Tài liệu Thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững từ thực tiễn huyện thăng bình, tỉnh quảng nam .

  • Số trang: 87 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 330 |
  • Lượt tải: 0
dangvantuan

Tham gia: 02/08/2015

Mô tả:

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI ĐẶNG VĂN HÙNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG TỪ THỰC TIỄN HUYỆN THĂNG BÌNH, TỈNH QUẢNG NAM LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG HÀ NỘI, năm 2019 VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI ĐẶNG VĂN HÙNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG TỪ THỰC TIỄN HUYỆN THĂNG BÌNH, TỈNH QUẢNG NAM Chuyên ngành : Chính sách công Mã số : 8 34 04 02 NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS, TS. NGUYỄN THỊ HOÀI LÊ HÀ NỘI, năm 2019 LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan: Luận văn này là công trình nghiên cứu của bản thân tôi, được thực hiện dưới sự hướng dẫn của PGS.TS. Nguyễn Thị Hoài Lê. Các số liệu, những kết luận nghiên cứu được trình bày trong luận văn là trung thực, khách quan dựa trên kết quả nghiên cứu thực tế và các tài liệu đã được công bố. Đà nẵng, ngày tháng năm 2019 Tác giả Đặng Văn Hùng MỤC LỤC MỞ ĐẦU ....................................................................................................................1 CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG ................................................................................................7 1.1. Những vấn đề lý luận về thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững.................7 1.2. Thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững ......................................................18 1.3. Thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững của một số địa phương trong nước ...................................................................................................................................26 CHƯƠNG 2. THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG TỪ THỰC TIỄN HUYỆN THĂNG BÌNH, TỈNH QUẢNG NAM ...........................31 2.1. Tình hình nghèo từ thực tiễn huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam ..................31 2.2. Thực trạng nghèo từ thực tiễn huyện Thăng Bình .............................................35 2.3. Thực trạng thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững từ thực tiễn huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam ...................................................................................42 2.4. Đánh giá kết quả thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững từ thực tiễn huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam ...................................................................................55 CHƯƠNG 3. MỤC TIÊU VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG TRÊN TỪ THỰC TIỄN HUYỆN THĂNG BÌNH, TỈNH QUẢNG NAM ..................................................................60 3.1. Quan điểm chủ yếu trong việc thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững từ thực tiễn huyện Thăng Bình ......................................................................................60 3.2. Mục tiêu đến năm 2020 ......................................................................................61 3.3. Những thuận lợi, khó khăn .................................................................................62 3.4. Một số giải pháp cơ bản thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững từ thực tiễn huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam ........................................................................63 3.5. Một số kiến nghị.................................................................................................75 KẾT LUẬN ..............................................................................................................78 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ...............................................................79 MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài luận văn Thực hiện mục tiêu giảm nghèo là chủ trương lớn của Đảng, Nhà nước ta nhằm cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của người nghèo, góp phần thu hẹp khoảng cách chênh lệch về mức sống giữa nông thôn và thành thị, giữa các vùng, các dân tộc và các nhóm dân cư, đồng thời thực hiện quyết tâm trong việc thực hiện mục tiêu thiên niên kỷ của Liên hợp quốc mà Việt