Tài liệu Thực hiện chính sách bảo tồn di sản văn hóa trên địa bàn tỉnh lạng sơn

  • Số trang: 106 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 333 |
  • Lượt tải: 0
dangvantuan

Tham gia: 02/08/2015

Mô tả:

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI HOÀNG THANH TÙNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH BẢO TỒN DI SẢN VĂN HÓA TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH LẠNG SƠN Ngành: Chính sách công Mã số: 8340402 LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS. TS VÕ QUANG TRỌNG HÀ NỘI, 2019 LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan rằng: Số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là hoàn toàn trung thực và chưa từng được sử dụng hoặc công bố trong bất kỳ công trình nào khác. Mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cám ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được ghi rõ nguồn gốc. Nếu không đúng như đã nêu trên, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về đề tài của mình. Người cam đoan Hoàng Thanh Tùng MỤC LỤC MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1 Chương 1 .......................................................................................................... 9 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CHÍNH SÁCH CÔNG ............................ 9 VÀ CHÍNH SÁCH BẢO TỒN DI SẢN VĂN HÓA .................................... 9 1.1. Lý luận về chính sách bảo tồn di sản văn hóa ........................................................ 9 1.3. Một số kinh nghiệm về thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa ............................................................................................................................ 19 Tiểu kết chương ............................................................................................................. 26 Chương 2 ........................................................................................................ 27 KHẢO SÁT, ĐÁNH GIÁ VIỆC THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH .............. 27 BẢO TỒN DI SẢN VĂN HÓA TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH LẠNG SƠN ..... 27 2.1. Thực trạng di sản văn hóa trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn ...................................... 27 2.2. Việc ban hành chính sách bảo tồn di sản văn hóa trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn 32 2.3. Tình hình thực hiện chính sách bảo tồn di sản văn hóa trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn ................................................................................................................................... 33 Tiểu kết chương ............................................................................................................. 56 Chương 3 ........................................................................................................ 57 CÁC GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CHÍNH SÁCH ................... 57 BẢO TỒN DI SẢN VĂN HÓA TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH LẠNG SƠN .... 57 3.1. Quan điểm chỉ đạo hoàn thiện chính sách ............................................................ 57 3.2. Giải pháp hoàn thiện pháp luật và chính sách ..................................................... 64 3.3. Giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi chính sách ................................................ 67 Tiểu kết chương ............................................................................................................. 