Tài liệu Thực hiện chính sách bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa truyền thống dân tộc xơ đăng, tỉnh quảng nam.

  • Số trang: 83 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 252 |
  • Lượt tải: 0
dangvantuan

Tham gia: 02/08/2015

Mô tả:

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI NGUYỄN THỊ HOÀNG NGUYÊN THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH BẢO TỒN, PHÁT HUY GIÁ TRỊ VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG DÂN TỘC XƠ ĐĂNG, TỈNH QUẢNG NAM LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG HÀ NỘI – 2018 1 VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI NGUYỄN THỊ HOÀNG NGUYÊN THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH BẢO TỒN, PHÁT HUY GIÁ TRỊ VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG DÂN TỘC XƠ ĐĂNG, TỈNH QUẢNG NAM Chuyên ngành : Chính sách công Mã số : 834.04.02 NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS NGUYỄN THỊ SONG HÀ HÀ NỘI – 2018 2 MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Trong xu thế hội nhập quốc tế đang diễn ra mạnh mẽ như hiện nay, các quốc gia trên thế giới trong đó có Việt Nam luôn tuân thủ định hướng lớn là: tôn trọng sự đa dạng văn hóa, bảo vệ và tôn vinh bản sắc văn hóa dân tộc làm nền tảng tinh thần và động lực thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội, trong đó có mục tiêu xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc. Nhằm nâng cao đời sống tinh thần của nhân dân, góp phần phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, thời gian qua, Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách của Nhà nước về bảo vệ, phát huy các giá trị văn hóa. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng đã nêu rõ: “Thực hiện nghiêm túc các quy định của pháp luật về sở hữu trí tuệ, về bảo tồn, phát huy giá trị các di sản văn hóa vật thể và phi vật thể của dân tộc. Gắn kết chặt chẽ nhiệm vụ phát triển văn hóa, văn nghệ, bảo tồn, phát huy giá trị các di sản văn hóa với phát triển du lịch và hoạt động thông tin đối ngoại nhằm truyền bá sâu rộng các giá trị văn hóa trong công chúng” [7] . Trong suốt chiều dài lịch sử, văn hóa truyền thống các dân tộc thiểu số luôn là di sản quý giá; góp phần làm nên sự phong phú, đa dạng và thống nhất của nền văn hóa Việt Nam. Trong bối cảnh cuộc sống hiện đại, việc giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa đồng bào các dân tộc thiểu số là nhiệm vụ cấp thiết để phát triển bền vững đất nước. Đặc biệt trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và giao lưu văn hóa với thế giới, cùng với việc mở cửa hội nhập quốc tế, bên cạnh những mặt tích cực thì hàng ngày, hàng giờ văn hóa truyền thống đang bị tác động mạnh mẽ bởi nhiều yếu tố. Do vậy, việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống là nhiệm vụ quan trọng vừa mang tính cấp bách, vừa mang ý nghĩa chiến lược lâu dài. Đối với tỉnh Quảng Nam, một địa phương có nền văn hóa khá phong phú, đa dạng, là nơi có nhiều dân tộc thiểu số cư trú thì việc bảo tồn và phát huy giá trị văn 3 hóa truyền thống đang được các cấp ủy Đảng, Chính quyền đặc biệt quan tâm. Xơ Đăng là một trong số các tộc người thiểu số đang sinh sống ở tỉnh Quảng Nam, có dân số đứng thứ ba, sau người Kinh và Cơ Tu. Người Xơ Đăng có đời sống văn hóa tinh thần phong phú, chứa đựng nhiều nhân văn và sâu sắc. Tuy nhiên, cuộc sống hiện đại đã tác động mạnh mẽ đến đời sống văn hóa của các tộc người nói chung, người Xơ Đăng nói riêng khiến cho nhiều giá trị văn hóa truyền thống đặc trưng của tộc người này đã và đang có nhiều nguy cơ mai một, đánh mất bản sắc riêng của mình. Do đó, việc nghiên cứu, tìm hiểu, lựa chọn để bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa truyền thống dân tộc Xơ Đăng trong bối cảnh đổi mới, hội nhập hiện nay đang trở nên cần thiết hơn bao giờ hết. Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn, phân tích các yếu tố tác động đến chính sách bảo tồn, phát huy văn hóa của người Xơ Đăng, đề xuất các giải pháp đổi mới, hoàn thiện chính sách, tôi mạnh dạn chọn đề tài “Thực hiện chính sách bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa truyền thống dân tộc Xơ Đăng, tỉnh Quảng Nam” làm Luận văn cao học chuyên ngành Chính sách công của mình với mong muốn thực hiện có hiệu quả hơn nữa chính sách bảo tồn, phát huy văn hóa của người Xơ Đăng trong công cuộc xây dựng và phát triển địa phương hiện nay. 2. Tình hình nghiên cứu đề tài 2.1. Công trình nghiên cứu về bản sắc văn hóa dân tộc thiểu số nói chung Bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa của các tộc người ở Việt Nam từ lâu đã được các nhà nghiên cứu quan tâm chú ý. Vì thế đã có nhiều công trình đã được công bố liên quan đến vấn đề này. Chẳng hạn như tác giả Hoàng Vinh, năm 1997 đã xuất bản cuốn sách “Một số vấn đề về bảo tồn và phát triển di sản văn hóa dân tộc”. Cuốn sách này có thể được coi là một công