Tài liệu Thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững cho đồng bào dân tộc thiểu số từ thực tiễn huyện ba tơ, tỉnh quảng ngãi.

  • Số trang: 83 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 281 |
  • Lượt tải: 0
dangvantuan

Tham gia: 02/08/2015

Mô tả:

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI TRẦN THANH HOÀI THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG CHO ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ TỪ THỰC TIỄN HUYỆN BA TƠ, TỈNH QUẢNG NGÃI LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG ĐÀ NẴNG, 2018 VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI TRẦN THANH HOÀI THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG CHO ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ TỪ THỰC TIỄN HUYỆN BA TƠ, TỈNH QUẢNG NGÃI Chuyên ngành: Chính sách công Mã số : 838 04 02 LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC PGS.TS. NGUYỄN CHIẾN THẮNG ĐÀ NẴNG, 2018 MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Trong những năm qua, công tác giảm nghèo bền vững luôn được Đảng, Nhà nước ta quan tâm và nhận thức rõ tầm quan trọng và tính cấp thiết của nó. Do đó Đảng, Nhà nước đã có nhiều chủ trương, chính sách, tập trung lãnh đạo, chỉ đạo, triển khai thực hiện đạt được nhiều kết quả quan trọng, tác động mạnh đến việc thực hiện Chương trình giảm nghèo bền vững; đã tạo điều kiện cải thiện đời sống vật chất, tinh thần cho người nghèo, về cơ sở hạ tầng... từ thôn, xã, đến huyện và tỉnh nghèo được tăng cường; người nghèo đã từng bước tiếp cận được các dịch vụ xã hội cơ bản, tỷ lệ hộ nghèo giảm bình quân hàng năm đều đạt chỉ tiêu kế hoạch đề ra. Cụ thể, Nghị quyết 30a/2008/NQ-CP ngày 27/12/2008 Chính phủ về “Chương trình hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững đối với 61 huyện nghèo”; Nghị quyết 80/NQ-CP ngày 19/5/2011 về“Định hướng giảm nghèo bền vững thời kỳ từ năm 2011 đến năm 2020”; Quyết định số 1722/QĐ-TTg ngày 02/9/2016 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia Giảm nghèo bền vững giai đoạn 2016 - 2020; Quyết định số 41/2016/QĐ-TTg ngày 10/10/2016 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Quy chế quản lý, điều hành thực hiện các Chương trình mục tiêu quốc gia. Đảng, Nhà nước ta đã khẳng định việc thực hiện mục tiêu giảm nghèo bền vững là một chủ trương lớn, then chốt trong sự nghiệp cách mạng nhằm cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của người nghèo, góp phần làm giảm khoảng cách chênh lệch về mức sống, mức phân hóa giàu nghèo giữa nông thôn và thành thị, giữa các vùng, các dân tộc và các nhóm dân cư. Đồng thời thể hiện quyết tâm trong việc thực hiện Mục tiêu thiên niên kỷ của Liên Hợp Quốc mà Việt Nam đã cam kết tại Hội nghị Thượng đỉnh Thiên niên kỷ của Liên Hợp Quốc năm 2000. Ba Tơ là một trong sáu huyện miền núi, nằm về phía Tây Nam của tỉnh Quảng Ngãi với tổng diện tích tự nhiên toàn huyện: 113.669,52 hécta, chiếm 1/5 tổng diện tích tỉnh Quảng Ngãi. Địa hình của Ba Tơ chủ yếu là đồi núi, thung lũng và có nhiều sông, suối. Đồi núi chiếm 4/5 diện tích toàn huyện, có nhiều núi cao hiểm trở nối liền với các huyện miền núi xung quanh. Về đơn vị hành chính, Ba Tơ có 20 xã, thị trấn, có 119 thôn (trong đó 112 thôn và 07 tổ dân phố), với 216 khu dân cư. Trong đó có 14 xã, thị trấn thuộc an toàn khu và diện xã đặc biệt khó khăn (theo Quyết định số 2405/QĐ-TTg ngày 10/12/2013 của Thủ tướng Chính phủ). Mật độ dân thưa 48,95 người/km2 sống tập trung tại Thị trấn Ba Tơ, xã Ba Vì và xã Ba Động. Trong những năm qua, huyện Ba Tơ đã có nhiều giải pháp, định hướng nhằm xóa đói giảm nghèo (XĐGN) cho người dân, đặc biệt là trong đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS) và đã đạt được nhiều thành tựu rất quan trọng, trong đó từ năm 2013 đến 2017 tỷ lệ hộ nghèo toàn huyện bình quân hằng năm giảm 5,6%/năm, đạt chỉ tiêu kế hoạch (chỉ tiêu kế hoạch từ 4% - 7%), về cơ bản huyện đã xoá được hộ đói kinh niên. Trong đó về cơ sở hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội được xây dựng phát triển, nổi bật là trung tâm Thị trấn Ba Tơ; về đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được cải thiện và nâng lên đáng kể; lĩnh vực văn hóa - xã hội đã có nhiều chuyển biến tích cực trong việc chăm lo đến đời sống của nhân dân; tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn huyện luôn được giữ vững, ổn định. Tuy nhiên, với đặc điểm là huyện miền núi, nên điều kiện phát triển kinh tế xã hội còn nhiều khó khăn, trình độ dân trí ở một số nơi còn thấp; một số hủ tục, phong tục tập quán lạc hậu vẫn còn tồn tại; Ba Tơ vẫn còn là một trong những huyện nghèo theo Nghị quyết 30a của Chính phủ; Kết quả giảm nghèo chưa thực sự bền vững, vẫn còn nhiều bất cập: tình trạng tái nghèo vẫn diễn ra, các chính sách đầu tư phát triển đã hướng vào trợ giúp cho huyện và các xã đặc biệt khó khăn nhưng chưa đủ mạnh và đồng bộ, việc sử dụng các nguồn lực trong giảm nghèo chưa tương xứng với tiềm năng: vốn, lao động, kinh nghiệm sản xuất; việc tuyên truyền nâng cao ý thức thoát nghèo cho người dân còn hạn chế; cơ chế thực hiện chưa phù hợp với đặc thù