Tài liệu Thực hiện chính sách giải quyết việc làm cho thanh niên từ thực tiễn quận ba đình, thành phố hà nội.

  • Số trang: 81 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 408 |
  • Lượt tải: 0
dangvantuan

Tham gia: 02/08/2015

Mô tả:

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI ĐOÀN KIM THANH THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO THANH NIÊN TỪ THỰC TIỄN QUẬN BA ĐÌNH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI Ngành: Chính sách công Mã số: 834 04 02 LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS BÙI NHẬT QUANG HÀ NỘI, 2018 1 MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Giải quyết việc làm luôn là chủ để nóng không những chỉ riêng ở Việt Nam mà còn là vấn đề chung của nhiều quốc gia trên thế giới, trong đó có cả những nước phát triển. Theo Báo cáo của Cơ quan thống kê Hàn Quốc trong tháng 9 năm 2017 cho thấy tỉ lệ thất nghiệp của nhóm thanh niên tăng cao nhất trong 18 năm qua.Tỉ lệ thất nghiệp của thanh niên Hàn Quốc độ tuổi từ 15 đến 29 hiện ở mức 8%, gấp đôi tỉ lệ thất nghiệp trung bình của cả nước. Ở xứ sở kim chi, một việc làm ổn định không chỉ là "cần câu cơm" mà còn là yếu tố quyết định sự thành bại và chỗ đứng trong xã hội của mỗi cá nhân [15]. Năm 2018, tại Italy, thanh niên phải thức đậy từ nửa đêm để đi xin việc làm là tình trạng phổ biến, tỷ lệ thất nghiệp thanh niên tại nước này lên tới 30% [16]. Tại Hoa Kỳ, tổng số người thất nghiệp trong năm 2008 đã lên tới con số cao kỷ lục kể từ năm 1945. Bộ Lao động Hoa Kỳ cũng công bố tháng 10 năm 2008, số lượng người thất nghiệp là 423.000 và tháng 11 là 584.000 người.Tuy nhiên, với nhiều nỗ lực của Chính phủ Hoa Kỳ trong nhiệm kỳ của Tổng thống Donal Trump, tỷ lệ thất nghiệp tại Mỹ đã giảm và trung bình mỗi tháng nền kinh tế nước này tạo ra 185.000 việc làm mới. Số việc làm mới được tạo ra trong tháng vừa qua chủ yếu trong các lĩnh vực khai mỏ, chăm sóc y tế, bảo hiểm xã hội và giải trí. Tuy nhiên, vấn đề giải quyết việc làm tại nước này vẫn còn nhiều thách thức. Ở nước ta, thanh niên là lực lượng lao động lớn của xã hội và là nguồn lực quan trọng cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Hằng năm có khoảng 1,2 - 1,6 triệu thanh niên bước vào tuổi lao động. [4] Theo kết quả điều tra lao động và việc làm toàn quốc của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội [3], số lượng và tỷ lệ thanh niên tham gia hoạt động kinh tế tăng đều từ năm 2008 đến nay. Năm 2008, số thanh niên hoạt động 2 kinh tế của cả nước là hơn 16 triệu người, chiếm 67,2% tổng số thanh niên (38,7% lực lượng lao động xã hội); năm 2009, số thanh niên hoạt động kinh tế tăng thành gần 18 triệu người, chiếm 75,4% tổng số thanh niên (36,6% lực lượng lao động xã hội); năm 2010 con số đó là 17,1 triệu người, chiếm 75,9% tổng số thanh niên (33,7% lực lượng lao động xã hội).Dưới tác động của cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu, thực trạng việc làm của thanh niên trong thời gian gần đây diễn biến khá phức tạp.Tình trạng thất nghiệp, thiếu việc làm trong thanh niên vẫn gia tăng. Theo thống kê của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, tỷ lệ thanh niên trong độ tuổi lao động thiếu việc làm tăng từ 3% (năm 2008) lên 5,6% (năm 2009) và 4,1% (năm 2010), trong đó khu vực thành thị là 2%; khu vực nông thôn là 4,9%. Tình trạng thất nghiệp cũng có xu hướng tăng mạnh, tập trung chủ yếu ở nhóm thanh niên đô thị. Tỷ lệ thanh niên thất nghiệp chiếm 4,2% (năm 2008); 4,1% (năm 2009) và tăng lên 5,2% (năm 2010), trong đó ở khu vực đô thị là 7,8%, cao gần gấp hai lần nông thôn (4,3%). Số đối tượng hưởng trợ cấp thất nghiệp ở nhóm thanh niên cũng chiếm tỷ lệ khá cao. Trong số những người hưởng trợ cấp thất nghiệp hằng tháng thì số người ở độ tuổi dưới 24 là 12.275 người (chiếm 24,5%); từ 25 - 40 tuổi là 31.366 người (chiếm 62,7%); trên 40 tuổi là 6.416 người (chiếm 12,8%)[2]. Trước tình hình đó, Đảng và Nhà nước ta đã chú trọng, đẩy mạnh giải quyết việc làm, trong đó có giải quyết việc làm cho thanh niên.Cụ thể tại Nghị quyết số 25-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa X) về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác thanh niên thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, việc triển khai các hoạt động nhằm nâng cao chất lượng lao động trẻ, giải quyết việc làm, tăng thu nhập và cải thiện đời sống cho thanh niên đã được các cấp ủy đảng, chính quyền, đoàn thể địa phương quan tâm thực hiện với nhiều hình thức khác nhau. Tuy nhiên trên 3 thực tế, sự nhìn nhận, đánh giá của cán bộ đảng, chính quyền, đoàn thể và thanh niên địa phương về hiệu quả đạt được của các hoạt động này còn nhiều hạn chế, chưa đáp ứng được những đòi hỏi của thanh niên. Nhận thấy tính cấp thiết của vấn đề nêu trên, là học viên cao học chuyên ngành Chính sách công và hiện đang công tác tại Ủy ban nhân dân Quận Ba Đình, học viên chọn đề tài “Thực hiện Chính sách giải quyết việc làm cho thanh niên từ thực tiễn Quận Ba Đình, thành phố Hà Nội” làm luận văn thạc sĩ để nghiên cứu các vấn đề lý luận cũng như giải quyết vấn đề trong thực tiễn. 2. Tình hình nghiên cứu đề tài Đã có nhiều công trình khoa học nghiên cứu về giải quyết việc làm cho thanh niên, tiêu biểu như sau: 2.1 Các công trình nghiên cứu nước ngoài - Năm 1997 O’Higgin lại cho xuất bản công trình nghiên cứu “The challenges of youth unemployment”, nói về tình trạng thất nghiệp của giới trẻ, một thách thức lớn đối với nhiều quốc gia hiện nay, nhất là các quốc gia có nền kinh tế chậm phát triển và đang phát triển. [8] - Năm 1998 Manning.C đã xuất bản ấn phẩm “Choosy Youth or unwanted youth - a survey or unemployment” [7] nói về sự lựa chọn, mong muốn của giới trẻ hiện nay trong việc tìm kiếm việc làm phù hợp, nhằm tránh khỏi tình trạng thất nghiệp đang đe dọa thường xuyên do những biến động khó lường của kinh tế thế giới, cũng như nền kinh tế của mỗi quốc gia. Các công trình nghiên cứu của các học giả nói trên đề cập về việc làm của đối tượng lao động thanh niên trong bối cảnh khoa học và công nghệ đạt được những thành tựu đáng kể. Đặc biệt, trong bối cảnh cuộc cách mạng 4.0 đang diễn ra, máy móc càng ngày càng thay thế con người trong nhiều vị trí việc làm, thì những công trình khoa học nêu trên là bài học kinh nghiệm để 4 Đảng, Nhà nước ta hoạch định và ban hành các chính sách về việc làm cho thanh niên. 2.2 Các công trình nghiên cứu trong nước 2.2.1 Các công trình nghiên cứu tổng quan về chính sách giải quyết việc làm Tác giả Đỗ Thị Xuân Phượng với đề tài: “Phát triển thị trường sức lao động, giải quyết việc làm qua thực tế ở Hà Nội” (2005), [9], luận án tiến sĩ kinh tế đã đi từ thực trạng việc làm của lao động ở Hà Nội, các vấn đề nảy sinh để khái quát thành giải pháp, biện pháp khắc phục. Tác giả đã khái quát thực tế từ thị trường sức lao động và việc làm ở Hà Nội để đánh giá về vấn đề giải quyết việc làm cho người lao động ở Hà Nội, bởi lẽ thủ đô Hà Nội là trung tâm văn hóa - kinh tế - chính trị của cả nước, nơi tập trung nhiều lao động từ các tỉnh, thành phố khác nên thị trường sức lao động ở Hà Nội có diễn biến khá phức tạp về số lượng, chất lượng, cơ cấu, thành phần. 2.2.2 Các công trình nghiên cứu về chính sách hỗ trợ doanh nghiệp, khuyến khích đầu tư nhằm tạo việc làm Phạm Thị Kim Thư với luận văn thạc sỹ “Quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ trên địa bàn thành phố Hà Nội”. (2014) [14], Luận văn đã phân tích và đánh giá thực trạng công tác quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp trên địa bàn thành phố Hà Nội, từ đó đưa ra những giải pháp hoàn thiện công tác này.Đây là công trình khá toàn diện không chỉ nghiên cứu, đánh giá và đưa ra giải pháp về việc thực thi chính sách, mà còn các hoạt động khác của QLNN như xây dựng các văn bản pháp quy, kiểm tra, giám sát hoạt động của doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Hà Nội; điều này góp phần phát triển doanh nghiệp một cách bền vững. 2.2.3 Các công trình nghiên cứu về chính sách tín dụng Ngô Quỳnh An với luận án tiến sĩ “Tăng cường khả năng tự tạo việc làm cho thanh niên Việt Nam” bảo vệ năm 2012 tại trường đại học KTQD, [1], đã 5 phân tích và đánh giá thực trạng tự tạo việc làm của thanh niên Việt Nam trong bối cảnh nền kinh tế thị trường đang hội nhập quôc tế. Bên cạnh đó, luận án cũng đề cập những giải pháp, bao gồm giải pháp về tín dụng nhằm hỗ trợ thanh niên tự tạo việc làm. 2.2.4 Các công trình nghiên cứu về đào tạo nghề Ngô Thùy Hương với luận văn thạc sĩ “Các giải pháp đào tạo nghề cho thanh niên dân tộc trên địa bàn tỉnh Đăklăk” bảo vệ năm 2015[6], đã phân tích, đưa ra thực trạng đào tạo nghề cho thanh niên dân tộc trên địa bàn tỉnh Đăklăk, từ đó đưa ra những giải pháp hoàn thiện công tác này. 2.2.5 Các công trình