Tài liệu Thực hiện chính sách hỗ trợ đối với hộ dân diện di dời giải tỏa thu hồi đất trên địa bàn quận ngũ hành sơn, thành phố đà nẵng.

  • Số trang: 66 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 257 |
  • Lượt tải: 0
dangvantuan

Tham gia: 02/08/2015

Mô tả:

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI HOÀNG THỊ PHƯƠNG LOAN THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ ĐỐI VỚI HỘ DÂN DIỆN DI DỜI, GIẢI TỎA, THU HỒI ĐẤT TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN NGŨ HÀNH SƠN – THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG HÀ NỘI, năm 2018 1 VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI HOÀNG THỊ PHƯƠNG LOAN THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ ĐỐI VỚI HỘ DÂN DIỆN DI DỜI, GIẢI TỎA, THU HỒI ĐẤT TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN NGŨ HÀNH SƠN – THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG Chuyên ngành : Chính sách công Mã số : 834.04.02 LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS. TRẦN ĐÌNH HẢO HÀ NỘI, năm 2018 2 MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Việt Nam đang trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế mạnh mẽ, hội nhập làm xuất hiện những cơ hội mới: những ngành nghề mới, các lĩnh vực, khu vực mới. Song quá trình đô thị hoá, công nghiệp hoá, hiện đại hoá mạnh mẽ làm cho đất nông nghiệp thu hẹp lại, dẫn đến lao động có xu hướng thiếu và mất việc làm, thu nhập giảm. Trong quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế, hướng tới tăng tỷ trọng ngành công nghiệp – xây dựng, dịch vụ, giảm tỷ trọng ngành nông nghiệp hiện nay, Việt Nam nói chung và Đà Nẵng nói riêng đã đạt được những kết quả khả quan trong việc phát triển kinh tế. Tuy nhiên, bên cạnh đó, nguy cơ tỷ lệ thất nghiệp cao, nhu cầu về việc làm cho người lao động ngày càng trở thành một sức ép không nhỏ trong nền kinh tế.Để bù đắp cho họ một phần thiệt thòi đó, Nhà nước đã ban hành chính sách hỗ trợ cho người bị thu hồi đất, từng bước hoàn thiện theo hướng tạo điều kiện ngày càng tốt cho người có đất bị thu hồi ổn định cuộc sống và sản xuất. Tuy nhiên, vẫn chưa tập trung tạo việc làm và chuyển đổi nghề cho người có đất bị thu hồi; việc lập và tổ chức thực hiện phương án hỗ trợ tại một số dự án chưa công khai, minh bạch; một số cán bộ làm công tác giải phóng mặt bằng chưa đáp ứng yêu cầu; vai trò của các tổ chức quần chúng chưa được phát huy. Những năm gần đây, với quá trình đô thị hoá và đẩy mạnh công nghiệp hoá, Đà Nẵng là thành phố có tốc độ đô thị hóa nhanh nhiều diện tích đất ở, đất sản xuất bị thu hồi và chuyển đổi mục đích sử dụng để đầu tư phát triển đô thị theo hướng văn minh hiện đại. Cùng với tiến trình đô thị hóa của thành phố, quận Ngũ Hành Sơn là một trong những đơn vị có tốc độ đô thị hóa nhanh, toàn quận có hơn 100 dự án đã và đang triển khai thực hiện trong đó, có 6.043 hồ sơ thực hiện việc di dời giải tỏa, thu hồi đất sản xuất để nhà 3 nước thực hiện đầu tư các dự án. Tổng diện tích đất thu hồi là: 1.721ha, trong đó đất thổ cư: 286,6ha, đất nông nghiệp và các loại khác là 1.452,4ha, dẫn đến một lực lượng lớn lao động không có việc làm do bị thu hẹp hiện tích và quy mô đất sản xuất nông nghiệp, tình hình đời sống của người dân sau khi bị thu hồi đất hiện nay rất khó khăn gây ảnh hưởng đến tình hình phát triển kinh tế, tình hình an ninh - xã hội của quận nói riêng và thành phố nói chung. Mặc dù trong quá trình thu hồi đất Chính phủ và thành phố đã ban hành nhiều chính sách đối với người dân như hỗ trợ giải quyết việc làm, đào tạo chuyển đổi nghề, hỗ trợ tái định cư,… tuy nhiên những vấn đề hậu giải phóng mặt bằng mà trong đó vấn đề giải quyết việc làm cho lao động thuộc diện thu hồi đất, chính sách pháp luật về hỗ trợ còn chưa đồng bộ, bất cập và đang là vấn đề bức thiết cần được quan tâm giải quyết. Vì vậy, tôi chọn đề tài: “Thực hiện chính sách hỗ trợ đối với hộ dân diện di dời giải tỏa thu hồi đất trên địa bàn quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng” để nghiên cứu, làm luận văn tốt nghiệp của mình, với mong muốn góp phần tìm ra giải pháp có hiệu quả góp phần thực hiện chính sách trong giải quyết hỗ trợ khi nhà nước thu hồi đất nhằm góp phần thực hiện tốt chính sách an sinh xã hội trên địa bàn quận. 2. Tình hình nghiên cứu đề tài Trong đề tài này, tác giả đã hệ thống được cơ sở lí luận, cơ sở thực tiễn của tạo việc làm cho người lao động. Tác giả đã phân tích rất rõ sự tác động của công tác thu hồi đất đến đời sống và việc làm của người dân; tập trung phân tích vào các chính sách của nhà nước, của địa phương và những khó khăn trong việc tìm kiếm việc làm và các giải pháp nhằm giải quyết tạo việc làm cho lao động trong vùng bị thu hồi đất tại Khu Kinh tế Dung Quất, Quảng Ngãi. Học viên đánh giá cao phương hướng và giải pháp mà tác giả đã đưa ra. Các giải pháp mà tác giả đưa ra đã góp phần giải quyết được những khó khăn mà các địa phương đang gặp phải, tìm ra được nguyên nhân của những hạn 4 chế về tạo việc làm cho người dân bị thu hồi đất; làm rõ những nhân tố tác động đến người lao động khi khi bị thu hồi đất để đề ra những giải pháp đạt hiệu quả. Theo pháp luật hiện hành quy định về dịch chuyển đất đai bao gồm cơ chế thu hồi đất, cơ chế thực hiện hỗ trợ và cơ chế giải quyết khiếu nại của dân từ đó có giải pháp hợp lý cho quá trình thực thi pháp luật. Võ Thanh Long (2011), “Giải quyết việc làm cho người lao động vùng bị thu hồi đất sản xuất trong quá trình đô thị hóa trên địa bàn thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam”, Luận văn thạc sỹ Kinh tế, Đại học Kinh tế Đà Nẵng. Tam kỳ là một thành phố mới được công nhận là thành phố thuộc tỉnh, quá trình đô thị hóa diễn ra tương đối nhanh, tuy nhiên việc giải quyết việc làm cho lao động sau khi nhà nước thu hồi đất vẫn còn nhiều bức xúc. Thực tế cho thấy, người lao động trong vùng bị thu hồi đất không tìm được việc làm, hoặc tìm được việc làm không ổn định, tình trạng doanh nghiệp sau khi tuyển dụng lao động nhưng trả lương quá thấp khiến người lao động tự bỏ việc,… Ở đề tài này tác giả đã làm rõ những vấn đề: + Lý luận về giải quyết việc làm cho lao động vùng thu hồi đất; + Nghiên cứu thực trạng về giải quyết việc làm cho lao động bị thu hồi đất ở thành phố Tam Kỳ thời gian qua, tìm ra nguyên nhân của những hạn chế. Từ đó tác giả đã đề xuất một số giải pháp có tính khả thi để giải quyết việc làm cho lao động thuộc diện thu hồi đất ở thành phố Tam Kỳ. Ngoài các tài liệu nghiên cứu trên, còn có nhiều những bài báo khoa học, những nghiên cứu nói về việc cần phải giải quyết việc làm cho lao động thuộc diện thu hồi đất ở nhiều khía cạnh, cũng như những khó khăn còn tồn tại của vấn đề này. Đến nay, chưa có công trình nào nghiên cứu về đề tài: “Thực hiện chính sách hỗ trợ đối với hộ dân diện di dời, giải tỏa, thu hồi đất trên địa 5 bàn quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng”. 3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 3.1. Mục đích nghiên cứu - Phân tích đánh giá khi thực hiện chính sách này tại quận Ngũ Hành Sơn - Đề xuất các giải pháp nhằm tăng cường công tác thực hiện chính sách hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất tại địa bàn quận Ngũ Hành Sơn, TP Đà Nẵng trong thời gian tới nhằm giải quyết hài hòa giữa các bên liên quan là Nhà nước, nhà đầu tư và người thu hồi đất. 3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu Đề tài có nhiệm vụ nghiên cứu: - Tổng quan lý luận cơ bản về chính sách hỗ trợ đối với người dân diện di dời khi nhà nước thu hồi đất. - Phân tích thực trạng chính sách hỗ trợ trên địa bàn quận Ngũ Hành Sơn. - Đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường công tác thực hiện chính sách hỗ trợ đối với người dân diện di dời khi Nhà nước thu hồi đất nói chung và tại quận Ngũ Hành Sơn nói riêng. 