trình nghiên cứu mang tính lý luận về giá trị văn hóa dân tộc khi tác giả đã đề cập khá chi tiết, cụ thể các quan niệm của các tác giả nước ngoài và Việt Nam về giá trị văn hóa. Đặc biệt, cuốn “Giữ gìn và bảo vệ bản sắc văn hóa các dân tộc thiểu số Việt Nam”, xuất bản năm 1996 của Nhà xuất bản Văn hóa dân tộc, nhóm tác giả phân tích các giá trị văn hóa đặc sắc của các tộc người trên lãnh thổ Việt Nam, qua đó 4 nhấn mạnh việc bảo tồn, phát triển văn hoá các dân tộc thiểu số là nhiệm vụ cấp thiết, có ý nghĩa chiến lược cần phải tiếp tục thực hiện thường xuyên và lâu dài. Trên cơ sở dựa vào lý luận phương pháp luận duy vật biện chứng của chủ nghĩa Mác – Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, cuốn “Văn hóa các dân tộc Việt Nam thống nhất mà đa dạng” của tác giả Nông Quốc Chấn, Huỳnh Khái Vinh (xuất bản năm 2002, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia) là sự tiếp cận có hệ thống của các nhà nghiên cứu trên nhiều góc độ: văn hóa, lịch sử và dân tộc học nhằm hướng tới sự tương tác biện chứng giữa sự thống nhất và đa dạng của văn hóa Việt Nam. Bên cạnh đó, cuốn “Góp phần nghiên cứu văn hóa và tộc người” của tác giả Nguyễn Từ Chi (2003), Nhà xuất bản Văn hóa Thông tin Hà Nội ấn hành lấy đối tượng nghiên cứu là văn hóa và tộc người ở Việt Nam. Dưới góc nhìn văn hóa, bằng cách tiếp cận nhiều chiều, với những cách lý giải khác nhau, tác giả giúp người đọc hiểu thêm về những sự kiện, hiện tượng dân tộc học của Việt Nam. Cuốn sách có thể được coi như là một trong những tác phẩm có cách tiếp cận sâu sắc và tỉ mỉ các vấn đề tộc người từ nhiều góc độ. Bài viết “Một số vấn đề bảo tồn và phát huy những di sản văn hóa của các dân tộc hiện nay” của tác giả Nguyễn Văn Huy được đăng trên Tạp chí Cộng Sản số 20 năm 2003 đề cập khá chi tiết và cụ thể công tác bảo tồn phát huy bản sắc văn hóa của các dân tộc ở nước ta thời gian qua. Tác giả Đặng Nghiêm Vạn trong cuốn “Cộng đồng Quốc gia dân tộc Việt Nam” xuất bản năm 2003 của Nhà xuất bản Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh đem đến người đọc một số vấn đề lý luận về cộng đồng quốc gia dân tộc và cộng đồng tộc người; đồng thời giới thiệu sự tiến triển và đặc điểm của cộng đồng quốc gia dân tộc Việt Nam và của các tộc người cấu thành. Cuốn “Văn hóa, văn hóa tộc người và văn hóa Việt Nam” (2006) và “Bảo tồn, làm giàu và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống Việt Nam trong đổi mới và hội nhập” (2010) của tác giả Ngô Đức Thịnh có thể xem là một đóng góp quan trọng đối với sự nghiệp nghiên cứu và phát triển văn hóa Việt Nam trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa. 5 Bên cạnh đó, còn có nhiều công trình nghiên cứu văn hóa tộc người và văn hóa Việt Nam, văn hóa vùng và phân vùng văn hóa ở Việt Nam. Những nghiên cứu trên góp phần cung cấp cơ sở lý thuyết, thực tiễn trong quá trình thực hiện chính sách bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa truyền thống Việt Nam trong quá trình Đổi mới và hội nhập. 2.2. Công trình nghiên cứu về bản sắc văn hóa dân tộc Xơ đăng Về văn hóa của người Xơ Đăng cũng có rất nhiều công trình nghiên cứu khoa học, hàng chục đầu sách, nhiều bài viết nghiên cứu ở những góc độ và phạm vi khác nhau, chẳng hạn như Cuốn “Các dân tộc miền núi Nam Đông Dương” của Bambo (tạp chí France - Asie số 40 - 50 năm 1950) được Nguyên Ngọc dịch ra tiếng Việt vào năm 2003, trong đó có đề cập đến người Xơ Đăng. Hay như năm 1966, Bộ Quân lực Hoa Kỳ đã công bố cuốn sách “Những nhóm thiểu số ở Cộng hòa miền Nam Việt Nam”. Cuốn sách này đã nghiên cứu tổng thể các tộc người sinh sống ở Tây Nguyên, trong đó người Xơ Đăng đã được miêu tả nhiều ở khía cạnh về lịch sử tộc người, quá trình định cư, chăm sóc sức khỏe, tổ chức xã hội, phong tục tập quán, tôn giáo tín ngưỡng. Năm 1970 cuốn sách Đồng bào các sắc tộc thiểu số ở Việt Nam của Nguyễn Trắc Di và năm 1974 cuốn sách Cao nguyên miền Thượng của tác giả Toan Ánh Cửu Long Giang đã được ra mắt độc giả. Hai cuốn sách này cũng đã mô tả khá chi tiết về địa bàn cư trú, lối sống và phong tục tập quán của người Xơ Đăng. Tác giả Đặng Nghiêm Vạn cũng rất quan tâm nghiên cứu về người Xơ Đăng, cụ thể trong các tác phẩm: Các dân tộc ở Gia Lai, Kon Tum (1981) và Người Xơ Đăng ở Việt Nam (1998) … đã được tác giả miêu tả khá sinh động về nhiều vấn đề trong văn hóa của tộc người Xơ Đăng, đặc biệt là giá trị văn hóa tinh thần, các nghi lễ được người Xơ Đăng thực hành. Cuốn sách Nghi lễ vòng đời của người Xơ Đăng của tác giả Phan Văn Hoàng (2009), Lễ hội Tây Nguyên của Trần Phong (2008), Nhà rông Tây Nguyên của Nguyễn Văn Kự, Lưu Hùng (2007), Văn hóa ẩm thực của người Xơ Đăng của Nguyễn Thị Hòa (2016) đã khái quát khá đầy đủ và chi tiết về “Bức tranh văn hóa” của tộc người Xơ Đăng ở Việt Nam. Đây được coi là nguồn tư liệu có giá trị giúp 6 cho người đọc, những nhà nghiên cứu văn hóa, quản lý văn hóa, các nhà nghiên cứu