Tài liệu Thực hiện chính sách hỗ trợ pháp lý cho người nghèo từ thực tiễn huyện thăng bình, tỉnh quảng nam.

  • Số trang: 73 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 235 |
  • Lượt tải: 0
dangvantuan

Tham gia: 02/08/2015

Mô tả:

MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Hiện nay, khoảng cách giàu nghèo trong xã hội còn lớn, sự không ngang bằng trong việc tiếp cận với các điều kiện giáo dục, y tế, văn hóa… và đặc biệt là tiếp cận với các dịch vụ pháp lý còn có khoảng cách đáng kể. Bởi vậy, một số trường hợp người dân không được hỗ trợ pháp lý hoặc không mời được luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình khi bị xâm hại dẫn đến việc họ dễ bị thiệt thòi trước pháp luật. Bởi vậy, nhà nước hoạch định và tổ chức thực hiện chính sách hỗ trợ pháp lý cho công dân, nhất là cho người nghèo nhằm tạo điều kiện để người nghèo, người có công với cách mạng và một số đối tượng yếu thế khác có cơ hội tiếp cận với các dịch vụ pháp lý, củng cố lòng tin của Nhân dân vào pháp luật và góp phần thực hiện công bằng xã hội. Ở huyện Thăng Bình, tỷ lệ người nghèo còn khá cao, công tác hỗ trợ pháp lý nói chung và hỗ trợ pháp lý cho người nghèo nói riêng thường xuyên nhận được sự quan tâm lãnh đạo của Huyện ủy và UBND huyện, sự quan tâm chỉ đạo, hướng dẫn và tạo điều kiện của Trung tâm trợ giúp pháp lý tỉnh, cấp ủy và chính quyền các xã, thị trấn phối hợp thực hiện tốt hỗ trợ pháp lý cho người nghèo. Bên cạnh đó, những người thực hiện chính sách hỗ trợ pháp lý như trợ giúp viên pháp lý, luật sư cộng tác viên… luôn nỗ lực, cố gắng khắc phục khó khăn trong việc tổ chức thực hiện chính sách hỗ trợ pháp lý cho người nghèo nhất là hoạt động trợ giúp pháp lý lưu động. Tuy nhiên, thực tế cho thấy, bên cạnh những kết quả đạt được thì hoạt động thực hiện chính sách hỗ trợ pháp lý cho người nghèo trên địa bàn huyện còn những khó khăn, vướng mắc, hạn chế nhất định như: Hoạt động chính sách hỗ trợ pháp lý cho người nghèo dàn trải theo nhiều hình thức, chưa đảm bảo đúng trọng tâm là cung cấp dịch vụ trợ giúp pháp lý theo vụ việc, nhất là vụ việc tham gia tố tụng để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người nghèo; Hệ thống tổ chức thực hiện chính sách hỗ trợ pháp lý nói chung và cho người nghèo nói riêng chưa phù hợp và 1 hoạt động chưa hiệu quả so với yêu cầu thực tiễn; Trợ giúp viên pháp lý chưa thực sự chuyên nghiệp trong hoạt động tham gia tố tụng; Kinh phí đảm bảo của công tác thực hiện chính sách hỗ trợ pháp lý còn hạn chế, không thường xuyên và phân bổ các khoản chi chưa hợp lý; Công tác xã hội hóa hoạt động thực hiện chính sách hỗ trợ pháp lý cho người nghèo còn chậm. Về mặt lý luận, hoạt động thực hiện chính sách hỗ trợ pháp lý đã được các nhà khoa học nghiên cứu ở khía cạnh này hoặc khía cạnh khác. Tuy nhiên, ở huyện Thăng Bình đến nay chưa có một công trình nào nghiên cứu trực tiếp về vấn đề thực hiện chính sách hỗ trợ pháp lý cho người nghèo. Xuất phát từ thực trạng lý luận và thực tiễn thực hiện chính sách hỗ trợ pháp lý cho người nghèo đặc biệt là bảo vệ những người yếu thế trong xã hội, trong đó có người nghèo ở huyện Thăng Bình cần triển khai nghiên cứu đề tài "Thực hiện chính sách hỗ trợ pháp lý cho người nghèo từ thực tiễn huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam''. Bởi lý do đó học viên chọn đề tài nói trên làm luận văn thạc sĩ của mình. 2. Tình hình nghiên cứu đề tài Những năm gần đây nội dung của thực hiện chính sách hỗ trợ pháp lý cho người nghèo đã được thể hiện trong những công trình khoa học và tài liệu nghiên cứu dưới đây: - Tạ Thị Minh Lý (2006), “Bàn về khái niệm trợ giúp pháp lý”, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật; - TS. Trần Huy Liệu (2005), “Một số vấn đề về trợ giúp pháp lý cho người nghèo và đối tượng chính sách”, Thông tin Khoa học pháp lý; - Tạ Thị Minh Lý (2008), “Điều chỉnh pháp luật về trợ giúp pháp lý ở Việt Nam hiện nay”, Luận án Tiến sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội; - Nguyễn Văn Tùng (2007), “Quản lý Nhà nước bằng pháp luật đối với hoạt động trợ giúp pháp lý ở Việt Nam hiện nay”, Luận án tiến sĩ Luật học, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh; 2 - Trịnh Thị Thùy Anh (2012), “Trợ giúp pháp lý cho đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa”, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội; - Nguyễn Bích Ngọc (2012), “Các giải pháp nâng cao hiệu quả trợ giúp pháp lý”, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội; - Đào Dư Long (2013), “Chất lượng trợ giúp pháp lý ở Việt Nam hiện nay”, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội; - Nguyễn Vân Thơ (2014), “Chính sách trợ giúp pháp lý cho người nghèo ở nước ta hiện nay”, Luận văn Thạc sĩ Chính sách công, Khoa Chính sách công, Học viện khoa học xã hội; Ngoài ra còn một số bài viết của các tác giả đăng trên tạp chí chuyên ngành về Nhà nước và pháp luật. Các công trình trên chủ yếu nghiên cứu về quản lý nhà nước về trợ giúp pháp lý, hoạt động trợ giúp pháp lý trong phạm vi toàn quốc, ở tầm vĩ mô. Nghiên cứu các công trình cho thấy ở tỉnh Quảng Nam nói chung và huyện Thăng Bình nói riêng hiện nay chưa có công trình nghiên cứu nào đề cập một cách có hệ thống và cụ thể về thực hiện chính sách hỗ trợ pháp lý cho người nghèo. Vì vậy, đây có thể được coi là đóng góp mới, nghiên cứu về lý luận và thực tiễn hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo ở huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam. 3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 3.1. Mục đích nghiên cứu Mục đích nghiên cứu của Luận văn là trên cơ sở phân tích cơ sở lý luận và thực tiễn thực hiện chính sách hỗ trợ pháp lý cho người nghèo trong thời kỳ mới trên địa bàn huyện Thăng Bình, luận văn đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động thực hiện hỗ trợ pháp lý cho người nghèo ở huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam trong thời gian tới. 3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu - Nghiên cứu, phân tích làm rõ cơ sở lý luận, xác định khái niệm, nội dung của thực hiện chính sách hỗ trợ pháp lý, đối với người nghèo. 