4. Đối tượng và nội dung nghiên cứu 4.1. Đối tượng nghiên cứu - Đối tượng nghiên cứu trong luận văn: là chính sách hỗ trợ đối với người dân diện di dời thu hồi đất. 4.2. Phạm vi nghiên cứu - Về thời gian: Nghiên cứu về chính sách của Nhà nước và Thành phố Đà Nẵng hỗ trợ hộ dân diện di dời khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng giai đoạn 2003-2017. 6 - Về không gian: Nghiên cứu tại các địa phương có quy hoạch thu hồi đất trên địa bàn quận Ngũ Hành Sơn; gồm 4/4 phường của quận Ngũ Hành Sơn: Phường Mỹ An, Phường Khuê Mỹ, Phường Hòa Hải và Phường Hòa Quý. 5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 5.1. Phương pháp luận Là cách tiếp cận nghiên cứu dựa trên cơ sở các chính sách ban hành để thực hiện với quá trình tổ chức thực hiện chính sách ở cơ sở theo chu trình thực hiện chính sách với sự tham gia của các chủ thể thực hiện chính sách. 5.2. Phương pháp nghiên cứu Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu như: - Phương pháp thu thập thông tin: được sử dụng để thu thập, phân tích và khai thác thông tin từ các nguồn có sẵn liên quan đến đề tài nghiên cứu, bao gồm các văn kiện, tài liệu, Nghị quyết, Quyết định của Đảng, Nhà nước, Bộ, Ngành ở Trung ương và thành phố Đà Nẵng, quận Ngũ Hành Sơn; các công trình nghiên cứu, các báo cáo, tài liệu thống kê của chính quyền, ban ngành đoàn thể, tổ chức, cá nhân liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp tới chính sách và thực hiện chính sách hỗ trợ tại quận Ngũ Hành Sơn nói riêng. - Phương pháp phân tích và tổng hợp: được sử dụng để phân tích và tổng hợp các quy định của pháp luật về hỗ trợ khi nhà nước thu hồi đất nói chung và các thông tin về thực tiễn áp dụng hỗ trợ tại các dự án trên đại bàn quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng. - Phương pháp thống kê: nhằm tiến hành thu thập tài liệu, số liệu báo cáo phục vụ cho việc phân tích và đánh giá kết quả. - Phương pháp phân tích và đánh giá chính sách: tìm hiểu các chính sách hiện hành, các nghiên cứu đã có về chính sách trong lĩnh vực giải phóng mặt bằng, nêu quan điểm của các tác giả từ đó đề ra các giải pháp phù hợp với 7 địa bàn nghiên cứu. - Phương pháp chuyên gia: được sử dụng để tham khảo và kiểm trai lại các phân tích, đánh giávà đề xuất thực hiện chính sách hỗ trợ ở địa bàn nghiên cứu. - Phương pháp xã hội học: Thu thập các dữ liệu xây dựng chính sách giải phóng mặt bằng; đánh giá cán bộ trực tiếp người dân được hưởng chính sách. 6. Ý nghĩa lý luận và phương pháp thực tiễn 6.1. Ý nghĩa lý luận - Đề tài có ý nghĩa về mặt lý luận và thực tế vận dụng các kiến thức để đánh giá thực hiện chính hỗ trợ. - Qua nghiên cứu đề đã cho thấy việc vận dụng lý luận về đánh giá chính sách công trong quá trình triển khai thực hiện đã phát hiện các vấn đề hỗ trợ làm cơ sở và định hướng cho việc đưa ra các kiến nghị cho thực hiện chính sách tại quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng nói riêng. 6.2. Ý nghĩa thực tiễn Các phân tích đánh giá về thực hiện chính sách hỗ trợ tại địa bàn quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng đã cho thấy những kết quả, tồn tại và từ đó đề xuất các giải pháp nhằm khắc phục tồn tại thực hiện các mục tiêu của chính sách, khẳng định tính đúng đắn của chính sách. 7. Kết cấu luận văn Gồm có phần mở đầu và kết luận, nội dung Luận văn được chia thành các chương: Chương 1: Những vấn đề lý luận về thực hiện chính sách hỗ trợ đối với hộ dân diện di dời, giải tỏa, thu hồi đất khi nhà nước thu hồi đất. Chương 2: Thực trạng thực hiện chính sách hỗ trợ đối với hộ dân diện di dời, giải tỏa, thu hồi đất khi nhà nước thu hồi đất ở quận Ngũ Hành Sơn – 8 thành phố Đà Nẵng. Chương 3: Giải pháp hoàn thiện và đảm bảo thực hiện chính sách hỗ trợ đối với hộ dân diện di dời, giải tỏa, thu hồi đất trên địa bàn quận Ngũ Hành Sơn. CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ ĐỐI VỚI HỘ DÂN DIỆN DI DỜI, GIẢI TỎA, THU HỒI ĐẤT KHI NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT 1.1. Cơ sở lý luận và thực tiễn về thực hiện chính sách hỗ trợ đối với hộ dân thuộc diện di dời, giải tỏa, thu hồi đất 1.1.1. Mục tiêu, nội dung và các nhân tố ảnh hưởng đến chính sách hỗ trợ - Khái niệm: Chính sách hỗ trợ đối với hộ dân thuộc diện di dời, giải tỏa, thu hồi đất là tổng thể các quan niệm, chủ trương, phương tiện và hành động của cơ quan nhà nước trong lĩnh vực hỗ trợ đối với người dân có đất bị thu hồi nhằm đạt tới sự hài hòa, hợp lý về lợi ích, hiệu quả và phát triển bền vững. 9 Chính sách hỗ trợ đối với hộ dân thuộc diện di dời, giải tỏa, thu hồi đất là căn cứ quan trọng mà dựa vào đó để xác dịnh nội dung, mức độ hỗ trợ, chuyển đổi nghề nghiệp, hỗ trợ sản xuất, ổn định đời sống cho người dân bị thu hồi đất. - Mục tiêu của chính sách hỗ trợ đối với hộ dân thuộc diện di dời, giải tỏa, thu hồi đất: Thứ nhất: Đảm bảo quyền và lợi ích của người sử dụng đất, người sở hữu nhà ở. Thứ hai: Khuyến khích người dân giao đất. Thứ ba: Ổn định việc làm góp phần nâng cao đời sống cho người dân mất đất. - Nội dung của chính sách hỗ trợ Quy định mức và phương thức hỗ trợ Quy định hỗ trợ người bị thu hồi đất Quy định phương thức và mức hỗ trợ - Các nhân tố ảnh hưởng đến chính sách hỗ trợ : Cơ sở pháp lý liên quan đến việc thu hồi đất Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất Hoạt động giao đất, cho thuê đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở Chính sách định giá quyền sử dụng đất ở Việt Nam về tổ chức thực hiện chính sách hỗ trợ. 1.1.2. Các tính chất của việc hỗ trợ khi thu hồi - Tính phức tạp: Ở nước ta đất nông nghiệp là tư liệu sản xuất không thể thiếu được trong sản xuất nông nghiệp; cư dân sống chủ yếu vào hoạt động sản xuất nông nghiệp, trình độ sản xuất chưa cao, khả năng chuyển đổi nghề khó khăn, do đó việc định giá hỗ trợ, tuyên truyền, vận động người dân 10 giao đất rất khó khăn; chính sách hỗ trợ chuyển đổi nghề và sinh kế là điều cần thiết cho người dân có đất nông nghiệp bị thu hồi. Đất ở, khu vực đô thị có giá trị cá, thuận lợi trong kinh doanh và sinh sống có giá trị, gây khó khăn cho việc thu hồi đất. Tình trạng lấn chiếm xây nhà trái phép vẫn diễn ra. Bên cạnh đó việc tạo công ăn việc làm hậu giải tỏa chưa đáp ứng được yêu cầu ổn định cuộc sống ở nơi mới. Đến nay vẫn rất khó khăn khi Nhà nước thu hồi đất. - Tính đa dạng: Tùy theo đặc điểm của từng vùng mà việc HT thực hiện tại các dự án khác nhau và mục đích sử dụng HT khác nhau. * Vai trò của chính sách hỗ trợ đối với hộ dân thuộc diện di dời, giải tỏa, thu hồi đất khi Nhà nước thu hồi đất Liên quan đến vấn đề hỗ trợ,vai trò việc thực hiện chính sách được thể hiện ở những khía cạnh sau: Thứ nhất: Bảo đảm phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh của đất nước. Luật đất đai quy định: Nhà nước thu hồi đất đai đang sử dụng để phục vụ cho mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng và có phương án hỗ trợ cho người dân khi bị thu hồi đất. Quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước sẽ tăng nhu cầu phát triển kết cấu hạ tầng kỹ thuật, cơ sở hạ tầng xã hội do đó quỹ đất Nhà nước cần phải thu hồi là rất lớn. Thứ hai, góp phần hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật đất đai nói chung và chính sách pháp luật