dân tộc học, nhân học và chính quyền địa phương có được cái nhìn cụ thể đối với tộc người này. Gần đây, nhóm tác giả của Viện Dân tộc học đã công bố cuốn sách “Các dân tộc ở Việt Nam – tập 3 – Nhóm ngôn ngữ Môn Khơ me” (Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, 2017) đã khái quát khá cụ thể các đặc điểm văn hóa, xã hội, kinh tế của các dân tộc thuộc nhóm ngôn ngữ Môn Khơ me, trong đó có người Xơ Đăng. Trong đó, nội dung các đặc trưng văn hóa truyền thống của người Xơ Đăng đã được nhóm tác giả đề cập khá chi tiết. Cùng với đó là quá trình biến đổi, tiếp biến và giao thoa văn hóa của tộc người cũng đang diễn ra mạnh mẽ để phù hợp với phát triển của xã hội. Vì vậy cuốn sách có giá trị to lớn trong việc nhìn nhận các giá trị văn hóa mang tính đặc trưng của tộc người này để từ đó lựa chọn và phát huy. Không chỉ dừng lại ở nội dung sách, người Xơ Đăng trong những năm gần đây còn được nghiên cứu sâu, dưới góc độ của luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ và nhiều bài báo đăng trên tạp chí chuyên ngành, chẳng hạn như: Nhà rông của người Xơ Đăng ở huyện Đắk Tô, Tỉnh Kon Tum, của tác giả Rơ đăm Bích Ngọc, luận án Tiến sĩ Văn hóa Dân gian, 2015; Nghi lễ cộng đồng của người Xơ Teng (một nhóm người của tộc người Xơ Đăng) ở huyện Tumơrông, Tỉnh Kon Tum, của tác giả A Tuấn, luận án Tiến sĩ Văn hóa Dân gian, 2015. Tác giả Phạm Thị Trung với các bài viết: Tín ngưỡng linh hồn của người Xơ Tăng (2010); Xu hướng biến đổi các yếu tố tác động biến đổi trong thực hành nghi lễ truyền thống của người Xơ Teng xã Tumơrông, huyện Tumơrông, tỉnh Kon Tum, (2017); Biến đổi trong thực hành các nghi lễ truyền thống của người Xơ Teng ở xã Tumơrông, huyện Tumơrông, tỉnh Kon Tum (2017); Phát huy vai trò của phụ nữ trong việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống (2016). Đây là những tác phẩm, công trình nghiên cứu những đặc điểm chung về bản sắc văn hóa của người dân tộc Xơ Đăng ở nước ta. 7 3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 3.1. Mục đích nghiên cứu Luận văn làm rõ những nét đặc trưng giá trị văn hóa của dân tộc Xơ Đăng ở tỉnh Quảng Nam; làm rõ các chính sách bảo tồn các giá trị văn hóa đã được thực hiện đối với người Xơ Đăng, từ đó đề xuất một số giải pháp trong việc bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa phù hợp với thực tiễn phát triển của tộc người, của địa phương trong đổi mới, hội nhập và toàn cầu hóa hiện nay. 3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu - Nghiên cứu cơ sở lý luận về chính sách công trong lĩnh vực văn hóa làm nền tảng lý luận để nghiên cứu chính sách bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa truyền thống dân tộc Xơ Đăng, tỉnh Quảng Nam. - Hệ thống hóa, làm rõ các đặc điểm và giá trị văn hóa truyền thống dân tộc Xơ Đăng tỉnh Quảng Nam. - Phân tích thực trạng văn hóa dân tộc Xơ Đăng, tỉnh Quảng Nam; đánh giá tình hình thực hiện chính sách bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa truyền thống dân tộc Xơ Đăng, tỉnh Quảng Nam trong thời gian qua. - Đề xuất các giải pháp hoàn thiện chính sách bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa dân tộc Xơ Đăng, tỉnh Quảng Nam. 4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4.1. Đối tượng nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu của đề tài là thực hiện chính sách bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa truyền thống dân tộc Xơ Đăng, tỉnh Quảng Nam. 4.2. Phạm vi nghiên cứu Luận văn tập trung nghiên cứu quá trình thực hiện chính sách bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa truyền thống người Xơ Đăng các huyện miền núi tỉnh Quảng Nam từ năm 2010 đến nay để qua đó nêu lên những vấn đề tích cực, hạn chế trong quá trình thực hiện chính sách. Thời điểm nghiên cứu được tác giả chọn mốc từ năm 2010 đến nay là vì: Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật di sản văn hóa chính thức có hiệu lực kể 8 từ ngày 01/01/2010. Thời gian này, tỉnh Quảng Nam đã tập trung nhiều nguồn lực để thực hiện có hiệu quả việc bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa truyền thống, đặc biệt là văn hóa vùng đồng bào dân tộc thiểu số, thực hiện đạt mục tiêu Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Quảng Nam lần thứ XX, XXI đã đề ra. Tuy nhiên, phạm vi nghiên cứu của bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa truyền thống, đặc biệt là văn hóa vùng đồng bào dân tộc thiểu số khá rộng, trong khi Quảng Nam là tỉnh có bề dày lịch sử lâu đời với những giá trị văn hóa phong phú, đa dạng của nhiều tộc người khác nhau; do đó, trong khuôn khổ luận văn thạc sĩ, luận văn xin được giới hạn nội dung nghiên cứu về tình hình thực hiện chính sách bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa truyền thống dân tộc Xơ Đăng, tỉnh Quảng Nam. Để làm rõ được vấn đề nghiên cứu, tác giả luận văn tập trung khảo sát tư liệu ở các địa bàn có dân tộc Xơ Đăng