73 KẾT LUẬN .................................................................................................... 74 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ..................................................... 77 PHỤ LỤC ....................................................................................................... 81 DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT DSVH Di sản văn hóa HĐND Hội đồng nhân dân NXB Nhà xuất bản NVH Nhà văn hóa UBND Ủy ban nhân dân MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Những năm qua, công tác bảo tồn và phát huy giá trị DSVH của dân tộc đã đạt được nhiều tiến bộ. Trong đó, nhiệm vụ thứ tư là bảo tồn và phát huy giá trị DSVH. Hết sức coi trọng bảo tồn, kế thừa, phát huy những giá trị văn hóa truyền thống (bác học và dân gian), văn hóa cách mạng bao gồm cả văn hóa vật thể và phi vật thể” [25, tr.27-31]. Trong thời kỳ đẩy mạnh phát triển kinh tế và hội nhập, Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều chủ trương đường lối và chính sách bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa nhằm nâng cao đời sống tinh thần của nhân dân, góp phần phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Trong xu thế hội nhập quốc tế, các quốc gia dân tộc cần phải hướng tới việc tôn trọng sự đa dạng văn hóa và bảo vệ, tôn vinh bản sắc văn hóa dân tộc để tạo nền tảng tinh thần cho phát triển. Và cuối cùng là việc bảo tồn, bên cạnh đó, việc trùng tu thiếu chuyên nghiệp không theo đúng những chuẩn mực khoa học…) cũng là những nhân tố hủy hoại giá trị của di sản. Từ thực tiễn của địa phương, có thể nói, Lạng Sơn là một tỉnh có nhiều DSVH vật thể và phi vật thể, và cũng như nhiều địa phương trong cả nước, tỉnh đang đối mặt với nhiều tác động của ngoại cảnh trong việc bảo tồn và phát huy DSVH của mình. Từ góc độ chính sách, có thể nói, bảo tồn và phát huy giá trị DSVH là một nội dung quan trọng trong nhiều chính sách văn hóa của các cấp. Việc thực hiện chính sách này ở tỉnh Lạng Sơn dù có nhiều kết quả tốt nhưng vẫn còn rất nhiều bất cập cần nhận diện, phân tích, để đề xuất các giải pháp hữu hiệu nhằm nâng cao hiệu quả chính sách. 1 Từ thực tiễn đó, và công tác thực hiện bảo tồn DSVH trên địa bàn tỉnh, tôi chọn đề tài nghiên cứu “Thực hiện chính sách bảo tồn di sản văn hóa trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn” để thấy rõ công tác bảo tồn và phát huy các giá trị DSVH của địa phương. 2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài Việc triển khai thực hiện chính sách bảo tồn DSVH trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn đã được nghiên cứu trong môt số công trình, bài viết hoặc đề án xếp hạng di tích. Các công trình cụ thể như sau: Những công trình nghiên cứu liên quan đến bảo tồn di sản văn hóa: Bộ Văn hoá - Thông tin (2006), “Một con đường tiếp cận di sản văn hoá”, đã tập hợp nhiều bài nghiên cứu về lý luận DSVH cũng như thực tiễn, có thể làm tư liệu nghiên cứu tốt cho đề tài. Trong đó tiêu biểu nhất là các bài: “Khảo cổ học với công tác bảo vệ và phát huy di sản văn hoá” (Vũ Quốc Hiền), “Bảo tồn di tích, nhân tố quan trọng của phát triển bền vững” (Lê Thành Vinh); “Di tích lịch sử và văn hoá đồng bằng sông Hồng” (Đặng văn Bài); “Bảo tồn, tôn tạo và xây dựng khu di tích lịch sử - văn hoá Đường Lâm” (Phan Huy Lê). Tác giả Lã Đăng Bật (2010), cuốn sách “Việt Nam - DSVH Cố Đô Hoa Lư”. Cố đô Hoa Lư - đất cũ người xưa, sách giới thiệu về kinh đô Hoa Lư xưa và sự nghiệp của các anh hùng thuộc ba triều đại nhà Đinh, Tiền Lê và nhà Lý tính từ Đinh Tiên Hoàng đến Lý Thái