Tài liệu Thực hiện chính sách chăm sóc, phụng dưỡng mẹ việt nam anh hùng ở thành phố tam kỳ, tỉnh quảng nam .

  • Số trang: 81 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 320 |
  • Lượt tải: 0
dangvantuan

Tham gia: 02/08/2015

Mô tả:

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI UNG THỊ MỸ NHÀN THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH CHĂM SÓC, PHỤNG DƯỠNG MẸ VIỆT NAM ANH HÙNG Ở THÀNH PHỐ TAM KỲ, TỈNH QUẢNG NAM LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG HÀ NỘI, năm 2019 VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI UNG THỊ MỸ NHÀN THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH CHĂM SÓC, PHỤNG DƯỠNG MẸ VIỆT NAM ANH HÙNG Ở THÀNH PHỐ TAM KỲ, TỈNH QUẢNG NAM Chuyên ngành : Chính sách công Mã số : 8 34 04 02 NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS. TRẦN MINH TUẤN HÀ NỘI, năm 2019 LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng của tôi. Các số liệu, tài liệu được trích dẫn trong luận văn theo nguồn đã công bố. Kết quả nêu trong luận văn này là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác. Tác giả Ung Thị Mỹ Nhàn MỤC LỤC MỞ ĐẦU ....................................................................................................................1 CHƯƠNG 1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH CHĂM SÓC, PHỤNG DƯỠNG MẸ VIỆT NAM ANH HÙNG .............................8 1.1. Các khái niệm liên quan đến đề tài ......................................................................8 1.2. Khái niệm, nội dung thực hiện chính sách chăm sóc, phụng dưỡng mẹ Việt Nam anh hùng ...........................................................................................................12 1.3. Những nhân tố tác động đến việc thực hiện chính sách chăm sóc, phụng dưỡng mẹ Việt Nam anh hùng .............................................................................................20 1.4. Kinh nghiệm trong thực hiện chính sách chăm sóc, phụng dưỡng mẹ Việt Nam anh hùng ở một số tỉnh, thành phố và bài học kinh nghiệm cho thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam ........................................................................................................23 CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH CHĂM SÓC, PHỤNG DƯỠNG MẸ VIỆT NAM ANH HÙNG Ở THÀNH PHỐ TAM KỲ, TỈNH QUẢNG NAM ..............................................................................................29 2.1. Khái quát chung về thực trạng đời sống của mẹ Việt Nam anh hùng ở thành phố Tam Kỳ......................................................................................................................29 2.2. Kết quả thực hiện chính sách chăm sóc, phụng dưỡng Mẹ Việt Nam anh hùng ở thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam .....................................................................38 2.3. Đánh giá chung ..................................................................................................53 CHƯƠNG 3. GIẢI PHÁP ĐẨY MẠNH VIỆC THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH CHĂM SÓC, PHỤNG DƯỠNG MẸ VIỆT NAM ANH HÙNG ........................59 3.1. Thuận lợi và khó khăn trong việc thực hiện chính sách chăm sóc, phụng dưỡng mẹ Việt nam anh hùng ở thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam ...............................59 3.2. Chủ trương, định hướng trong việc thực hiện chính sách chăm sóc, phụng dưỡng mẹ Việt Nam anh hùng ở thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam ...................60 3.3. Một số giải pháp nhằm đẩy mạnh việc thực hiện chính sách chăm sóc phụng dưỡng Mẹ Việt Nam anh hùng ở thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam...................62 KẾT LUẬN ..............................................................................................................72 