3 - Phân tích vai trò của thực hiện chính sách hỗ trợ pháp lý cho người nghèo. - Đánh giá về thực trạng hoạt động hỗ trợ pháp lý cho người nghèo trên địa bàn huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam giai đoạn 2012-2017. Trong đó tập trung phân tích, đánh giá những ưu điểm, những khó khăn, hạn chế trong hoạt động thực hiện hỗ trợ pháp lý cho người nghèo trên địa bàn và rút ra các nguyên nhân của những thành tựu, hạn chế. - Luận văn đề xuất các quan điểm và giải pháp cụ thể có tính khả thi nhằm nâng cao chất lượng hoạt động thực hiện chính sách hỗ trợ pháp lý cho người nghèo trên địa bàn huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam. 4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4.1. Đối tượng nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu của luận văn là những vấn đề lý luận, quy định của pháp luật và thực tiễn thực hiện chính sách hỗ trợ pháp lý, vai trò, ý nghĩa của trợ giúp pháp lý đối với người nghèo trên địa bàn huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam. 4.2. Phạm vi nghiên cứu - Đề tài luận văn được nghiên cứu dưới góc độ ngành chính sách công - Phạm vi nghiên cứu: địa bàn huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam - Thời gian nghiên cứu: từ năm 2012 đến năm 2017 Chính sách hỗ trợ pháp lý cho người nghèo đi vào cuộc sống bằng nhiều hình thức, trong đó có thể chế hóa vào pháp luật, nhất là Luật trợ giúp pháp lý. Trong khuôn khổ luận văn thạc sĩ chính sách công học viên chủ yếu nghiên cứu việc thực hiện Luật trợ giúp pháp lý. 5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 5.1. Cơ sở lý luận Luận văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa MácLênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật; các quan điểm, tư tưởng chỉ đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trong công cuộc đổi mới toàn diện đất nước; từng bước đổi mới tổ chức và hoạt động của bộ máy Nhà nước theo yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân và vì 4 Nhân dân, đặc biệt là quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về hỗ trợ, giúp đỡ người nghèo, người yếu thế trong xã hội, sớm thu hẹp khoảng cách giàu nghèo trong xã hội. 5.2. Phương pháp nghiên cứu Cùng với phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, luận văn còn sử dụng nhiều phương pháp cụ thể như: phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp, phương pháp lịch sử, phương pháp thống kê để nghiên cứu đề tài. Luận văn đã tiến hành tổng hợp, rà soát, thống kê các văn bản quy phạm pháp luật về trợ giúp pháp lý và văn bản pháp luật khác có liên quan; nghiên cứu các chính sách lớn của Đảng và Nhà nước có liên hệ trực tiếp đến hoạt động trợ giúp pháp lý; phân tích Báo cáo của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Quảng Nam về hoạt động trợ giúp pháp lý từ năm 2012 đến 2017. 6. Ý nghĩa luận và thực tiễn của luận văn 6.1. Ý nghĩa lý luận Luận văn góp phần nhận thức những vấn đề lý luận về thực tiễn thực hiện chính sách hỗ trợ pháp lý dưới hình thức trợ giúp pháp lý cho người nghèo trên địa bàn huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam nói riêng. 6.2. Ý nghĩa thực tiễn Luận văn đã góp phần nâng cao chất lượng hoạt động thực hiện chính sách hỗ trợ pháp lý cho người nghèo trên địa bàn huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam. Đồng thời luận văn có giá trị tham khảo đối với công tác giảng dạy chính sách công ở nước ta. 7. Kết cấu của luận văn Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận văn gồm 3 chương chính sau: Chương 1. Những vấn đề lý luận về thực hiện chính sách hỗ trợ pháp lý cho người nghèo 5 Chương 2. Thực tiễn thực hiện chính sách hỗ trợ pháp lý cho người nghèo tại huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam. Chương 3. Các giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách hỗ trợ pháp lý cho người nghèo tại huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam. CHƯƠNG 1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ PHÁP LÝ CHO NGƯỜI NGHÈO 1.1. Khái niệm, vai trò và ý nghĩa của chính sách hỗ trợ pháp lý cho người nghèo 1.1.1. Khái niệm hỗ trợ pháp lý cho người nghèo Thuật ngữ “Trợ giúp pháp lý” xuất phát từ tiếng Anh là Legal aid. Theo từ điển Anh – Việt của tác giả Lê Khả Kế, Nhà xuất bản Khoa học xã hội năm 1997 thì “Legal aid” được dịch là “Trợ cấp pháp lý”. Ngoài ra, trong một số tài liệu khác dịch “Legal aid” là “hỗ trợ pháp luật”, “hỗ trợ pháp lý” hoặc “hỗ trợ tư pháp”… Có rất nhiều cách dịch khác nhau về thuật ngữ này nhưng xuất phát từ bản chất và hình thức hoạt động “legal aid” trên thế giới và thực tiễn hoạt động này ở Việt Nam trong thời gian qua, thuật ngữ “Legal aid” được dịch là “Trợ giúp pháp lý” đang được sử dụng chính