vùng miền và đặc điểm văn hóa, tập quán của người dân. Một bộ phận người nghèo, nhất là người đồng bào DTTS và một số chính quyền địa phương nhận thức chưa đầy đủ về ý nghĩa, tầm quan trọng của công tác giảm nghèo, còn có tư tưởng trông chờ, ỷ lại vào sự giúp đỡ của Nhà nước và cộng đồng, chưa thật sự chủ động, nỗ lực phấn đấu vươn lên thoát nghèo,. Qua những bất cập nêu trên và xuất phát từ tình hình thực tiễn của huyện, nhằm để đưa ra những đề xuất, định hướng và giải pháp mang tính khoa học, phù hợp với địa phương nhằm đẩy mạnh công tác giảm nghèo nhanh, bền vững cho đồng bào dân tộc thiểu số ở huyện Ba Tơ, tỉnh Quảng Ngãi, tôi lựa chọn đề tài “Thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững cho đồng bào dân tộc thiểu số từ thực tiễn huyện Ba Tơ, tỉnh Quảng Ngãi” làm đề tài nghiên cứu luận văn. 2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài Công tác xóa đói, giảm nghèo luôn là một chủ trương lớn được Đảng, Nhà nước ta đặc biệt quan tâm ưu tiên hàng đầu trong phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Mặc dù còn nhiều khó khăn nhưng mỗi năm ngân sách Nhà nước đã dành hàng chục nghìn tỷ đồng đầu tư, hỗ trợ trực tiếp cũng như lồng ghép, thông qua các chương trình, dự án, chính sách cho giảm nghèo, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội. Có thể nói vấn đề nghèo, đói như một thực tế khách quan và được chính thức thừa nhận từ năm 1993, sau hội nghị bàn về xóa đói giảm nghèo được tổ chức tại Băng Cốc (Thái Lan) bởi Ủy ban Kinh tế - Xã hội châu Á Thái Bình Dương của Liên Hiệp Quốc (ESCAP). Để đáp ứng nhu cầu nắm bắt thực trạng và hoạch định chính sách, đã có những cuộc điều tra, nghiên cứu về đói nghèo và giảm nghèo. Đáng chú ý là các cuộc điều tra đói nghèo của Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội (LĐTBXH), Tổng cục Thống kê (TCTK), các nghiên cứu của Trung tâm Khoa học xã hội và Nhân văn quốc gia (nay là Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam), Uỷ ban Dân tộc, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn. Tại Đại hội VI Đảng Cộng sản Việt Nam (12-1986) đã mở ra một thời kỳ mới - thời kỳ đổi mới toàn diện, triệt để và sâu sắc mọi mặt đời sống của đất nước, trong đó có lĩnh vực kinh tế, nhằm thực hiện có hiệu quả hơn công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta đó là chuyển từ nền kinh tế bao cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Với sự đổi mới này, trong những năm đầu của thập kỷ 1990 đã có nhiều nhà nghiên cứu, phân tích và đánh giá thực trạng phân hóa giàu nghèo trong xã hội Việt Nam. Cụ thể vào năm 1993, tác giả Nguyễn Văn Tiêm xuất bản sách “Giàu nghèo trong nông thôn Việt Nam”; Năm 1994, tác giả Nguyễn Văn Thiều xuất bản sách “Biến động giàu nghèo và phân hoá xã hội ở nông thôn nước ta”. Qua hai nghiên cứu trên, các tác giả đã phân tích và đánh giá thực trạng phân hoá giàu nghèo và quá trình phân tầng xã hội ở một số tỉnh thuộc khu vực nông thôn Việt Nam. Năm 1998, trong một công trình nghiên cứu được xuất bản với tiêu đề “Khủng hoảng phát triển ở các vùng miền núi Việt Nam”, Jamieson và các cộng sự đã khái quát những khó khăn và thách thức thành 4 vấn đề có quan hệ chặt chẽ với nhau, bao gồm: Nghèo đói; Sức ép dân số; Môi trường bị suy thoái; và sự phụ thuộc của người DTTS vào các hệ thống bên ngoài cũng như sự lề hóa của nền kinh tế các DTTS. Ngoài ra còn có các nghiên cứu khác của tác giả Lê Xuân Bá và các cộng sự vào năm 2001với tác phẩm “Nghèo đói và xoá đói giảm nghèo ở Việt Nam”; Tác giả Hà Quế Lâm vào năm 2002 với tác phẩm “Xoá đói giảm nghèo ở vùng dân tộc thiểu số nước ta hiện nay - thực trạng và giải pháp”; Tác giả Ngô Văn Lệ và các cộng sự năm 2004 với tác phẩm “Nghèo đói và xoá đói giảm nghèo ở người Khmer tỉnh Sóc Trăng”; Năm 2003 nhóm nghiên cứu do tác giả Bùi Văn Đạo phụ trách với tác phẩm “Một số vấn đề giảm nghèo ở các dân tộc thiểu số Việt Nam”. Vào năm 2006, Viện Khoa học xã hội Việt Nam xuất bản công trình “Nghèo và giảm nghèo ở Việt Nam giai đoạn 1993-2004”, do tập thể các nhà nghiên cứu biên soạn, dưới sự chỉ đạo của GS.TS. Đỗ Hoài Nam, dựa trên cơ sở phân tích các số liệu nghèo đói quốc gia và các cuộc điều tra xã hội học, nêu lên bức tranh toàn cảnh về nghèo đói và giảm nghèo, các nguyên nhân nghèo, đề xuất các định hướng, giải pháp giảm nghèo và phát triển bền vững ở Việt Nam. Năm 2012 PGS.TS. Lê Quốc Lý với cuốn sách “Chính sách xóa đói giảm nghèo- Thực trạng và giải pháp” đã nêu một số lý luận về xóa đói, giảm nghèo; những chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách của Nhà nước về xóa đói, giảm nghèo; thực trạng đói nghèo ở Việt Nam; chính sách xóa đói, giảm nghèo ở Việt Nam giai đoạn 2001-2010; một số chương trình xóa đói giảm nghèo điển hình của Việt Nam thời gian qua; đánh giá tổng quát thực hiện chính sách xóa đói, giảm nghèo của Việt Nam giai đoạn 20012010; định hướng và mục tiêu xóa đói, giảm nghèo ở Việt Nam trong thời gian tới; một số cơ chế nhằm thực hiện có hiệu quả chính sách xóa đói, giảm nghèo ở Việt Nam; giải pháp xóa đói, giảm nghèo ở Việt Nam thời gian tới. Ngoài ra, trên các Tạp chí trong nước