TÀI LIỆU THAM KHẢO DANH MỤC BẢNG BIỂU Bảng 2.1. Số lượng Mẹ Việt Nam anh hùng trên địa bàn thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam từ năm 2015 đến tháng 7 năm 2018......................................................32 Bảng 2.2: Tình hình đời sống của Mẹ Việt Nam anh hùng hiện nay........................34 Bảng 2.3: Tình trạng sức khỏe của Mẹ Việt Nam anh hùng hiện nay ......................35 Bảng 2.4: Tình trạng nhà ở của Mẹ Việt Nam anh hùng hiện nay ...........................36 Bảng 2.5: Việc chi trả chế độ trợ cấp hàng tháng cho Mẹ Việt Nam anh hùng hiện nay (tại thời điểm tháng 7/2018) ...............................................................................47 Bảng 2.6: Kết quả chăm sóc sức khỏe cho Mẹ Việt Nam anh hùng trên địa bàn thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam từ năm 2015 đến tháng 7 năm 2018. ............48 Bảng 2.7: Kết quả hỗ trợ cải thiện nhà ở cho Mẹ Việt Nam anh hùng trên địa bàn thành phố Tam Kỳ từ năm 2015 đến tháng 7 năm 2018. ..........................................50 Bảng 2.8: Kết quả tặng sổ tiết kiệm tình nghĩa cho Mẹ Việt Nam anh hùng trên địa bàn thành phố Tam Kỳ từ năm 2015 đến tháng 7 năm 2018. ...................................52 MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn vấn đề nghiên cứu Trải qua hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước, biết bao thế hệ người Việt Nam với tinh thần yêu nước thương nòi, với ý chí kiên cường bất khuất và lòng thuỷ chung, nhân hậu đã đem cả máu xương, công sức, của cải, đóng góp công sức vào gìn giữ độc lập tự do và thống nhất Tổ quốc, xây đắp giang sơn tươi đẹp cho muôn đời con cháu. Kế thừa truyền thống quý báu đó của dân tộc ta, trong thời đại Hồ Chí Minh, dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân ta đã viết nên những trang sử vẻ vang trong đấu tranh chống giặc ngoại xâm để giành độc lập - tự do và thống nhất đất nước, với cách mạng tháng Tám năm 1945, lập ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà; với chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954 đánh đổ ách thực dân, giải phóng một nửa giang sơn. Và với ý chí "không có gì quý hơn độc lập tự do", nhân dân ta đã tiến hành cuộc kháng chiến trường kỳ gian khổ và đã làm nên Đại thắng mùa Xuân năm 1975, giải phóng hoàn toàn Miền Nam, thống nhất đất nước, cả nước cùng đi lên xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Trong khi những vết thương nặng nề của chiến tranh xâm lược gây ra chưa kịp hàn gắn, chúng ta lại phải chịu đựng những hy sinh, tổn thất mới trong cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới Tây Nam và biên giới phía Bắc. Và ngay trong xây dựng hoà bình, vẫn cũng những người con của dân tộc ta phải hy sinh hoặc chịu thương tật để bảo vệ cuộc sống bình yên của nhân dân và sự phồn vinh của đất nước. Vì nền độc lập - tự do và sự thống nhất, phồn vinh của Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân, hàng triệu người con ưu tú của dân tộc ta, mà phần lớn là thanh niên đã hiến dâng tuổi thanh xuân và cả cuộc sống của mình cho đất 1 nước, đã ngã xuống trên chiến trường, hoặc khi trở về đã mang trên mình thương tật suốt đời. Hàng triệu thân nhân liệt sĩ, những bậc ông bà, cha mẹ, những người chồng, người vợ và những người con đã không thể gặp lại những người thân yêu nhất của mình. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: "chính họ đã làm rạng rỡ dân tộc, vẻ vang giống nòi. Họ chết cho Tổ quốc sống mãi …, tinh thần của họ luôn sống với non sông Việt Nam". Đảng, Nhà nước và nhân dân ta mãi mãi ghi tạc và đời đời biết ơn sự hy sinh, cống hiến to lớn đó. Các thế hệ người Việt Nam sẽ luôn luôn tự hào và nguyện sống xứng đáng với những hy sinh cao cả của các thế hệ cha anh. Nhằm mục đích ghi nhận và đền đáp công lao đóng góp hy sinh của những người có công và các gia đình chính sách, Đảng và Nhà nước ta đã tạo mọi điều kiện để bù đắp phần nào giá trị vật chất và tinh thần cho họ. Chính từ đó mà chính sách ưu đãi chăm sóc người có công ra đời, đặc biệt là chính sách chăm sóc phụng dưỡng bà mẹ Việt Nam anh hùng. Cuộc đời của mỗi Mẹ Việt Nam anh hùng là hiện thân của đức hy sinh mà các thế hệ phải trân trọng. Để đổi lấy cuộc sống thanh bình cho đất nước, những người thân yêu nhất của các Mẹ đã mãi mãi không trở về. Có nỗi đau nào lớn hơn khi chồng, con của Mẹ đã bị giặc giết. Để động viên tinh thần cho các Mẹ, phòng Lao động – Thương binh và Xã hội thành phố Tam Kỳ nói riêng và ngành Lao động – Thương binh và Xã hội nói chung đã, đang và sẽ tiếp tục đẩy mạnh hơn nữa việc tổ chức triển khai thực hiện chính sách chăm sóc phụng dưỡng đối với Mẹ Việt Nam anh hùng. Việc thực hiện chính sách chăm sóc phụng dưỡng của thành phố đã đạt được nhiều thành tựu đáng kể. Tam Kỳ là một vùng quê giàu truyền thống cách mạng, trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đã có biết bao nhiêu người con của mảnh đất này đã hy sinh xương máu, cống hiến cuộc đời mình cho sự nghiệp cách mạng. Và cũng đã có biết bao nhiêu bà mẹ đã khóc 2 thầm lặng lẽ tiễn con ra đi và đi mãi mãi. Xuất phát từ thực tiễn đó, tôi chọn đề tài: “Thực hiện chính sách chăm sóc, phụng dưỡng mẹ Việt Nam anh hùng ở thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam”, với hy vọng góp phần giải quyết những bất cập, hạn chế trong thực thi chính sách người có công, để từ đó nâng cao chất lượng và hiệu quả chăm sóc người có công trên địa bàn thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam, trong giai đoạn hiện nay và những năm tiếp theo. 2. Tổng quan về vấn đề nghiên cứu Những nghiên cứu, những bài viết về công tác chăm sóc người có công với cách mạng đã được những nhà nghiên cứu và độc giả hết sức quan tâm, với một sự biết ơn sâu sắc cùng với lòng mong muốn những Bà mẹ Việt Nam anh hùng ngày càng có chất lượng cuộc sống cao hơn, những phẩm chất anh hùng, yêu nước được truyền lại cho thế hệ trẻ hôm nay. Đã có nhiều đề tài, công trình nghiên cứu cũng như sách, báo, tạp chí viết về vấn đề này. Năm 1993, NXB Chính trị quốc gia Hà Nội đã xuất bản cuốn Một số vấn đề chính sách xã hội ở nước ta hiện nay của tác giả Hoàng Chí Bảo[9] Chính sách xã hội không ngừng thay đổi để phù hợp với đối tượng áp dụng. Đất nước ngày càng phát triển thì việc yêu cầu các chính sách phải xuất phát từ thực tiễn, gắn liền với lợi ích của đối tượng. Chính sách đối với người có công được thay đổi qua các thời kỳ, sự thay đổi đó có những mặt tích cực và tiêu cực trong việc triển khai, thực hiện chính sách. Trong bài viết Pháp lệnh ưu đãi đối với người có công – Một đòi hỏi bức thiết của cuộc sống, của tác giả Nguyễn Đình Liêu đăng trên tạp chí Lao động xã hội, số 91 tháng 9/1994 tác giả đã đề cập đến những vấn đề chung nhất về ưu đãi xã hội ở nước ta, chỉ ra những mặt tích cực cũng như những hạn chế còn tồn tại trong chính sách ưu đãi người có công với cách mạng của Nhà nước ta.[10] Pháp lệnh ưu đãi với người có công chính là căn cứ để thực hiện 3 những chính sách, những trợ cấp, chi trả hàng tháng, một lần, các mức ưu đãi mà người có công xứng đáng được hưởng. Nguyễn Đình Liêu, Hoàn thiện pháp luật ưu đãi người có công ở Việt Nam. Luận án Phó tiến sỹ Luật học (1996). Luận án nêu lên những vấn đề cơ bản như: Khái nhiệm Pháp luật ưu đãi người có công. Lịch sử hình thành và phát triển của pháp luật này. Thực trạng của pháp luật này ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay và việc hoàn thiện pháp luật ưu đãi người có công[12] Nguyễn Đình Liêu, Trợ cấp ưu đãi xã hội trong hệ thống pháp luật Việt Nam (2002). Qua bài viết này, tác giả đã nêu lên khái quát sự phát triển của mạng lưới an sinh xã hội ở Việt Nam, và đưa ra những bình luận sâu về vấn đề trợ cấp ưu đãi xã hội trong hệ thống an sinh xã hội, góp phần ổn định, từng bước nâng cấp đời sống đối tượng chính sách, hợp với lòng dân, đảm bảo sự công bằng trong việc thụ hưởng chế độ ưu đãi của người có công trong cộng đồng dân cư, công bằng giữa những người có công. Đồng thời, tác giả cũng đưa ra một số hạn chế nhất định trong việc thực hiện chế độ chính sách với người có công hiện nay ở nước ta cũng như một số biện pháp nhằm thực hiện có hiệu quả hơn chính sách ưu đãi xã hội trong hệ thống an sinh của nước ta.