thức trong các văn bản và sách báo ở Việt Nam hiện nay. Như vậy, trong luận văn này, học viên coi “hỗ trợ pháp lý” là “Trợ giúp pháp lý” cho phù hợp với cách gọi của pháp luật nước ta về vấn đề đang nghiên cứu. Theo Từ điển tiếng Việt, Viện Ngôn ngữ học, Nxb Đà Nẵng, 2001, thì khái niệm "trợ giúp" được hiểu là "giúp đỡ" [34, tr.767], pháp lý tức là "nguyên lý về pháp luật" [34, tr.1045]. Theo Từ điển từ và ngữ Việt Nam, Giáo sư Nguyễn Lân, Nxb Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh, 2005 thì "trợ giúp " là giúp đỡ" như nông dân bị mất mùa do lũ lụt, Nhà nước cấp lúa giống, con giống cho nông dân để tiếp tục sản xuất không thu tiền [15, tr.1923], còn về "pháp lý" là "nguyên lý của pháp luật" [15, tr.1431]. Theo Đại từ điển Tiếng Việt, Nguyễn Như ý, Nxb Văn hoá Thông tin, 1999, thì "trợ giúp" hiểu là "sự giúp đỡ, bảo trợ, hỗ trợ, giúp cho ai việc gì, đem lại cho ai cái gì, đang lúc khó khăn, đang lúc cần đến", thuật ngữ "pháp lý " được hiểu là lý lẽ, lẽ phải theo pháp luật, nói một cách khái quát pháp lý là lí luận 6 [16]; theo Từ điển luật học, Nxb Tư pháp - Nxb Từ điển Bách khoa, 2006, thì pháp lý: những khía cạnh, phương diện khác nhau của đời sống pháp luật của một quốc gia, "pháp lý" chỉ những lý lẽ, lẽ phải theo pháp luật, giá trị pháp lý bắt buộc từ một sự việc, hiện tượng xã hội, những nguyên lý, phạm trù, khái niệm lý luận về pháp luật [5, tr.606]. Do vậy, dù là "giúp đỡ", "bảo trợ" hay là hỗ trợ cũng có thể được hiểu là "trợ giúp". ở đây trợ giúp được hiểu là sự giúp đỡ cho ai đó đang gặp khó khăn, nhằm làm giảm bớt khó khăn về một vấn đề mà họ đang cần, cái họ đang cần ở đây là "pháp lý". Nghiên cứu một số nước trên thế giới về khái niệm trợ giúp pháp lý như: Vương quốc Anh, Hà Lan, Thụy Điển, Trung Quốc... xét thấy, các nhà khoa học pháp lý đều lấy lí luận về dân chủ, nhân quyền làm nền tảng, họ đánh giá trợ giúp pháp lý là một đảm bảo cho công dân có hoàn cảnh khó khăn, không có điều kiện tiếp cận và sử dụng pháp luật để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp và chính đáng của mình theo quy định của pháp luật. Mặc dù hình thức diễn đạt khác nhau về khái niệm trợ giúp pháp lý, nhưng các khái niệm này đều thể hiện rõ 4 nội dung trợ giúp cơ bản, đó là: pháp lý, kinh tế, xã hội và nhân đạo. Về kinh tế, giúp đỡ tất cả hoặc một phần tài chính chi trả cho công dân có hoàn cảnh khó khăn khi tiếp cận với pháp luật và dịch vụ pháp lý thu phí của Luật sư; về pháp lý giúp đỡ công dân giải quyết các vụ liên quan đến pháp luật đụng chạm đến quyền, lợi ích thiết thực của họ; tạo ra sự công bằng khi công dân có hoàn cảnh khó khăn tiếp cận với pháp luật; về xã hội hoạt động trợ giúp pháp lý mang tính xã hội rộng rãi, thể hiện cụ thể là luôn có sự tham gia đông đảo của các lực luợng trong xã hội trong việc phổ biến pháp luật, tạo điều kiện cho người nghèo không ngừng nâng cao nhận thức về pháp luật; về nhân đạo trợ giúp pháp lý đã thể hiện đậm nét tính nhân đạo và nhân văn sâu sắc. Ở Việt Nam, thuật ngữ "Trợ giúp pháp lý" chính thức được quy định trong trong Quyết định 734/TTg ngày 06/9/1997 của Thủ tướng Chính phủ về việc thành lập tổ chức trợ giúp pháp lý cho người nghèo và đối tượng chính sách. Theo đó thuật ngữ "Trợ giúp pháp lý" xuất hiện phổ biến trên các văn bản pháp luật, sách 7 báo và tạp chí. Trong quá trình xây dựng "Luật trợ giúp pháp lý" các nhà khoa học nghiên cứu về trợ giúp pháp lý trên cơ sở tham khảo khái niệm "trợ giúp pháp lý" của một số nước trên thế giới và các quan niệm về "trợ giúp pháp lý" ở Việt Nam để đưa ra một số khái niệm về "trợ giúp pháp lý". Theo đó khái niệm "trợ giúp pháp lý" được hiểu theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp. Theo nghĩa rộng, trợ giúp pháp lý được hiểu là việc thực hiện các dịch vụ pháp lý miễn phí của Nhà nước và xã hội cho người nghèo, người được hưởng chính sách ưu đãi và một số đối tượng khác do pháp luật quy định. Bằng các hoạt động tư vấn pháp luật, đại diện, bào chữa, kiến nghị giải quyết vụ việc và tham gia thực hiện phổ biến, giáo dục pháp luật nhằm bảo đảm cho mọi công dân bình đẳng trong tiếp cận pháp luật, góp phần thực hiện công bằng xã hội. Theo nghĩa hẹp, trợ giúp pháp lý được hiểu là việc thực hiện các dịch vụ pháp lý miễn phí của các tổ chức trợ giúp pháp lý của Nhà nước cho người nghèo và người được hưởng chính sách ưu đãi thông qua hình thức tư vấn pháp luật, đại diện, bào chữa, kiến nghị giải quyết vụ việc và tham gia thực hiện phổ biến, giáo dục pháp luật nhằm bảo đảm cho mọi công dân bình đẳng trong tiếp cận pháp luật, góp phần thực hiện công bằng xã hội. Khái niệm "trợ giúp pháp lý" nêu trên đã chỉ rõ mục đích của hoạt động trợ giúp pháp lý là nhằm hướng tới bảo đảm thực hiện công bằng xã hội, phù hợp với điều kiện ngân sách Nhà nước phải chi trả cho hoạt động trợ giúp pháp lý. Tại điều 3 - Luật Trợ giúp pháp lý được Quốc hội nước Cộng hoà XHCN Việt Nam khoá XI, kỳ họp thứ 9 thông qua ngày 29/6/2006 quy định: Trợ giúp pháp lý là việc cung cấp dịch vụ pháp lý miễn phí cho người được trợ giúp pháp lý theo quy định của luật này, giúp người được trợ giúp pháp lý bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình, nâng cao hiểu biết pháp luật, ý thức tôn trọng và chấp hành pháp luật; góp phần vào việc phổ biến, giáo dục pháp luật, bảo vệ công lý, bảo đảm công bằng xã hội, phòng ngừa, hạn chế tranh chấp và vi phạm pháp luật. 1.1.2. Khái niệm chính sách và hỗ trợ pháp lý cho