sinh sống, bao gồm 03 xã huyện Nam Trà My, 02 xã huyện Phước Sơn, 02 xã huyện Hiệp Đức, tỉnh Quảng Nam. 5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 5.1. Cơ sở lý luận Luận văn sẽ được tiếp cận theo hướng hệ thống hóa lý luận việc thực hiện chính sách bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa truyền thống dân tộc Xơ Đăng, tỉnh Quảng Nam từ khâu hoạch định, xây dựng, thực thi đến đánh giá chính sách bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa truyền thống với sự tham gia của các chủ thể chính sách. 5.2. Phương pháp nghiên cứu - Phương pháp thu thập nguồn tài liệu thứ cấp: Tập hợp và phân tích các nguồn tư liệu: Văn kiện, Nghị quyết, Quyết định của Đảng, Nhà nước, Bộ, Ngành ở Trung ương và địa phương; các công trình nghiên cứu, sách báo, các báo cáo, tài liệu thống kê của Ban, ngành, đoàn thể; tổ chức, cá nhân liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến vấn đề bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa vùng đồng bào dân tộc thiểu số ở Việt Nam nói chung, vùng tộc người Xơ Đăng tỉnh Quảng Nam nói riêng. - Phương pháp điền dã, thực địa: Tiến hành đi cơ sở khảo sát thực tế tại huyện Nam Trà My, Phước Sơn, Hiệp Đức tỉnh Quảng Nam nơi có người Xơ Đăng sinh sống. 9 Để thực hiện luận văn này, tác giả đã thực hiện 04 cuộc điền dã tại thực địa, mỗi đợt 5 ngày và tổ chức phỏng vấn sâu cán bộ cấp huyện, xã và người dân địa phương với chủ đề là đời sống vật chất, tinh thần xã hội của người Xơ Đăng để có được các tư liệu cần thiết, giúp tác giả luận văn có cái nhìn đúng đắn, khách quan về quá trình thực hiện chính sách tại địa phương. - Phương pháp phân tích: Luận văn sẽ phân tích, đánh giá thực tiễn thi hành chính sách bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa truyền thống dân tộc Xơ Đăng, tỉnh Quảng Nam. 6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn 6.1. Ý nghĩa lý luận Trên cơ sở lý thuyết về thực hiện chính sách công, Luận văn sẽ nghiên cứu, nêu một số quan điểm, định hướng và đề xuất các giải pháp triển khai thực hiện hiệu quả chính sách bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa truyền thống dân tộc Xơ Đăng, tỉnh Quảng Nam. 6.2. Ý nghĩa thực tiễn Luận văn cung cấp thêm những cơ sở khoa học cho các Ban, ngành có liên quan trong quá trình tổ chức thực hiện cũng như hoạch định chính sách bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa truyền thống dân tộc Xơ Đăng, tỉnh Quảng Nam. 7. Kết cấu của luận văn Luận văn thực hiện chính sách bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa truyền thống dân tộc Xơ Đăng, tỉnh Quảng Nam được chia làm 3 chương: Chương 1: Một số vấn đề lý luận về chính sách bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa của Việt Nam Chương 2: Thực trạng thực hiện chính sách bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa truyền thống dân tộc Xơ Đăng tỉnh Quảng Nam Chương 3: Một số quan điểm và giải pháp tăng cường thực hiện Chính sách bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống dân tộc Xơ Đăng tỉnh Quảng Nam. 10 CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH BẢO TỒN, PHÁT HUY GIÁ TRỊ VĂN HÓA CỦA VIỆT NAM 1.1. Một số khái niệm cơ bản 1.1.1. Giá trị văn hóa Giá trị văn hoá được hiểu theo những ý nghĩa sau : - Giá trị cũng như tập quán, chuẩn mực, tri thức... đều là sản phẩm của quá trình tư duy, sản xuất tinh thần của con người, nó là yếu tố cốt lõi nhất của văn hoá. Giá trị, giá trị văn hoá là một hình thái của đời sống tinh thần, nó phản ánh và kết tinh đời sống văn hoá vật chất và văn hoá tinh thần của con người. - Giá trị văn hoá do con người trong mỗi xã hội sáng tạo ra trong quá trình lịch sử, nhưng một khi hệ giá trị văn hoá đã hình thành thì nó lại có vai trò định hướng cho các mục tiêu, phương thức và hành động của con người trong các xã hội ấy. Cũng như văn hoá, giá trị được sản sinh từ các mối quan hệ con người với tự nhiên, với xã hội. - Giá trị văn hoá của mỗi cộng đồng (tộc người, quốc gia...) bao giờ cũng tạo nên một hệ thống, với ý nghĩa là các giá trị ấy nảy sinh, tồn tại trong sự liên hệ, tác động hữu cơ với nhau. Hệ giá trị mang tính chất tương đối. Để đánh giá tính giá trị hay phi giá trị, giá trị cao hay thấp thì phải đặt nó trong toạ độ về mặt không gian, thời gian và chủ thể văn hoá 1.1.2. Giá trị văn hóa truyền thống Trong quá trình hình thành và phát triển mình, mỗi dân tộc đều sáng tạo ra nền văn hóa, trong đó có các giá trị văn hóa. Các giá trị văn hóa này được lưu truyền trong xã hội qua các thời kỳ lịch sử và trở thành các giá trị văn hóa truyền thống. Giá trị văn hóa truyền thống chính là những tư tưởng, biểu tượng, giá trị và chuẩn mực xã hội hóa, những tác phẩm văn hóa được cộng đồng tin tưởng và mong muốn gìn giữ, truyền đạt và noi theo. 11 Nói đến những giá trị văn hóa truyền thống là nói đến những giá trị tốt đẹp, tiêu biểu cho một nền văn hóa được chắt