nghiên cứu về xuất khẩu lao động Nguyễn Văn Thắng với luận án tiến sĩ “Chính sách việc làm cho thanh niên vùng thu hồi đất của Hà Nội”, [13], Luận án tập trung nghiên cứu, phân tích thực trạng các chính sách việc làm cho thanh niên vùng thu hồi đất của Hà Nội và đưa ra các giải pháp hoàn thiện việc thực hiện các chính sách này. Trong đó, luận án cũng nghiên cứu và đưa ra giải pháp về xuất khẩu lao động cho thanh niên vùng thu hồi đất của Hà Nội. Các công trình nghiên cứu nêu trên là nguồn tài liệu tham khảo có giá trị đối với định hướng nghiên cứu của học viên, tuy nhiên các công trình này chưa đề cập tới việc thực hiện các chính sách giải quyết việc làm cho thanh niên tại một địa bàn (quận, huyện) cụ thể. Từ đó, học viên định hướng nghiên cứu thực hiện các chính sách giải quyết việc làm cho thanh niên tại Quận Ba Đình, thành phố Hà Nội là không trùng lắp với các công trình nêu trên. 3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 3.1 Mục đích nghiên cứu Luận văn nghiên cứu thực trạng việc thực hiện chính sách giải quyết việc làm cho thanh niên từ thực tiễn của Quận Ba Đình, để từ đó đưa ra phương hướng, giải pháp hoàn thiện công tác quản lý nhà nước về lao động của Quận nói 6 chung và cụ thể là việc thực hiện chính sách giải quyết việc làm cho thanh niên. 3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu - Hệ thống hóa cơ sở khoa học về chính sách giải quyết việc làm cho thanh niên - Nghiên cứu, đánh giá thực trạng việc thực hiện chính sách giải quyết việc làm cho thanh niên của Quận Ba Đình, thành phố Hà Nội - Đưa ra phương hướng, giải pháp hoàn thiện việc thực hiện chính sách giải quyết việc làm cho thanh niên của Quận Ba Đình, thành phố Hà Nội 4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4.1 Đối tượng nghiên cứu: Việc thực hiện chính sách giải quyết việc làm cho thanh niên 4.2 Phạm vi nghiên cứu: - Phạm vi không gian: Quận Ba Đình, thành phố Hà Nội - Phạm vi thời gian: 2015-2018 - Phạm vi về nội dung: luận văn không tập trung nghiên cứu về thất nghiệp và các nghiên cứu định lượng nhằm đo lường mức độ giảm tỷ lệ thất nghiệp hay giải quyết được bao nhiêu việc làm cho người lao động. Luận văn tập trung nghiên cứu, đánh giá hoạt động của chính quyền Quận Ba Đình trong việc thực hiện chính sách giải quyết việc làm từ khi thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn theo Luật Tổ chức chính quyền địa phương có hiệu lực từ năm 2015. 5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu - Phương pháp luận: Chủ nghĩa duy vật biện chứng - Phương pháp nghiên cứu: Phương pháp thu thập thông tin thứ cấp qua các số liệu thống kê, báo cáo của Quận Ba Đình và các báo, tạp chí. 6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn - Ý nghĩa khoa học: luận văn góp phần cung cấp một cách có hệ thống 7 những vấn đề lý luận và thực tiễn về thực hiện chính sách giải quyết việc làm cho thanh niên. - Ý nghĩa thực tiễn: thông qua nghiên cứu, luận văn đánh giá một cách khách quan việc thực hiện những chính sách giải quyết việc làm cho thanh niên từ thực tiễn Quận Ba Đình, từ đó là cơ sở tham khảo cho Quận hoàn thiện công tác này cũng như là kinh nghiệm cho các quận, huyện trên cả nước tham khảo. 7. Kết cấu của luận văn Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương. Chương 1: Cơ sở khoa học của chính sách giải quyết việc làm cho thanh niên Chương 2: Thực trạng việc thực hiện chính sách giải quyết việc làm cho thanh niên của Quận Ba Đình, thành phố Hà Nội Chương 3: Phương hướng, giải pháp hoàn thiện việc thực hiện chính sách giải quyết việc làm cho thanh niên của Quận Ba Đình, thành phố Hà Nội 8 Chương 1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA CHÍNH SÁCH GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO THANH NIÊN 1.1 Cơ sở lý luận về chính sách giải quyết việc làm cho thanh niên 1.1.1 Một số khái niệm 1.1.1.1 Khái niệm việc làm Đứng trên các góc độ nghiên cứu khác nhau, người ta đã đưa ra rất nhiều định nghĩa nhằm sáng tỏ khái niệm việc làm. Và ở các quốc gia khác nhau, do ảnh hưởng của nhiều yếu tố như điều kiện kinh tế, chính trị, luật pháp… người ta quan niệm về việc làm cũng khác nhau. Chính vì thế, không có một định nghĩa chung và khái quát nhất về việc làm. Có thể hiểu, việc làm là một phạm trù tồn tại khách quan trong nền sản xuất xã hội, phụ thuộc vào các điều kiện hiện có của nền sản xuất. Người