Nam đã cam kết. Nước ta là một nước nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ đang được chú trọng phát triển nhưng chưa mạnh. Đảng và Nhà nước ta luôn xác định việc xóa đói, giảm nghèo là một trong những quốc sách hàng đầu cần phải tập trung, góp phần quan trọng vào ổn định và phát triển kinh tế - xã hội, đó là tiền đề để phát triển nền kinh tế quốc dân. Giảm nghèo bền vững đã và đang trở thành vấn đề vừa mang tính cấp bách vừa mang tính lâu dài, là một trong những chính sách quan trọng của Đảng và Nhà nước ta. Trong những năm qua, Việt Nam đã đạt được những thành tựu đáng kể trong công tác giảm nghèo, tốc độ giảm nghèo bình quân hằng năm khoảng 2%. Tuy nhiên công tác giảm nghèo ở nước ta vẫn còn nhiều vấn đề cần phải tiếp tục giải quyết, tỷ lệ chênh lệnh về thu nhập và mức sống giữa khu vực thành thị và khu vực nông thôn còn cao, số hộ nghèo và tỷ lệ hộ nghèo vẫn ở mức cao, việc thoát nghèo chưa mang tính bền vững mà có nguy cơ tái nghèo. Đây là những vấn đề lớn mà Đảng và Nhà nước cần phải tiếp tục quan tâm giải quyết để thực hiện tốt hơn nữa chính sách giảm nghèo bền vững của Quốc gia. Thăng Bình là một huyện đồng bằng của tỉnh Quảng Nam, có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế - xã hội. Nhờ có đường lối, chủ trương đúng đắn của Đảng, Nhà nước, Thăng Bình đã và đang vận dụng sáng tạo các cơ chế, chính sách về kinh tế - xã hội, từng bước xây dựng, phát triển theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đã đạt được thành quả đáng trân trọng, tạo nền tảng cho sự phát triển những năm đến thuận lợi hơn. Trong những năm qua, những chính sách tích cực 1 trong việc phát triển kinh tế - xã hội của huyện Thăng Bình đã góp phần cải thiện đời sống vật chất và tinh thần trong nhân dân, tạo cơ hội để giảm nghèo bền vững, xây dựng gia đình ấm no, hạnh phúc, bình đẳng và tiến bộ, người dân trong huyện ngày càng có điều kiện phát triển toàn diện. Tuy nhiên, việc thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững từ thực tiễn huyện Thăng Bình trong thời gian qua vẫn còn những hạn chế như: Tỷ lệ hộ nghèo đều giảm qua các năm, tuy nhiên các hộ thoát nghèo vẫn chưa thật sự bền vững và có nguy cơ tái nghèo; việc thực hiện chính sách đào tạo nghề và giải quyết việc làm cho người nghèo vẫn còn hạn chế bởi đa số các hộ nghèo từ thực tiễn huyện là các hộ cao tuổi, bệnh tật; bên cạnh đó sự phối hợp giữa các cấp, các ngành trong công tác giảm nghèo chưa được thường xuyên, chỉ tập trung vào một số ngành. Đây là những nguyên nhân làm hạn chế hiệu quả của chính sách giảm nghèo bền vững từ thực tiễn huyện. Nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của người dân, từng bước giảm nghèo bền vững được xem là nhiệm vụ trọng tâm trong chính sách phát triển kinh tế - xã hội của Huyện Thăng Bình. Xuất phát từ những yêu cầu và tình hình thực tế việc thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững từ thực tiễn huyện Thăng Bình, tôi nhận thấy vấn đề nghèo và chính sách giảm nghèo bền vững cần được quan tâm và có những chính sách phù hợp thì mới có thể thực hiện tốt hơn công tác giảm nghèo bền vững ở địa phương. Đây là lý do mà tôi chọn đề tài “Thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững từ thực tiễn huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam” để làm luận văn tốt nghiệp của mình. 2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn Trong thời gian qua, vấn đề thực hiện chính sách giảm nghèo luôn được quan tâm, có nhiều công trình nghiên cứu, nhiều luận văn tốt nghiệp đã đề cập đến chính sách giảm nghèo bền vững ở các địa phương khác nhau trên cả nước như: - Đề tài “thực trạng đói nghèo và giải pháp xóa đói giảm nghèo ở một số tỉnh ven biển Miền trung”; đề tài cấp Bộ do PGS.TS Khống Diễn chủ nhiệm. Đề tài đã phân tích làm rõ thực trạng nghèo đói chung của vùng ven biển Miền Trung, làm rõ 2 sự khác biệt về đói nghèo giữa các nhóm dân tộc kinh và dân tộc thiểu số, giữa đồng bằng và miền núi ở các tỉnh này, từ kết quả nghiên cứu đề tài đề xuất các kiến nghị, giải pháp có tính khả thi và phù hợp với thực trạng của vùng nhằm thực hiện xóa đói giảm nghèo hiệu quả, phát triển bền vững kinh tế - xã hội tại các tỉnh ven biển Miền Trung. - Luận văn thạc sỹ của tác giả Nguyễn Xuân Nghiêm về “Thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững cho người dân tộc Cơtu từ thực tiễn huyện Đông Giang, tỉnh Quảng Nam”. Tác giả đã khái quát về đặc điểm tự nhiên, dân số và kinh tế - xã hội của huyện Đông Giang tỉnh Quảng