Tổ. Sách được trình bày rõ ràng và minh hoạ hình ảnh đẹp giúp truyền đạt một bề dày lịch sử ở Hoa Lư theo cách gãy gọn, dễ hiểu nhưng vẫn sâu sắc và đầy đủ. Tác giả Vũ Trường Thành (2014), với luận văn “Bảo tồn DSVH gắn với phát triển kinh tế du lịch trên địa bàn tỉnh Phú Thọ”, làm rõ mối quan hệ hữu cơ giữa bảo tồn các DSVH và việc khai thác phục vụ mục đích phát triển 2 kinh tế du lịch. Làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của công tác bảo tồn DSVH gắn với phát triển kinh tế du lịch; Đánh giá thực trạng về tình hình bảo tồn DSVH gắn với phát triển kinh tế du lịch trên địa bàn tỉnh Phú Thọ; Đề xuất các nhiệm vụ, giải pháp bảo tồn và phát huy giá trị DSVH nhằm phát triển kinh tế du lịch trên địa bàn tỉnh trong thời gian sắp tới. Tác giả Bùi Thị Hà (2016), với luận văn “Bảo tồn DSVH của tỉnh Ninh Bình hiện nay”, đã tìm hiểu về những giá trị DSVH ở tỉnh Ninh Bình. Nghiên cứu thực trạng bảo tồn và phát huy giá trị DSVH. Ninh Bình cũng là một tỉnh có một nền văn hóa truyền thống tốt đẹp, đồng thời cũng là một tỉnh có những DSVH lớn của đất nước nói riêng và của thế giới nói chung. Hướng tới một cái nhìn tổng thể về việc bảo tồn và phát huy DSVH ở tỉnh Ninh Bình. Những công trình liên quan đến thực hiện chính sách bảo tồn di sản văn hóa: Tác giả Bùi Quốc Hoàn (2017), “Thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy giá trị DSVH phi vật thể từ thực tiễn tỉnh Hòa Bình”, luận văn thạc sĩ chính sách công. Tác giả đã hệ thống hóa các tài liệu về chính sách bảo tồn DSVH phi vật thể, chỉ rõ thực trạng thực hiện chính sách này trên địa bàn tỉnh Hòa Bình. Qua đó, tác giả luận văn đã đánh giá những thành công, hạn chế của chính sách cũng như thực hiện chính sách bảo tồn DSVH phi vật thể từ thực tiễn tỉnh Hòa Bình và trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp hoàn thiện chính sách và thực hiện chính sách. Tác giả Nguyễn Ngọc Hưng (2017), Thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử - văn hóa từ thực tiễn huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên, luận văn Thạc sĩ Chính sách công, Học viện Khoa học xã hội Việt Nam. Tác giả luận văn đã vận dụng các lý luận về chính sách công, thực hiện chính sách công trong bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa trên một 3 địa bàn cụ thể. Từ đó, tác giả tìm ra những thành công, hạn chế trong thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa, tìm ra các nguyên nhân và đề xuất các giải pháp thích hợp. Tác giả Nguyễn Thị Thu Trang (2018), Thực hiện chính sách bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa từ thực tiễn quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội, luận văn Thạc sĩ Chính sách công, Học viện Khoa học xã hội Việt Nam. Đề tài tập trung nghiên cứu hoạt động triển khai chính sách bảo tồn và phát huy giá trị DSVH trên địa bàn quận Thanh Xuân thông qua việc hệ thống hóa các vấn đề lý luận, nghiên cứu các hoạt động quản lý nhà nước đối với các di tích văn hóa của UBND quận Thanh Xuân, qua đó đề xuất các giải pháp hoàn thiện việc thực hiện chính sách nêu trên. Cuốn Một số vấn đề về du lịch Việt Nam của Đinh Trung Kiên, đã đi sâu phân tích cụ thể những giá trị của di sản văn hóa truyền thống Việt Nam trong phát triển du lịch nhƣ: Sức hấp dẫn khách du lịch từ các giá trị văn hóa của lễ hội, làng nghề truyền thống; Hoạt động lữ hành với việc khai thác và bảo tồn di sản văn hoá. Trên Tạp chí Cộng sản số 20, năm 2003, PGS, TS. Nguyễn Văn Huy đã có nhiều cố gắng nghiên cứu Một số vấn đề bảo tồn và phát huy những di sản văn hoá các dân tộc hiện nay. Tác giả