lao động được coi là có việc làm khi chiếm giữ một vị trí nhất định trong hệ thống sản xuất của xã hội. Nhờ có việc làm mà người lao động mới thực hiện được quá trình lao động tạo ra sản phẩm cho xã hội, cho bản thân. Ở Việt Nam, khái niệm việc làm đã được quy định tại Điều 13 của Bộ luật lao động: “Mọi hoạt động lao động tạo ra nguồn thu nhập không bị pháp luật cấm đều được thừa nhận là việc làm”. [10] Khái niệm trên nói chung khá bao quát, nhưng chúng ta cũng thấy rõ hai hạn chế cơ bản. Thứ nhất, hoạt động nội trợ không được coi là việc làm, trong khi đó hoạt động nội trợ tạo ra các lợi ích phi vật chất và gián tiếp tạo ra lợi ích vật chất không hề nhỏ.Thứ hai, khó có thể so sánh tỷ lệ người có việc làm giữa các quốc gia với nhau vì quan niệm về việc làm giữa các quốc gia có thể khác nhau, phụ thuộc vào luật pháp, phong tục tập quán. Có những nghề ở quốc gia này thì được cho phép và được coi là việc làm, nhưng ở quốc gia 9 khác, ví dụ đánh bạc ở Việt Nam bị cấm, nhưng ở Thái Lan và Mỹ lại được coi là một nghề. Thậm chí nghề này rất phát triển, vì nó thu hút khá đông tầng lớp thượng lưu.Trong thời kỳ hội nhập và toàn cầu hóa hiện nay, Tổ chức lao động quốc tế (ILO) còn khuyến cáo và đề cập tới việc làm nhân văn hay việc làm bền vững. 1.1.1.2 Khái niệm giải quyết việc làm Theo khái niệm việc làm nêu ở phần trên, việc làm là phạm trù để chỉ trạng thái phù hợp giữa sức lao động và những điều kiện cần thiết (vốn, tư liệu sản xuất, công nghệ...) để sử dụng sức lao động đó. Rõ ràng tạo được việc làm cho người lao động hoặc tạo nhiều việc làm luôn gắn với quá trình phát triển kinh tế xã hội, phát huy sức mạnh tiềm năng của con người, phát huy trí tuệ người lao động để tạo ra nhiều của cải cho xã hội. Chính vì vậy, Văn kiện Đại hội X của Đảng đã nêu rõ “Giải quyết việc làm là yếu tố quyết định để phát huy nhân tố con người, ổn định và phát triển kinh tế, làm lành mạnh xã hội, đáp ứng nguyện vọng chính đáng và yêu cầu bức xúc của nhân dân”. Vấn đề giải quyết việc làm cho người lao động là cần thiết, không những mang tầm quốc gia mà vượt ra bên ngoài khu vực và thế giới. Tuỳ thuộc vào các cách thức tiếp cận và mục đích nghiên cứu khác nhau mà người ta đưa ra khái niệm về giải quyết việc làm. Giải quyết việc làm là một quá trình tạo ra môi trường hình thành các chỗ làm việc và sắp xếp người lao động phù hợp với chỗ làm việc để có các việc làm chất lượng, đảm bảo nhu cầu của cả người lao động và người sử dụng lao động, đồng thời đáp ứng được mục tiêu phát triển đất nước. Với khái niệm trên, việc giải quyết việc làm không chỉ có nhiệm vụ chức năng của Nhà nước mà còn là trách nhiệm của xã hội, của các cơ quan doanh nghiệp và ngay bản thân người lao động. 10 1.1.1.3 Khái niệm chính sách giải quyết việc làm Nhà nước đóng vai trò và chịu trách nhiệm chính trong việc giải quyết việc làm thông qua các công cụ quản lý nhà nước. Một trong những công cụ quan trọng của Nhà nước để giải quyết các vấn đề của xã hội nói chung và giải quyết việc làm nói riêng đó là chính sách. Chính sách giải quyết việc làm có thể hiểu là những biện pháp của Nhà nước tác động tới xã hội nhằm giải quyết các vấn đề về việc làm như thất nghiệp, khuyến khích người lao động tự tạo việc làm, hỗ trợ tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh để tạo việc làm cho người lao động. Hiện nay, các chính sách của Nhà nước luôn quan tâm chú trọng đến tạo công ăn việc làm cho người lao động thông qua các văn bản quy phạm pháp luật, các chương trình, chính sách hỗ trợ tới tận hộ gia đình, các cá nhân sẵn sàng làm việc. Chính vì vậy, chính sách nhà nước là một trong những tác động quan trọng rất mạnh đến việc làm của người lao động như khuyến khích các doanh nghiệp mở rộng sản xuất như giảm thuế tiền sử dụng đất, thuê nhà xưởng, văn phòng, hỗ trợ về cơ sở hạ tầng điện đường, trường trạm nhằm phục vụ cho các công trình sản xuất... Chính sách chính sách nhà nước tác động toàn diện đến vấn đề giải quyết việc làm. Bên cạnh đó, các chương trình, chiến lược phát triển, các hoạt động cụ thể của các doanh nghiệp tác động trực tiếp đến giải quyết việc làm cho người lao động như đào tạo nguồn lao động, tuyển dụng, bố trí sắp xếp lao động phù hợp năng lực và yêu cầu... 1.1.1.4 Khái niệm chính sách giải quyết việc làm cho thanh niên - Khái niệm thanh niên Thanh niên là một khái niệm có thể được hiểu và định nghĩa