Nam, những đặc trưng riêng của người Cơ tu; nghiên cứu về thực trạng thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững đối với đồng bào dân tộc Cơ tu từ thực tiễn huyện Đông giang tỉnh Quảng Nam; chỉ ra những hạn chế trong quá trình thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững đối với đồng bào dân tộc Cơ tu từ thực tiễn tỉnh Quảng Nam từ đó đưa ra những giải pháp thiết thực phù với với con người và vùng đất này. - Luận văn thạc sỹ của tác giả Kiều Quang Huấn về “Chính sách giảm nghèo bền vững từ thực tiễn huyện Thạch Thất, Thành phố Hà Nội”. Tác giả phân tích, đánh giá thực trạng giảm nghèo từ thực tiễn huyện để từ đó đưa ra các giải pháp giảm nghèo mang tính bền vững, phù hợp với tình hình phát triển của thành phố nói chung và của huyện nói riêng. - Luận văn thạc sỹ của tác giả Nguyễn Doãn Tuấn về “Quản lý nhà nước về giảm nghèo bền vững từ thực tiễn huyện Phước Sơn, tỉnh Quảng Nam”. Tác giả hệ thống hóa cơ sở lý thuyết về quản lý nhà nước đối với nghèo đói và phân tích, đánh giá thực trạng quản lý nhà nước về giảm nghèo bền vững ở huyện Phước Sơn, tỉnh Quảng Nam. Đề xuất một số giải pháp và kiến nghị nhằm tăng cường vai trò quản lý nhà nước đối với công tác GNBV giai đoạn 2018-2020 ở huyện Phước Sơn nói riêng và các huyện miền núi tỉnh Quảng Nam nói chung. Từ các công trình nghiên cứu nêu trên, cho thấy rằng cơ bản đã đề cập giải quyết những nội dung về lý luận và thực tiễn XĐGN ở nước ta. Các kết quả nghiên cứu này là nguồn tài liệu tham khảo quý giá, để tác giả có cái nhìn tổng quan về 3 Thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững (GNBV) từ thực tiển huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam. Các công trình, các bài viết nêu trên đã nghiên cứu về XĐGN ở nhiều mức độ, góc độ khác nhau và đã có đóng góp quan trọng làm cơ sở khoa học để Nhà nước xây dựng chính sách XĐGN. Tuy nhiên, vấn đề GNBV có vai trò rất quan trọng trong phát triển KTXH nhất là trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập quốc tế sâu rộng như hiện nay, cho nên việc nghiên cứu đề tài GNBV vẫn luôn có ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn. Mặt khác, hiện tại chưa có công trình nào nghiên cứu cụ thể và toàn diện về vấn đề Thực hiện chính sách GNBV từ thực tiển huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam với cách tiếp cận đầy đủ dưới góc độ của khoa học Quản lý công. Tuy nhiên đến thời điểm hiện nay, chưa có đề tài nào nghiên cứu về chính sách giảm nghèo bền vững từ thực tiễn huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam. 3. Mục đích, nhiệm vụ của đề tài * Mục đích: - Luận văn nghiên cứu đánh giá được kết quả và nguyên nhân thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững từ thực tiễn huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam. - Đề xuất được các giải pháp cơ bản để thực hiện tốt chính sách giảm nghèo bền vững từ thực tiễn huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam. * Nhiệm vụ của đề tài: - Làm rõ một số vấn đề lý luận về nghèo, giảm nghèo bền vững và chính sách giảm nghèo bền vững. - Tìm hiểu thực trạng tình hình giảm nghèo, chính sách giảm nghèo bền vững từ thực tiễn huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam. - Rút ra những hạn chế, tồn tại, chỉ rõ nguyên nhân trong việc thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững từ thực tiễn huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam. - Nghiên cứu, đề xuất một số giải pháp giảm nghèo bền vững từ thực tiễn huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam. 4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn * Đối tượng nghiên cứu: 4 Việc thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững từ thực tiễn huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam. * Phạm vi nghiên cứu: + Về không gian: Nghiên cứu trong phạm vị huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam. + Về Thời gian: Nghiên cứu thông qua số liệu được thống kê và tổng hợp trong giai đoạn 2014 - 2018. 