người nghèo 8 Chính sách trợ giúp pháp lý là quyết định mang tính định hướng cho hoạt động hỗ trợ pháp lý hay còn gọi là trợ giúp pháp lý của Nhà nước đối với những đối tượng nhất định thông qua việc xây dựng và cung cấp dịch vụ pháp lý miễn phí cho họ nhằm đạt được mục đích nhất định. Thực hiện chính sách hỗ trợ pháp lý là đưa chính sách đó ra thực hiện trên thực tế, chẳng hạn như quy định vào pháp luật tổ chức thực hiện dịch vụ pháp lý miễn phí cho những đối tượng nhất định. Người nghèo trong xã hội là một hiện tượng xã hội: Có hai loại nghèo, nghèo về vật chất và nghèo về tinh thần (về tri thức). Nghèo về vật chất thường có những biểu hiện như thiếu ăn, thiếu mặc, thiếu tiền chi tiêu, thiếu các vật dụng phục vụ cho cuộc sống hàng ngày, nên các tiêu chuẩn về ăn, ở, mặc, đi lại, học hành không được bảo đảm. Nghèo về tinh thần thường là việc bị hạn chế về nhận thức, hạn chế trong việc hưởng thụ các giá trị nghệ thuật, thiếu hiểu biết, thiếu thông tin, hạn chế trong việc tiếp cận các quyền, tiếp cận pháp luật... Trong quá trình đổi mới, hội nhập và phát triển kinh tế thị trường ở Việt Nam, việc phân hóa giàu nghèo là rất khó tránh khỏi. Nguyên nhân dẫn đến nghèo, về khách quan, có thể từ tình trạng thiếu việc làm ở quy mô lớn, điều kiện thiên nhiên khắc nghiệt tác động đến năng suất lao động, những khó khăn chung của tình hình kinh tế, xã hội, môi trường, vị trí địa lý. Về chủ quan, có thể do năng lực tự thân, điều kiện sức khỏe, sự cố gắng, nhận thức, kiến thức, kỹ năng lao động của từng người cụ thể bị hạn chế... Mặc dù đã ở vào vị thế của các nước đang phát triển, nhưng số người nghèo ở Việt Nam là không nhỏ và theo tiêu chuẩn của Liên Hợp Quốc, thì số người nghèo ở Việt Nam đang có sự gia tăng. Trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước, Đảng và Nhà nước ta luôn có mục tiêu xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân, có chính sách giúp đỡ người nghèo, những người có hoàn cảnh khó khăn trong cuộc sống để người nghèo có điều kiện phát triển toàn diện và có thể tự làm chủ được cuộc sống vật chất, tinh thần của mình. Một trong những chính sách đó là chính sách hỗ trợ pháp lý hay còn gọi là trợ giúp pháp lý miễn phí cho người nghèo, giúp họ có thể tham gia các quan hệ pháp 9 luật, thực hiện nghĩa vụ công dân như mọi người khác để bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp, sự bình đẳng trước pháp luật cũng như bảo đảm trật tự chung của xã hội. Về địa vị pháp lý của người nghèo, Luật Trợ giúp pháp lý và Nghị định số 07/2007/NĐ-CP ngày 12/01/2007 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Trợ giúp pháp lý đã quy định: người nghèo là người thuộc hộ nghèo, được xác định theo chuẩn nghèo do Thủ tướng chính phủ quy định trong từng giai đoạn. Từ những phân tích trên có thể rút ra khái niệm thực hiện chính sách hỗ trợ pháp lý hay còn gọi là trợ giúp pháp lý cho người nghèo như sau: Đó là việc đưa chính sách trợ giúp pháp lý cho người nghèo ra thực hiện trên thực tế bằng cách từ quy định của pháp luật cung cấp dịch vụ pháp lý miễn phí cho người nghèo theo quy định, giúp người nghèo bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình, nâng cao hiểu biết pháp luật, ý thức tôn trọng và chấp hành pháp luật, góp phần vào việc phổ biến, giáo dục pháp luật, bảo vệ công lý, bảo đảm công bằng xã hội, phòng ngừa, hạn chế tranh chấp và vi phạm pháp luật. 1.2. Khái niệm và vai trò của thực hiện chính sách hỗ trợ pháp lý cho người nghèo Thực hiện tốt chính sách hỗ trợ pháp lý hay còn gọi trợ giúp pháp lý cho người nghèo là thực hiện chính sách xã hội, bảo đảm công bằng xã hội. Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX đã xác định: “Tăng trưởng kinh tế đi liền với phát triển văn hóa, từng bước cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của Nhân dân, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, phấn đấu vì một xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, mọi người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc có điều kiện phát triển toàn diện”. Thực tế qua 18 năm thực hiện chính sách trợ giúp pháp lý đã góp phần quan trọng trong việc hướng dẫn pháp luật cho người nghèo và đối tượng khác, bảo đảm cho họ được tiếp cận, sử dụng pháp luật miễn phí góp phần nâng cao nhận thức pháp luật cho người nghèo, giúp người nghèo bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, tạo điều kiện để thực hiện công bằng xã hội, bảo vệ công lý, bảo vệ quyền bình đẳng của mọi công dân trước pháp luật. 10 Thực hiện chính sách trợ giúp pháp lý cho người nghèo có vai trò nâng cao ý thức pháp luật cho người nghèo. Quá trình thực hiện chính sách trợ giúp pháp lý cho người nghèo có vai trò quan trọng trong việc đẩy mạnh công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, góp phần từng bước nâng cao nhận thức pháp luật của Nhân dân nói chung và người nghèo nói riêng, tạo ra sự công bằng trong nhận thức và sử dụng pháp luật để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, giúp người nghèo từng bước hoàn thiện hành vi ứng xử của mình phù hợp với quy định của pháp luật, bảo đảm các đối tượng trợ giúp pháp lý là người nghèo sử dụng pháp luật để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Chính vì vậy, để chính sách hỗ trợ pháp lý hay còn gọi là trợ giúp pháp lý cho người nghèo đi vào cuộc sống, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm, tăng cường và đẩy mạnh công tác phổ biến, giáo dục pháp luật