lọc, lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Do đó, nói đến những giá trị văn hóa truyền thống cũng là nói đến những giá trị văn hóa được hình thành và phát triển trong quá trình dựng nước và giữ nước của mỗi dân tộc, nó có tính “di truyền xã hội”. Giá trị văn hóa truyền thống dân tộc không phải là cái có sẵn từ khi dân tộc hình thành mà nó được các thế hệ nối tiếp nhau làm nên. Các giá trị này biến đổi tùy điều kiện tác động đến nó. Nhưng nếu giá trị văn hóa truyền thống biến đổi cơ bản về chất thì nó sẽ không còn là truyền thống. Nói đến giá trị văn hóa là nói đến là nói đến cái lâu dài, trải qua nhiều thời gian thử thách mà cốt lõi bản chất của nó luôn được giữ vững. Giá trị văn hóa truyền thống là những giá trị ổn định, tốt đẹp, tiêu biểu cho dân tộc, tạo nên bản sắc cho dân tộc đó. Chính vì thế, giá trị văn hóa truyền thống luôn có tính bền vững, trở thành những nguyên lý đạo đức lớn để dân tộc đó phải dựa vào để liên kết xã hội, tạo nên sức mạnh nhằm bảo vệ và xây dựng đất nước vì sự tiến bộ của con người và xã hội. 1.1.3. Bảo tồn và phát huy Có thể hiểu bảo tồn là các nỗ lực nhằm bảo vệ và gìn giữ sự tồn tại của di sản theo dạng thức vốn có của nó. Hiện nay, trên thế giới có 02 quan điểm về bảo tồn là: Bảo tồn nguyên vẹn và bảo tồn trên cơ sở kế thừa. Bảo tồn nguyên vẹn có nghĩa là những sản phẩm của quá khứ nên được bảo vệ một cách nguyên vẹn, như nó vốn có, nên phục hồi nguyên gốc các di sản văn hóa vật thể và phi vật thể. Bảo tồn trên cơ sở kế thừa có thể được hiểu là xem di sản như một ngành công nghiệp, do đó để quản lý di sản thì chúng ta cần phải có cách thức quản lý giống như quản lý của một ngành công nghiệp văn hóa. Phát huy có nghĩa là cái hay, cái tốt tỏa tác dụng và tiếp tục nảy nở thêm. Cũng còn có ý nghĩa là những hành động nhằm đưa di sản văn hóa vào trong thực tiễn xã hội, phát triển theo chiều hướng tiến bộ, mang lại những lợi ích vật chất và 12 tinh thần cho con người, là nguồn nội lực, tiềm năng góp phần thúc đẩy sự phát triển của xã hội, thể hiện tính mục tiêu của văn hóa đối với sự phát triển xã hội. Có thể nhận xét rằng, giữa bảo tồn và phát huy luôn có sự tương hỗ lẫn nhau và là hai mặt của hoạt động. Thông thường bảo tồn đi kèm với khai thác, phát huy giá trị của văn hóa, đặc biệt là các giá trị văn hóa truyền thống trong đời sống xã hội. Phát huy có nghĩa là đưa các giá trị di sản để đưa giá trị văn hóa đến cộng đồng, tạo mọi điều kiện để cộng đồng phát triển mạnh mẽ hơn nữa trên tất cả các mặt kinh tế xã hội. Nhờ đó, thực hiện tốt hơn công tác bảo tồn di sản văn hóa. Để đảm bảo sự phát triển bền vững thì quan trọng nhất là giữa bảo tồn và phát huy cần tạo ra sự cân bằng hợp lý. 1.1.4. Bản sắc văn hóa Theo Từ điển tiếng Việt, thuật ngữ "bản sắc" thông thường dùng để chỉ tính chất, màu sắc riêng tạo thành phẩm chất đặc biệt của một sự vật, tức là nói tới sắc thái, đặc tính, đặc thù riêng của sự vật đó [27, tr.223] . Trong thực tế, nói đến "bản sắc" nghĩa là nói đến cái riêng, cái rất riêng của một sự vật để phân biệt sự vật đó với các sự vật khác trong thế giới khách quan. Bản sắc văn hóa là đặc trưng riêng, là những cái cốt lõi của một cộng đồng văn hóa trong quá trình lịch sử tồn tại và phát triển của mình, nhằm phân biệt dân tộc này với dân tộc khác. Bản sắc văn hóa tộc người được coi là những nét đẹp tinh hoa, đặc trưng riêng được chắt lọc từ trong cuộc sống của cộng đồng, được cộng đồng thừa nhận, là sự kết nối, gắn bó giữa con người với nhau, là tài sản vô giá của cộng đồng dân tộc, tộc người tạo nên sức mạnh tinh thần mang tính đặc thù khác với tộc người khác [11, tr.23] . Bản sắc văn hoá là yếu tố mang sức mạnh tinh thần dân tộc, giúp dân tộc vượt qua những thử thách của lịch sử, bởi vì “bản sắc dân tộc là tổng thể những phẩm chất, tính cách, khuynh hướng cơ bản thuộc sức mạnh tiềm tàng và sức sáng tạo của một dân tộc trong lịch sử tồn tại và phát triển của dân tộc đó, giúp cho dân tộc đó giữ vững được tính nhất quán, tính thống nhất và tính duy nhất, so với bản 13 thân mình trong quá trình phát triển” [1, tr.77-78] . Chính vì vậy, việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc đã và đang được nhiều quốc gia dân tộc coi trọng. 