiệp của mình, có những cống hiến nhất định cho xã hội. Thứ hai, Thanh niên có những đặc điểm về tâm lý, sinh lý, có tâm tư nguyện vọng; có nhu cầu và hoài bão, khát vọng theo lứa tuổi và giới. Ngày nay, nhờ sự phát triển nhanh của công nghệ - một lĩnh vực có rất nhiều đặc điểm phù hợp với tâm lý thanh niên, được thanh niên ưa thích và tích cực vận dụng vào chuyên môn, không ít thanh niên đã sớm đạt được thành tựu lớn, nhanh chóng khẳng định bản thân. Với sự nhanh nhạy, nhiệt huyết của tính trẻ, dám nghĩ, dám làm và sức khỏe tốt, thanh niên được xem là lực lượng lao động chủ chốt của xã hội. Thứ ba, Thanh niên là một lực lượng giữ vai trò trọng yếu trong tất cả các lĩnh vực kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh của đất nước. 1.1.1.2. Vai trò của thanh niên trong xây dựng, bảo vệ và phát triển kinh tế - xã hội đất nước Bác Hồ cho rằng, thanh niên là động lực chủ yếu của các hoạt động cách mạng, là người chủ tương lai của đất nước. Hơn nửa thế kỷ hoạt động, Bác luôn quan tâm đến lớp trẻ của dân tộc, luôn đánh giá cao tiềm năng to lớn, vai trò, vị trí trọng yếu của thanh niên trong sự nghiệp cách mạng. Vì vậy, Người đã dành nhiều thời gian, dồn tâm lực để gieo mầm cách mạng vào lớp người trẻ tuổi Việt Nam, không ngừng đào tạo và bồi dưỡng hết thế hệ 8 thanh niên này đến thế hệ thanh niên khác. Việc thành lập tổ chức “Hội Việt Nam thanh niên cách mạng” (với hạt nhân là cộng sản đoàn) để chuẩn bị cho việc thành lập Đảng Cộng sản ở Việt Nam và việc sáng lập tờ báo cách mạng mang tên “Thanh niên” đã chứng tỏ Hồ Chủ Tịch có một tầm nhìn chiến lược, khi Người biết rằng chỉ có thanh niên mới có thể “nắm vai trò là những người châm ngòi lửa đầu tiên cho cách mạng nước ta”. Trong toàn bộ tiến trình của cách mạng Việt Nam, Hồ Chủ Tịch luôn coi thanh niên là động lực chủ yếu của cách mạng “thanh niên là người tiếp sức cách mạng cho thế hệ thanh niên già, đồng thời là người phụ trách dìu dắt thế hệ thanh niên tương lai”, “thanh niên là người xung phong trong công cuộc phát triển kinh tế, văn hóa”, “thanh niên là lực lượng cơ bản trong bộ đội, công an và dân quân tự vệ” và trong mọi công việc, thanh niên thi đua thực hiện khẩu hiệu: “Đâu cần thanh niên có, việc gì khó có thanh niên”. Gắn thanh niên với vận mệnh của dân tộc, Hồ Chủ Tịch, trong nhiều bài nói và viết của mình đã luận giải một cách giản dị, thuyết phục rằng: “Thanh niên là người chủ tương lai của nước nhà”. “Nước nhà thịnh hay suy, yếu hay mạnh, một phần lớn là do các thanh niên. Thanh niên muốn làm chủ tương lai cho xứng đáng thì ngay hiện tại phải rèn luyện tinh thần và lực lượng của mình, phải làm việc chuẩn bị cho cái tương lai đó” (Hồ Chí Minh, 1980). Tư tưởng bao trùm của Bác đối với thanh niên và đó cũng là lời dăn của Người đối với Đảng, với dân trước lúc đi xa: “Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc làm rất quan trọng và rất cần thiết”. Hiện nay công cuộc đổi mới đất nước đang bước vào thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, con người là nguồn lực