theo nhiều cách. Tùy thuộc vào nội dung tiếp cận, góc độ nhìn nhận hoặc cấp độ đánh giá mà người ta đưa ra các định nghĩa khác nhau về thanh niên. Về mặt sinh học, các nhà nghiên cứu coi thanh niên là một giai đoạn 11 xác định trong quá trình “tiến hóa” của cơ thể. Các nhà tâm lý học thường nhìn nhận thanh niên là một giai đoạn chuyển tiếp từ tuổi thơ phụ thuộc sang hoạt động độc lập với tư cách là một công dân có trách nhiệm. Còn theo Luật thanh niên do Quốc Hội ban hành ngày 29/11/2005 qui định “Thanh niên quy định trong Luật này là công dân Việt Nam từ đủ mười sáu tuổi đến ba mươi tuổi”, góc tiếp cận xác định độ tuổi để xác định một người được gọi là thanh có quyền và nghĩa vụ sống và làm việc theo pháp luật của NN Việt Nam qui định - Khái niệm chính sách giải quyết việc làm cho thanh niên Chính sách giải quyết việc làm cho thanh niên là một bộ phận của chính sách giải quyết việc làm cho người lao động nói chung. Đặc biệt ở chỗ, đối tượng của các chính sách này là dành cho thanh niên. Ở nước ta, căn cứ Luật Thanh Niên số 53/2005/QH11, thanh niên là những người trong độ tuổi từ đủ 16 tuổi đến 30 tuổi. Do đó, chính sách giải quyết việc làm cho thanh niên là các biện pháp của Nhà nước tác động tới xã hội nhằm giải quyết các vấn đề về việc làm cho thanh niên như khắc phục tình trạng thất nghiệp, khuyến khích, hỗ trợ thanh niên tự tạo việc làm, khuyến khích, hỗ trợ doanh nghiệp trong và ngoài nước phát triển việc làm và tiếp nhận đội ngũ thanh niên vào làm việc. [11] 1.1.2 Vai trò, sự cần thiết của thực hiện chính sách giải quyết việc làm cho thanh niên 1.1.2.1 Vai trò của thực hiện chính sách giải quyết việc làm cho thanh niên Lao động là một trong những quyền cơ bản của công dân được ghi nhận trong Hiến pháp. Công dân có sức lao động phải được làm việc để duy trì sự tồn tại của bản thân và góp phần xây dựng xã hội, thực hiện các nghĩa vụ của họ đối với những người xung quanh trong cộng đồng. Giải quyết việc làm, đảm bảo cho mọi người có khả năng lao động đều có cơ hội có việc làm 12 là vai trò, trách nhiệm của Nhà nước, của các doanh nghiệp và toàn xã hội. Pháp luật lao động quy định trách nhiệm trực tiếp thuộc về Chính phủ và các cơ quan hành chính Nhà nước, trách nhiệm trước hết thuộc về Quốc hội và hệ thống các cơ quan quyền lực (Hội đồng nhân dân các cấp). Đối với Ủy ban nhân dân cấp tỉnh: Ủy ban nhân dân cấp tỉnh lập chương trình và quỹ giải quyết việc làm của địa phương trình Hội đồng nhân dân cùng cấp quyết định và tổ chức thực hiện quyết định đó, đồng thời có trách nhiệm báo cáo về Bộ Kế hoạch và Đầu tư và Bộ Tài chính. Từ những quy định trên, có thể thấy, ủy ban nhân dân cấp huyện nói chung và trong hoạt động của ủy ban nhân dân Quận có trách nhiệm thực hiện chỉ đạo của chính quyền cấp tỉnh về giải quyết việc làm, từ đó triển khai xuống cấp cơ sở (cấp xã). 1.1.2.2 Sự cần thiết của thực hiện chính sách giải quyết việc làm cho thanh niên Sự ổn định, an toàn trật tự và phát triển kinh tế luôn là mục tiêu của quản lý nhà nước từ trung ương tới địa phương. Đặc biệt là một trong những trung tâm chính trị, văn hóa, kinh tế hàng đầu của cả nước như quận Ba Đình , thì những mục tiêu nêu trên càng được Đảng, Nhà nước và nhân dân ta kỳ vọng. Do đó trách nhiệm của chính quyền địa phương trong thực hiện chính sách GQVL nhằm đáp ứng hai lý do chính như sau: - Một là, GQVL là nội dung quan trong góp phần ổn định trật tự, an toàn xã hội. Thật vậy, nhiều công trình khoa học đã chứng minh, những nơi tội phạm gia tăng, tình hình mất trật tự xã hội xảy ra thường là những nơi nghèo đói, tình trạng thất nghiệp tràn lan; hay nói theo cách dân gian ta ngày xưa là: “nhàn cư, vi bất thiện”. Bên cạnh đó, trách nhiệm của chính quyền địa phương là giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn, do vậy, GQVL cho thanh niên là góp phần quan trọng để đạt mục tiêu trật tự, an toàn xã hội. 13 - Hai là, GQVL là góp phần quan trọng trong phát triển kinh tế địa phương, đây vừa là trách nhiệm vừa là mong muốn của mọi nhà nước nói chung hay của chính quyền địa phương nói riêng. Trên cơ sở người dân nói chung, hay thanh niên trong độ tuổi lao động được tạo công ăn việc làm, có thu nhập ổn định thì mới tạo ra của cải, vật chất đóng góp cho xã hội nói chung và ngân sách địa phương nói riêng. Cũng từ đó, nguồn ngân sách lại được đầu tư cho cơ sở hạ tầng và các dịch vụ an sinh xã hội của chính địa phương đó, qua đó góp phần nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của người dân địa phương. 