luôn phải kể đến một số bài viết đăng tải như: PGS.TS. Nguyễn Sinh Cúc: Để đẩy mạnh công tác XĐGN ở miền Trung, Tạp chí Sinh hoạt Lý luận số 3 (58), 2003; TS. Đoàn Minh Tuệ: Giải pháp XĐGN, thực hiện công bằng xã hội ở nông thôn Bắc Trung Bộ, Tạp chí Lý luận Chính trị, 10/2002; Từ Thanh - Kim Ngọc Đàm: Thực hiện chính sách hỗ trợ đất sản xuất, đất ở, nhà ở cho hộ đồng bào DTTS nghèo, Tạp chí Cộng sản số 790 (8-2008); GS, TS. Hồ Văn Vĩnh: Để công tác XĐGN tiến triển vững chắc, Tạp chí Cộng sản, số 782 (12/ 2007); TS. Nguyễn Hải Hữu: Hướng tới giảm nghèo toàn diện bền vững, công bằng và xã hội, Tạp chí Cộng sản, số 9 (5/2006); Thanh Hùng: XĐGN ở vùng Bắc Trung Bộ, Tạp chí Cộng sản, số 5 (3/2006); TS. Đỗ Thanh Phương: Tỉnh Kon Tum với công tác XĐGN, Tạp chí Sinh hoạt Lý luận, số 1 (74), 2006; TS. Nguyễn Văn Nam: Giải quyết việc làm và thu nhập trong quá trình xoá đói giảm nghèo ở Tây Nguyên, Tạp chí Sinh hoạt Lý luận, số 2 (75), 2006; ThS. Nguyễn Hoàng Việt: Giảm nghèo bền vững để bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa, Tạp chí Cộng sản số 72 tháng 11/2016. Đặc biệt nghiên cứu sâu sắc về vùng đồng bào dân tộc thiểu số phải kể đến báo cáo phân tích xã hội quốc gia năm 2009 của Ngân hàng thế giới (WB-2009), trong đó đã tổng kết các nhóm đồng bào DTTS đang gặp bất lợi ở 6 yếu tố cơ bản dẫn đến kết quả sinh kế thấp hơn so với nhóm đa số, đó là bất lợi về tiếp cận giáo dục, di chuyển lao động, tiếp cận thị trường, tín dụng, đất sản xuất và định kiến của nhóm đa số đối với các nhóm đồng bào DTTS. Qua báo cáo đã nhận định được không có một yếu tố duy nhất giải thích sự khác biệt về mức sống giữa các nhóm đồng bào DTTS và nhóm đa số, mà 6 yếu tố trên kết hợp lại tạo thành một “vòng luẩn quẩn” dẫn đến đói nghèo trong đồng bào DTTS giảm chậm. Và vào năm 2011, dựa trên kết quả khảo sát tại các tỉnh Kon Tum, Bình Thuận, Lạng Sơn, Hải Dương và An Giang, Viện Khoa học xã hội Việt Nam (VASS) công bố nghiên cứu “Giảm nghèo tại Việt Nam: Thành tựu và thách thức”. Khi phân tích bối cảnh nghèo và đồng bào DTTS, nghiên cứu này đề cập đến những khó khăn chính như: sự yếu kém của cơ sở hạ tầng, giải quyết thực trạng của vấn đề lao động việc làm, khả năng tiếp cận các dịch vụ xã hội, chất lượng giáo dục và các rào cản ngôn ngữ. Năm 2012 nghiên cứu của Baulch và Vũ: đã phân tích vai trò của đặc điểm gồm: đặc điểm nhân khẩu hộ gia đình, trình độ học vấn, sở hữu đất, đặc điểm xã…và hiệu quả thu nhập của các đặc điểm do ảnh hưởng của các yếu tố không quan sát được qua điều tra mức sống, ví dụ như chất lượng đất, chất lượng giáo dục, các rào cản văn hóa, định kiến và kỳ thị với người DTTS… đến sự khác biệt về thu nhập/chi tiêu giữa nhóm dân tộc đa số và các nhóm DTTS. Khác biệt về đặc điểm đóng góp gần một nửa vào khác biệt về mức sống giữa nhóm đa số và các nhóm DTTS; ngược lại, khác biệt về hiệu quả thu nhập đóng góp trên một nửa vào sự khác biệt về mức sống. Nghiên cứu cũng cho thấy, thu nhập từ việc làm phi nông nghiệp, kinh doanh, dịch vụ và tiền gửi chiếm tỷ trọng nhỏ hơn nhiều trong thu nhập của các nhóm DTTS so với nhóm đa số. Ngoài ra UN, WB và NGOs quốc tế đã thực hiện một số nghiên cứu về tác động của biến đổi khí hậu đến diễn biến nghèo đói của các DTTS Việt Nam. Tổng hợp kết quả của các nghiên cứu đó, Gay McDougall năm 2010, một chuyên gia độc lập về các vấn đề dân tộc thiểu số của Liên hợp quốc, chỉ rõ: “Một số nhà phân tích dự đoán, biến đổi khí hậu có thể làm cho mực nước biển tăng lên, có khả năng ảnh hưởng đến hàng triệu người sống ở vùng đồng bằng và vùng ven biển, đòi hỏi phải tái định cư hàng loạt ở các khu vực miền núi… Và điều đó sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến diễn biến kinh tế xã hội của các DTTS”. Báo cáo của Oxfam và ActionAid năm 2012 tổng hợp kết quả theo dõi nghèo nông thôn tại mạng lưới các điểm quan trắc giai đoạn 2007-2011 cũng cho thấy mức độ giảm nghèo không đồng đều giữa các địa bàn dân cư. Theo đó, tỷ lệ nghèo theo chuẩn nghèo thu nhập của Chính phủ tại các vùng DTTS giảm chậm và còn ở mức rất cao. Người dân còn gặp bất lợi đa chiều, điển hình là bất lợi về điều kiện sống, tiếp cận thị trường, việc làm phi nông nghiệp và chống đỡ rủi ro. Tỷ lệ hộ thuần làm nông nghiệp còn khá cao, trong khi đây là một tiêu chí nghèo quan trọng theo cảm nhận của người dân. Tình trạng “thiếu ăn” vào thời điểm giáp hạt, gặp thiên tai dịch bệnh vẫn là thách thức lớn đối với một bộ phận dân cư ở vùng DTTS. Ngay trong một cộng đồng cũng có nhiều nhóm gặp khó khăn đặc thù, như nhóm nghèo kinh niên, nhóm nghèo tạm thời, nhóm nghèo dễ bị tổn thương, và nhóm cận nghèo hoặc mới thoát nghèo, cần có chính sách hỗ trợ phù hợp với từng nhóm. Năm 2012 một nghiên cứu của Andrew Wells-Dang áp dụng cách tiếp cận “lệch chuẩn tích cực” (positive deviance) vào việc tài liệu hóa các yếu tố tạo nên “điểm sáng” giảm nghèo tại một số vùng DTTS có tốc độ giảm nghèo nhanh và chi tiêu bình quân đầu người tăng khá trong 10 năm qua. Nghiên cứu chỉ ra con đường thoát nghèo của các cộng đồng DTTS khảo sát là: sản xuất nông sản hàng hóa (xuất phát từ sản xuất tự cấp tự túc), tiếp