5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu. Luận văn vận dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp để thu thập, phân tích và khai thac thông tin từ các nguồn có sẵn liên quan đến luận văn nghiên cứu, bao gồm các văn kiện, tài liệu, Nghị quyết, Quyết định của Đảng, Nhà nước, bộ ngành Trunng ương và địa phương; các công trình nghiên cứu, các báo cáo, tài liệu thống kê của chính quyền, ban ngành đoàn thể, tổ chức, cá nhân liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp tới vấn đề giảm nghèo bền vững ở nước ta nói chung và huyện Thăng Bình nói riêng. Đồng thời thu thập các tài liệu của tổ chức và cá nhân học giả trong nước liên quan luận văn trong thời gian qua. Kết hợp cùng với phương pháp thống kê, khái quát thực tiễn, phương pháp phân tích định tính, suy luận logic, diễn giải trong quá trình phân tích, đánh giá chính sách. Ngoài ra, luận văn cũng sử dụng phương pháp chuyên gia thông qua, tham vấn và lấy ý kiến của một số cán bộ quản lí nhà nước có liên đến tổ chức thực hiện chính sách giảm nghèo ở địa bàn nghiên cứu cùng với phương pháp quan sát, phỏng vấn nhanh hộ nghèo. 6. Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn của luận văn 6.1. Về mặt lý luận: Luận văn có ý nghĩa về mặt lý luận, người học nghiên cứu, bổ sung kiến thức lý thuyết về chính sách giảm nghèo bền vững ở Việt nam; đồng thời biết vận dụng lý thuyết về chính sách công để đánh giá thực tiễn thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững ở đia phương. 5 6.2. Về mặt thực tiễn: Dựa trên cơ sở đánh giá đúng thực trạng của đói nghèo từ thực tiển huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam, luận văn chỉ rõ những ưu điểm và hạn chế trong Thực hiện chính sách GNBV tại huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam. Từ đó đề xuất phương hướng và giải pháp phù hợp, khả thi nhằm nâng cao hiệu quả Thực hiện chính sách GNBV từ thực tiển huyện trong thời gian tới. Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo để nghiên cứu, học tập cũng như giúp người đọc có thể hiểu thêm về những vấn đề lý luận, thực tiễn Thực hiện chính sách GNBV ở huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam. Đồng thời, luận văn cũng có thể là nguồn tài liệu giúp nhà quản lý đưa ra những chính sách đúng đắn và hiệu quả trong quá trình thực hiện chính sách đối với công tác GNBV. 7. Kết cấu của luận văn Ngoài phần mở đầu, kết luận, nội dung chính của luận văn được trình bày thành 3 chương: Chương 1: Cơ sở lý luận về chính sách giảm nghèo bền vững Chương 2: Thực trạng thực hiện chính sách giảm nghèo từ thực tiễn huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam. Chương 3: Mục tiêu và một số giải pháp thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững từ thực tiễn huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam 6 CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG 1.1. Những vấn đề lý luận về thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững 1.1.1. Giảm nghèo 1.1.1.1 Quan niệm về nghèo: Hiện nay, có rất nhiều quan niệm về nghèo cụ thể là: Tại Hội nghị bàn về giảm đói nghèo trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương do ESCAP tổ chức tháng 9/1993 tại Băng Cốc (Thái Lan) đã định nghĩa về nghèo: “Nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và thoả mãn những nhu cầu cơ bản của con người, mà những nhu cầu này đã được xã hội thừa nhận tuỳ theo trình độ phát triển KTXH và phong tục tập quán của địa phương” [27, tr.13]. Nghèo tuyệt đối là không được thoả mãn những nhu cầu cơ bản (cả nhu cầu lương thực cũng như nhu cầu phi lương thực) nhưng những nhu cầu cơ bản này lại tuỳ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế và phong tục tập quán của từng địa phương chứ không cố định. Nghèo tương đối là tình trạng một bộ phận dân cư có mức sống dưới trung bình của cộng đồng địa phương hay một nước. Như vậy, nghèo là một phạm trù lịch sử, nghèo sẽ còn tồn tại lâu dài trong xã hội, do sự khác biệt về năng lực, thể chất, nguồn gốc thu nhập chính đáng, địa vị xã hội giữa các cá nhân. Vì thế chỉ có thể từng bước giảm nghèo chứ chưa thể tiến tới xóa nghèo. 1.1.1.2. Quan niệm về giảm nghèo: Do cách đánh giá và nhìn nhận nguồn gốc của nghèo khác nhau nên cũng có nhiều quan niệm về giảm nghèo khác nhau, hiểu một cách chung nhất, giảm nghèo là quá trình làm cho bộ phận dân cư nghèo nâng cao mức sống, từng bước thoát khỏi tình trạng nghèo. Biểu hiện ở tỷ lệ phần trăm và số lượng người nghèo giảm xuống. 7 Cụ thể hơn, giảm nghèo là một quá trình chuyển một bộ phận dân cư nghèo lên một mức sống cao hơn. Theo đó, giảm nghèo là quá trình chuyển từ tình trạng có ít điều kiện lựa chọn sang tình trạng có nhiều hơn, hướng đến sự đầy đủ hơn các điều kiện lựa chọn hơn để cải thiện đời sống mọi mặt của mỗi người. 