bài báo đã đề cập đến những vấn đề lý luận và thực tiễn của công tác bảo tồn phát huy DSVH trên phạm vi cả nước. Bên cạnh đó, tác giả tìm đọc các tài liệu như: Đề tài “Nghiên cứu bảo tồn giá trị tín ngưỡng dân gian trong các di tích lịch sử văn hóa vùng cao Mẫu Sơn” của tác giả Bế Cao Chuyển. Đề tài “Nghiên cứu đề xuất giải pháp thích hợp để bảo tồn, phát huy dân ca các dân tộc tỉnh Lạng Sơn trong thời kỳ hội nhập và phát triển” của Hội Bảo tồn dân ca các dân tộc tỉnh Lạng Sơn; Đề án Bảo tồn tiếng nói, chữ viết, trang phục của đồng bào các dân tộc thiểu 4 số tỉnh Lạng Sơn; DSVH múa sư tử Tày, Nùng Lạng Sơn. Đề án Phục dựng các lễ hội truyền thống: Lồng tồng Bản Chu, xã Hưng Đạo, huyện Bình Gia; Lễ hội tình yêu huyện Tràng Định; lễ hội Ná nhèm huyện Bắc Sơn; lễ hội đền Kỳ Cùng - tả phủ, thành phố Lạng Sơn. Dự án Bảo tồn DSVH phi vật thể: Hát Xắng Cọ dân tộc Sán Chỉ, hát Lượn dân tộc Tày, hát Sli Slinh làng Nùng cháo, sli Phàn Slinh Lạng Sơn; hát Ví Tày Bắc Sơn; Lẩu then, Nghệ thuật hát Then, đàn Tính đồng bào Tày - Nùng tỉnh Lạng Sơn… Nhìn chung, đã có nhiều công trình nghiên cứu về di sản văn hoá và thực hiện chính sách bảo tồn DSVH, trong đó có những nghiên cứu trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn. Tuy nhiên, kết quả của những công trình nghiên cứu này chưa xác định và kết luận rõ ràng về vài trò của di sản văn hoá đối với phát triển kinh tế - xã hội và chỉ ra các điều kiện để di sản văn hoá phát huy được vai trò của nó; chưa đề ra giải pháp cụ thể cho quá trình thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy giá trị DSVH. Kế thừa các kết quả nghiên cứu từ các công trình đã nghiên cứu, luận văn này làm rõ các vấn đề trên. 3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 3.1. Mục đích nghiên cứu Trên cơ sở làm rõ những vấn đề lý luận và phân tích thực trạng thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy DSVH, đề xuất giải pháp tăng cường hiệu quả của việc thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy giá trị các DSVH trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn trong giai đoạn tới. 3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu Xác lập cơ sở lý luận về tổ chức thực hiện chính sách bảo tồn DSVH. Hệ thống hóa cơ sở dữ liệu (văn bản, thực tiễn) về chính sách bảo tồn và phát huy giá trị di sản trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn. 5 Khảo sát, phân tích, đánh giá thực trạng tổ chức thực hiện chính sách bảo tồn DSVH trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn trong những năm gần đây. Đề xuất một số giải pháp tổ chức thực hiện chính sách bảo tồn DSVH phù hợp với điều kiện thực tế trong thời gian tới. 4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4.1. Đối tượng nghiên cứu: Việc thực hiện chính sách bảo tồn DSVH trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn. 4.2. Phạm vi nghiên cứu: Việc tổ chức thực hiện chính sách bảo tồn DSVH trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn. Trọng tâm là giai đoạn 2011 - 2017 (Lạng Sơn thực hiện Đề tài bảo tồn DSVH). 5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 5.1. Cơ sở lý luận Trong quá trình nghiên cứu luận văn đã sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng, tư tưởng Hồ Chí Minh và các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về thực hiện chính sách bảo tồn DSVH, những lý luận của khoa học chính sách công cũng như cơ sở thực tiễn về chính sách bảo tồn DSVH. 5.2. Phương pháp nghiên cứu Phương pháp thu thập thông tin: Được sử dụng để thu thập và khai thác thông tin từ các nguồn có sẵn liên quan đến đề tài nghiên cứu, bao gồm các văn kiện, tài liệu, nghị quyết, quyết định của Đảng, Nhà nước, bộ, ban, ngành ở Trung ương và địa phương; các công trình nghiên cứu, các báo cáo, tài liệu thống kê của chính quyền, ban, ngành, đoàn thể, các tổ chức, cá nhân liên quan trực tiếp, gián tiếp tới vấn đề chính sách bảo tồn DSVH ở nước ta nói chung và chính sách bảo tồn DSVH trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn nói riêng. 