chủ yếu và quyết định cho sự nghiệp cách mạng này thành công. Nghị quyết Hội nghị lần thứ Bảy Ban Chấp hành Trung ương khoá X về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác thanh niên thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đã khẳng định: Thanh niên là rường cột của nước nhà, chủ nhân tương lai của đất nước, 9 là lực lượng xung kích trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, là một trong những nhân tố quyết định sự thành bại của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, hội nhập quốc tế và xây dựng chủ nghĩa xã hội. Thanh niên được đặt ở vị trí trung tâm trong chiến lược bồi dưỡng, phát huy nhân tố và nguồn lực con người. Chăm lo, phát triển thanh niên vừa là mục tiêu, vừa là động lực bảo đảm cho sự ổn định và phát triển vững bền của đất nước (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2006, 2011). 1.1.2. Hỗ trợ lập nghiệp cho thanh niên 1.1.2.1. Quan niệm về lập nghiệp hỗ trợ lập nghiệp cho thanh niên Đề cập đến quan niệm về lập nghiệp cho thanh niên, trước tiên ta phải tiếp cận từ quan niệm về giải quyết việc làm nói chung. Giải quyết việc làm là quá trình tạo ra điều kiện và môi trường đảm bảo cho mọi người trong độ tuổi lao động, có khả năng lao động đang có nhu cầu tìm việc làm với mức tiền công bằng hoặc cao hơn mức tiền công tối thiểu đều có thể tìm được việc làm hoặc tự tạo được việc làm cho chính mình. Mặc dù hỗ trợ lập nghiệp và giải quyết việc làm là rất quan trọng nhưng khả năng hỗ trợ và giải quyết việc làm còn nhiều hạn chế. Do tiềm năng sản xuất của xã hội là có hạn, do bản chất của các chế độ kinh tế khác nhau nên số lượng việc làm không thể thu hút những nguời có khả năng lao động. Như vậy, hỗ trợ lập nghiệp và giải quyết việc làm chính là tạo cơ hội để người lao động có việc làm hoặc tự tạo việc làm và tăng thu nhập phù hợp với lợi ích bản thân, gia đình và xã hội. Mặt khác, hỗ trợ lập nghiệp và giải quyết việc làm cũng là nâng cao chất lượng việc làm và tạo ra việc làm để thu hút người lao động vào guồng máy sản xuất của nền kinh tế. Từ sự phân tích trên có thể hiểu: Hỗ trợ lập nghiệp và giải quyết việc làm cho thanh niên là quá trình tạo ra điều kiện và môi trường đảm bảo cho những người từ đủ 16 đến 30 tuổi, có khả năng lao động, có nhu cầu tìm việc làm với mức tiền công bằng hoặc cao hơn mức tiền công tối thiểu đều có thể 10 tìm được việc làm hoặc tự tạo việc làm cho mình và người khác. Theo khoản 2 Điều 9 Bộ luật Lao động 2012 quy định: “Nhà nước, người sử dụng lao động và xã hội có trách nhiệm tham gia giải quyết việc làm, bảo đảm cho mọi người có khả năng lao động đều có cơ hội có việc làm”. Còn theo Điều 18 Nghị định 61/2015/NĐ – CP về hỗ trợ thanh niên lập nghiệp thì bản chất của hỗ trợ thanh niên lập nghiệp là Nhà nước sẽ thực hiện định hướng nghề nghiệp; Cung cấp thông tin việc làm, nghề nghiệp; Đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng tìm việc và làm việc; Tham gia chương trình thực tập làm việc tại doanh nghiệp, tổ chức; Cho vay ưu đãi từ Quỹ quốc gia về việc làm theo quy định của pháp luật…, để hỗ trợ cho thanh niên trong việc lập nghiệp thì Nhà nước sẽ tạo điều kiện và thực hiện khuyến khích đối với các thanh niên có khát vọng lớn, dám đương đầu với khó khăn, thử thách, thậm chí chấp nhận thất bại để lập nghiệp, làm giàu chính đáng. Tuy nhiên khi tiến hành hỗ trợ lập nghiệp và giải quyết việc làm cho thanh niên nói riêng cũng như người lao động nói chung, trong hoàn cảnh hiện nay cần nhìn nhận dưới tư duy, quan điểm mới. Một là: Trong cơ chế thị trường, việc làm ổn định chỉ là khái niệm tương đối và thất nghiệp là hiện tương tất yếu. Mỗi cá thể phải tự lo việc làm là chính, khắc phục tình trạng tâm lý trông chờ, ỷ lại vào nhà nước. Hai là: Hỗ trợ lập nghiệp và giải quyết việc làm là vấn đề kinh tế xã hội rất tổng hợp và phức tạp, không là vấn đề thuần túy kinh tế xã hội. Vì vậy, cần tiếp tục giải phóng triệt để tiềm năng sức lao động phù hợp với hệ thống các cơ chế, chính sách, pháp luật theo tình thần đổi mới. Hình thành và phát triển thị trường lao động trong hệ thống thị trường xã hội thống nhất. Ba là: Hỗ trợ lập nghiệp và giải quyết việc làm, đảm bảo cho mọi người có khả năng lao động đều có việc làm là trách nhiệm của nhà nước, của các doanh nghiệp, của xã hội và của bản thân mỗi cac nhân. Vì vậy, cần tiếp tục phát triển mạnh nền kinh tế nhiều thành phần theo định hướng XHCN, mở 11 rộng kinh tế đối ngoại. Tổ chức lại toàn bộ lao động xã hội, ra đội ngũ lao động có cơ cấu, số lượng và chất lượng phù hợp với cấu trúc kinh tế 1.1.2.2. Ý nghĩa của hỗ trợ lập nghiệp và giải quyết việc làm cho thanh niên Đất nước ta đang bước vào thời đại cách mạng công nghệ 4.0 cùng với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế toàn cầu. Để góp phần thực hiện tốt và có hiệu quả quá trình trên thì vấn đề hỗ trợ lập nghiệp và giải quyết việc làm cho lao động cả nước nói chung và thanh niên nói riêng có ý nghĩa hết sức quan trọng trong tình hình hiện nay vì góp phần làm giảm lao động dư thừa và thời gian nhàn rỗi đồng thời từng bước nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả lao động; giảm áp lực thất nghiệp trong nền kinh tế vốn chưa có một sự phát triển như ở nước ta. Cụ thể: - Về mặt kinh tế Hỗ trợ lập nghiệp và giải quyết việc làm có một ý nghĩa vô cùng to lớn đối với sự phát triển của một nền kinh tế, bởi vì sự phát triển kinh tế phụ thuộc vào vấn đề sử dụng có hiệu quả nguồn tài nguyên thiên nhiên, nguồn nhân lực có vai trò quan trọng và quyết định sự phát triển đó. Hỗ trợ lập nghiệp và giải quyết việc làm cho thanh niên chính là việc khai thác và sử dụng có hiệu quả nguồn lực của con người. Trong toàn bộ sự phát triển của xã hội, con người luôn luôn tồn tại với 2 tư cách: vừa là chủ thể, vừa là mục tiêu trong hoạt động của mình. Với tư cách là chủ thể, con người thực hiện sự phát triển kinh tế - xã hội mà trước hết là phát triển lực lượng sản xuất. Với tư cách là mục tiêu con người hưởng thụ những thành quả của sự phát triển đó. Có việc làm đồng nghĩa với có thu nhập, vì vậy giải