[11] Không chỉ có sách và tạp chí, trong những năm qua, đã có rất nhiều đề tài, công trình nghiên cứu liên quan đến lĩnh vực này. Điển hình là các tác giả như: Nguyễn Hiền Phương (2004), “Một số vấn đề về pháp luật ưu đãi xã hội”, Tạp chí Luật học số 4/2004. Qua nghiên cứu này, tác giả đã đưa ra và phân tích một số khái niệm và nội dung cơ bản của Pháp luật Ưu đãi người có công (Khái niệm người có công, tiêu chuẩn xác nhận người có công…) luận bàn và đánh giá về những thành tựu cũng như phân tích chỉ rõ những điểm còn hạn chế trong những chính sách với người có công (chế độ trợ cấp hàng tháng, ưu đãi về giáo dục, y tế, việc làm, tín dụng, nhà ở, đất đai…). Đồng 4 thời, đưa ra một số giải pháp, kiến nghị nhằm hoàn thiện chính sách ưu đãi với người có công.[13] Nguyễn Thị Hằng, Bộ trưởng Bộ LĐTB&XH, Tiếp tục thực hiện tốt hơn nữa chính sách ưu đãi xã hội đối với thương binh, gia đình liệt sỹ, người có công với cách mạng, Tạp chí Cộng sản số 7/2005. Tác giả nêu những nét khái quát thành tựu đạt được trong việc thực hiện ưu đãi xã hội đối với thương binh, gia đình liệt sỹ và người có công trong 10 năm từ 1995 đến 2005, qua đó đúc kết những kinh nghiệm và đề ra những giải pháp nhằm thực hiện tốt hơn chính sách ưu đãi xã hội.[14] Nguyễn Duy Kiên – Phó Cục trưởng Cục Người có công, Bộ LĐTBXH, Chính sách Người có công – là trách nhiệm của toàn dân, Tạp chí Tuyên giáo số 7/2012. Qua bài viết này, tác giả đã khái quát một số thành tựu của chính sách ưu đãi người có công trong những năm qua, đi sâu vào đánh giá tìm hiểu nguồn lực thực hiện chính sách ở nước ta. Khẳng định nguồn lực của Nhà nước thông qua chế độ trợ cấp ưu đãi thường xuyên ngày càng giữ vai trò chủ đạo trong việc ổn định đời sống của người có công với cách mạng, bởi đa phần họ là những người không hưởng chế độ lương hay bảo hiểm xã hội.[18] Nguyễn Thị Thu Hoài, Chú trương, chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam đối với thương binh liệt sỹ và người có công với cách mạng từ năm 1991 đến năm 2010, Luận văn thạc sĩ Lịch sử, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội, 2013. Luận văn đã đưa ra cái nhìn tổng thể những chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ta đối với đối tượng người có công từ năm 1991 đến năm 1995 và những đổi mới trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo Nhà nước cùng những chủ trương chính sách ưu đãi cho phù hợp với tình hình mới trong giai đoạn 1996 đến 2010[17]. Các công trình nghiên cứu cũng như các sách, tạp chí trên đã góp phần cơ bản về lý luận cho việc thực hiện chế độ ưu đãi cho người có công. Đặt 5 nền móng rất quan trọng cho việc xây dựng, bổ sung và hoàn chỉnh pháp luật ưu đãi người có công với cách mạng nói chung và đối với bà mẹ Việt Nam anh hùng nói riêng. 