6 Phương pháp thống kê: Sử dụng nhiều các số liệu thống kê trong luận văn, đó thực chất là việc liệt kê, tính toán đối tượng để có kết quả biểu thị bằng con số nhằm làm nổi bật đối tượng nghiên cứu, cũng như sự cần thiết và tính thực tiễn cao của đề tài nghiên cứu. Phương pháp đánh giá chính sách công: Luận văn sử dụng và thực hiện một số phương pháp nghiên cứu chính sách công theo chu trình chính sách so sánh dựa trên kết quả thực tế, từ đó dự báo xu hướng phát triển đề ra chính sách trong giai đoạn tới. Phương pháp phân tích: Được sử dụng nhiều trong luận văn như việc phân tích thực trạng, các yếu tố môi trường bên trong và bên ngoài, phân tích các tác động bảo tồn DSVH trên địa bàn tỉnh. 6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn 6.1. Ý nghĩa luận: Làm rõ lý thuyết và các vấn đề lý luận về chính sách bảo tồn và phát huy giá trị DSVH từ những cứ liệu của thực tế trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn. Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả chính sách bảo tồn và phát huy giá trị DSVH trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn. 6.2. Ý nghĩa thực tiễn: Luận văn đã làm rõ được thực trạng về các chính sách bảo tồn di sản trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn, cũng cấp thêm một kênh tham khảo cho các cơ quan quản lý về văn hóa trên địa bản tỉnh Lạng Sơn trong thực hiện chính sách bảo tồn di sản. 7. Kết cấu của luận văn Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn được cấu trúc theo 3 chương như sau: Chương 1: Một số vấn đề chung về chính sách công và chính sách bảo tồn di sản văn hóa; 7 Chương 2: Khảo sát, đánh giá việc thực hiện chính sách bảo tồn di sản văn hóa trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn; Chương 3: Các giải pháp nâng cao hiệu quả của thực hiện chính sách bảo tồn di sản văn hóa trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn. 8 Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CHÍNH SÁCH CÔNG VÀ CHÍNH SÁCH BẢO TỒN DI SẢN VĂN HÓA 1.1. Lý luận về chính sách bảo tồn di sản văn hóa 1.1.1. Di sản văn hóa Theo quan niệm của UNESCO, DSVH bao gồm hai loại: DSVH vật thể: Di sản “văn hóa vật thể” (tangible culture) được hiểu là những sản phẩm văn hóa có thể “sờ thấy được”. DSVH vật thể luôn đứng trước nguy cơ biến dạng hoặc thay đổi rất nhiều so với nguyên gốc. Theo đó: DSVH vật thể được xem là những di tích của văn hóa còn sót lại, đó là những công trình kiến trúc, di tích mà hiện tại vẫn còn tồn tại để chúng ta có thể nhìn thấy được, sờ thấy được. DSVH phi vật thể: Văn hóa phi vật thể là các sản phẩm tinh thần có giá trị lịch sữ, văn hóa, khoa học được lưu giữu bằng trí nhớ, chữ viết và được lưu truyền bằng miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức lưu giữ, lưu truyền khác. Bao gồm tiếng nói, chữ viết, tác phẩm văn hóa nghệ thuật, khoa học, ngữ văn, truyền miệng diễn xướng, dân gian lối sống, nếp sống, lễ hội, bí quyết về nghề thủ công, truyền thong tri thức về y, dược học cổ truyền, văn hóa ẩm thực, về trang phục truyền thống dân tộc và những trí thức dân gian khác. 1.1.2. Khái niệm chính sách công Cuốn Từ điển