quyết việc làm cho người lao động tức là đảm bảo đồng thời 3 lợi ích: Nhà nước, tập thể và cá nhân người lao động. Ngược lại, nếu không có việc làm thì người lao động không tạo ra thu nhập, không cống hiến được sức lực của mình dẫn đến giảm nhu cầu hưởng thụ, cản trở sự phát triển của kinh tế. Đặc biệt với đối tượng thanh niên là nhóm đối tượng lao động chính, có khả năng 12 cống hiến nhiều nhất cho xã hội. Do đó trong chiến lược phát triển kinh tế của nhiều quốc gia, vấn đề hỗ trợ lập nghiệp và giải quyết việc làm cho người lao động nói chung và thanh niên nói riêng nhằm sử dụng hợp lý nguồn lực con người đang được thừa nhận là quan trọng và quyết định nhất đối với một nền kinh tế. Hỗ trợ lập nghiệp và giải quyết việc làm cho thanh niên giúp họ tham gia vào quá trình sản xuất, là yêu cầu của sự phát triển của nền kinh tế, là biện pháp hữu hiệu nhất để đẩy lùi nạn thất nghiệp. Bởi, xét về mặt kinh tế, thất nghiệp gắn chặt với nghèo đói, tỷ lệ thất nghiệp cao không những gây thiệt hại lớn cho nền kinh tế mà còn gây nhiều khó khăn cho cuộc sống cá nhân người lao động. Tóm lại, hỗ trợ lập nghiệp và giải quyết việc làm cho thanh niên có ý nghĩa to lớn đối với nền kinh tế. Giải quyết việc làm cho thanh niên, tức là ta đã tận dụng được sức mạnh của nguồn lực con người vào trong công cuộc phát triển kinh tế. - Về mặt chính trị xã hội Hỗ trợ lập nghiệp và giải quyết việc làm cho người lao động nói chung và thanh niên nói riêng có ý nghĩa vô cùng to lớn đối với sự phát triển xã hội. Hỗ trợ lập nghiệp và giải quyết việc làm cho thanh niên, tức là xã hội đã tạo ra cho họ cơ hội thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình, trong đó quyền cơ bản là quyền được làm việc nhằm nuôi sống bản thân và gia đình. Thông qua lập nghiệp và việc làm, con người thực hiện quyền sống và mưu cầu hạnh phúc, con người được đảm bảo những quyền tự nhiên chính đáng, được tạo điều kiện sống (ăn, ở, mặc, bảo vệ sức khoẻ, đi lại...) và cơ hội để phát triển năng lực nghề nghiệp, năng lực sáng tạo. Hỗ trợ lập nghiệp và giải quyết việc làm cho thanh niên thực sự là công cụ quan trọng cuả Đảng và Nhà nước ta nhằm thực hiện và điều chỉnh những vấn đề xã hội đang đặt ra đối với con người, kích thích người lao động sáng 13 tạo và mang lại cuộc sống tốt đẹp cho họ, đảm bảo công bằng xã hội. Muốn đạt được sự công bằng thực sự hoàn toàn giữa người với người trên phạm vi toàn xã hội thì người ta trước hết phải được công bằng hoàn toàn với nhau về phương diện kinh tế. Chỉ có phương diện công bằng về kinh tế, mới có thể có công sự công bằng trên phương diện khác. Một xã hội chỉ có thể đạt được sự công bằng khi mọi người đều có việc làm, có thu nhập một cách chính đáng. Việc làm và thu nhập cũng tạo cho mọi người đều có điều kiện như nhau trong việc chăm sóc sức khoẻ phát triển giáo dục và nâng cao đời sống văn hoá tinh thần. Với trình độ tri thức hiểu biết xă hội người lao động sẽ biết khắc phục hạn chế của mình, phát huy năng lực lao động, phục vụ đắc lực cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Mặt