1.1.5. Chính sách bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa Từ điển Bách khoa Việt Nam đã đưa ra khái niệm về chính sách như sau: "Chính sách là những chuẩn tắc cụ thể để thực hiện đường lối, nhiệm vụ. Chính sách được thực hiện trong một thời gian nhất định, trên những lĩnh vực cụ thể nào đó. Nội dung, bản chất và phương hướng của chính sách tùy thuộc vào tính chất của quan điểm, đường lối, chủ trương, nhiệm vụ trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa…" [26, tr.475] . Các cơ quan hay các cấp chính quyền trong bộ máy nhà nước ban hành những chính sách nhằm giải quyết những vấn đề mang tính cộng đồng thì được gọi là chính sách công. Khoa học chính sách nghiên cứu nhiều loại chính sách khác nhau, nhưng chú trọng nghiên cứu các chính sách công nhằm thực hiện đạt mục tiêu góp phần nâng cao hiệu lực của chính sách và khẳng định hiệu quả quản lí Nhà nước của chính sách đó. Là một bộ phận của chính sách công, chính sách văn hóa được UNESCO định nghĩa như sau: “Chính sách văn hóa là một tổng thể các nguyên tắc hoạt động quyết định các thực hành, các phương pháp quản lý hành chính và phương pháp ngân sách Nhà nước dùng làm cơ sở cho các hoạt động văn hóa” [18, tr.25] . Chính sách văn hóa là một phạm trù rộng, bao gồm nhiều bộ phận chính sách khác nhau gộp thành. Trong đó, chính sách bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa đóng vai trò quan trọng, là tập hợp nhiều quyết định chính trị có nội dung liên quan nhằm lựa chọn, đề xuất các mục tiêu, công cụ và giải pháp để thực hiện tốt việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa. Chính sánh bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa được thực hiện trên cơ sở các chủ trương, đường lối Đảng và Nhà nước, từ Hiến pháp đến văn kiện các kỳ Đại hội Đảng, được cụ thể qua Nghị quyết các Hội nghị Trung ương Đảng, qua việc hoạch định chiến lược phát triển văn hóa qua các thời kỳ, khi Luật Di sản văn hóa được 14 thông qua và các Thông tư, Nghị định hướng dẫn Luật di sản văn hóa được các cơ quan có thẩm quyền ban hành. 1.1.6. Thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa Là một khâu hợp thành chu trình chính sách, thực hiện chính sách bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa có vị trí rất quan trọng. Chu trình chính sách nếu khuyết thiếu công đoạn này thì sẽ bị đứt gãy, không thể tồn tại vì thực hiện chính sách có vai trò trung tâm, kết nối các bước trong chu trình chính sách thành một hệ thống hoàn chỉnh. Tổ chức thực hiện chính sách bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa để từng bước thực hiện các mục tiêu chính sách và mục tiêu chung. Mục tiêu của chính sách bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa có liên quan đến nhiều vấn đề, nhiều lĩnh vực trong đời sống xã hội. Thực tế, trong quá trình thực hiện chính sách này cho thấy muốn đạt được mục tiêu của chính sách thì phải thông qua việc thực hiện chính sách, và các mục tiêu của chính sách thì cần phải có quan hệ với nhau và ảnh hưởng đến các mục tiêu chung. Thực hiện chính sách bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa còn để khẳng định được tính đúng đắn, tính hợp lý của chính sách. Chính sách này khi triển khai rộng rãi sẽ tác động đến mọi mặt của đời sống xã hội, và khi chính sách được xã hội chấp nhận thì cho thấy tính xác thực, tính đúng đắn của chính sách. Như chúng ta đều biết chính sách là do sự góp sức của một tập thể và do tập thể đó hoạch định mà nên. Tuy vậy trong quá trình hoạch định chính sách chúng ta cũng không tránh khỏi những ý kiến, những góp ý mang tính chất chủ quan, điều đó sẽ làm ảnh hưởng tới hiệu quả chung trong quá trình thực hiện chính sách. Do vậy, khi chính sách được thực thi thì những người hoạch định chính sách cần nghiên cứu, xem xét và rút kinh nghiệm. Trên cơ sở đó, thực hiện chỉnh sửa để chính sách ngày một đúng đắn, hoàn thiện hơn. 1.2. Vai trò của chính sách bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa Chính sách bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa nhằm đề ra các hướng đi, giải pháp kết hợp hài hòa giữa chính sách phát triển văn hóa với các chính sách phát 15 triển kinh tế, xã hội, tài chính và du lịch. Bên cạnh đó, chính sách này còn có vai trò quan trọng trong việc định hướng công tác quản lý, bảo tồn và gìn giữ các loại hình văn hóa truyền thống, các lễ hội dân gian. Đây là một trong những chính sách quan trọng có sự tác động mạnh mẽ, tích cực đến sự phát triển văn hóa nói riêng và phát triển kinh tế - xã hội nói chung Chính sách bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa chú trọng đến việc đãi ngộ xứng đáng cho người làm công tác nghệ thuật, nghiên cứu, sưu tầm các giá trị văn hóa truyền thống, phát huy nội lực sẵn có, đồng thời thu hút những tài năng trẻ trong việc đào tạo nguồn lực hoạt động văn hóa nghệ thuật sau này. Chính sách này còn đóng vai trò quan trọng trong việc mở rộng giao lưu văn hóa, tiếp nhận, chọn lọc các nền văn hóa bên ngoài, góp phần tạo nên một nền văn hóa đa dạng, phong phú, “hòa nhập” nhưng không “hòa tan”. Như vậy, chính sách bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa có vai trò hết sức quan trọng trong sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, thực hiện đạt mục tiêu xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, phát triển toàn diện, thống nhất trong đa dạng, thấm nhuần sâu sắc tinh thần nhân văn, dân chủ và tiến bộ; làm cho văn hóa gắn kết chặt chẽ, thấm sâu vào toàn bộ đời sống xã hội, trở thành sức mạnh nội sinh quan trọng của phát triển. 