Hán Việt dành cho học sinh đưa ra giải nghĩa phổ thông về từ chính sách như sau: “Chính sách: Sách lược và kế hoạch cụ thể nhằm đạt một mục đích nhất định, dựa vào đường lối chính trị chung và tình hình 9 thực tế mà đề ra” [38, tr.112]. Tiếp cận dưới góc nhìn chính trị, Từ điển bách khoa Việt Nam lý giải: “Chính sách, những chuẩn tắc cụ thể để thực hiện đường lối, nhiệm vụ; chính sách được thực hiện trong một thời gian nhất định, trên những lĩnh vực cụ thể nào đó. Bản chất, nội dung và phương hướng của chính sách tùy thuộc tính chất của đường lối, nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội… Muốn định ra chính sách đúng phải căn cứ vào tình hình thực tiễn trong từng lĩnh vực, từng giai đoạn, phải vừa giữ vững mục tiêu, phương hướng được xác định trong đường lối, nhiệm vụ chung, vừa linh hoạt vận dụng vào hoàn cảnh và điều kiện cụ thể” [21, tr.103]. Trong bài giảng “Những vấn đề cơ bản về chính sách công” (Ban hành kèm theo Quyết định số: 26/QĐ-HVKHXH ngày 9/11/2012 của Giám đốc Học viện Khoa học xã hội), tác giả Đỗ Phú Hải đã định nghĩa chính sách công như sau: “Chính sách công là một tập hợp quyết định chính trị có liên quan của Nhà nước nhằm lựa chọn mục tiêu và giải pháp, công cụ chính sách nhằm giải quyết các vấn đề xã hội theo mục tiêu tổng thể đã xác định” [17, tr.88]. Trong công trình nghiên cứu về “Chính sách công - những vấn đề cơ bản” (2016), tác giả Nguyễn Hữu Hải đã đưa ra nhận định về khái niệm về chính sách công như sau: “Chính sách công là kết quả ý chí chính trị của Nhà nước được thể hiện bằng một tập hợp các quyết định có liên quan với nhau, bao hàm trong đó định hướng, mục tiêu và cách thức giải quyết những vấn đề công trong xã hội” [14, tr.36]. Tác giả Lê Chi Mai cho rằng “Cho đến nay trên thế giới, cuộc tranh luận về định nghĩa chính sách công vẫn là một chủ đề sôi động và khó đạt được sự nhất trí rộng rãi” [23, tr.18]. 1.1.3. Chính sách bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa 10 Bảo tồn nguyên trạng: Đây là quan điểm đã phát triển từ những năm 50 của thế kỷ XIX trên thế giới và thịnh hành trong một thời gian khá dài, gần giống như đóng vai trò chủ đạo đối với cách thức quản lý DSVH ở nhiều quốc gia. Theo nhà nghiên cứu văn hóa Ashworth, quan điểm bảo tồn nguyên trạng có những đặc điểm như sau [1, tr. 28]: Về mục đích: Nguyên tắc là đơn giản, dễ hiểu và là một đòi hỏi về mặt đạo đức; Mục đích tối tượng là bảo tồn toàn bộ những gì có thể bảo tồn được. Về nguồn lực: Các nguồn di sản là căn cứ bất di bất dịch: các địa điểm di tích có một căn cứ lịch sử nhất định của nó; Các sản phẩm được xác định và tạo ra trên cơ sở nguồn gốc của di sản. Về tiêu chí lựa chọn di sản: Tiêu chí lựa chọn phụ thuộc vào bản chất của di sản (có ý nghĩa về lịch sử, vẻ đẹp kiến trúc…); Về nguyên tắc, tiêu chí lựa chọn có thể quyết định một cách khách quan thông qua sự đồng thuận tập thể; Tính chân thực của di sản là yếu tố quyết định tối cao của giá trị. Về các sản phẩm thuyết minh cho di sản: Các địa điểm/đồ tạo tác được bảo tồn có một thị trường và một ý nghĩa toàn cầu, ổn định và đơn nghĩa. Về chiến lược bảo tồn: Có một sự mâu thuẫn cố hữu giữa bảo tồn và phát triển; Những tác động của sự bảo tồn phản lại chức năng sẽ sinh ra những vấn đề phát sinh thứ cấp; Tăng việc sử dụng các sản phẩm được bảo tồn trong giai đoạn hiện thời phải phù hợp với công việc quản lý và nếu cần thiết phải giới hạn nhu cầu. Bảo tồn kế thừa: Các DSVH vật thể sẽ được bảo tồn trên tinh thần giữ gìn những nét cơ bản của di tích, cố gắng phục chế lại nguyên trạng DSVH vật thể bằng nhiều