1.1.1.3. Quan niệm về tái nghèo: Tái nghèo được hiểu là tình trạng một hộ gia đình đã thoát nghèo quay trở lại hộ nghèo trong một thời gian nhất định. Trong những năm qua, mặc dù Đảng và Nhà nước đã thực hiện có hiệu quả nhiều chính sách xoá đói, giảm nghèo nhưng kết quả giảm nghèo chưa thực sự bền vững, số hộ đã thoát nghèo nhưng mức thu nhập nằm sát chuẩn nghèo còn lớn, tỷ lệ hộ tái nghèo hàng năm còn cao; chênh lệch giàu và nghèo giữa các vùng, nhóm dân cư vẫn còn khá lớn, đời sống người nghèo nhìn chung vẫn còn nhiều khó khăn, nhất là ở khu vực miền núi, vùng cao, vùng sâu, vùng xa,vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Ở Việt Nam, Chính phủ cũng đã chỉ ra nguyên nhân của tình trạng tái nghèo là một số chương trình, chính sách giảm nghèo chưa đồng bộ, còn mang tính ngắn hạn, thiếu sự gắn kết chặt chẽ; cơ chế quản lý, chỉ đạo điều hành, phân công phân cấp còn chưa hợp lý, việc tổ chức thực hiện mục tiêu giảm nghèo ở một số nơi chưa sâu sát. Ngoài ra, một bộ phận người nghèo còn tâm lý ỷ lại, chưa tích cực, chủ động vươn lên thoát nghèo, thậm chí thay đổi chuẩn nghèo cũng gây ra hiện tượng tái nghèo. 1.1.1.4. Tiêu chí xác định chuẩn nghèo: Chuẩn nghèo là thước đo, là tiêu chí để xác định đối tượng nghèo hay không nghèo, trên thế giới hiện đang áp dụng các hình thức chuẩn nghèo như sau: - Chuẩn nghèo dựa vào thu nhập hay chi tiêu, được quy đổi thành tiền xuất phát từ quan niệm là để thỏa mãn các nhu cầu tối thiểu, mỗi người cần phải có một khoản thu nhập/chi tiêu ở mức độ tối thiểu để thỏa mãn các nhu cầu đó. Chuẩn nghèo dựa vào thu nhập/chi tiêu được nhiều quốc gia sử dụng trong đó có Việt Nam, nhằm làm cơ sở xác định đối tượng thụ hưởng chính sách trợ giúp của nhà nước. 8 - Chuẩn nghèo quy ra 1USD hoặc 2 USD (theo sức mua tương đương) là cách Ngân hàng thế giới đưa ra nhằm để so sánh mức độ nghèo đói giữa các quốc gia, đây không phải chuẩn nghèo các quốc gia sử dụng để hoạch định chính sách giảm nghèo. - Chuẩn nghèo đa chiều, là tiêu chí đo lường sự thiếu hụt các nhu cầu cơ bản của mỗi con người, phụ thuộc vào điều kiện phát triển cụ thể của mỗi quốc gia trong từng giai đoạn nhất định. Hiện nay, khái niệm nghèo đa chiều đang được các tổ chức quốc tế như UNDP, ngân hàng thế giới sử dụng để giám sát, đo lường sự thay đổi về mức độ tiếp cận nhu cầu cơ bản giữa các quốc gia, thông qua các chỉ số HDI (thu nhập,tỷ lệ biết chữ, tuổi thọ) hay hiện nay là chỉ số MPI (chỉ số nghèo đa chiều). Chỉ số nghèo đa chiều đánh giá được một loạt các yếu tố quyết định hay những thiếu thốn, túng quẫn ở cấp độ gia đình: từ giáo dục đến những tác động về sức khỏe, đến tài sản và các dịch vụ. Những chỉ số này cung cấp đầy đủ hơn bức tranh về sự nghèo khổ sâu sắc so với các thang đo về thu nhập giản đơn. Thang đo này biểu lộ cả tính tự nhiên và quy mô của sự nghèo khổ ở các cấp độ khác nhau: từ cấp độ gia đình đến cấp độ khu vực, cấp độ quốc gia và cấp độ quốc tế. - Chuẩn nghèo của Việt Nam được xác định theo quyết định số 09/2014/QĐTTg, ngày 30/01/2014 của Thủ tướng Chính phủ về ban hành chuẩn nghèo quốc gia giai đoạn 2014 - 2018, theo đó trong giai đoạn này hộ nghèo của Việt Nam được xác định như sau: + Vùng nông thôn: Hộ nghèo là hộ có mức thu nhập từ nghèo là hộ có mức thu nhập từ 800.000đồng/người/tháng trở xuống. + Vùng thành thị: Hộ 1.000.000đồng/người/tháng trở xuống. - Trong năm 2018, việc điều tra, rà soát hộ nghèo được xác định theo hai chuẩn là chuẩn nghèo giai đoạn 2014 - 2018 (chuẩn cũ) để đánh giá công tác giảm nghèo giai đoạn 2014 - 2018, và chuẩn nghèo giai đoạn 2016-2020 (chuẩn mới) để áp dụng chính sách giảm nghèo cho giai đoạn 2016-2020. Đây là sự chuyển đổi phương pháp đo lường nghèo từ đơn chiều sang đa chiều. Chuẩn nghèo mới giai 9 đoạn 2016-2020 sử dụng kết hợp cả chuẩn nghèo về thu nhập và mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản. Các tiêu chí về thu nhập: + Chuẩn mức sống tối thiều về thu nhập là mức thu nhập đảm bảo chi trả được những nhu cầu tối thiểu nhất mà mỗi người cần phải có để sinh sống, bao gồm nhu cầu về tiêu dùng lương thực, thực phẩm và tiêu dùng phi lương thực, thực phẩm phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội của đất nước trong từng thời kỳ. + Chuẩn nghèo về thu nhập là mức thu nhập mà nếu hộ gia đình có thu nhập dưới mức đó sẽ được coi là hộ nghèo về thu nhập. Chuẩn nghèo về thu nhập dùng để xác định quy mô nghèo về thu nhập của quốc gia, xác định đối tượng thụ hưởng chính sách hỗ trợ (gọi là chuẩn nghèo chính sách). + Chuẩn mức sống trung bình về thu nhập: Là mức thu nhập mà ở đó người dân đã đạt được mức sống trung bình của xã hội, bao gồm nhu cầu về tiêu dùng lương thực, thực