với nhiều hình thức tuyên truyền phong phú để đưa pháp luật đến với Nhân dân nói chung, người nghèo nói riêng. Thực hiện chính sách hỗ trợ pháp lý hay còn gọi là trợ giúp pháp lý cho người nghèo góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người nghèo. Thông qua việc thực hiện trợ giúp pháp lý đã bảo đảm thực hiện chính sách nhất quán của Đảng ta là đặc biệt quan tâm đến người có hoàn cảnh khó khăn, người nghèo, đối tượng chính sách xã hội, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp chính đáng của họ. Hỗ trợ pháp lý hay còn gọi là trợ giúp pháp lý cho người nghèo có vai trò quan trọng là bảo vệ sự công bằng, tự do, nhân đạo, niềm tin của người dân vào lẽ phải. Từ vai trò đó của hỗ trợ pháp lý hay còn gọi là trợ giúp pháp lý đã tạo thêm nguồn lực thực hiện thắng lợi sự nghiệp đổi mới do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo, thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Các vụ việc được các tổ chức thực hiện hỗ trợ pháp lý hay còn gọi là trợ giúp pháp lý cho người nghèo tiến hành như: Tư vấn pháp luật, tham gia tố tụng, đại diện ngoài tố tụng, hoạt động trợ giúp lý khác… với các cơ quan Nhà nước có thẩm 11 quyền được xem xét và giải quyết kịp thời, đúng quy định của pháp luật. Thông qua hỗ trợ pháp lý hay còn gọi là trợ giúp pháp lý cho người nghèo, đối tượng được trợ giúp pháp lý hiểu được các thủ tục về hành chính tối thiểu, hạn chế đi lại nhiều lần gây tốn kém công sức và tiền bạc của Nhân dân. Hỗ trợ pháp lý hay còn gọi là trợ giúp pháp lý giúp chính quyền các cấp tháo gỡ khó khăn trong việc giải quyết công việc của địa phương, liên quan đến pháp luật nói chung trong đó có pháp luật về trợ giúp pháp lý cho người nghèo, góp phần làm cho chính quyền gần dân hơn, Nhân dân hiểu chính quyền hơn. Đồng thời hỗ trợ pháp lý hay còn gọi là trợ giúp pháp lý còn giúp cho các cơ quan tiến hành tố tụng giải quyết các vụ việc khách quan, công bằng và đúng quy định của pháp luật, mở rộng điều kiện tranh tụng trước tòa. Hoạt động thực hiện chính sách hỗ trợ pháp lý hay còn gọi là trợ giúp pháp lý cho người nghèo góp phần giúp người dân và các cơ quan Nhà nước, các tổ chức xã hội tuân thủ pháp luật nói chung, trong đó có pháp luật về trợ giúp pháp lý. Thông qua trợ giúp pháp lý, chủ thể thực hiện trợ giúp pháp lý đã phát hiện nhiều bất cập từ các quy định của pháp luật, nhất là pháp luật liên quan đến người nghèo. Từ đó có kiến nghị đến cơ quan có thẩm quyền để sửa đổi, bổ sung, xây dựng mới các văn bản pháp luật nhằm hoàn thiện hơn các cơ chế, chính sách và pháp luật phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của đất nước, khu vực và thế giới. Trong 18 năm qua, hỗ trợ pháp lý hay còn gọi là trợ giúp pháp lý cho người nghèo đã có những đóng góp rất quan trọng trong việc cung cấp các cơ sở về khoa học pháp lý và thực tiễn cuộc sống, góp phần quan trọng trong công tác xây dựng và hoàn thiện pháp luật về trợ giúp pháp lý cho người nghèo nói riêng và hệ thống pháp luật nói chung, phục vụ thắng lợi sự nghiệp đổi mới. Thực hiện chính sách hỗ trợ pháp lý hay còn gọi là trợ giúp pháp lý cho người nghèo là một hình thức hiện thực hóa quyền con người. Người nghèo là những người có mức sống thấp, từ đó ảnh hưởng đến tất cả các quyền khác từ học tập, chăm sóc sức khỏe, tự do đi lại, tự do cư trú, quyền được hưởng những điều kiện làm việc thích đáng… nên họ cần được xếp vào nhóm những người dễ bị tổn thương - nhóm mà Bộ luật Nhân quyền quốc tế có sự quan 12 tâm đặc biệt. Do đó, thực hiện tốt chính sách hỗ trợ pháp lý hay còn gọi là trợ giúp pháp lý cho người nghèo là một hình thức hiện thực hóa quyền con người. Trợ giúp pháp lý - một hình thức dịch vụ pháp lý mà Nhà nước cung ứng cho người nghèo để giúp họ bình đẳng trong tiếp cận công lý với các đối tượng khác, để họ sử dụng pháp luật làm công cụ bảo vệ quyền khi bị xâm phạm hoặc đe dọa xâm phạm. Qua hoạt động này, người nghèo được nâng cao hiểu biết pháp luật, khuyến nghị có ý thức tôn trọng và chấp hành pháp luật, tăng khả năng ứng xử tích cực với pháp luật (tuân thủ pháp luật, chấp hành pháp luật), giúp bảo vệ được các quyền và lợi ích hợp pháp của chính bản thân họ. Qua thực tiễn hoạt động của các tổ chức trợ giúp pháp lý cho thấy, mặc dù pháp luật được ban hành nhiều, Nhà nước đã có nhiều loại hình phổ biến, giáo dục pháp luật nhưng người dân nói chung và người nghèo nói riêng vẫn “đói” luật, vẫn không nhận thức và hiểu rằng pháp luật bảo vệ họ chứ không phải để trừng trị họ. Không thể phủ nhận rằng, ghi nhận các quyền con người, quyền công dân trong các đạo luật là một bước tiến dài về lập pháp và là biện pháp rất quan trọng bảo đảm quyền con người, quyền công dân nhưng chỉ vậy thôi thì chưa đủ. Điều quan trọng là phải được biết và hiểu về các quyền đó (biết rõ về từng quyền, có những quyền gì, làm thế nào để thực hiện được…), người dân phải biết kiến nghị để Nhà nước có giải pháp giúp họ được biết về quyền và biết đề nghị ở đâu để bảo vệ quyền, đề nghị như thế nào, kiến nghị đến ai để có hiệu quả?... Bên cạnh đó, hỗ trợ pháp lý hay còn gọi là trợ giúp pháp lý trực tiếp tham gia vào vụ việc theo thủ tục luật định về tranh tụng (hình sự, hành chính, dân sự…) để bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của người nghèo. Tổ chức trợ giúp pháp lý thực hiện trợ giúp pháp lý là một kênh giám sát công vụ trong yêu cầu thực thi nghiêm chỉnh và thống nhất các quy định của pháp luật, bảo đảm công