theo là thâm canh rồi đa dạng hóa (trong nông nghiệp, thương mại, dịch vụ), cuối cùng là hợp nhất với sự đầu tư vào giáo dục. Tác giả cho rằng cần có thêm các nghiên cứu khác nhằm kiểm định giả thuyết trong các bối cảnh khác nhau của các nhóm DTTS đa dạng. Báo cáo của Oxfam Anh và ActionAid Việt Nam được thực hiện vào năm 2013 tập trung vào nghiên cứu một số điểm sáng trong mô hình giảm nghèo ở các tỉnh Nghệ An, Đắk Nông và Hà Giang đã chỉ ra những cách thức/con đường khác nhau trong giảm nghèo ở các dân tộc thiểu số trong vùng nghiên cứu. Từ thực tiễn về công tác giảm nghèo ở nước ta cho thấy tình trạng nghèo trong các nhóm đồng bào dân tộc thiểu số là một trong những điểm quan tâm hàng đầu của Đảng, Nhà nước ta trong việc thực hiện công tác giảm nghèo bền vững nhằm tạo động lực trong thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội, đây là một thách thức ngày càng tăng và kéo dài. Giữa dân tộc đa số với các đồng bào DTTS, bất bình đẳng về thu nhập và cơ hội đang có xu hướng gia tăng. Đối với huyện Ba Tơ, về công tác giảm nghèo trong thời gian qua tuy có nhiều thay đổi và có chuyển biến tích cực, tuy nhiên vẫn chưa thật sự mang tính bền vững và ổn định. Do đó việc thực hiện mục tiêu giảm nghèo bền vững, hạn chế tái nghèo; góp phần thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế, đảm bảo an sinh xã hội, cải thiện đời sống, tăng thu nhập của người dân, tạo điều kiện cho người nghèo, hộ nghèo tiếp cận thuận lợi các dịch vụ xã hội cơ bản (y tế, giáo dục, nhà ở, nước sinh hoạt và vệ sinh, tiếp cận thông tin), góp phần hoàn thành mục tiêu giảm tỷ lệ hộ nghèo giai đoạn 2016 – 2020 trên địa bàn huyện là hết sức cần thiết. Tuy nhiên, cho đến nay chưa có công trình nghiên cứu nào đề cập tới thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững cho đồng bào dân tộc thiểu số ở huyện Ba Tơ, tỉnh Quảng Ngãi. 3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 3.1. Mục đích nghiên cứu Nghiên cứu những lý luận về chính sách giảm nghèo bền vững ở Việt Nam để đánh giá chính xác, khách quan giữa việc áp dụng các lý luận chính sách và kết quả thực tiễn thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững cho đồng bào dân tộc thiểu số ở huyện Ba Tơ, tỉnh Quảng Ngãi, tìm ra những điểm còn hạn chế, bất cập của chính sách giảm nghèo bền vững áp dụng trong thực tiễn hiện nay, từ đó đề xuất ra các giải pháp nhằm góp phần hoàn thiện thêm chính sách giảm nghèo bền vững cho đồng bào dân tộc thiểu số ở huyện Ba Tơ, tỉnh Quảng Ngãi nói riêng và ở Việt Nam nói chung. 3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu Thứ nhất, nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn về thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững đối với người dân tộc thiểu số; Thứ hai, tìm hiểu, đánh giá thực trạng thực hiện các chính sách giảm nghèo cho người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tại huyện Ba Tơ, tỉnh Quảng Ngãi để từ đó tìm ra những bất cập trong thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững đối với đồng bào dân tộc thiểu số ở đây; Thứ ba, đề xuất các định hướng và những giải pháp chủ yếu nhằm tăng cường thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững cho đồng bào dân tộc thiểu số, hướng đến mục tiêu giảm nghèo bền vững trong những năm tiếp theo. 4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4.1. Đối tượng nghiên cứu: Việc thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững đối với người dân tộc thiểu số được thực thi trên địa bàn một huyện cụ thể. 4.2. Phạm vi thời gian: Các số liệu nghiên cứu thực địa thu thập được trong 05 năm (giai đoạn từ năm 2013 đến năm 2017). Luận văn được nghiên cứu trong phạm vi huyện Ba Tơ, tỉnh Quảng Ngãi. 5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 5.1. Cơ sở lý luận Thực hiện đề tài vận dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp để thu thập, phân tích và khai thác thông tin từ các nguồn có sẵn liên quan đến đề tài nghiên cứu, bao gồm các văn kiện, tài liệu, Nghị quyết, Quyết định của Đảng, Nhà nước, bộ ngành ở Trung ương và địa phương; các công trình nghiên cứu, các báo cáo, tài liệu thống kê của chính quyền, ban ngành đoàn thể, tổ chức, cá nhân liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp tới vấn đề giảm nghèo bền vững ở nước ta nói chung và huyện Ba Tơ nói riêng. Đồng thời, thu thập các tài liệu của các tổ chức và học giả trong và ngoài nước liên quan đến đề tài được nghiên cứu trong thời gian qua. 5.2. Phương pháp nghiên cứu Đề tài sử dụng phương pháp thống kê kết hợp với các phương pháp: phân tích chính sách, phân tích định tính, suy luận logic, diễn giải, thống kê, nghiên cứu tài liệu, khảo sát, tổng kết thực tiễn trong đánh giá thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững ở địa bàn huyện Ba Tơ, tỉnh Quảng Ngãi. 6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn 6.1. Ý nghĩa lý luận Luận văn đã tổng quan được cơ sở lý luận về chính sách giảm nghèo bền vững ở Việt Nam; đồng thời biết vận dụng các lý thuyết về quy trình phân tích chính sách công, đánh giá chính sách công nhằm đánh giá thực tiễn thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững cho đồng bào dân tộc thiểu số ở địa phương; Việc nghiên cứu đề tài nhằm chứng minh cho việc vận dụng các lý thuyết phân tích chính sách công, đánh giá chính sách công là cần thiết trong quá trình nghiên cứu thực tiễn thực hiện chính sách giảm nghèo, từ đó góp phần hoàn thiện thêm chính sách bền vững cho đồng bào dân tộc thiểu số ở huyện Ba Tơ nói riêng và nước ta nói chung nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả của chính sách giảm nghèo bền vững đã ban hành. 6.2. Ý nghĩa thực tiễn Kết quả nghiên cứu đề tài sẽ góp phần nâng cao nhận thức đối với các cấp ủy Đảng, chính quyền, các hội đoàn thể các cấp để hiểu rõ hơn về chính sách giảm nghèo bền vững; xem xét giữa lý luận và thực tiễn từ quá trình và kết quả thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững cho đồng bào dân tộc thiểu số tại huyện Ba Tơ, từ đó định hướng góp phần hoàn thiện hơn nữa, nâng cao hiệu quả chất lượng của chính sách giảm nghèo bền vững đối với đồng bào dân tộc thiểu số ở Việt Nam trong những năm tiếp theo. Đề tài đã hệ thống hóa một cách logic các giải pháp thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững đối với đồng bào dân tộc thiểu số. Việc thực hiện chính sách bền vững đem lại hiệu quả thiết thực, giúp đồng bào dân tộc thiểu số có khả năng tiếp cận các chính sách giảm nghèo bền vững và tham gia cùng với Nhà nước để đưa các chính sách giảm nghèo đi vào thực tiễn, ngày càng mang lại hiệu quả, đạt được mục tiêu giảm nghèo bền vững mà Đảng, Chính quyền huyện Ba Tơ đã đề ra, góp phần vào sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương. 7. Kết cấu của luận văn Ngoài phần mục lục, mở đầu, kết luận và kiến nghị, tài liệu tham khảo, nội dung chính của Luận văn được trình bày theo 3 chương: Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững cho đồng bào dân tộc thiểu số ở Việt Nam. Chương 2: Thực tiễn thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững cho đồng bào dân tộc thiểu số ở huyện Ba Tơ, tỉnh Quảng Ngãi. Chương 3: Các giải pháp tăng cường thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững cho đồng bào dân tộc thiểu số từ thực tiễn huyện Ba Tơ, tỉnh Quảng Ngãi. CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ VỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG ĐỐI VỚI ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở VIỆT NAM 1.1. Một số khái niệm 1.1.1. Nghèo và nghèo đa chiều Hiện nay, khái niệm về “nghèo” được thể hiện qua rất nhiều quan niệm khác nhau trên thế giới. Tại Hội nghị bàn về giảm nghèo đói ở khu vực Châu Á- Thái Bình Dương do ESCAP tổ chức tại Băng Cốc vào tháng 9/1993 đã đưa ra khái niệm và định nghĩa về nghèo đói. Trong đó có thể hiểu một cách chung nhất là: “Nghèo đói là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và thỏa mãn những nhu cầu cơ bản của con người đã được xã hội thừa nhận tùy theo trình độ phát triển kinh tế- xã hội và phong tục tập quán của các địa phương”. Theo Tổ chức Liên hợp quốc (UN) thì: “Nghèo là thiếu năng lực tối thiểu để tham gia hiệu quả vào các hoạt động xã hội. Nghèo có nghĩa là không có đủ ăn, đủ mặc, không được đi học, không được đi khám, không có đất đai để trồng trọt hoặc không có nghề nghiệp để nuôi sống bản thân, không được tiếp cận tín dụng. Nghèo cũng có nghĩa là không an toàn, không có quyền, và bị loại trừ của các cá nhân, hộ gia đình và cộng đồng. Nghèo có nghĩa là dễ bị bạo hành, phải sống ngoài lề xã hội hoặc trong các điều kiện rủi ro, không được tiếp cận nước sạch và công trình vệ sinh an toàn” (Tuyên bố Liên hợp quốc, tháng 6/2008, được lãnh đạo của tất cả các tổ chức UN thông qua). Hiện nay, khái niệm nghèo đa chiều đang được các tổ chức quốc tế như UNDP, WB sử dụng để giám sát, đo lượng sự thay đổi về mức độ tiếp cận nhu cầu cơ bản giữa các quốc gia, thông qua các chỉ số HDI (thu nhập, tỷ lệ biết chữ, tuổi thọ) hay hiện nay là chi số MPI (chỉ số nghèo đa chiều); Chỉ số nghèo đa chiều đánh giá được một loạt các yếu tố quyết định hay những thiếu thốn, túng quẫn ở cấp độ gia đình: từ giáo dục đến những tác động về sức khỏe, đến tài sản và các dịch vụ. Qua các khái niệm trên cho thấy khái niệm về “nghèo đa chiều” đã xuất phát từ quan điểm nghèo là một hiện tượng đa chiều, cần được chú ý nhìn nhận là sự thiếu hụt hoặc không được thỏa mãn các nhu cầu cơ bản của con người. Vậy nghèo đa chiều là khi con người không được đáp ứng đảm bảo các nhu cầu cơ bản trong cuộc sống ở mức tối thiểu nhất. 1.1.2. Chuẩn nghèo và đo lường nghèo Chuẩn nghèo là thước đo hay tiêu chí để xác định đối tượng nghèo hay không nghèo, trên thế giới hiện đang áp dụng các hình thức chuẩn nghèo như sau: - Chuẩn nghèo là dựa vào thu nhập hay chi tiêu, được qui đổi thành tiền, xuất phát từ quan niệm là để thỏa mãn các nhu cầu cơ bản tối thiểu, mỗi người cần phải có một khoản thu nhập/chi tiêu ở mức độ tối thiểu để thỏa mãn các nhu cầu đó. Chuẩn nghèo dựa vào thu nhập/chi tiêu được nhiều quốc gia sử dụng, trong đó có Việt Nam, nhằm làm cơ sở xác định đối tượng thụ hưởng chính sách trợ giúp của Nhà nước. - Chuẩn nghèo quy ra 1USD hoặc 2 USD (theo sức