1.1.3 Nội dung chính sách giải quyết việc làm cho thanh niên Giải quyết việc làm cho thanh niên là những nỗ lực của chính quyền địa phương, các tổ chức chính trị xã hội, hiệp hội nghề nghiệp, các doanh nghiệp, các chủ thể sử dụng lao động cùng chính nỗ lực của thanh niên nhằm tạo ra những điều kiện thúc đẩy việc kết hợp sức lao động thanh niên với tư liệu sản xuất tạo ra của cải vật chất cho xã hội, mang lại thu nhập hợp pháp cho thanh niên, cho người sử dụng lao động. Có nhiều hoạt động liên quan đến giải quyết việc làm nhưng luận văn chủ yếu tập trung vào những hoạt động như sau: 1.1.3.1 Thực hiện chính sách hỗ trợ tín dụng cho thanh niên để tìm và tự tạo việc làm Trong bối cảnh chung của thế giới và tại Việt Nam hiện nay, số lượng việc làm thường không đáp ứng được nhu cầu của người lao động. Do đó, một cách hiệu quả nhất là khuyến khích thanh niên khởi nghiệp, tự tìm và tạo việc làm cho bản thân. Tuy vậy, yếu tố cần thiết đầu tiên cần đáp ứng đó là có nguồn vốn để khởi nghiệp. Nhưng không phải đối tượng nào cũng có thể vay vốn từ ngân hàng, bên cạnh đó, hình thức vay vốn ngân hàng chỉ giải quyết có những cá nhân nhỏ lẻ và có nguồn lực đảm bảo cho phần vốn vay. Để đa số 14 thanh niên có nhu cầu khởi nghiệp và có nguồn vốn phục vụ cho những đầu tư ban đầu, Nhà nước đưa ra chính sách về hỗ trợ tín dụng, từ đó triển khai xuống địa phương để thực hiện chính sách này. Điều này đáp ứng được số lượng lớn nhu cầu thanh niên cần nguồn vốn cho khởi nghiệp đồng thời tránh được tình trạng “tín dụng đen” trong xã hội để giảm gánh nặng về lãi cho người khởi nghiệp trong quá trình hoạt động ban đầu.Trách nhiệm của địa phương là bố trí ngân sách, phối hợp kêu gọi các nguồn khác để thành lập một loại hình quỹ tín dụng nhằm sử dụng cho mục địch giải quyết việc làm tại chính địa phương đó.Việc lập, quản lý và sử dụng quỹ này được quy định tại các VBQPPL hiện hành. 1.1.3.2 Thiện việc thực hiện chính sách đào tạo nghề Đào tạo nghề được xem như là giải pháp gắn với phát triển kinh tế - xã hội, xóa đói giảm nghèo, giải quyết vấn đề thất nghiệp. Chất lượng nguồn lao động là yếu tố then chốt quyết định sực phát triền kinh tế - xã hội của mỗi địa phương. Một trong những minh chứng rõ nét nhất là đất nước Nhật Bản - một quốc gia nghèo nàn về tài nguyên và gắn liền với nhiều thiên tai nhưng con người nơi đây đã chăm chỉ và không ngừng sáng tạo để vượt qua những cản trở của thiên nhiên để trở thành cường quốc kinh tế trên thế giới; là tấm gương sáng cho các nước khác trên thế giới trong đó có Việt Nam. Một trong những phương pháp giúp nâng cao chất lượng nguồn lao động là hệ thống giáo dục của quốc gia nói chung và địa phương nói riêng phải hiện đại, phù hợp với nhu cầu của nền kinh tế và phù hợp với đối tượng người học. Trong hệ thống giáo dục của một quốc gia sẽ gồm nhiều cấp bậc khác nhau trong đó đào tạo nghề là một khâu quan trọng và tác động rõ rệt đến chất lượng đội ngũ lao động. Đào tạo nghề được xem như là giải pháp gắn với phát triển kinh tế xã hội, xóa đói giảm nghèo, giải quyết vấn đề thất nghiệp, thiếu việc làm cho người lao động, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, nâng cao trình độ dân trí. 15 Hiện nay, đào tạo nghề không chỉ còn là trách nhiệm cá nhân của người lao động mà còn là trách nhiệm chính của Nhà nước nói chung và địa phương nói riêng. Bởi lẽ việc đào tạo nghề có phù hợp với nhu cầu sử dụng lao động của xã hội hay không? Chất lượng đào tạo có đáp ứng với yêu cầu công việc mà xã hội cần hay không? Đấy là trách nhiệm trong tổ chức, quản lý của Nhà nước. Cụ thể hơn, việc đào tạo nghề đáp ứng đúng chất lượng, đúng số lượng mà xã hội cần thì địa phương thực hiện tốt chính sách này sẽ gặp nhiều thuận lợi trong ổn định an ninh xã hội và phát triển kinh tế của chính địa phương đó. 1.1.3.3 Thực hiện chính sách khuyến khích phát triển doanh nghiệp và thu hút đầu tư trên địa bàn để tạo việc làm Trong thời gian gần đây, Đảng và Nhà nước ta đã xác định cần chú trọng phát triển “kinh tế tư nhân” xem kinh tế tư nhân là động lực quan trọng để phát triển đất nước, hay Chính phủ đã quan niệm rằng “Quốc gia khởi nghiệp” và “Chính phủ kiến tạo”. Điều này cho thấy ý nghĩa quan trọng của việc khuyến khích doanh nghiệp đầu tư, phát