1.3. Hệ thống chính sách bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa 1.3.1. Quan điểm của Đảng, Nhà nước về chính sách bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa Cách mạng tháng Tám thành công, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời. Ngay sau khi giành được Chính quyền, Đảng và Nhà nước ta đã rất quan tâm đến giữ gìn di sản văn hóa dân tộc. Ngày 23/11/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký và công bố Sắc lệnh số 65/SL về bảo tồn cổ tích trên toàn cõi Việt Nam. Trong thời kỳ Đổi mới, Đảng và Nhà nước ta đã có sự quan tâm đặc biệt đến việc giữ gìn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc. Hiến pháp Nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tại Điều 30 đã nhấn mạnh: Nhà nước và xã hội bảo tồn, phát triển nền văn hoá Việt Nam: dân tộc, hiện đại, nhân văn; kế 16 thừa và phát huy những giá trị của nền văn hiến các dân tộc Việt Nam, tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại; phát huy mọi tài năng sáng tạo trong nhân dân. Nhà nước thống nhất quản lý sự nghiệp văn hoá. Nghiêm cấm truyền bá tư tưởng và văn hoá phản động, đồi trụy; bài trừ mê tín, hủ tục. Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa VIII) bao quát ở tầm chiến lược những vấn đề rất cơ bản của sự nghiệp phát triển văn hóa Việt Nam trong thời kỳ đổi mới, đánh dấu bước phát triển quan trọng trong tư duy lý luận về văn hóa của Đảng, đề cập cụ thể đến những nhiệm vụ và phương hướng phát triển nền văn hóa Việt Nam. Luật Di sản văn hóa ra đời năm 2001 được sửa đổi, bổ sung năm 2009 là cơ sở pháp lý cao nhất nhằm bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa ở Việt Nam. Để cụ thể hóa thực hiện Luật Di sản văn hóa, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã nghiên cứu, tham mưu Chính phủ ban hành Nghị định số 98/2010/NĐ-CP ngày 21/9/2010, trong đó quy định chi tiết thi hành Luật di sản văn hóa được sửa đổi bổ sung năm 2009. Hội nghị lần thứ chín Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XI đã ban hành Nghị quyết số 33-NQ/TƯ ngày 09/6/2014 “Về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước” đã đề ra những quan điểm, định hướng chiến lược của Đảng ta về văn hóa nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong thời kỳ mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và chủ động, tích cực hội nhập quốc tế. Trong các kỳ Đại hội Đảng lần thứ VI, VII. VIII, IX, XI đến Đại hội XII gần đây nhất, nội dung xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc gắn với việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa ngày càng được Đảng và Nhà nước chú trọng hơn bao giờ hết. Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII (Năm 2016) của Đảng nhấn mạnh nhiệm vụ xây dựng văn hóa trong chính trị và kinh tế. Vấn đề bảo tồn, phát huy cácgiá trị văn hóa truyền thống dân tộc, đồng thời với đó là sáng tạo ra các giá trị mới luôn được chú ý quan tâm hàng đầu. Văn kiện Đại hội Đảng khẳng định: Tập trung huy động sức mạnh của toàn xã hội nhằm bảo tồn, phát huy các giá 17 trị văn hóa truyền thống dân tộc. Khích lệ sáng tạo các giá trị văn hóa mới, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, làm giàu văn hóa dân tộc. Các giải pháp được nêu rõ: xây dựng cơ chế giải quyết hợp lý, hài hòa giữa bảo tồn, phát huy Di sản văn hóa với phát triển kinh tế xã hội. Phát triển sự nghiệp văn học, nghệ thuật, chăm lo đội ngũ văn nghệ sĩ và các Hội văn học, nghệ thuật [7] . 1.3.2. Chính sách của Nhà nước về bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa truyền thống của các dân tộc thiểu số Trong bối cảnh Đổi mới và hội nhập đang diễn ra mạnh mẽ hiện nay, nguy cơ đồng hóa, mai một, thậm chí là mất bản sắc văn hóa của đồng bào các dân tộc thiểu số hiện hữu hơn bao giờ hết. Nhằm bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của các dân tộc thiểu số, Chính phủ đã ban hành các chính sách về bảo tồn, phát triển văn hóa dân tộc thiểu số, cụ thể như: Luật Di sản văn hóa năm 2001 (sửa đổi bổ sung năm 2009); Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1270/QĐ-TTg ngày 27/7/2011 về việc phê duyệt Đề án “Bảo tồn, phát triển văn hóa các dân tộc thiểu số Việt Nam đến năm 2020” và nhiều quy định cụ thể nhằm bảo tồn, phát huy tốt hơn nữa các giá trị văn hóa, ghi nhận, đề cao, tôn vinh những nét đẹp văn hóa truyền thống, quan tâm đến công tác đầu tư để công tác bảo tồn và phát huy văn hóa các dân tộc thiểu số ở Việt Nam thực hiện có hiệu quả hơn. Cùng với các chính sách trên, trong những năm gần đây, các chính sách bảo tồn và phát triển văn hóa các dân tộc thiểu số của Chính phủ được thông qua nhiều đề án phát triển chung hay cho từng vùng, từng dân tộc cụ thể. Đặc biệt, trong Chương trình mục tiêu quốc gia thực hiện từ năm 1995 đến nay của Đảng và Nhà nước ta đã khẳng định ba mục tiêu trong số các mục tiêu của Chương trình là đầu tư nghiên cứu điều tra, tư liệu hóa di sản văn hóa phi vật thể, đầu tư bảo tồn các