bằng, bình đẳng cho mọi công dân trước các cơ quan Nhà nước trong việc giải quyết các công việc của dân. Thông qua từng vụ việc trợ giúp pháp lý cụ thể cho thấy những khiếm khuyết của nền công vụ, đặc biệt là trách nhiệm phục vụ công dân một cách nhanh chóng, thuận tiện, đúng pháp luật của các công chức Nhà nước đang được xem xét và đánh giá khách quan, các khiếm khuyết và sai sót đều bị kiến nghị và yêu cầu 13 khắc phục. Từ đó, trợ giúp pháp lý là công cụ bảo vệ lợi ích của Nhà nước, của xã hội và của Nhân dân, hạn chế và loại trừ các hành vi vi phạm pháp luật của các chủ thể công quyền và cá nhân. Như vậy, để hiện thực hóa quyền con người trong cuộc sống, Nhà nước phải tổ chức thực hiện qua việc tạo ra những cơ hội phù hợp khác nhau với mỗi công dân khác nhau để họ có thể tiếp cận bình đẳng các quyền và thực thi các quyền mà không bị thiệt thòi do sự khác biệt về giàu nghèo, địa vị xã hội, kém hiểu biết, thiếu thông tin…Với cách tiếp cận này, trợ giúp pháp lý chính là một biện pháp mà Nhà nước sử dụng như công cụ để bảo đảm bình đẳng trong quyền con người, quyền công dân. 1.3. Nội dung, hình thức, phương thức, chủ thể thực hiện chính sách hỗ trợ pháp lý cho người nghèo Nghiên cứu pháp luật về việc thực hiện chính sách hỗ trợ pháp lý hay còn gọi là trợ giúp pháp lý cho người nghèo cho thấy, phương tiện chủ yếu của nó là Luật Trợ giúp pháp lý. Luật này đã thể hiện rõ nội dung, quan điểm cơ bản của pháp luật về trợ giúp pháp lý trong điều kiện đổi mới và xây dựng Nhà nước pháp quyền. Tại Điều 2 Luật Trợ giúp pháp lý đã xác định trợ giúp pháp lý là việc cung cấp dịch vụ pháp lý miễn phí cho người được trợ giúp pháp lý trong vụ việc trợ giúp pháp lý theo quy định của Luật này, góp phần bảo đảm quyền con người, quyền công dân trong tiếp cận công lý và bình đẳng trước pháp luật. Như vậy, nội hàm của khái niệm trợ giúp pháp lý gồm ba nội dung chủ yếu, thứ nhất là dịch vụ pháp lý miễn phí, thứ hai là giành cho người được trợ giúp pháp lý và thứ ba là có hình thức, thủ tục phù hợp với quy định của Luật Trợ giúp pháp lý. Từ ba đặc trưng cơ bản trên luật đã thể hiện được bản chất của trợ giúp pháp lý. Theo đó, trợ giúp pháp lý được xác định là một loại hình dịch vụ pháp lý dành cho những đối tượng nhất định thuộc diện Nhà nước và xã hội phải quan tâm, giúp đỡ. Xuất phát từ nền tảng đó dịch vụ pháp lý ở đây được thực hiện miễn phí và người được trợ giúp pháp lý không phải chi trả bất cứ một khoản chi phí nào. Điều quan trọng là cung ứng các dịch vụ pháp lý phải tuân theo các quy định chặt chẽ trong luật, như các vấn đề liên 14 quan đến vụ việc trợ giúp pháp lý, hình thức trợ giúp pháp lý, phạm vi, thủ tục trợ giúp pháp lý. Luật trợ giúp pháp lý, phạm vi điều chỉnh bao gồm các vấn đề như: người được trợ giúp pháp lý, tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý, người thực hiện trợ giúp pháp lý, hoạt động trợ giúp pháp lý, quản lý nhà nước về trợ giúp pháp lý. Luật Trợ giúp pháp lý đã xác định phạm vi các đối tượng thuộc diện được hưởng lợi ích từ chính sách trợ giúp pháp lý. So với các quy định của pháp luật hiện hành, Luật Trợ giúp pháp lý đã có những thay đổi phạm vi diện người được trợ giúp pháp lý. Nếu như trước đây chỉ người nghèo, đối tượng chính sách và một số đối tượng khác mới được trợ giúp pháp lý thì Luật Trợ giúp pháp lý đã bổ sung thêm đối tượng là người già cô đơn, người tàn tật và một số đối tượng thuộc diện có công với cách mạng. Quy định mới này, một mặt là cụ thể hoá các quy định của Hiến pháp về bảo đảm quyền cho một số đối tượng cần được Nhà nước và xã hội quan tâm, giúp đỡ, mặt khác khẳng định sự nhất quán trong các chính sách xã hội của Đảng và Nhà nước ta, đặc biệt là chính sách xoá đói, giảm nghèo, chính sách ưu đãi người có công với cách mạng, chính sách dân tộc, phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế xã hội của đất nước và bản chất tốt đẹp của chế độ XHCN ở Việt Nam. Luật Trợ giúp pháp lý xác định tương đối rõ các vấn đề về tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý và người thực hiện trợ giúp pháp lý, Điều 10 Luật quy định các tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý là Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước và các tổ chức tham gia trợ giúp pháp lý. Trong đó các tổ chức tham gia trợ giúp pháp lý gồm có: Tổ chức hành nghề luật sư, tổ chức tư vấn pháp luật, thuộc tổ chức chính trị, xã hội, tổ chức chính trị, xã hội nghề nghiệp, tổ chức xã hội nghề nghiệp thực hiện đăng ký tham gia trợ giúp pháp lý. Tại Điều 17 Luật quy định người thực hiện trợ giúp pháp lý là trợ giúp viên pháp lý và người tham gia trợ giúp pháp lý là cộng tác viên của Trung tâm; Luật sư, tư vấn viên pháp luật làm việc trong các tổ chức tư vấn pháp luật thuộc tổ chức chính trị, xã hội, tổ chức chính trị, xã hội nghề nghiệp, tổ chức xã hội nghề nghiệp. Để phù hợp với bản chất của trợ giúp pháp lý, Luật Trợ giúp pháp lý đã xác định phạm vi cần điều chỉnh là các vấn đề mang tính nền tảng của hoạt động trợ giúp pháp lý như các nguyên tắc hoạt động, vụ việc trợ giúp pháp lý, phạm vi 15 thực hiện trợ giúp pháp lý, các hình thức trợ giúp pháp lý và quản lý nhà nước về trợ giúp pháp lý. Điều 3 Luật Trợ giúp pháp lý quy định các nguyên tắc hoạt động trợ giúp pháp lý như: không thu phí, lệ phí, thù lao từ người được trợ giúp pháp lý; Trung thực, tôn trọng sự thật khách quan; Sử dụng các biện pháp phù hợp với quy định của pháp luật để bảo vệ tốt