triển nhằm góp phần thúc đẩy nền kinh tế nói chung và giải quyết việc làm nói riêng. Nhà nước thực hiện các biện pháp sau đây nhằm hỗ trợ các hoạt động đầu tư trong nước: Giao đất hoặc cho thuê đất theo quy định của pháp luật về đất đai; Xây dựng kết cấu hạ tầng các khu công nghiệp để cho thuê làm mặt bằng xây dựng cơ sở sản xuất, kinh doanh; Lập và khuyến khích các quỹ hỗ trợ đầu tư để cho vay đầu tư trung hạn và dài hạn; Góp vốn thông qua các quỹ hỗ trợ đầu tư, ngân hàng thương mại, công ty tài chính vào các cơ sở sản xuất, kinh doanh thuộc các thành phần kinh tế trên cơ sở cùng có lợi; khuyến khích các ngân hàng, tổ chức tín dụng và công ty tài chính nhà nước bảo lãnh tín dụng đầu tư cho nhà đầu tư tư nhân trong nước; Hỗ trợ và tổ chức thực hiện các chương trình, dịch vụ khuyến khích đầu tư, gồm: Tư vấn quản lý và kinh doanh; Tư vấn pháp lý; Tổ chức dạy nghề và đào tạo cán bộ kỹ thuật; Đào tạo 16 và nâng cao kiến thức quản lý; Cung cấp thông tin kinh tế; Phổ biến và chuyển giao công nghệ, tạo điều kiện cho các chủ đầu tư được sử dụng với mức phí ưu đãi các công nghệ mới tạo ra bởi vốn ngân sách nhà nước. Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương hàng năm công bố quy hoạch sử dụng đất đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt; công bố quỹ đất chưa sử dụng, quỹ đất đang có nhu cầu cho thuê, kèm theo danh mục các dự án kêu gọi đầu tư của địa phương trên các phương tiện truyền thông đại chúng và tại trụ sở của UBND để các nhà đầu tư có nhu càu đầu tư tham gia. Nhìn chung, Nhà nước đang nỗ lực hoàn thiện hệ thống chính sách nhằm thu hút đầu tư và phát triển khu vực tư một cách bền vững, nhưng quan trọng là chính quyền địa phương phải nghiêm túc thực hiện các chính sách nêu trên, để tránh tình trạng “trên dải thảm, dưới dải đinh” như Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc đã từng đề cập. 1.1.3.4. Thực hiện chính sách xuất khẩu lao động Trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay, có một thuật ngữ mới được đưa ra đó là “công dân toàn cầu”, có thể hiểu theo nghĩa là khi một người có kiến thức, kỹ năng, am hiểu các nền văn hóa thì có thể sinh sống và lao động ở các quốc gia khác nhau mà mình mong muốn. Bên cạnh đó, nguồn việc làm trong nước chưa đáp ứng kì vọng về số lượng của người lao động thì xuất khẩu lao động là một trong những giải pháp tốt để giảm tỷ lệ thất nghiệp ở các quốc gia. Trong những năm qua, số lượng người đi xuất khẩu lao động của nước ta ngày càng gia tăng.Theo số liệu thống kê của Cục Quản lý Lao động Ngoài nước, Bộ LĐTB & XH có khoảng 500.000 LĐVN đang làm việc tại hơn 40 quốc gia và vùng lãnh thổ, trong đó có những nước nhận số lượng lớn LĐVN như: Đài Loan, Nhật Bản, Hàn Quốc.[16] Tuy nhiên, không chỉ cần tăng về số lượng lao động được xuất khẩu đi nước ngoài làm việc, mà chất lượng tay 17 nghề cần gia tăng, bên cạnh đó các vấn đề về quyền lợi của người lao động ở nước ngoài, việc tuân thủ, chấp hành pháp luật của nước ngoài và ý thức văn hóa của người lao động Việt Nam tại nước ngoài là những vấn đề cần hoàn thiện hơn nữa. Do đó, ngay từ khâu đào tạo, bồi dưỡng và quản lí nguồn lao động trong nước là trách nhiệm của chính quyền địa phương nhằm hướng tới mục tiêu tạo ra một nguồn lao động đảm bảo chất lượng, có văn hóa tốt để đưa đi ra nước ngoài làm việc, từ đó đảm bảo cuộc sống ổn định cho người lao động và cũng thu về các nguồn lợi từ người lao động đóng góp về cho đất nước. Để thực hiện tốt chính sách xuất khẩu lao động, chính quyền địa phương cần làm tốt hơn nữa từ công tác lập qui hoạch, kế hoạch, đào tạo nguồn lao động cho đến công tác quản lý, kiểm soát tình hình người lao động chuẩn bị ra nước ngoài làm việc cho đến khi những người này quay về nước. 1.1.4 Các yếu tố ảnh hưởng tới thực hiện chính sách giải quyết việc làm cho thanh niên Trong quá trình thực hiện chính sách giải quyết việc làm cho thanh niên, có một số yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động này như sau: - Quy mô đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh của địa phương Sự phát triển sản xuất kinh doanh xét về qui mô đầu tư phụ thuộc rất lớn vào các điều kiện tự nhiên cũng như kế hoạch, chính sách phát triển kinh tế - xã hội ở các địa phương. Nhiệm vụ của mỗi địa phương là sử dụng và phát huy tối đa các điều kiện tự nhiên chi phối sản xuất kinh doanh, trên cơ sở đó xây dựng