về hỗ trợ nói riêng. Việc tổ chức thực hiện chính sách, pháp luật đất đai nói chung, và chính sách hỗ trợ nói riêng giúp cho chúng ta có cơ sở để tổng kết, đánh giá hiệu quả của hệ thống pháp luật Thứ ba, góp phần khắc phục những hạn chế, yếu kém trong hoạt động của cơ quan nhà nước trong công tác giải phóng mặt bằng. Việc thực hiện chính sách về hỗ trợ của cơ quan nhà nước phải được 11 thanh tra, kiểm tra cơ quan nhà nước có thẩm quyền và sự giám sát của các cơ quan dân cử các phương tiện triền thông và quan trọng hơn là sự giám sát của nhân dân, sẽ giúp kịp thời phát hiện những sai phạm, yếu kém trong quá trình tổ chức thực hiện việc hỗ trợ. Pháp chế xã hội chủ nghĩa là nguyên tắc hiến định trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước.Theo đó mọi cơ quan, tổ chức, cá nhân phải tuyệt đối tuân thủ các quy định pháp luật của Nhà nước.Nói cách khác pháp chế là tính “linh thiêng” của pháp luật.Thực hiện đúng pháp luật trên thực tế sẽ làm cho pháp chế được đảm bảo. 1.1.3. Các nguyên tắc và yêu cầu đối với công tác hỗ trợ đối với hộ dân thuộc diện di dời, giải tỏa, thu hồi đất - Chính sách hỗ trợ được thực hiện thông qua một hoặc kết hợp các hình thức bằng tiền, bằng đất, quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà và đảm bảo công bằng, công khai, minh bạch, đúng pháp luật. - Hiệu quả tiết kiệm ngân sách Nhà nước cả trong trước mắt cũng như lâu dài. Phải tiết kiệm, không được lãng phí nhưng vẫn đảm bảo được lợi ích và điều kiện sống của người bị thu hồi đất. - Giải quyết hợp lý của các bên liên quan 1.2. Nội dung thực hiện chính sách hỗ trợ đối với hộ dân thuộc diện di dời, giải tỏa, thu hồi đất khi nhà nước thu hồi đất * Các bước tổ chức thực hiện chính sách - Phân công, phối hợp thực hiện chính sách: các cơ quan, các ngành, các cấp cần có sự phối hợp chặt chẽ để tổ chức thực hiện chính sách đạt hiệu quả. - Theo dõi, đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện chính sách được đảm bảo các nguyên tắc, yêu cầu, điều kiện hay không, có đạt được các mục tiêu, sử dụng tốt các giải pháp và công cụ đã lựa chọn hay không, có tuân thủ đúng 12 quy trình, các quy định về mặt pháp lý hay không; có thu hút được sự quan tâm, đồng tình, ủng hộ và hưởng ứng tham gia của đối tượng chính sách hay không; có thực sự tạo ra những tác động lành mạnh, tích cực đối với đời sống xã hội hay không… vẫn là sự quan tâm của các nhà làm chính sách. Qua theo dõi, kiểm tra, đôn đốc nhằm kịp thời bổ sung, hoàn thiện chính sách để nâng cao hiệu lực,hiệu quả thực hiện chính sách. - Đây là quá trình xem xét, kết luận về chỉ đạo điều hành và chấp hành chính sách của các chủ thể và các đối tượng thực thi chính sách HT khi nhà nước thu hồi đất. * Các yếu tố đảm bảo thực hiện chính sách hỗ trợ đối với hộ dân thuộc diện di dời, giải tỏa, thu hồi đất khi nhà nước thu hồi đất - Yêu cầu thực hiện mục tiêu: Thực hiện chính sách là những hoạt động chủ thể của các cơ quan quản lý nhà nước và các đối tượng chính sách nhằm đạt những mục tiêu trực tiếp. Muốn thực hiện thành công các chính sách, Nhà nước phải xác định mục tiêu chính sách thành những kết hoạch và chương trình cụ thể. - Bảo đảm về chính trị, tư tưởng: Chấp hành sự lãnh đạo của đảng bằng những đường lối chủ trương chính sách đúng đắn về công tác giải phóng mặt bằng. Một số chủ trương liên quan trực tiếp đến những vấn đề nêu trên đã được Đảng lãnh đạo và ban hành. - Bảo đảm về pháp lý: Nhận thức được tầm quan trọng của việc giải quyết các kiến nghị, khiếu nại, phản ánh của người dân, năm 2008, UBND quận đã thành lập Tổ công tác giải tỏa đền bù để vừa theo dõi, tham mưu lãnh đạo giải quyết các vướng mắc, đẩy nhanh tiến độ các dự án vừa tham mưu trong công tác giải quyết trả lời đơn thư công dân. Sau này, để