nhất quyền, lợi ích hợp pháp của người được trợ giúp pháp lý; tuân thủ pháp luật và quy tắc nghề nghiệp trợ giúp pháp lý; nguyên tắc chịu trách nhiệm trước pháp luật về nội dung trợ giúp pháp lý. Đây là những quan điểm chỉ đạo mang tính xuyên suốt hoạt động trợ giúp pháp lý, buộc các chủ thể thực hiện trợ giúp pháp lý đều có trách nhiệm tuân thủ và trở thành kim chỉ nam cho hoạt động trợ giúp pháp lý. Điều 27 Luật trợ giúp pháp lý quy định rõ hình thức trợ giúp pháp lý, bao gồm: tư vấn pháp luật, tham gia tố tụng, đại diện ngoài tố tụng. Về chính sách trợ giúp pháp lý: cùng với việc xác định phạm vi điều chỉnh, Điều 4 - Luật Trợ giúp pháp lý đã thiết lập nội dung chính sách trợ giúp pháp lý của Việt Nam trong từng giai đoạn hiện nay. Theo đó, trợ giúp pháp lý là trách nhiệm của Nhà nước. Nhà nước có chính sách để bảo đảm quyền được trợ giúp pháp lý phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội; đồng thời Nhà nước có chính sách nâng cao chất lượng trợ giúp pháp lý, thu hút các nguồn lực thực hiện trợ giúp pháp lý; bên cạnh đó Nhà nước hỗ trợ, khuyến khích, ghi nhận và tôn vinh các cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia, đóng góp cho hoạt động trợ giúp pháp lý. Trong Điều 11 Luật Trợ giúp pháp lý quy định Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước là đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc Sở Tư pháp, do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thành lập, có tư cách pháp nhân, có con dấu, trụ sở và tài khoản riêng. Chi nhánh là đơn vị phụ thuộc của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước, được thành lập tại các huyện ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, giao thông không thuận tiện đến Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước và chưa có tổ chức hành nghề luật sư hoặc tổ chức tư vấn pháp luật tham gia trợ giúp pháp lý. Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước chịu trách nhiệm về toàn bộ hoạt động của Chi nhánh. Căn cứ nhu cầu và điều kiện thực tế tại địa phương, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định thành lập Chi nhánh của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước. Quán triệt quan điểm xã hội hoá hoạt động trợ 16 giúp pháp lý, Luật Trợ giúp pháp lý đã thiết lập cơ chế tham gia trợ giúp pháp lý của các tổ chức hành nghề luật sư và tổ chức tư vấn pháp luật. Như vậy, cùng với việc mở rộng diện người được trợ giúp pháp lý. Luật Trợ giúp pháp lý đã mở rộng hơn diện tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý, cho phép tổ chức hành nghề luật sư và Luật sư, Trung tâm tư vấn pháp luật tham gia trợ giúp pháp lý. Trên cơ sở nguyên tắc tự nguyện, tự quản, tự trang trải và từng bước xã hội hoá trợ giúp pháp lý, giảm gánh nặng cho Nhà nước về đội ngũ người thực hiện trợ giúp pháp lý. Luật trợ giúp pháp lý đã xác định người thực hiện trợ giúp pháp lý phải đáp ứng đầy đủ những điều kiện, tiêu chuẩn nhất định; trong đó chú trọng xây dựng đội ngũ trợ giúp viên pháp lý và đội ngũ cộng tác viên, đồng thời huy động các luật sư, tư vấn viên pháp luật tham gia trợ giúp pháp lý. Đa dạng hoá người thực hiện trợ giúp pháp lý và phù hợp với nguồn lực hiện có của Việt Nam. Về các đảm bảo để công tác trợ giúp pháp lý phát triển ổn định và vững chắc: Về nội dung này, ngoài vấn đề bảo đảm về tổ chức, cán bộ, Luật Trợ giúp pháp lý đã xác định một cơ chế đồng bộ về chỉ đạo điều hành để Luật Trợ giúp pháp lý đi vào cuộc sống. Luật đã xác định trách nhiệm và nội dung quản lý nhà nước về trợ giúp pháp lý, trách nhiệm của Chính phủ, trách nhiệm của Bộ Tư pháp, các bộ và cơ quan ngang bộ trong phối hợp thực hiện quản lý Nhà nước về trợ giúp pháp lý. Xác định trách nhiệm của UBND cấp tỉnh trong việc quản lý nhà nước, bảo đảm biên chế, kinh phí, cơ sở vật chất, trang thiết bị, phương tiện làm việc cho tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý ở địa phương có khó khăn về kinh tế. Nguồn tài chính của quỹ gồm các đóng góp tự nguyện, tài trợ của cơ quan, tổ chức, cá nhân, hỗ trợ từ ngân sách nhà nước và các nguồn hợp pháp khác. Quỹ hoạt động không vì mục đích lợi nhuận, được miễn thuế. Việc thành lập, quản lý, sử dụng quỹ do Chính phủ quy định cụ thể. Ở Việt Nam, chính sách hỗ trợ pháp lý được thể chế hóa chủ yếu trong Luật trợ giúp pháp lý. Ngoài ra, chính sách hỗ trợ pháp lý cho người nghèo còn được thể chế hóa trong: - Bộ luật hình sự; Bộ luật tố tụng hình sự và Luật thi hành án hình sự; 17 - Bộ luật dân sự; Bộ luật tố tụng dân sự và Luật thi hành án dân sự; - Luật hôn nhân gia đình và pháp luật về trẻ em; - Luật khiếu nại, tố cáo; - Luật đất đai, nhà ở; Luật môi trường và bảo vệ người tiêu dùng; - Bộ Luật lao động, việc làm, bảo hiểm; … Các lĩnh vực pháp luật liên quan đến chương trình mục tiêu quốc gia xóa đói, giảm nghèo hoặc liên quan trực tiếp đến quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân. Có thể thấy các nội dung, lĩnh vực trợ giúp pháp lý được quy định đã bao quát hết các lĩnh vực pháp luật nói chung trừ lĩnh vực kinh doanh, thương mại. 1.4. Ý nghĩa của chính sách hỗ trợ pháp lý cho người nghèo Thông qua hoạt động trợ giúp pháp lý bằng các hình thức tư vấn pháp luật, tham gia tố tụng, đại diện ngoài tố tụng, các hình thức trợ giúp pháp lý khác cho đối tượng, các tổ chức trợ giúp pháp lý đã giúp đối tượng nâng cao trình độ hiểu biết và ý thức pháp luật để họ ứng xử phù hợp với pháp luật, thực hiện pháp luật, giải toả