kế hoạch chính sách phát triển đúng đắn, bền vững nhằm mục tiêu quan trọng là phát triển con người – chủ thể và động lực chủ yếu của nền sản xuất và mọi hoạt động xã hội. Thực hiện đường lối đổi mới, Đảng và Chính phủ đã ban hành và hoàn thiện hệ thống chính sách và cơ chế quản lý cho sự phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, tạo ra nhiều điều kiện thuận lợi để các ngành, các hình thức kinh tế các vùng phát triển, tạo nhiều 18 việc làm mới, đáp ứng từng bước nhu cầu việc làm và nâng cao đời sống của người lao động nói chung, lao động thanh niên nói riêng. Bên cạnh đó, đầu ra của thị trường là một phần quan trọng của yếu tố quy mô đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh của địa phương. Thị trường đầu ra của sản xuất hàng hóa ở các địa phương trong nước ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp đến giải quyết việc làm cho thanh niên. Một khi hàng hóa ứ đọng không bán được là sự phản ánh rõ nét hạn chế về trình độ tổ chức sản xuất, kinh doanh, trình độ tay nghề của các lực lượng lao động; từ đó dẫn đến phá sản doanh nghiệp và thất nghiệp tất yếu sẽ xảy ra. Theo đó, nâng cao trình độ quản lý, tổ chức sản xuất của chủ thể sử dụng lao động và nâng cao trình độ chuyên môn kỹ thuật của lao động trẻ là nhân tố quyết định sức sống vững bền của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường. - Số lượng, chất lượng lao động thanh niên Số lượng lao động thanh niên là yếu tố đầu tiên để chính quyền địa phương và doanh nghiệp dự báo có thể giải quyết được bao nhiêu việc làm trong tổng lực lượng thanh niên đến độ tuổi lao động. Số lượng lao động thanh niên chi phối đến giải quyết việc làm còn phải tính đến tỷ lệ thất nghiệp ở thành phố và nông thôn. Theo tính toán của Bộ Lao động, Thương binh và xã hội thì tình trạng thất nghiệp của thanh niên ở khu vực thành thị trong những năm gần đây dao động từ 5-8%; trong đó, một số tỉnh, thành phố thường có tỉ lệ thất nghiệp cao là Hà Nội, Hải Phòng, TP. Hồ Chí Minh, Cần Thơ… Tình trạng thất nghiệp phụ thuộc rất nhiều vào cấp độ đào tạo và nhóm ngành nghề đào tạo.Tại Hà Nội và TP.Hồ Chí Minh, số lượng sinh viên qua đào tạo được tuyển dụng rất ít, trong khi số lượng đã tốt nghiệp ngày càng gia tăng. Nhiều ngành đào tạo khó kiếm việc làm như nông, lâm, thuỷ sản …Điều đó, cho thấy chất lượng lao động thanh niên là yếu tố chi phối mạnh nhất đến khả năng giải quyết việc làm của xã hội. 19 Chất lượng lao động thanh niên là yếu tố then chốt mà người sử dụng lao động dựa vào đó để tuyển dụng lao động. Do đó, phải nâng cao chất lượng giáo dục hướng nghiệp, bồi dưỡng, đào tạo và đào tạo lại lực lượng lao động thanh niên để nâng cao trình độ học vấn, chuyên môn kỹ thuật của lao động than niên, đáp ứng tốt hơn cầu về lao động của các cơ sở sản xuất kinh doanh ở địa phương. Ngoài các yếu tố trên, còn các yếu tố khác ảnh hưởng đến vấn đề giải quyết việc làm như: trình độ kỹ năng, phẩm chất, tính kỷ luật lao động, sức khoẻ, thể chất... của lao động thanh niên. Phong tục, tập quán, thói quen, trình độ dân trí, ý thức chấp hành pháp luật, trình độ văn minh của xã hội... - Cơ chế, chính sách giải quyết việc làm cho thanh niên Để giải quyết việc làm cho thanh niên, vấn đề quan trọng hàng đầu là Chính phủ phải tạo ra môi trường thuận lợi một mặt, để người sử dụng lao động có thể tạo ra nhiều chỗ làm việc thu hút đáng kể lao động thanh niên, mặt khác để bản thân lao động thanh niên có thể tự tạo việc làm…thông qua cơ chế, chính sách cụ thể của Chính phủ. Cơ chế về giải quyết việc làm cho lao động nói chung, thanh niên nói riêng đều dựa trên sự đánh giá khách quan tình trạng thất nghiệp trên thực tế của lực lượng lao động, trong đó đa phần ở lứa tuổi thanh niên hiện nay. Đồng thời đánh giá rất rõ khả năng của nền kinh tế thị trường có thể thu hút số lượng lao động là bao nhiêu trong từng thời kỳ. Việc từng bước hình thành cơ chế phân bố lao động theo các quy luật của thị trường lao động, đổi mới cơ chế chính sách xuất khẩu lao động…sẽ tạo ra các điều kiện cho giải quyết việc làm tốt hơn. Các chính sách về giải quyết việc làm là những chính sách chi phối trực tiếp và gián tiếp đến cung và cầu về lao động, làm cho cung và cầu về lao động xích lại gần nhau, phù hợp với nhau thực chất là tạo ra sự phù hợp giữa cơ cấu lao động với cơ cấu kinh tế. Các chính sách chủ yếu thường được đề 20
- Xem thêm -