đảm bảo triển khai công tác tiếp công dân theo Luật tiếp công dân 2013 và các văn bản hướng dẫn dưới luật, UBND quận đã ban hành: Quyết định số 2121/QĐ- 13 UBND ngày 28/7/2014 thành lập Ban tiếp công dân quận; Quyết định số 2131/QĐ-UBND ngày 29/7/2014 về việc ban hành Nội quy tiếp công dân tại trụ sở tiếp công dân quận. Do có sự thay đổi về nhân sự và kiện toàn lại Ban tiếp công dân đúng theo tiêu chuẩn, UBND quận đã ban hành Quyết định số 1106/QĐ-UBND ngày 07/4/2017 về việc tổ chức lại Ban tiếp công dân quận và Quyết định 1181/QĐ-UBND ngày 13/4/2017 quy định về tổ chức và hoat động của Ban tiếp công dân (quy định rõ nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức, biên chế, công tác phối hợp trong hoạt động tiếp công dân, điều kiện bảo đảm hoạt động tiếp công dân). - Bảo đảm về đời sống cho người bị thu hồi đất: Thực hiện chính sách, pháp luật về hỗ trợ khi nhà nước thu hồi đất GPMB cần phải có nguồn kinh phí, vật chất khá lớn và cả về cơ chế chính sách và trình độ, năng lực, phẩm chất của cán bộ, công chức. Đồng thời phải có trình độ chuyên môn sâu, hiểu rõ, đúng những thay đổi của văn bản pháp quy trong từng thời điểm, phải có trung thực thì cần phải xây dựng được hệ thống cơ chế chính sách đồng bộ từ quy hoạch, đến đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cả về phẩm chất chính trị, cả về chuyên môn và khả năng thực thi công việc và chế độ đãi ngộ phù hợp trong lĩnh vực này * Tiêu chí đánh giá kết quả thực hiện chính sách hỗ trợ đối với hộ dân thuộc diện di dời, giải tỏa, thu hồi đất - Số lượng dự án triển khai đúng tiến độ - Số lượng vụ kiện về HT hàng năm - Chính sách hỗ trợ, an sinh xã hội đối với người dân bị thu hồi đất - Lợi ích của các đối tượng chính sách có được đảm bảo hài hòa không - Chi phí cho công tác HT so với kế hoạch dự kiến. 1.3. Kinh nghiệm thực hiện chính sách hỗ trợ người dân khi nhà 14 nước thu hồi đất một số địa phương * Kinh nghiệm Thành phố Hồ Chí Minh Thành phố Hồ Chí Minh là đại phương có diện tích chuyển sang đất sủ dụng cho mục đính phi nông nghiệp lớn nhất so với các địa phương khác trong cả nước. Cơ chế định giá phù hợp với thị trường trước khi Ủy ban nhân dân thành phố quyết định giá để tính hỗ trợ là cách triển khai rất khách quan, đảm bảo đước tính đồng thuận giữa cơ quan nhà nước và người bị thu hồi đất. * Kinh nghiệm của thành phố Đà Nẵng Thành phố Đà Nẵng đã và đang thực hiện tốt trong vấn đề thu hồi đất đai, giải phóng mặt bằng và tái định cư có đến 92% người dân Thành phố Đà Nẵng đồng ý chấp hành. Để được kết quả như trên cần làm tốt những công việc sau: - Trong quá trình kiểm đếm đất đai, vật kiến trúc, cây cối hoa màu làm cơ sở để lập phương án hỗ trợ, đại đa số các hộ gia đình trong diện hỗ trợ giải phóng mặt bằng được tham gia. - Hội đồng giải phóng mặt bằng đều được thành lập ở mỗi dự án. Dự án được triển khai ở quận, huyện nào thì Chủ tịch UBND quận, huyện đó làm chủ tịch Hội đồng GPMB. - Định kỳ hằng tháng chủ tich Ủy ban nhân dân Thành phố đều xếp lịch tiếp dân để nghe nguyện vọng, giải quyết những vấn đề bức xúc của người dân. * Kinh nghiệm của quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng Cùng với quá trình đô thị hóa của thành phố Đà Nẵng, quận Cẩm Lệ được TP quy hoạch mở rộng để trở thành trung tâm kinh tế- văn hóa ở cửa ngõ phía Tây, Tây nam của TP. Do đó, trong thời gian qua, đi đôi với quy hoạch đầu tư phát triển, Cẩm Lệ đã tập trung làm tốt công tác giải quyết việc 15 làm cho người lao động trong khu vực giải tỏa đền bù. Nhờ vậy đã góp phần ổn định tình hình và tác động tích cực, tạo sự đồng thuận của người dân trên địa bàn trong việc xây dựng, phát triển địa phương.... một lượng khá lớn các hộ dân nằm trong khu vực giải tỏa đền bù để lấy đất xây dựng, chỉnh trang