làng bản và phục hồi lễ hội truyền thống của các dân tộc thiểu số. Mục tiêu của chính sách bảo tồn và phát triển văn hóa dân tộc thiểu số nói chung và văn hóa phi vật thể của dân tộc thiểu số nói riêng đã xác định rõ và đầy đủ trong Quyết định 124/2003 của Thủ tướng Chính phủ: Bảo tồn và kế thừa có chọn lọc, phát huy những tinh hoa văn hóa truyền thống, xây dựng và phát triển những 18 giá trị mới về văn hóa, nghệ thuật của dân tộc thiểu số, phát hiện và bồi dưỡng đội ngũ những người sáng tác văn học, nghệ thuật là người các dân tộc thiểu số; tổ chức điều tra, sưu tầm, nghiên cứu, phổ biến các giá trị văn hóa nghệ thuật, bảo tồn và phát huy các nghề thủ công truyền thống; phát triển các hoạt động văn hóa, nghệ thuật lành mạnh; xây dựng nếp sống văn minh, gia đình văn hóa, mở rộng mạng lưới thông tin ở vùng dân tộc thiểu số, góp phần nâng cao dân trí, xóa bỏ tập tục lạc hậu, góp phần phát triển du lịch, xóa đói giảm nghèo. Trong Chương trình mục tiêu Quốc gia 2001-2005, vấn đề “Bảo tồn di sản văn hóa tiêu biểu và xây dựng đời sống văn hóa cơ sở” đã được đặt ra, với tổng kinh phí 1.600 tỷ đồng đã sưu tầm, khai thác và lưu giữ, in ấn, giới thiệu rộng rãi các di sản đặc sắc của văn hóa các tộc người ở Việt Nam với mục đích bảo lưu và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống tiêu biểu của tộc người trong bối cảnh hội nhập và toàn cầu hóa. Trong những năm gần đây đã có những đánh giá sâu sắc hơn, tôn trọng và bảo vệ các giá trị văn hóa của tộc người thiểu số được thể hiện qua việc Nhà nước đầu tư nhiều dự án điều tra, bảo quản và biên dịch sử thi Tây Nguyên từ năm 2001-2007, sưu tầm và công bố hàng trăm tác phẩm sử thi của các tộc người thiểu số ở Tây Nguyên. Cùng với đó, Nhà nước đã tổ chức sưu tầm, bảo tồn và khai thác di sản văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên rộng khắp ở 5 tỉnh Tây Nguyên và các vùng phụ cận, đề xuất và được UNESCO công nhận văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên là di sản văn hóa của nhân loại. Trong nhiều năm qua, Chính phủ từng bước cụ thể hóa các chủ trương của Đảng qua các kỳ Đại hội thành các chính sách ưu tiên phát triển văn hóa vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Chỉ thị số 39/1998/CT-TTg ngày 03/12/199 của Thủ tướng Chính phủ về đẩy mạnh công tác văn hóa – thông tin ở miền núi và vùng đồng bào dân tộc thiểu số đã nêu rõ: “Coi trọng, bảo tồn, phát huy những giá trị truyền thống và xây dựng, phát triển những giá trị mới về văn hóa, văn học, nghệ thuật của các dân tộc, xây dựng nếp sống văn minh, gia đình văn hóa, mở rộng mạng lưới thông tin ở vùng dân tộc thiểu số”; Quyết định số 581/QĐ-TTg ngày 06/5/2009 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Chiến lược phát triển văn hóa đến năm 2020; Chỉ thị số 1971/CT-TTg ngày 27/10/2010 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường 19 công tác dân tộc trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, đẩy mạnh phong trào “toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”, “xây dựng nếp sống văn minh trong vùng dân tộc và miền núi”; Nghị định số 05/2011/NĐ-CP của Thủ tướng Chính phủ về công tác dân tộc đã quan tâm đến việc “Hỗ trợ việc sưu tầm, nghiên cứu, bảo vệ, bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của các dân tộc thiểu số trong cộng đồng dân tộc Việt Nam”. Chủ trương bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa truyền thống của các tộc người thiểu số được thể hiện rõ nét trong quan điểm của Đảng và Nhà nước. Các văn kiện của Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII, IX, XI, XII về xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đàn bản sắc dân tộc là cơ sở quan trọng trong định hướng chính sách quản lý nhà nước về văn hóa, bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống của các dân tộc thiểu số. 1.4. Các bước thực hiện chính sách bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa truyền thống Việc thực hiện chính sách bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa truyền thống trải qua 07 bước sau: - Bước 1: Xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện chính sách bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa truyền thống - Bước 2: Phổ biến, tuyên truyền chính sách bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa truyền thống - Bước 3: Phân công, phối hợp thực hiện chính sách chính sách bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa truyền thống - Bước 4: Duy trì chính sách bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa truyền thống - Bước 5: Điều chỉnh chính sách bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa truyền thống - Bước 6: Theo dõi, đôn đốc, kiểm tra thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống - Bước 7: Đánh giá, tổng kết, rút kinh nghiệm thực hiện chính sách bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa truyền thống 20
- Xem thêm -