phẩm và tiêu dùng phi lương thực, thực phẩm, phù hợp với điều kiện kinh tế-xã hội của đất nước trong từng thời kỳ. + Các dịch vụ xã hội cơ bản gồm 5 dịch vụ: Tiếp cận về y tế, giáo dục, nhà ở, nước sạch và vệ sinh, tiếp cận thông tin. + Các chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt gồm 10 chỉ số: trình độ giáo dục của người lớn, tình trạng đi học của trẻ em, tiếp cận các dịch vụ y tế, bảo hiểm y tế, chất lượng nhà ở, diện tích nhà ở bình quân đầu người, nguồn nước sinh hoạt, loại hố xí, sử dụng dịch vụ viễn thông, tài sản phục vụ tiếp cận thông tin. + Ngưỡng thiếu hụt đa chiều: là mức độ thiếu hụt mà nếu hộ gia đình thiếu nhiều hơn mức độ này thì bị coi là thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản, từ 1/3 tổng điểm thiếu hụt trở lên. Hộ nghèo là hộ có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ chuẩn nghèo chính sách trở xuống; hoặc có thu nhập bình quân đầu người/tháng cao hơn chuẩn nghèo chính sách nhưng thấp hơn chuẩn mức sống tối thiểu và thiếu hụt từ 1/3 tổng số điểm thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản trở lên. (Các chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt các dịch vụ xã hội cơ bản gồm 10 chỉ 10 số: tiếp cận các dịch vụ y tế; bảo hiểm y tế (BHYT); trình độ giáo dục của người lớn; tình trạng đi học của trẻ em; chất lượng nhà ở; diện tích nhà ở bình quân đầu người; nguồn nước sinh hoạt; hố xí/nhà tiêu hợp vệ sinh; sử dụng dịch vụ viễn thông; tài sản phục vụ tiếp cận thông tin) [38]. 1.1.1.5. Nguyên nhân nghèo - Trên thế giới nguyên nhân nghèo bao gồm những nguyên nhân chủ yếu sau: + Sự khác nhau về của cải. + Sự khác nhau về khả năng cá nhân. + Sự khác nhau về giáo dục đào tạo. + Các nguyên nhân khác như chiến tranh, thiên tai, rủi ro… - Ở Việt Nam, nguyên nhân nghèo được chia theo 3 nhóm: + Nhóm nguyên nhân điều kiện tự nhiên: khí hậu khắc nghiệt, thiên tai, bão lụt, hạn hán, sâu bệnh, đất đai, thổ nhưỡng, địa hình phức tạp, giao thông khó khăn,…chính những nguyên nhân này tạo ra sự kìm hãm sản xuất, gây ra tình trạng đói nghèo. + Nhóm nguyên nhân chủ quan của người nghèo: Thiếu vốn, thiếu lao động, đông con, thiếu kiến thức làm ăn, thất nghiệp, bệnh tật, rủi ro, mắc tệ nạn xã hội, … + Nhóm nguyên nhân thuộc về cơ chế chính sách: Thiếu hoặc không đồng bộ về chính sách đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng cho các khu vực khó khăn, vốn tín dụng, các chính sách khuyến khích sản xuất, khuyến nông, lâm, ngư, hướng dẫn cách làm ăn, đào tạo nghề, giải quyết việc làm, xuất khẩu lao động, hỗ trợ đất đai, tư liệu sản xuất, y tế, giáo dục, định canh định cư, nguồn lực đầu tư hạn chế,… Đây là 3 nhóm nguyên nhân chính dẫn đến nghèo của nước ta hiên nay 1.1.2. Giảm nghèo bền vững 1.1.2.1.Quan niệm chung về GNBV: Cho đến nay, chưa có một quan niệm thống nhất về GNBV. Tuy nhiên, vấn đề giảm nghèo luôn được đề cập khi nói đến phát triển bền vững và GNBV là nhân tố quan trọng tạo nên sự phát triển bền vững. Ngược lại, khi kinh tế phát triển bền vững lại tạo điều kiện để GNBV. 11 GNBV có thể được hiểu là quá trình thực hiện cải thiện đời sống vật chất, tinh thần cho người nghèo hướng tới nâng cao năng lực tự thoát nghèo và không rơi trở lại trạng thái nghèo của người dân. Về nguyên tắc, giải quyết vấn đề nghèo nói chung cần đảm bảo trên cả 2 phương diện số lượng và chất lượng. Về số lượng, giảm nghèo sẽ là số tuyệt đối hộ nghèo giảm được trong một khoảng thời gian nhất định, cần phân biệt giữa số hộ nghèo giảm với số hộ thoát nghèo, hai khái niệm này chỉ đồng nhất với nhau khi không có các yếu tố khác tác động đến như di chuyển dân cư, tái nghèo... Về chất lượng giảm nghèo là khái niệm để chỉ thực chất của kết quả giảm nghèo, mà vấn đề cần đạt được là đời sống người nghèo được nâng lên sau khi có tác động hỗ trợ, khoảng cách thu nhập với các nhóm dân cư khác được rút ngắn về mặt tốc độ, khi gặp rủi ro hay bất trắc sẽ không bị rơi vào tình trạng nghèo đói, hay nói cách khác, chất lượng giảm nghèo suy cho cùng là phản ánh tính bền vững của quá trình giảm nghèo. GNBV ngoài việc bảo đảm hoàn thành các mục tiêu giảm nghèo đã định trong từng giai đoạn, từng thời kỳ. Cần hướng đến việc khắc phục một cách có hiệu quả nhất những bất cập, hạn chế trong giảm nghèo để tránh tình trạng tái nghèo, cải thiện ở mức tốt nhất thu nhập và điều kiện sống của người nghèo. Từng bước giúp họ có thể tự vươn lên một cách vững vàng thông qua việc họ có các điều kiện và cơ hội khai thác các nguồn lực xã hội cơ bản