khác, khi có trình độ tri thức thì cơ hội có việc của người lao động cũng tăng lên, khả năng lập nghiệp và tạo việc làm cho người khác cũng tăng lên. Việc làm đầy đủ sẽ thu hẹp khoảng cách giữa người giàu và người nghèo. Nếu xét từ góc độ xã hội, việc làm đầy đủ đảm bảo cho người dân quyền tự do và bình đẳng. Như vậy, hỗ trợ lập nghiệp và giải quyết việc làm cho người lao động nói chung và thanh niên nói riêng trong điều kiện nền kinh tế thị trường của nước ta có ý nghĩa to lớn đối với việc điều chỉnh lợi ích, đảm bảo lợi ích cho từng thành viên xã hội, thoả mãn nhu cầu vật chất và tinh thần cho người lao động. Từ đó tạo ra một cơ cấu xã hội mới, năng động, từng bước đảm bảo công bằng xã hội, tìm ra động lực phát triển, xoá bỏ sự cách biệt quá xa giữa người giầu và người nghèo, xây dựng môi trường thuận lợi cho người phát triển toàn diện, có nhân cách. Vì vậy, để xây dựng chế độ xã hội công bằng văn minh, mục tiêu trước sau của chúng ta vẫn là giảm tỷ lệ thất nghiệp, tạo điều kiện thuận lợi cho người lao động khởi nghiệp, lập nghiệp, tìm kiếm việc làm có thu nhập chính đáng, cùng với chủ trương tiếp tục khuyến khích làm giàu hợp pháp chúng ta phải đồng thời mở rộng và đẩy mạnh cuôc vận động xoá đói giảm nghèo. 14 Đặc biệt cùng với quá trình hỗ trợ lập nghiệp và giải quyết việc làm cho thanh niên, tỷ lệ thất nghiệp sẽ giảm xuống. Xét về mặt xã hội, thất nghiệp gây nên những hậu quả nặng nề. Do tính chất quyết định của kinh tế, đời sống kinh tế gia đình họ gặp nhiều khó khăn, tác động đến mọi mặt của cuộc sống gia đình. Đây chính là nguyên nhân và nguồn gốc của những phức tạp xã hội, là nguyên nhân của các tệ nạn xã hội. Khi tiến hành điều tra xã hội học người ta nhận thấy tỷ lệ thanh niên bị thất nghiệp tham gia một cách đáng kể vào các tệ nạn xã hội như: ma tuý, trộm cướp, mại dâm... Tệ nạn xã hội, tất yếu dẫn đến tình trạng xã hội rối ren, bất ổn định, cản trở sự phát triển của xã hội. Vì thế, thất nghiệp gây khó khăn phức tạp cho công tác quản lý xã hội, làm đảo lộn nhiều nếp sống lành mạnh và ảnh hưởng đến thuần phong mỹ tục của một dân tộc. Thất nghiệp còn tác động đến tâm tư, tình cảm, suy nghĩ của người lao động, gây cho người lao động tâm lý luôn luôn lo lắng, bị đe doạ bởi thất nghiệp, làm mất niềm tin của họ vào sự tốt đẹp của tương lai, nhất là đối với tầng lớp thanh niên. Vì vậy, hỗ trợ lập nghiệp và giải quyết việc làm giúp cho thanh niên có thu nhập, giảm tệ nạn xã hội, làm cho xã hội càng văn minh, phát triển hơn. Tóm lại, hỗ trợ lập nghiệp và giải quyết việc làm cho thanh niên chính là động lực thúc đẩy quá trình sản xuất, thúc đẩy sự phát triển, tạo ra khả năng to lớn trong việc sử dụng tiềm năng cho con người. Chính sách hỗ trợ lập nghiệp và giải quyết việc làm đúng đắn và môi trường xã hội thuận lợi là nhân tố ảnh hưởng rất lớn đến tiềm năng sáng tạo của thanh niên, thúc đẩy họ lao động tìm tòi hết sức mình cống hiến cho công cuộc công nghiệp hoá - hiện đại hoá. Đồng thời, chính sách đúng đắn và khả thi sẽ trở thành một động lực to lớn đoàn kết được toàn dân, ổn định vững chắc xã hội, phát huy mọi tiềm lực vật chất, tinh thần của các tầng lớp nhân dân tạo nên sức mạnh tổng hợp phát triển đất nước. 15 1.1.2.3. Yêu cầu hỗ trợ lập nghiệp và trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức trong hỗ trợ lập nghiệp cho thanh niên Do nhiều lý do khác nhau nên số lượng việc làm luôn luôn bị hạn chế. Trong xã hội thường có số lượng nhất định người không có việc làm. Điều này gây ảnh hưởng không chỉ đến bản thân người không có việc làm mà cả đến xã hội. Họ không những không có đóng góp cho xã hội mà ngược lại, xã hội phải trợ cấp cho họ. Tình trạng không có việc làm còn tạo ra sự căng thẳng về mặt xã hội, một trong những nguyên nhân cơ bản làm nảy sinh các tệ nạn xã hội. Chính vì vậy, hỗ trợ lập nghiệp và giải quyết việc làm là một nhiệm vụ quan trọng không chỉ của các cơ quan quản lí mà của các tổ chức, cá nhân trong xã hội. Nghị quyết 25 Bộ Chính trị khóa VI nêu rõ: “Đảng, Nhà nước và toàn dân ta phải hết lòng bồi dưỡng, phát huy tiềm năng và vai trò chủ động của thanh niên trên mọi lĩnh vực của công cuộc đổi mới, coi đó là nhiệm vụ ưu tiên trong chiến lược con người”. Theo Khoản 2 Điều 9 Bộ luật Lao động 2012 đã quy định: “Nhà nước, người sử dụng lao động và xã hội có trách nhiệm tham gia giải quyết việc làm, bảo đảm cho mọi người có khả năng lao động đều có cơ hội có việc làm”. Nghị định 61/2015/NĐ – CP khẳng định, hỗ trợ lập nghiệp cho thanh niên, giải quyết vấn đề việc làm cho thanh niên đang là hết sức cấp bách để có thể giúp thanh niên thực sự chủ động lập thân, lập nghiệp. Ở nước ta, trách nhiệm chính hỗ trợ lập nghiệp và giải quyết việc làm ho người lao động nói chung cũng như cho thanh niên nói riêng thuộc về hệ thống cơ quan hành pháp, đứng đầu là Chính phủ. Để có thể hỗ trợ lập nghiệp và giải quyết việc làm cho thanh niên đòi hỏi sự phối hợp giữa các cơ quan ban ngành có liên quan như Bộ Lao động thương binh – xã hội, Bộ Nội vụ, Bộ Kế hoạch đầu tư, Bộ Công thương, cũng như các tổ chức xã hội có liên quan, đặc biệt là vai trò đắc lực của Đoàn thanh niên, Hội sinh viên Việt Nam… Hỗ trợ lập nghiệp và giải quyết việc làm cho thanh niên như đã phân 16 tích là một hoạt động quan trọng, có ý nghĩa không chỉ đối với mỗi cá nhân mà còn tác động sâu rộng đến toàn xã hội. Nhưng một mặt phải nhìn nhận rằng, hỗ trợ lập nghiệp và giải quyết việc làm không chỉ đơn thuần là tạo ra một công việc cho người lao động. Hỗ trợ lập nghiệp và giải quyết việc làm cho thanh niên phải đáp ứng hai yêu cầu cơ bản sau: Thứ nhất, việc làm phải phù hợp với trình độ, khả năng của người lao động thanh niên. Hiện nay, ở Việt Nam, tình trạng lao động trái ngành nghề còn tồn tại rất lớn. Đó là một sự lãng phí lớn của xã hội. Điều này, xuất phát từ rất nhiều nguyên nhân khác nhau. Trong đó một phần do hoạt động quản lý nhà nước về hỗ trợ lập nghiệp và giải quyết việc làm cho thanh niên còn hạn chế. Ví dụ như hạn chế ngay từ khâu hướng nghiệp cho thanh niên khi bắt đầu lựa chọn ngành