3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 3.1. Mục đích nghiên cứu Nghiên cứu việc thực hiện chính sách chăm sóc phụng dưỡng Mẹ Việt Nam anh hùng ở thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam. 3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu - Nghiên cứu cơ sở lý luận về tổ chức thực thi chính sách người có công; - Nghiên cứu thực trạng tổ chức thực hiện chính sách chăm sóc phụng dưỡng mẹ Việt Nam anh hùng ở thành phố Tam Kỳ. - Đề xuất một số biện pháp trong tổ chức thực hiện chính sách chăm sóc, phụng dưỡng mẹ Việt Nam anh hùng ở thành phố Tam Kỳ. 4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4.1. Đối tượng nghiên cứu: Việc thực hiện chính sách chăm sóc phụng dưỡng mẹ Việt Nam anh hùng ở thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam. Khách thể nghiên cứu: Các Bà mẹ Việt Nam anh hùng. 4.2. Phạm vi nghiên cứu Về nội dung: Việc thực hiện chính sách chăm sóc, phụng dưỡng mẹ Việt Nam anh hùng ở thành phố Tam Kỳ. Về thời gian: Nghiên cứu thực trạng giai đoạn từ năm 2015 đến tháng 7 năm 2018 và đề xuất các giải pháp đẩy mạnh việc thực hiện chính sách chăm sóc, phụng dưỡng mẹ Việt Nam anh hùng; Về không gian: Thành phố Tam Kỳ. 5. Phương pháp nghiên cứu - Phương pháp phân tích và tổng hợp số liệu: Các tài liệu, các nghị định, 6 chính sách ưu đãi người có công với cách mạng, các tài liệu có liên quan đến chính sách chăm sóc phụng dưỡng mẹ Việt Nam anh hùng, phân tích các tài liệu, văn bản, các thông tin đã thu thập được từ nhiều nguồn khác nhau. Phân tích và tổng hợp các thông tin trên cơ sở đó đưa ra các nhận xét, đánh giá. - Phương pháp thu thập thông tin: Thu thập các thông tin từ các nguồn như sách, báo, trên mạng internet, các báo cáo liên quan đến chính sách chăm sóc phụng dưỡng mẹ Việt Nam anh hùng. Những thông tin thu thập được xử lí theo yêu cầu của bài thực tập nhưng vẫn đảm bảo tính khách quan. - Phương pháp quan sát: Nhằm kiểm tra độ chính xác của những thông tin thu thập được trong thực tiễn. 6. Ý nghĩa của luận văn Luận văn đã hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn chính sách chăm sóc phụng dưỡng Bà mẹ Việt Nam anh hùng, từ đó đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao chính sách chăm sóc phụng dưỡng Bà mẹ Việt Nam anh hùng ở thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam, trong giai đoạn hiện nay và những năm tiếp theo. 7. Kết cấu của đề tài: Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung đề tài gồm 3 chương Chương 1: Những vẫn đề lý luận về thực hiện chính sách ưu đãi người có công với cách mạng. Chương 2: Thực trạng tổ chức thực hiện chính sách chăm sóc phụng dưỡng Mẹ Việt Nam anh hùng ở thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam. Chương 3: Giải pháp đẩy mạnh việc thực hiện chính sách chăm sóc, phụng dưỡng mẹ Việt Nam anh hùng. 7 CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH CHĂM SÓC, PHỤNG DƯỠNG BÀ MẸ VIỆT NAM ANH HÙNG 1.1. Các khái niệm liên quan đến đề tài 1.1.1. Chính sách ưu đãi Chính sách ưu đãi là sự phản ánh trách nhiệm của Nhà nước, của cộng đồng xã hội, là sự đãi ngộ đặc biệt, ưu tiên hơn mức bình thường về mọi mặt trong đời sống vật chất, văn hóa, tinh thần đối với người có công lao đặc biệt đối với đất nước. 1.1.2. Người có công với cách mạng Dân tộc ta đã trải qua biết bao cuộc đấu tranh bảo vệ nền độc lập, tự do của Tổ quốc và trong những cuộc đấu tranh đó đã có biết bao nhiêu người con của đất nước đã hy sinh xương máu, của cải và cả tính mạng của mình cho nền độc lập tự do ấy, họ luôn được nhân dân, Tổ quốc đời đời ghi nhớ và biết ơn. Theo nghĩa rộng, Người có công là những người không phân biệt tôn giáo, tín ngưỡng, dân tộc, nam nữ, tuổi tác, đã tự nguyện hiến dâng cuộc đời mình cho sự nghiệp dựng nước, giữ nước và kiến thiết đất nước. Họ có những đóng góp, những cống hiến xuất sắc và vì lợi ích của dân tộc.[15] Theo nghĩa hẹp, Người có công với cách mạng là những người không phân biệt tôn giáo, tín ngưỡng, dân tộc, nam nữ, tuổi tác có những đóng góp, những cống hiến xuất sắc trong thời kỳ trước Cách mạng tháng Tám năm 1945, trong các cuộc giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc, được các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền công nhận.