để phát triển. Đồng thời, hướng tới việc nắm bắt các xu hướng tác động đến chất lượng giảm nghèo để có cách thức bảo đảm tính bền vững cho thành quả giảm nghèo. Từ nhận thức nêu trên, có thể cụ thể hoá quan niệm GNBV trên các khía cạnh sau: Thu nhập bình quân đầu người của các hộ nghèo tăng, tỷ lệ hộ nghèo giảm theo từng năm, từng giai đoạn. Điều kiện sống của người nghèo được cải thiện rõ rệt, trước hết là các điều kiện sống cơ bản về y tế, giáo dục, văn hoá, nước sinh hoạt, nhà ở, và người nghèo cũng được tiếp cận ngày càng thuận lợi hơn các dịch vụ xã hội cơ bản. 12 Người nghèo có được nhiều hơn các cơ hội để vươn lên tự thoát nghèo và phát triển thông qua hệ thống các chủ trương, chính sách giảm nghèo đồng bộ và có tính khả thi của Đảng và Nhà nước. GNBV là việc tạo điều kiện cho người nghèo có khả năng tiếp cận với 5 nội dung cơ bản đó là: y tế, giáo dục, điều kiện sống, việc làm và tiếp cận thông tin. Chỉ có thể giảm nghèo một cách bền vững khi chúng ta giải quyết được vấn đề trên, giúp cho người nghèo có nhiều cơ hội được tiếp cận với văn hóa, xã hội, thông tin và nâng cao đời sống vật chất. Giảm nghèo và GNBV là một trong những nội dung của quá trình phát triển bền vững. Bởi vậy, GNBV thực sự cần thiết và có ảnh hưởng nhiều mặt đối với sự phát triển KTXH. Có thể khái quát sự cần thiết của GNBV trong quá trình phát triển KTXH trên các phương diện như: đóng góp của GNBV với tăng trưởng kinh tế và tiến bộ công bằng xã hội; với ổn định chính trị, phát triển xã hội, là điều kiện cho phát triển kinh tế. 1.1.2.2. Quan điểm chỉ đạo của Đảng và Nhà nước ta về GNBV. *Giảm nghèo là chủ trương lớn, nhất quán của Đảng, Nhà nước: Có thể khẳng định rằng, chiến lược toàn diện về tăng trưởng, XĐGN tại Việt Nam là đúng đắn, hợp lòng dân, phù hợp với xu hướng chung của thế giới. Mặc dù kinh tế đất nước còn khó khăn nhưng Đảng, Nhà nước luôn coi công tác giảm nghèo là một trong những mục tiêu quan trọng. Trong những năm qua, Đảng, Nhà nước không ngừng bão sung, hoàn thiện hệ thống chính sách về XĐGN. Nhiều nghị quyết, chỉ thị, chiến lược, quyết định, chính sách quan trọng về công tác XĐGN đã được ban hành để phù hợp với từng thời kỳ phát triển của đất nước. Các chương trình, chính sách giảm nghèo đã huy động sức mạnh, sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, toàn xã hội (các tập đoàn kinh tế, các doanh nghiệp, các tổ chức xã hội) và sự vươn lên của chính người nghèo..., tạo nguồn lực to lớn cùng với nguồn lực của Nhà nước thực hiện hiệu quả công tác có ý nghĩa xã hội sâu sắc này. Kết quả tích cực của công cuộc XĐGN đã góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, thực hiện công bằng xã hội, an sinh xã hội 13 cho người dân vùng đặc biệt khó khăn. Do vậy, quan điểm nhất quán là cần phải huy động vai trò của cả hệ thống chính trị và xã hội trong thực hiện chính sách này. GNBV là yêu cầu cấp thiết để phát triển bền vững. Bước sang thời kỳ thực hiện công cuộc đổi mới, xoá bỏ cơ chế tập trung, quan liêu, bao cấp để chuyển sang nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Việc giải phóng sức sản xuất, phát triển kinh tế làm cho thu nhập, đời sống của đại đa số nhân dân từng bước được cải thiện. Tuy nhiên, do điểm xuất phát của nền kinh tế thấp, lại chịu hậu quả lớn của chiến tranh và thiên tai, dịch bệnh, kèm theo tác động mạnh mẽ của cơ chế thị trường, nên sự phân hoá thu nhập, đời sống giữa các vùng ngày càng tăng nhanh. Trong quá trình đổi mới, hội nhập và phát triển, bộ phận dân nghèo kể cả những gia đình có công với cách mạng, chịu nhiều thiệt thòi. Vì vậy, thu hẹp khoảng cách chênh lệch giàu, nghèo và trợ giúp người nghèo đã trở thành nhu cầu bức thiết, và là một trong những biểu hiện bản chất xã hội chủ nghĩa. * Thực hiện chính sách giảm nghèo phải hướng đến GNBV: GNBV được hiểu là kết quả những nỗ lực của Nhà nước cộng đồng và người dân về giảm nghèo có khả năng chịu được những rủi ro thông thường. Nghị quyết Đại hội đại biểu Toàn quốc lần thứ XI của Đảng đã khẳng định: Tập trung triển khai có hiệu quả các chương trình giảm nghèo ở vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn. Đa dạng hoá các nguồn lực và phương thức xoá đói, giảm nghèo gắn với phát triển nông nghiệp, nông thôn, phát triển giáo dục, dạy nghề và giải quyết việc làm để xoá đói, GNBV; tạo điều kiện và khuyến khích người đã thoát nghèo vươn lên làm giàu và giúp đỡ người khác thoát nghèo [15, tr.224]. Để cụ thể hóa hơn định hướng của Đảng, Chính phủ đã đưa ra mục tiêu cần