mua tương đương) là cách Ngân hàng thế giới đưa ra nhằm để so sánh mức độ nghèo đói giữa các quốc gia, đây không phải chuẩn nghèo các quốc gia sử dụng để hoạch định chính sách giảm nghèo. - Chuẩn nghèo đa chiều, là tiêu chí đo lường sự thiếu hụt các nhu cầu cơ bản của mỗi con người, phụ thuộc vào điều kiện phát triển cụ thể của mỗi quốc gia, trong từng giai đoạn nhất định. Vậy có thể hiểu chuẩn nghèo (hay còn gọi là ngưỡng nghèo, đường nghèo) là mức thu nhập tối thiểu cần thiết để đảm bảo những nhu cầu vật chất cơ bản cho con người có thể tiếp tục tồn tại; chuẩn nghèo có sự biến động theo thời gian và không gian; chuẩn nghèo là công cụ có ý nghĩa quan trọng trong việc phân định đối tượng nghèo và không nghèo. Những người được coi là nghèo khi mức sống của họ đo qua thu nhập (hoặc chi tiêu) thấp hơn so với chuẩn nghèo. Tại một thời điểm nhất định có thể tồn tại nhiều đường nghèo khác nhau, ví dụ: đường nghèo thu nhập, đường nghèo lương thực thực phẩm, đường nghèo chung, đường nghèo về y tế, đường nghèo về giáo dục, đường nghèo quốc tế, đường nghèo quốc gia, đường nghèo địa phương… Ngày 15/9/2015, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1614/QĐTTg về việc phê duyệt Đề án tổng thể “Chuyển đổi phương pháp tiếp cận đo lường nghèo từ đơn chiều sang đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016-2020”,chuẩn nghèo giai đoạn 2016 - 2020 của Việt Nam được xây dựng theo hướng: sử dụng kết hợp cả chuẩn nghèo về thu nhập và mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản. Theo đó, tiêu chí đo lường nghèo được xây dựng dựa trên cơ sở: Các tiêu chí về thu nhập, bao gồm: chuẩn mức sống tối thiểu về thu nhập, chuẩn nghèo về thu nhập, chuẩn mức sống trung bình về thu nhập. Mức độ thiếu hụt trong tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản, bao gồm: tiếp cận về y tế, giáo dục, nhà ở, nước sạch và vệ sinh, tiếp cận thông tin. 1.1.3. Giảm nghèo bền vững và chính sách giảm nghèo bền vững Trong tiến trình phát triển của một quốc gia, tăng trưởng kinh tế và giảm nghèo, giữa chúng luôn có mối quan hệ biện chứng với nhau: tăng trưởng kinh tế sẽ tạo ra điều kiện cơ sở vật chất để thực hiện giảm nghèo nhanh và ngược lại thực hiện tốt công tác giảm nghèo sẽ là nhân tố đảm bảo cho sự tăng trưởng mang tính bền vững. Và trong mối quan hệ biện chứng qua lại này thì yếu tố giảm nghèo vẫn là yếu tố phụ thuộc và chịu sự chi phối của yếu tố tăng trưởng kinh tế. Giảm nghèo chỉ mang tính tương đối vì nghèo có thể tái lặp lại nếu các giải pháp giảm nghèo đưa ra chưa thật sự bền vững, phù hợp hoặc quy định về chuẩn nghèo đã có sự thay đổi hoặc bị biến động khác bởi các tác động khác đến đời sống xã hội như: khủng hoảng lạm phát, thiên tai... Do đó việc đánh giá kết quả mức độ giảm nghèo thì cần phải được xem xét trong một khoản không gian, thời gian nhất định, cụ thể. Hiện nay vẫn chưa có một khái niệm thống nhất về giảm nghèo bền vững hay giảm nghèo theo hướng bền vững là gì. Tuy nhiên khi nói đến việc phát triển bền vững và giảm nghèo bền vững thì vấn đề giảm nghèo luôn được đề cập đến và là một trong những yếu tố quan trọng tạo nên sự phát triển bền vững. Và phát triển kinh tế bền vững là cơ sở, điều kiện cần thiết để giảm nghèo bền vững. Qua thực tiễn trong thực hiện công tác giảm nghèo, ta có thể hiểu: giảm nghèo bền vững là quá trình tạo điều kiện giúp đỡ cho người nghèo có khả năng tiếp cận các nguồn lực của sự phát triển một cách nhanh nhất, trên cơ sở đó họ có nhiều lựa chọn hơn, giúp họ từng bước thoát khỏi tình trạng nghèo, họ không còn tái nghèo, không bị thụt lùi so với quy định chung về chuẩn nghèo. Về chính sách giảm nghèo bền vững có thể hiểu: “là tập hợp các quyết định của Chính phủ nhằm đưa ra các giải pháp, công cụ chính sách để giải quyết các vấn đề về cải thiện đời sống vật chất và tinh thần đối với người nghèo, góp phần thu hẹp khoảng cách chênh lệch về mức sống giữa nông thôn và thành thị, giữa các vùng, các dân tộc và các nhóm dân cư, thực hiện mục tiêu giảm nghèo bền vững của đất nước”. 1.1.4. Ý nghĩa và tầm quan trọng của việc thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững đối với đồng bào dân tộc thiểu số Việt Nam là quốc gia có 54 thành phần dân tộc khác nhau, trong đó các dân tộc thiểu số chiếm khoảng 14% tổng dân số của cả nước. Mỗi dân tộc đều có bản sắc văn hóa riêng, tạo nên sự thống nhất và đa dạng của nền văn hóa Việt Nam. Theo báo cáo "Bước tiến mới: Giảm nghèo và thịnh vượng chung tại Việt Nam" của Ngân hàng Thế giới (WB) được công bố ngày 5/4/2018, có 1,8 triệu người dân tộc thiểu số ở Việt Nam thoát nghèo, giảm từ 8,4 triệu năm 2010 xuống còn 6,6 triệu người trong năm 2016. Tuy nhiên trong số 9,1 triệu người nghèo ở Việt Nam năm 2016, nhóm dân tộc thiểu số chiếm 72%, tương đương với 6,6 triệu người. Có thể thấy trong thời gian qua các dân tộc thiểu số ở Việt Nam giảm nghèo nhanh nhưng chưa thật sự bền vững, họ còn đối mặt với nhiều thách thức; Nguyên nhân dẫn tới đói nghèo tập trung ở những hộ gia đình vùng sâu, vùng xa…do người nghèo gặp khó khăn vì trình độ học vấn thấp (75% người lớn ở các hộ gia đình nghèo có học vấn