[15] Người có công với cách mạng là người đã đóng góp công lao hoặc hy 8 sinh tính mạng, hy sinh một phần thân thể trong thời kỳ trước Cách mạng tháng 8 năm 1945, trong các cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc và làm nghĩa vụ quốc tế được cơ quan, tổ chức có thẩm quyền công nhận. Theo Pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng số 04/2012/PLUBTVQH13 ngày 16/7/2012, Người có công với cách mạng bao gồm: Người hoạt động cách mạng trước ngày 01 tháng 01 năm 1945 Người hoạt động cách mạng từ ngày 01 tháng 01 năm 1945 đến ngày khởi nghĩa tháng Tám năm 1945 Liệt sĩ Bà mẹ Việt Nam anh hùng Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Anh hùng Lao động trong thời kỳ kháng chiến Thương binh, người hưởng chính sách như thương binh Bệnh binh Người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học Người hoạt động cách mạng, hoạt động kháng chiến bị địch bắt tù, đày Người hoạt động kháng chiến giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc và làm nghĩa vụ quốc tế Người có công giúp đỡ cách mạng. [1] Như vậy, người có công là những người không phân biệt tôn giáo, tín ngưỡng, dân tộc, nam nữ, tuổi tác có những đóng góp, những cống hiến xuất sắc trong thời kỳ trước Cách mạng tháng Tám năm 1945, trong các cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc, được các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền công nhận. Người có công bao gồm người tham gia hoặc giúp đỡ cách mạng mà hy sinh xương máu một phần hoặc một phần thân thể của mình hoặc cống hiến cả cuộc đời mình cho sự nghiệp cách mạng và được các 9 cơ quan tổ chức có thẩm quyền công nhận. 1.1.3. Bà mẹ Việt Nam anh hùng Tiêu chuẩn để đạt danh hiệu Bà mẹ Việt Nam anh hùng như sau: Có 02 con trở lên là liệt sĩ Có 02 con mà 01 con liệt sĩ, 01 con là thương binh với thương tật từ 81% trở lên Chỉ có 01 con mà người đó là liệt sĩ Có 01 con liệt sĩ, chồng hoặc bản thân là liệt sĩ. .[4] 1.1.4. Chương trình chăm sóc phụng dưỡng Mẹ Việt Nam anh hùng Phong trào chăm sóc người có công gồm 5 chương trình: nhà tình nghĩa, sổ tiết kiệm tình nghĩa; chăm sóc thương bệnh binh nặng, bố mẹ liệt sĩ cô đơn, con liệt sĩ mồ côi, phụng dưỡng Bà mẹ Việt Nam anh hùng; xây dựng, cải tạo các công trình ghi công, mộ, nghĩa trang liệt sĩ; quỹ đền ơn đáp nghĩa. Chương trình chăm sóc phụng dưỡng bà mẹ Việt Nam anh hùng là một nội dung trong 5 chương trình chăm sóc người có công. Chăm sóc phụng dưỡng Bà mẹ Việt Nam Anh hùng không chỉ là trách nhiệm mà còn thể hiện tình cảm thiêng liêng, sự kính trọng, tri ân sâu sắc của mọi tầng lớp nhân dân đối với sự hy sinh cao cả của các Mẹ, của những anh hùng đã ngã xuống cho độc lập, tự do. Những tri ân hôm nay xoa dịu phần nào nỗi đau và thể hiện sự quan tâm, chăm lo đặc biệt đến các Mẹ, để các Mẹ được sống vui, sống khỏe lúc tuổi già. Phong trào chăm sóc phụng dưỡng Mẹ Việt Nam anh hùng đã được các cấp ủy Đảng, chính quyền, các đoàn thể nhân dân và các tổ chức kinh tế - xã hội quan tâm bằng nhiều việc làm cụ thể như phong trào “Đền ơn đáp nghĩa”, phong trào “Nhà tình nghĩa”, tặng “ Sổ tiết kiệm”, “Phụng dưỡng suốt đời Bà mẹ Việt Nam anh hùng”. 10 1.1.5. Đặc điểm tâm lý của Mẹ Việt Nam anh hùng Cũng như mọi người, các Mẹ Việt Nam anh hùng rất cần có một cuộc sống vật chất và tinh thần đầy đủ, no ấm và hạnh phúc. Mặc khác Mẹ đã có nhiều cống hiến hy sinh, chịu nhiều thiệt thòi mất mát vì sự nghiệp chung của dân tộc, do đó Mẹ cần được mọi người tôn trọng, quan tâm chăm sóc, chia sẻ, động viên nhiều hơn để Mẹ vơi đi nỗi đau mất mát người thân. Các Mẹ Việt Nam anh hùng luôn có ý thức về quá khứ cống hiến của mình cho cách mạng, sự hi sinh cao cả, có tinh thần trách nhiệm giữ gìn những phẩm chất và truyền thống cách mạng. Đại bộ phận các Mẹ luôn gương mẫu trong đời sống và công tác, thể hiện thái độ trung thành với chế độ mà những người thân yêu nhất của mình đã đem xương máu, sức lực ra chiến đấu, bảo vệ. Khi hòa bình lập lại cho đến nay dù mang trong mình nỗi đau mất chồng, mất