đạt được trong giảm nghèo từ 2011 đến 2020, đặc biệt là Nghị quyết số 80/NQ-CP về định hướng GNBV thời kỳ từ năm 2011 đến năm 2020 đã xác định: GNBV là một trong những trọng tâm của Chiến lược phát triển KTXH giai đoạn 2011 - 2020 nhằm cải thiện và từng bước nâng cao điều kiện sống của người 14 nghèo, trước hết ở khu vực miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số; tạo sự chuyển biến mạnh mẽ, toàn diện ở các vùng nghèo; thu hẹp khoảng cách chênh lệch giữa thành thị và nông thôn, giữa các vùng, các dân tộc và các nhóm dân cư [11, tr.2]. Nhằm thực hiện được các mục tiêu trên, trong giai đoạn 2011 - 2020 cần quán triệt quan điểm GNBV của Đảng trong việc thực hiện những chương trình, dự án, chính sách giảm nghèo: Chương trình mục tiêu quốc gia về giảm nghèo, thực hiện Chương trình 135 giai đoạn 3, tiếp tục thực hiện Nghị quyết 30a của Chính phủ và các chương trình phát triển KTXH khác. Nguồn lực để thực hiện công tác giảm nghèo sẽ được huy động tối đa, không chỉ bằng ngân sách nhà nước mà cần huy động sự tham gia với tinh thần trách nhiệm cao của cộng đồng xã hội và đặc biệt là từ chính bản thân người nghèo. Phối hợp nhiều phương thức hỗ trợ người nghèo như hỗ trợ người nghèo trong vay vốn tín dụng ưu đãi, hỗ trợ về nhà ở, hỗ trợ về cung cấp và tạo điều kiện duy trì với các loại dịch vụ, hỗ trợ giao đất, giao rừng; về đào tạo nguồn nhân lực... Đồng thời khắc phục những hạn chế như: Các chương trình giảm nghèo triển khai chưa toàn diện, nhiều chính sách, chương trình giảm nghèo được ban hành nhưng còn mang tính ngắn hạn, chồng chéo, nguồn lực cho giảm nghèo chưa đáp ứng yêu cầu, lại bị phân tán, dàn trải, thiếu giải pháp cụ thể gắn kết việc thực hiện chính sách giảm nghèo với chính sách an sinh xã hội, việc phối hợp chỉ đạo thực hiện giữa các bộ, ngành, địa phương chưa chặt chẽ, hiệu quả. Với những quan điểm đồng bộ như vậy, sẽ đảm bảo tính khả thi trong việc thực hiện mục tiêu GNBV của của Đảng và Nhà nước trong giai đoạn 2011 2020. Trên thực tế, mặc dù đã được sự quan tâm của Đảng và Chính phủ nhưng công tác giảm nghèo, đặc biệt là XĐGN cho đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa vẫn còn nhiều hạn chế, chưa bền vững. Để GNBV cần đảm bảo những yếu tố sau: -Thứ nhất là “năng lực", bao gồm năng lực của người dân, năng lực cộng đồng và năng lực của chính quyền. Trong thực tế, có những quốc gia, địa phương 15 có được kết quả giảm nghèo ấn tượng (giảm nghèo nhanh) nhưng do chỉ dựa vào nguồn trợ giúp nên khi nguồn trợ giúp không còn thì người dân trở lại với nghèo đói. Ngược lại, khi năng lực của người dân, năng lực cộng đồng năng lực chính quyền tốt thì người dân có thể chủ động vươn lên thoát nghèo bằng chính nỗ lực của họ cùng với năng lực hỗ trợ của chính quyền, đồng thời trong một cộng đồng tốt thì hiệu quả của những đối phó rủi ro cũng cao hơn. Điều này sẽ tạo điều kiện cho việc GNBV. - Thứ hai là cơ hội phát triển. Nếu thiếu cơ hội để phát triển thì không sử dụng được năng lực để giảm nghèo. Cơ hội phát triển luôn là vô tận và ngày càng phong phú, tuy nhiên người nghèo không dễ để có thể tiếp cận và khai thác các cơ hội bởi những bất lợi so với những nhóm giàu hay khá giả hơn. Trên thực tế, nhiều cơ hội còn xa với người nghèo do thiếu các kênh để người nghèo tiếp cận. Do đó, cần tăng tính mở của các cơ hội cho người nghèo thông qua độ mở các kênh tiếp cận. - Thứ ba là an toàn. Nếu như cùng với sự nỗ lực để giảm nghèo là những biện pháp chủ động phòng ngừa, giảm nhẹ và khắc phục rủi ro thì khi đó tính bền vững sẽ cao. Tính an toàn gắn với khả năng chống chịu rủi ro. Chủ động phòng ngừa, giảm thiểu rủi ro chính là nền tảng của GNBV. Thước đo đánh giá GNBV về góc độ tính an toàn là xem xét mức độ và cách thức người dân, cộng đồng và chính quyền địa phương dự phòng, giải quyết vấn đề rủi ro. - Thứ tư là dịch vụ công (dịch vụ xã hội cơ bản) bao gồm cả việc cung cấp dịch vụ của cơ quan chức năng cũng như khả năng tiếp cận của người dân đến dịch vụ công. Nếu dịch vụ công tốt sẽ mang lại cho người dân nhiều lợi ích thiết thực qua đó sẽ là điều kiện quan trọng bảo đảm cho giảm nghèo nhanh và bền vững. Dịch vụ công được đánh giá thông qua các tiêu chí như: tính minh bạch, rõ ràng, tính linh hoạt, số lượng dịch vụ cung ứng, chất lượng dịch vụ, tính hiệu quả và tính kịp thời của dịch vụ... Đây là bốn yếu tố quan trọng để thông qua đó đánh giá được giảm nghèo có bền vững hay không. Trong thực hiện chính sách giảm nghèo cần quán triệt quan 16
- Xem thêm -