từ tiểu học trở xuống, dưới 7% có trình độ trung học). Vì vậy, trong thời gian qua thực hiện chính sách giảm nghèo nói chung và chính sách giảm nghèo bền vững đối với đồng bào dân tộc thiểu số là một chủ trương lớn của Đảng, Nhà nước ta nhằm cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của người nghèo là đồng bào dân tộc thiểu số, góp phần thu hẹp khoảng cách chênh lệch về mức sống giữa miền núi và đồng bằng, nông thôn và thành thị, giữa các vùng, các dân tộc và các nhóm dân cư. Đồng thời thể hiện sự quyết tâm của Việt Nam trong việc cam kết thực hiện Mục tiêu thiên niên kỷ của Liên hợp quốc. Đối với Việt Nam, công tác giảm nghèo có ý nghĩa hết sức đặc biệt vì đây là mục tiêu hàng đầu trong sự nghiệp phát triển đất nước ta theo định hướng xã hội chủ nghĩa, nhất là trong giai đoạn hiện nay với sự phát triển của nền kinh tế thị trường, với xu thế hội nhập quốc tế. Vì vậy, để giải quyết vấn đề nghèo đói cần phải có những chính sách phù hợp với thực tiễn, ngoài ra không chỉ dựa vào kinh nghiệm trong nước mà đòi hỏi phải có phương pháp tiếp cận mới giải quyết một cách khoa học - đó là gắn kết tăng trưởng với giảm nghèo, giảm nghèo phải bảo đảm tính bền vững, công bằng, toàn diện và hội nhập. Trong công cuộc thực hiện công tác xóa đói giảm nghèo, để thành công thì đòi hỏi sự quan tâm, tham gia của cả hệ thống chính trị và đặc biệt là tầng lớp nhân dân vì vấn đề đói nghèo không phải là vấn đề riêng của người nghèo, hay của Chính phủ, mà là vấn đề chung của cả nước, của toàn xã hội trong sự nghiệp xây dựng, phát triển đất nước. 1.2. Chính sách giảm nghèo bền vững đối với đồng bào dân tộc thiểu số ở Việt Nam 1.2.1. Các quan điểm, mục tiêu giảm nghèo bền vững nói chung và đối với đồng bào dân tộc thiểu số ở Việt Nam Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm, có những chính sách phù hợp trong công tác xóa đói, giảm nghèo; luôn xác định là một trong những vấn đề xã hội được đặt vào vị trí ưu tiên giải quyết trong phát triển xã hội, là một trong những chính sách quan trọng trong hệ thống an sinh xã hội của quốc gia, là mục tiêu quan trọng trong phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Quan điểm, định hướng và chỉ đạo của Đảng và Nhà nước luôn được thể hiện rõ trong các Đại hội của Đảng, cụ thể: Tại Đại hội lần thứ VIII của Đảng đã xác định, thực hiện kinh tế thị trường phải “thừa nhận trên thực tế... sự phân hoá giàu nghèo nhất định trong xã hội”, coi đó là một hiện tượng xã hội đang hiện hữu, chi phối đời sống xã hội. Đại hội cũng đã chỉ rõ, khuyến khích các tầng lớp nhân dân vươn lên làm giàu, đẩy mạnh xoá đói, giảm nghèo, hạn chế phân hoá giàu nghèo gắn với mục tiêu “phải luôn luôn quan tâm bảo vệ lợi ích người lao động, vừa khuyến khích làm giàu hợp pháp, chống làm giàu phi pháp, coi trọng xoá đói giảm nghèo, từng bước thực hiện công bằng xã hội, tiến tới làm cho mọi người, mọi nhà đều khá giả” [30]. Đại hội lần thứ IX, đã có bước phát triển mới: “Khuyến khích làm giàu hợp pháp, đồng thời ra sức xoá đói giảm nghèo, tạo điều kiện về cơ sở hạ tầng và năng lực sản xuất để các vùng, các cộng đồng đều có thể tự phát triển, tiến tới thu hẹp khoảng cách về trình độ phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội” [31]. Đại hội lần thứ X của Đảng tiếp tục chỉ rõ và đề ra mục tiêu cụ thể: “Khuyến khích mọi người làm giàu theo pháp luật, thực hiện có hiệu quả các chính sách xoá đói, giảm nghèo”, “Kết hợp các mục tiêu kinh tế với các mục tiêu xã hội trong phạm vi cả nước ở từng lĩnh vực, địa phương; thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước phát triển”; phấn đấu đến năm 2010, tỉ lệ hộ nghèo theo chuẩn mới còn 10 - 11% (năm 2005, tỉ lệ hộ nghèo cả nước còn khoảng 22%) [32]. Đặc biệt, trong Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 - 2020, Đại hội lần thứ XI của Đảng đã đề ra định hướng cơ bản: “Nâng cao thu nhập và chất lượng cuộc sống của nhân dân. Tạo cơ hội bình đẳng tiếp cận các nguồn lực phát triển và hưởng thụ các dịch vụ cơ bản, các phúc lợi xã hội. Thực hiện có hiệu quả hơn chính sách giảm nghèo phù hợp với từng thời kỳ; đa dạng hoá các nguồn lực và phương thức để bảo đảm giảm nghèo bền vững, nhất là tại các huyện nghèo nhất và các vùng đặc biệt khó khăn. Khuyến khích làm giàu theo pháp luật, tăng nhanh số hộ có thu nhập trung bình khá trở lên. Có chính sách và các giải pháp phù hợp nhằm hạn chế phân hoá giàu nghèo, giảm chênh lệch về mức sống giữa nông thôn với đô thị”. Chỉ tiêu phấn đấu cụ thể: “Tỉ lệ hộ nghèo giảm 2%/năm”; dựa trên cơ sở sự định hướng chiến lược “Tạo môi trường và điều kiện để mọi người lao động có việc làm và thu nhập tốt hơn. Có chính sách tiền lương và chế độ đãi ngộ tạo động lực để phát triển; điều tiết hợp lý thu nhập trong xã hội. Khuyến khích làm giàu hợp pháp đi đôi với xoá nghèo bền vững; giảm dần tình trạng chênh lệch giàu nghèo giữa các vùng, miền, các tầng lớp dân cư” [32]. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng (tháng 01/2011) vẫn tiếp tục coi trọng và ưu tiên giải quyết vấn đề nghèo và giảm nghèo bền vững. Trong đó, Đảng ta nêu rõ “Thực hiện có hiệu quả hơn chính sách giảm nghèo phù hợp với từng thời kỳ; đa dạng hóa các nguồn lực và phương thức để bảo đảm giảm nghèo bền vững, nhất là tại các huyện nghèo nhất và các vùng đặc biệt khó khăn. Khuyến khích làm giàu theo pháp luật, tăng nhanh số hộ có thu nhập trung bình khá trở lên. Có chính sách và các giải pháp phù hợp nhằm hạn chế phân hoá giàu nghèo, giảm chênh lệch mức sống giữa nông thôn và thành thị” [33]. Tại Đại hội lần thứ XII, Đảng ta đã chỉ rõ phải đẩy mạnh giảm nghèo bền vững, nhất là các vùng đặc biệt khó khăn và có chính sách đặc thù để giảm nghèo nhanh hơn trong đồng bào dân tộc thiểu số. Chú trọng các giải pháp tạo điều kiện và khuyến khích các hộ nghèo, cận nghèo phấn đấu tự vươn lên thoát nghèo bền vững; đổi mới chính sách giảm nghèo theo hướng tập trung, hiệu quả và tiếp cận phương pháp đo lường nghèo đa chiều nhằm bảo đảm an sinh xã hội cơ bản và tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản. Quan điểm lãnh đạo của Đảng khi áp dụng phương pháp đo lường nghèo đa chiều, “tiếp cận chuẩn nghèo theo phương pháp tiếp cận đa chiều” - nghèo được đo lường không chỉ bằng tiêu chí thu nhập mà còn bằng cả nhóm tiêu chí phi thu nhập trong thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững với mục đích tác động tốt hơn, toàn diện hơn đến người nghèo, giúp bảo đảm mức sống tối thiểu, đồng thời đáp ứng các dịch vụ xã hội cơ bản cho người dân, từng bước giảm nghèo bền vững. Đảng ta đã chỉ rõ “phải đẩy mạnh giảm nghèo bền vững, nhất là các vùng đặc biệt khó khăn và có chính sách đặc thù...”; “Tạo cơ hội để mọi người có việc làm và cải thiện thu nhập. Bảo đảm tiền lương, thu nhập công bằng, đủ điều kiện sống và tái sản xuất sức lao động. Huy động tốt nhất nguồn nhân lực lao động để phục vụ công cuộc xây dựng, phát triển đất nước. Chú trọng giải quyết việc làm cho lao động dôi dư từ khu vực nông nghiệp do việc tích tụ, tập trung ruộng đất hoặc thu hồi đất phát triển công nghiệp, đô thị và các công trình công cộng. Khuyến khích đầu tư xã hội tạo ra nhiều việc làm, nâng cao chất lượng giáo dục nghề nghiệp. Xây dựng và hoàn thiện hệ thống chính sách về tiền lương, tiền công, khắc phục cơ bản những bất hợp lý. Điều chỉnh chính sách dạy nghề, gắn đào tạo với sử dụng. Điều chỉnh chính sách xuất khẩu lao động hợp lý. Hoàn thiện và thực hiện chính sách bảo hộ lao động”. Có thể khẳng định đây là sự lãnh đạo hướng đến các chính sách, chương trình phòng ngừa rủi ro, tầng trên cùng của hệ thống an sinh xã hội nhằm giúp cho mọi tầng lớp dân cư có được việc làm, tạo thu nhập, có được năng lực vật chất cần thiết để đối phó tốt nhất với thiên tai, rủi ro [34]. Qua đó thấy được quan điểm của Đảng ta chỉ ra những định hướng lớn, lãnh đạo cụ thể từng mặt của công tác an sinh xã hội dựa trên cơ sở lý luận về chức năng, cấu trúc, mô hình, các trụ cột, sự phân tầng của chính sách an sinh xã hội, cách tiếp cận mới về tạo việc làm, giảm nghèo đa chiều bền vững; về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế toàn dân, trợ giúp xã hội, cung cấp dịch vụ xã hội ở mức độ tối thiểu nhằm trợ giúp khó khăn, phòng ngừa, giảm thiểu, khắc phục rủi ro, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân, đặc biệt là nhóm yếu thế, hướng đến nền an sinh xã hội toàn dân, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Mục tiêu của công tác giảm nghèo nhanh, bền vững Vào ngày 19/5/2011, tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, XII của Đảng, nhằm cụ thể hóa quan điểm, đường lối, chủ trương của Đảng, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 80/NQ-CP về định hướng giảm nghèo bền vững thời kỳ từ năm 2011 đến năm 2020. Nghị quyết cũng đã đề ra mục tiêu tổng quát, đó là: “Giảm nghèo bền vững là một trọng tâm của chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011-2020 nhằm cải thiện và từng bước nâng cao điều kiện sống của người nghèo, trước hết là khu vực miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số; tạo sự chuyển biến mạnh mẽ, toàn diện ở các vùng nghèo; thu hẹp khoảng cách chênh lệch giữa thành thị và nông thôn, giữa các vùng, các dân tộc và các nhóm dân cư”; Quyết định số 1722/QĐ-TTg ngày 02/9/2016 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia Giảm nghèo bền vững giai đoạn 2016-2020; Quyết định số 41/2016/QĐ-TTg ngày 10/10/2016 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Quy chế quản lý, điều hành thực hiện các Chương trình mục tiêu quốc gia; 1.2.2. Chuẩn nghèo và tiêu chí xác định nghèo hiện nay - Chuẩn nghèo và tiêu chí xác định chuẩn nghèo mới được áp dụng từ năm 2016 đến nay [18]. Thực hiện Quyết định số 1614/QĐ-TTg của Thủ tướng chính phủ ngày 15/9/2015 Phê duyệt Đề án tổng thể “Chuyển đổi phương pháp tiếp cận đo lường nghèo từ đơn chiều sang đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016-2020” thì tiêu chí về thu nhập và tiêu chí về mức độ thiếu hụt tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản để xác định mức chuẩn nghèo, cụ thể các tiêu chí về thu nhập: - Chuẩn mức sống tối thiểu: từ 1.300.000 đồng/người/tháng trở xuống ở khu vực thành thị và 1.000.000 đồng/người/tháng ở khu vực nông thôn.
- Xem thêm -