con nhưng các Mẹ vẫn nổ lực cố gắng vươn lên trong cuộc sống, với sức mạnh phi thường, các mẹ đã vượt qua nổi đau. Sự mất mát người thân là sự đau đớn nhất đối với những người mẹ, người vợ mà không gì có thể bù đắp được. Mẹ rất cần sự quan tâm chia sẻ, động viên nhất là vào những dịp lễ, ngày tết bởi Mẹ cũng muốn sự đầm ấm hạnh phúc trong những ngày này. Tìm hiểu kỹ đặc điểm, nhu cầu của các Mẹ có ý nghĩa rất quan trọng để đưa ra những giải pháp chăm sóc, hỗ trợ phù hợp, đem lại hiệu quả cao, nhằm bù đắp phần nào những hy sinh cống hiến to lớn của các Mẹ đối với cách mạng và đất nước. 1.1.6. Sự cần thiết chăm sóc, phụng dưỡng mẹ Việt Nam anh hùng Kế thừa và phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc: "Uống nước nhớ nguồn", "Đền ơn đáp nghĩa", ngay từ những ngày đầu kháng chiến chống thực dân Pháp (năm 1947), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã quyết định chọn ngày 27-7 là Ngày Thương binh - Liệt sĩ để tỏ lòng "hiếu nghĩa bác ái" với thương binh, 11 bệnh binh, gia đình liệt sĩ và người có công với cách mạng. Đây là dịp để toàn Đảng, toàn dân ta ôn lại, tôn vinh và tỏ lòng biết ơn các anh hùng liệt sĩ, đồng chí, đồng bào đã hi sinh xương máu vì Tổ quốc, qua đó không ngừng phấn đấu làm được nhiều việc tốt trong lĩnh vực chăm sóc thương binh, gia đình liệt sĩ và những người có công với cách mạng, đặc biệt là những bà mẹ Việt nam anh hùng, Chăm sóc người có công với nước là tình cảm và trách nhiệm của Đảng, Nhà nước và của toàn xã hội. Đây là yếu tố thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, góp phần ổn định chính trị xã hội; thúc đẩy sự nghiệp đổi mới với tiến trình hội nhập và phát triển. 1.2. Khái niệm, nội dung thực hiện chính sách chăm sóc, phụng dưỡng mẹ Việt Nam anh hùng 1.2.1. Khái niệm Thực hiện chính sách chăm sóc, phụng dưỡng mẹ Việt Nam anh hùng là chu trình chính sách, quá trình chuyển hóa ý chí của chủ thể chính sách đến đối tượng chính sách, được hiện thực do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định nhằm đưa chính sách người có công vào cuộc sống qua các nội dung cụ thể về nguyên tắc, tuân thủ theo một trình tự, thủ tục nhằm đạt đến mục tiêu của chính sách. Bà mẹ Việt Nam anh hùng là danh hiệu mà Nhà nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam tặng hoặc truy tặng những phụ nữ Việt Nam có nhiều cống hiến, hy sinh vì sự nghiệp giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc và làm nghĩa vụ quốc tế. Danh hiệu này được ban hành theo Pháp lệnh ngày 29/8/1994, Pháp lệnh sửa đổi bổ sung số 05/2012/UBTVQH13 ngày 20/10/2012 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Nước CHXHCNVN và được quy định trong Luật thi đua khen thưởng năm 2003. [2] Việc chăm sóc, phụng dưỡng Bà mẹ Việt Nam Anh hùng luôn được các 12 cấp, các ngành, tổ chức đoàn thể và nhân dân trên địa bàn thành phố đặc biệt quan tâm. Mỗi đơn vị, tổ chức, cá nhân đã có những việc làm ý nghĩa thể hiện sự tri ân sâu sắc công lao của các mẹ đối với sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc. 1.2.2. Nội dung 1.2.2.1. Cơ sở pháp lý cho việc thực hiện chính sách chăm sóc, phụng dưỡng mẹ Việt Nam anh hùng Chính sách chăm sóc, phụng dưỡng mẹ Việt Nam anh hùng thể hiện sự quan tâm sâu sắc của Đảng và Nhà nước ta với thế hệ đã “sẵn sàng chiến đấu, hi sinh vì sự độc lập tự do của Tổ quốc”. Trong đó, có rất nhiều chính sách cụ thể: chính sách trợ cấp, chính sách bảo hiểm y tế, chính sách điều dưỡng, chính sách chăm sóc sức khỏe, chính sách ưu đãi trong kinh tế, chính sách hỗ trợ về nhà ở... cho người có công nói chung và bà mẹ Việt Nam anh hùng nói riêng. Trong đề tài này, tác giả thực hiện nghiên cứu về chính sách chăm sóc, phụng dưỡng mẹ Việt Nam anh hùng. Pháp lệnh số 26/2005/PL/UBTVQH11 ngày 29/6/2005 về ưu đãi người có công với cách mạng. Pháp lệnh quy định danh hiệu vinh dự Nhà nước “Bà