vướng mắc pháp luật, giảm khiếu kiện vượt cấp, tự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, đồng thời giúp các cơ quan nhà nước, cơ quan tư pháp giải quyết vụ việc một cách chính xác, khách quan, công bằng và kịp thời cho đối tượng, tạo niềm tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước. Nhìn chung, sau nhiều triển khai thực hiện Quyết định số 734/TTg của Thủ tướng Chính phủ và các văn bản hướng dẫn thi hành, công tác trợ giúp pháp lý đã đạt được những kết quả quan trọng. Hệ thống tổ chức trợ giúp pháp lý đã được hình thành từ Trung ương đến địa phương, bao gồm Cục Trợ giúp pháp lý thuộc Bộ Tư pháp, Trung tâm trợ giúp pháp lý ở các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và các Chi nhánh, tổ trợ giúp pháp lý ở cấp huyện, cấp xã và từng bước được củng cố, kiện toàn. Một số Trung tâm đã được bố trí trụ sở làm việc riêng, được cấp phương tiện, trang thiết bị làm việc và kinh phí hoạt động. Đội ngũ cán bộ thực hiện trợ giúp pháp lý đã từng bước được củng cố và tăng cường, được cập nhật kiến thức pháp luật mới và bồi dưỡng kỹ năng nghiệp vụ trợ giúp. Đội ngũ cộng tác viên không 18 ngừng phát triển về số lượng và chất lượng đáp ứng yêu cầu trợ giúp pháp lý phong phú, đa dạng của nhân dân. Thực tiễn hoạt động trợ giúp pháp lý trong thời gian qua đã chứng minh chủ trương của Đảng về việc thành lập và phát triển hoạt động trợ giúp pháp lý ở nước ta là đúng đắn, kịp thời, phù hợp với nguyện vọng của đông đảo quần chúng nhân dân. Các tổ chức trợ giúp pháp lý đã khẳng định được vị trí, vai trò của mình trong việc giúp đỡ pháp lý cho đông đảo người nghèo, các đối tượng chính sách và một số đối tượng khác, đồng thời trở thành một bộ phận không thể thiếu trong đời sống pháp luật của xã hội. Hoạt động của các tổ chức trợ giúp pháp lý đã góp phần đưa chủ trương xoá đói, giảm nghèo, đền ơn, đáp nghĩa, bảo đảm công bằng xã hội của Đảng và Nhà nước vào cuộc sống; giúp các cơ quan tiến hành tố tụng và các cơ quan nhà nước khác giải quyết các vụ việc một cách chính xác, khách quan, công bằng và đúng pháp luật; góp phần giải toả những vướng mắc pháp luật của nhân dân, tạo niềm tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước; góp phần ổn định chính trị, giữ gìn trật tự an toàn xã hội; tạo lập cơ chế thực hiện nguyên tắc Hiến định: Mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật, bảo đảm công bằng xã hội; góp phần giữ vững và tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân. Trong quá trình hình thành và phát triển, hoạt động trợ giúp pháp lý có những thuận lợi rất cơ bản, đó là: được Đảng quan tâm, chỉ đạo, kịp thời có chủ trương và Nghị quyết đúng đắn về việc thành lập tổ chức tư vấn pháp luật miễn phí cho người nghèo và đối tượng chính sách. Nhà nước đã coi hoạt động trợ giúp pháp lý là một trong những chức năng xã hội của Nhà nước, là một chính sách trong Chiến lược toàn diện về tăng trưởng và xoá đói, giảm nghèo quốc gia. Nhà nước đã kịp thời thể chế hoá chủ trương, Nghị quyết của Đảng về trợ giúp pháp lý miễn phí cho người nghèo và đối tượng chính sách, tạo môi trường pháp lý thuận lợi để thành lập tổ chức, triển khai hoạt động trợ giúp pháp lý có hiệu quả, đáp ứng yêu cầu trợ giúp pháp lý của nhân dân. 19 Hoạt động trợ giúp pháp lý đã có những đóng góp nhất định vào sự ổn định chính trị và phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, phù hợp với đường lối đổi mới toàn điện đất nước của Đảng và nguyện vọng của quần chúng nhân dân nên nhận được sự quan tâm chỉ đạo của các cấp uỷ Đảng, sự đồng tình ủng hộ, tạo điều kiện của các cấp chính quyền, các cơ quan, ban ngành, tổ chức từ Trung ương tới địa phương và sự hưởng ứng, hoan nghênh của đông đảo các tầng lớp nhân dân. 1.5. Hình thức và phương thức thực hiện chính sách hỗ trợ pháp lý cho người nghèo 1.5.1. Hình thức thực hiện Nhằm thực hiện chính sách hỗ trợ pháp lý hay còn gọi là trợ giúp pháp lý cho người nghèo cần phải tiến hành theo hình thức trợ giúp nhất định. Hình thức trợ giúp pháp lý nói chung là cách thể hiện, cách tiến hành hoạt động trợ giúp pháp lý cho các đối tượng được trợ giúp pháp lý. Hiện nay, trên thế giới mỗi nước có những hình thức trợ giúp pháp lý khác nhau tùy thuộc vào tính chất, nhu cầu trợ giúp pháp lý của đối tượng được trợ giúp pháp lý. Tuy nhiên hình thức đại diện pháp lý - hình thức tổ chức trợ giúp pháp lý cử người đại diện bào chữa, bảo vệ cho người được trợ giúp pháp lý trước cơ quan tiến hành tố tụng là hình thức cơ bản nhất, được quy định trong chế định trợ giúp pháp lý của nhiều nước. Nhìn chung các nước đều cho phép thực hiện đại diện cho đối tượng ở mọi giai đoạn tố tụng. Tuy nhiên, phạm vi đại diện và việc bảo đảm đại diện có thể khác nhau tùy theo pháp luật tố tụng của từng nước. Ở Phần Lan, bên cạnh hình thức đại diện pháp lý, hình thức trợ giúp pháp lý chủ yếu là tư vấn, thu thập tài liệu. Hình thức tư vấn pháp luật là dịch vụ pháp lý nhằm giải thích pháp luật và hướng dẫn việc thực hiện pháp luật cho người được trợ giúp pháp lý thông qua lời nói hoặc văn bản, trực tiếp hoặc gián tiếp. Ngoài ra, ở Anh, Ấn Độ, Mỹ, ngoài hình thức đại diện pháp lý và tư vấn pháp luật, hình thức hòa giải cũng thường xuyên được áp dụng. Trong quá trình thụ lý vụ việc trợ giúp pháp lý, nếu thấy vụ việc có thể hòa giải được thì tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý cử người thực hiện hòa giải. Như vậy, tựu chung lại, mỗi nước đều có 20
- Xem thêm -