đô thị và phát triển TP theo hướng đô thị hóa ngày càng mạnh. Với việc ban hành và triển khai thực hiện Đề án này, đến nay đã góp phần rất quan trọng để Cẩm Lệ nói riêng và Đà Nẵng nói chung thực hiện khá tốt công tác vận động di dời, giải tỏa đền bù, tái định cư và giải quyết việc làm, ổn định cuộc sống của người dân vùng di dời. Để đảm bảo việc làm cho người dân, Quận đã tập trung cả hệ thống chính trị từ quận xuống phường tuyên truyền các chủ trương quy hoạch; tương lai của dự án và các vấn đề an sinh cho người dân sau khi giải tỏa như: chính sách đền bù, giải quyết việc làm và đào tạo nghề, điều kiện sống khi chuyển đến nơi ở mới...; tạo tâm lý yên tâm cho người dân và sự đồng thuận thông qua các phiên chợ việc làm giúp cho người lao động và doanh nghiệp tìm được nhau. Với sự nỗ lực và thông qua cách làm trên của Cẩm Lệ, thời gian qua quận luôn làm tốt công tác vận động người dân tích cực tham gia di dời, nhường đất cho các dự án đầu tư phát triển trên địa bàn. Số liệu báo cáo tại Hội nghị tổng kết Đề án giải quyết việc làm cho người lao động trong độ tuổi lao động của TP Đà Nẵng giai đoạn 2005-2020 do UBND thành phố Đà Nẵng tổ chức đầu tháng 6 vừa qua, UBND quận Cẩm Lệ cho biết: Trong 5 năm qua, Quận đã giải quyết việc làm cho 7.959 lao động và đào tạo 1.717 người trong độ tuổi. Thông qua Đề án chuyển đổi ngành nghề và giải quyết việc làm cho nông dân tại khu đô thị sinh thái Hòa Xuân, Quận đã tổ chức đối thoại trực tiếp với người dân tại 6 điểm. đào tạo nghề cho 699 người dân để giúp cho người dân có việc làm ổn định. Quận đã làm cầu nối giữa người dân với 16 doanh nghiệp trên địa bàn quận như: Công ty Dệt may Hòa Thọ, Công ty Phước Tường, Công ty Nhật Linh và Khu công nghiệp Hòa Cầm..., giới thiệu cho hơn 1.170 lao động vào làm việc. Ngoài ra, quận phối hợp với Sở Lao động- Thương binh và Xã hội, Trung tâm Giới thiệu việc làm Đà Nẵng tổ chức 2 phiên chợ việc làm thu hút hơn 1.200 người tham gia, giải quyết 210 lao động. Đặc biệt tổ chức 1 phiên tại phường Hòa Xuân - nơi có 3.210 hộ dân di dời thu hút hơn 1.000 người tham gia, giải quyết 298 lao động. Có thể nói, từ khi triển khai Đề án đào tạo nghề và giải quyết việc làm cho nông dân Khu đô thị Hòa Xuân, số lao động được giải quyết việc làm và đào tạo nghề tăng lên từng năm và cơ bản đã giải quyết được bài toán khó trên của quận. Tiểu kết luận chương 1 Trong quá trình thực hiện các dự án việc di dời giải tỏa, quy hoạch phát triển đô thị sẽ nảy sinh không ít vấn đề xã hội bức xúc về việc làm, thu nhập và cuộc sống mới của người dân, đòi hỏi chúng ta cần phải tập trung nguồn lực, huy động sức mạnh của các ngành, các cấp để cùng giải quyết những khó khăn, đặc biệt là sự nỗ lực và đồng thuận của người dân trong vùng quy hoạch. Quận Ngũ Hành Sơn là địa phương có những chủ trương, giải pháp cụ thể giúp người nông dân bị thu hồi đất nông nghiệp tìm việc làm, chuyển đổi ngành nghề sớm ổn định cuộc sống; đồng thời nhanh chóng chuyển lực lượng lao động nông nghiệp sang các ngành nghề thương mại, dịch vụ, công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp… góp phần thúc đẩy tiến trình phát triển công nghiệp hoá-hiện đại hoá của thành phố; Qua thực tế điều tra thực trạng lao động hộ di dời giải toả, thu hồi đất sản xuất trên địa bàn quận, UBND quận Ngũ Hành Sơn xây dựng “Đề án hỗ trợ chuyển đổi ngành nghề và giải quyết việc làm cho hộ nông dân thuộc diện 17 di dời giải toả, thu hồi đất sản xuất trên địa bàn quận giai đoạn 2015 - 2020” nhằm định hướng, giúp cho cho người lao động tìm kiếm được việc làm mới và ngành nghề phù hợp có thu nhập, đồng thời tạo niềm tin cho người nông dân vào chủ trương, chính sách giải tỏa, đền bù của Đảng và Nhà nước, góp phần chăm lo an sinh xã hội và phát triển quận Ngũ Hành Sơn ngày càng văn minh, hiện đại phù hợp với quy hoạch phát triển của Thành phố và Quận trong tương lai./. 