mẹ Việt Nam anh hùng” năm 1994 Thông tư số 13/2014/TTLT-BLĐTBXH-BTC hướng dẫn chế độ điều dưỡng phục hồi sức khỏe, cấp phương tiện trợ giúp, dụng cụ chỉnh hình đối với người có công với cách mạng và thân nhân. Thông tư số 36/2015/TT-BLĐTBXH ngày 28/9/2015 hướng dẫn hồ sơ, trình tự, thủ tục thực hiện chế độ ưu đãi trong giáo dục đào tạo với người có công với cách mạng và con của họ. Thông tư số 09/2013/TT-BXD ngày 1/7/2013 hướng dẫn thực hiện Quyết định số 22/2013/QĐ-TTg ngày 26/4/2013 của Thủ tướng Chính phủ về hỗ trợ người có công về nhà ở. 13 Pháp lệnh 04/2012/UBTVQH13 ngày 16/7/2012 sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh 26/2005/PL-UBTVQH11 về ưu đãi Người có công với cách mạng Nghị định 31/2013/NĐ-CP ngày 9/4/2013 quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành một số điều của Pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng. Nghị định số 20/2015/NĐ-CP ngày 14/2/2015 Quy định mức trợ cấp, phụ cấp ưu đãi đối với Người có công với cách mạng. Pháp lệnh 05/2012/UBTVQH13 ngày 20/10/2012 sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh quy định danh hiệu vinh dự nhà nước “Bà mẹ Việt Nam anh hùng”. Nghị định 56/2013/NĐ-CP ngày 22/05/2013 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành pháp lệnh quy định danh hiệu vinh dự nhà nước “Bà mẹ Việt Nam anh hùng”. Thông tư hướng dẫn 16/2014/TT-BLĐTBXH ngày 30/7/2014 hướng dẫn một số nội dung xác nhận và thực hiện chế độ ưu đãi Người có công với cách mạng. Nghị định số 99/2018/NĐ-CP ngày 12/7/2018 Quy định mức trợ cấp, phụ cấp ưu đãi đối với Người có công với cách mạng. 1.2.2.2 . Việc thực hiện trợ cấp ưu đãi Ưu đãi người có công với cách mạng là một chính sách lớn của Đảng và Nhà nước ta, đó là sự đãi ngộ đặc biệt của Đảng, Nhà nước đối với người có công, là trách nhiệm và là sự ghi nhận, tôn vinh những cống hiến của họ đối với đất nước. Theo Điều 3 quy định về chế độ ưu đãi dành cho Bà mẹ Việt Nam anh hùng tại Nghị định 56/2013/NĐ-CP, nghị định quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành pháp lệnh quy định danh hiệu vinh dự nhà nước “Bà mẹ Việt Nam anh hùng”. Cụ thể: 14 “1. Bà mẹ được tặng danh hiệu vinh dự Nhà nước“Bà mẹ Việt Nam anh hùng” được tặng Bằng, Huy hiệu “Bà mẹ Việt Nam anh hùng”, được hưởng chế độ ưu đãi theo quy định của pháp luật về thi đua, khen thưởng và pháp luật về ưu đãi người có công với cách mạng. 2. Bà mẹ được truy tặng danh hiệu vinh dự Nhà nước “Bà mẹ Việt Nam anh hùng” thì thân nhân thờ cúng bà mẹ được nhận Bằng, Huy hiệu “Bà mẹ Việt Nam anh hùng”, được hưởng các chế độ theo quy định của pháp luật về thi đua, khen thưởng và pháp luật về ưu đãi người có công với cách mạng. 3. Tổ chức lễ tặng hoặc truy tặng danh hiệu vinh dự Nhà nước “Bà mẹ Việt Nam anh hùng” được quy định như sau: a) Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chịu trách nhiệm tổ chức lễ tặng hoặc truy tặng danh hiệu vinh dự Nhà nước “Bà mẹ Việt Nam anh hùng”; b) Lễ tặng hoặc truy tặng được tổ chức trang trọng, tiết kiệm, có ý nghĩa giáo dục truyền thống; trang trí buổi lễ có dòng chữ: Lễ tặng hoặc truy tặng danh hiệu vinh dự Nhà nước “Bà mẹ Việt Nam anh hùng”. 4. Tổ chức lễ tang khi Bà mẹ Việt Nam anh hùng từ trần được quy định như sau: a) Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện chịu trách nhiệm tổ chức lễ tang với thành phần đại điện cấp ủy, chính quyền, các tổ chức chính trị – xã hội; cơ quan, đơn vị phụng dưỡng và nhân dân nơi bà mẹ cư trú; b) Lễ tang được tổ chức trang trọng, tiết kiệm phù hợp với phong tục, tập quán của địa phương; trang trí buổi lễ có dòng chữ: Lễ tang Bà mẹ Việt Nam anh hùng. 5. Kinh phí tổ chức lễ tặng hoặc truy tặng danh hiệu vinh dự Nhà nước “Bà mẹ Việt Nam anh hùng” không quá 01 tháng lương tối thiểu chung cho 01 trường hợp; lễ tang Bà mẹ Việt Nam anh hùng không quá 02 tháng lương 15
- Xem thêm -