nghề đào tạo chuyên môn; sự điều tiết giữa cung và cầu lao động chưa hợp lý… Thứ hai, việc làm phải tạo ra thu nhập tương xứng, đủ để người lao động có khả năng nuôi sống bản thân (tái sản xuất sức lao động), ngoài ra còn phải đảm bảo sinh hoạt cho một gia đình cá thể kèm theo. Bởi vì, với đối tượng đặc thù là lao động thanh niên, là những người đang ở trong độ tuổi kết hôn, có nghĩa vụ chịu trách nhiệm nuôi dưỡng những người chưa hoặc không còn khả năng lao động như trẻ em, người già. Chính vì vậy, trọng trách cũng như yêu cầu hỗ trợ lập nghiệp và giải quyết việc làm cho đối tượng lao động thanh niên là rất lớn. 17 TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 Thực hiện chính sách hỗ trợ lập nghiệp và giải quyết việc làm cho thanh niên là một trong những nội dung trong hoạt động quản lý của nhà nước. Trong tình hình kinh tế - xã hội hiện nay, Nhà nước cần thiết phải có những hoạt động quản lý đúng đắn, hiệu quả để phát huy tiềm năng, thế mạnh của thanh niên. Chương 1 với nhiệm vụ giải quyết những vấn đề lý luận cơ bản liên quan đến khái niệm cần thiết xung quanh nội dung đề tài sẽ là cơ sở để vận dụng đánh giá thực trạng thực hiện chính sách hỗ trợ lập nghiệp và giải quyết việc làm cho thanh niên tại một địa phương cụ thể là quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội. 18 Chương 2 THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ THANH NIÊN LẬP NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN THANH XUÂN 2.1 Các yếu tố ảnh hưởng đến thực hiện chính sách hỗ trợ lập nghiệp cho thanh niên trên địa bàn quận Thanh Xuân 2.1.1 Đặc điểm địa lý Quận Thanh Xuân là một quận nội thành của thành phố Hà Nội. Thanh Xuân nằm ở cửa ngõ phía tây của thành phố là được thành lập ngày 28/12/1996. Quận Thanh Xuân có diện tích: 9.11 km², phía Bắc quận Thanh Xuân giáp với quận Cầu Giấy và quận Đống Đa, phía Đông giáp với quận Hai Bà Trưng, phía Tây giáp quận Hà Đông và quận Nam Từ Liêm, phía Nam Thanh Xuân giáp huyện Thanh Trì. Quận Thanh Xuân có tất cả 11 phường bao gồm: Thanh Xuân Trung, Thượng Đình, Kim Giang, Phương Liệt, Thanh Xuân Nam, Thanh Xuân Bắc, Khương Mai, Khương Trung, Khương Đình, Hạ Đình, Nhân Chính. Quận có vị trí trung tâm của thành phố Hà Nội, có điều kiện thuận lợi về giao thông, là nơi tập trung nhiều trường đại học lớn, nhà máy, xí nghiệp, trung tâm thương mại…, thuận lợi cho phát triển kinh tế - xã hội. 2.1.2 Điều kiện kinh tế Những thành tựu xây dựng đất nước và Thủ đô trong 30 năm đổi mới; những chủ trương, chính sách, pháp luật mới của Đảng và Nhà nước, đặc biệt Luật Thủ đô và cơ chế chính sách đặc thù của Thủ đô đã tác động tích cực đến thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế, xã hội của Quận; kết quả, kinh nghiệm trong lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ kinh tế - xã hội, đảm bảo an ninh - quốc phòng, xây dựng Đảng và hệ thống chính trị vững mạnh trong 18 năm xây dựng và phát triển của Quận; sự đồng thuận của các tầng lớp nhân dân;... là những thuận lợi cơ bản. 19
- Xem thêm -