18 CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ ĐỐI VỚI HỘ DÂN DIỆN DI DỜI, GIẢI TỎA, THU HỒI ĐẤT KHI NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT Ở QUẬN NGŨ HÀNH SƠN 2.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của quận Ngũ Hành Sơn ảnh hưởng đến thực hiện chính sách hỗ trợ đối với hộ dân thuộc diện di dời, giải tỏa, thu hồi đất, khi Nhà nước thu hồi đất 2.1.1 Đặc điểm về điều kiện tự nhiên Ngũ Hành Sơn là đơn vị hành chính 01 trong 08 quận, huyện (kể cả huyện đảo Hoàng Sa) của thành phố Đà Nẵng, được thành lập khi Thành phố được chia tách từ tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng (cũ) để trở thành đơn vị hành chính trực thuộc Trung ương vào năm 1997. Quận có diện tích tự nhiên là 3.653ha, dân số 80 ngàn người, nằm về phía Đông Nam (giáp Biển Đông) và cách trung tâm Thành phố khoảng 10km. Với vị trí địa lý như trên, quận Ngũ Hành Sơn đóng vai trò quan trọng chiến lược trong quá trình phát triển về kinh tế - xã hội, đảm bảo quốc phòng - an ninh của thành phố Đà Nẵng và có nhiều lợi thế để phát triển, có bờ biển bãi cát dài nối với các di sản văn hóa thế giới: Đô thị cổ Hội An, thánh địa Mỹ Sơn, cố đô Huế…để phát triển mạnh mẽ về ngành du lịch và dịch vụ. Sau 17 năm thành lập xây dựng và phát triển, dưới sự lãnh đạo sâu sát của Thành phố và sự nỗ lực của cả hệ thống chính trị địa phương, nhất là sự lãnh đạo toàn diện của Đảng bộ quận, kinh tế - xã hội Quận phát triển nhanh chóng, tình hình quốc phòng, an ninh được đảm bảo, đời sống vật chất lẫn tinh thần của nhân dân được nâng lên đáng kể, dần dần vươn lên, ngang bằng với các địa phương bạn và từng bước trở thành Khu đô thị du lịch phía Đông Nam thành phố Đà Nẵng. Đó chính là thành quả của sự cố gắng không ngừng của các cấp ủy Đảng, Chính quyền, Mặt 19 trận và nhân dân quận Ngũ Hành Sơn trong suốt thời gian qua. Về dân số có(theo số liệu thống kê ngày 01 tháng 4 năm 2010) toàn quận có 43.084 người với mật độ dân số: 1.171 người/km2. Hiện nay, dân số tăng lên 61.441 với 16.470 hộ, trong đó số luợng người trong độ tuổi lao động là 40.765 người, chiếm 67,7% so với tổng dân số của quận. Tốc độ tăng dân số bình quân hằng năm là 1,20%. Số lao động đang có việc làm 26.385 người; lao động thiếu việc làm và việc làm không ổn định 14.380 người; Về đời sống : Tuy là quận nội thành nhưng thực trạng đời sống nhân dân còn thấp so với các quận trong thành phố. Năm 2011 toàn quận có 12.019 hộ trong đó 2.695 hộ nghèo với 10.971 khẩu chiếm tỷ lệ 22,4 % so với tổng số hộ, trong đó có 197 hộ đặc biệt nghèo nhóm I với 597 nhân khẩu trong đó đối tượng xã hội neo đơn gồm 92 hộ với 170 khẩu đang hưởng trợ cấp xã hội; hộ đặc biệt nghèo Nhóm II và III có 216 hộ với 995 khẩu. 2.1.2. Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của quận Ngũ Hành Sơn ảnh hưởng đến thực hiện chính sách về hỗ trợ, khi Nhà nước thu hồi đất. - Tổng giá trị sản xuất các ngành kinh tế thuộc quận quản lý tăng bình quân hằng năm (2016 - 2020) là 15,92%. - Tổng giá trị sản xuất ngành du lịch – dịch vụ - thương mại do quận quản lý tăng bình quân hằng năm là 20,75%. tỷ trọng trong cơ cấu kinh tế năm 2016 là 66% đến năm 2020 tăng lên 77,7%. - Số lượng và quy mô sản xuất kinh doanh không ngừng tăng lên, năm 2015 có 1.273 doanh nghiệp đến năm 2017 có 2.075 doanh nghiệp, hộ cá thể tăng từng năm từ 20 – 30%. - Giá trị sản xuất Công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp – xây dựng cơ bản: giá trị sản xuất tăng bình quân hằng năm là 4,26%; tỷ trọng cơ cấu kinh tế năm 2016 là 29,8% đến 2020 giảm xuống còn 19,5%. - Ngành nông nghiệp – thủy sản: tăng bình quân hằng năm 4,96%; 20
- Xem thêm -