kỹ thuật công nghệ hiện đại. Đối với các DSVH phi vật thể, bảo tồn trên cơ sở kế thừa là bảo tồn các hiện tượng văn hóa đó ngay chính trong đời sống cộng đồng. 11 Quan điểm này cho rằng di sản ấy cần phải được phát huy giá trị phù hợp với xã hội hiện nay, đồng thời phải loại bỏ những gì không phù hợp với thời đại, không còn thích hợp với xã hội mới. Do vậy, bảo tồn kế thừa không phải là cố gắng dập khuôn nguyên gốc, khư khư giữ nguyên như cũ, bất di bất dịch, mà là bảo tồn vừa có sự kế thừa vừa có sự bổ sung những yếu tố mới, làm cho nó tương thích và có sức sống trong hoàn cảnh mới. Bảo tồn phát triển: người ta coi di sản là sản phẩm của thời hiện tại, phát triển nhằm mục đích đáp ứng nhu cầu và đòi hỏi của hiện tại và được định hình bởi yêu cầu ấy. Bảo tồn là một nhân tố cần thiết của phát triển, phát triển tạo nguồn lực cho bảo tồn, bảo tồn và phát triển là nhiệm vụ thiết yếu của một quốc gia. Đảm bảo mối quan hệ hữu cơ giữa bảo tồn và phát triển là cách ứng xử thông minh của thời đại. Từ các quan điểm đó: Luật Di sản văn hoá được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, khoá X kỳ họp thứ 9 thông qua đã khẳng định: Di sản văn hoá Việt Nam là tài sản quý giá của cộng đồng các dân tộc Việt Nam và là một bộ phận của Di sản văn hoá nhân loại, có vai trò to lớn trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước của nhân dân ta. Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII nêu: Chính sách bảo tồn, phát huy di sản vǎn hóa dân tộc hướng vào cả vǎn hóa vật thể và phi vật thể. Nhà nước, Chính phủ và các Bộ, ngành liên quan đã đưa ra các văn bản quy phạm như: Quyết định số 1706/2001/QĐ-BVHTT ngày 24 tháng 7 năm 2001 của Bộ trưởng Bộ Văn hóa - Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) phê duyệt quy hoạch tổng thể bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử-văn hóa và danh lam cảnh đến năm 2020. 12 Quyết định số 125/2007/QĐ-TTg ngày 31 tháng 7 năm 2007 của Thủ tướng Chính phủ Phê duyệt chương trình mục tiêu quốc gia về văn hóa giai đoạn 2006 – 2010. Chiến lược phát triển văn hóa đến năm 2020 (Ban hành kèm theo quyết định số 581/QĐ-TTg ngày 06/5/2009 của thủ tướng Chính phủ): trong đó, coi DSVH là nền tảng để hun đúc nên bản sắc văn hóa và hệ giá trị của văn hóa dân tộc, là một nguồn lực cho phát triển; bảo tồn và phát huy DSVH là nhiệm vụ then chốt. Nghị định số 98/2010/NĐ-CP ngày 21 tháng 9 năm 2010 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật DSVH và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật DSVH. Quyết định số 1211/2012/QĐ-TTg ngày 5 tháng 9 năm 2012 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt “Chương trình mục tiêu quốc gia về văn hóa giai đoan 2012 - 2015”. Từ các hoạt động thực tiễn, các văn bản quy phạm pháp luật về lĩnh vực DSVH ngày càng hoàn thiện và chặt chẽ hơn, giúp các chính sách ngày càng hoàn chỉnh, xác định rõ trách nhiệm của các cơ quan nhà nước từ Trung ương đến địa phương và góp phần thiết thực vào việc hoàn thiện chính sách bảo tồn và phát huy giá trị các DSVH, phát huy tác dụng tích cực công tác bảo tồn và phát huy giá trị các DSVH. 1.1.4. Quan niệm của Đảng và Nhà nước về chính sách bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước đã nhận thức sâu sắc về vai trò của di sản văn hóa trong phát triển kinh tế - xã hội. Di sản văn hóa được coi là “cốt lõi của bản sắc dân tộc” bởi nó được coi là yếu tố cấu thành đặc trưng của nền văn hóa. Việc đề cao vị trí của di sản văn hóa là đề cao những 13 thành quả lao động cũng như đời sống tinh thần của nhân dân trong suốt quá trình lịch sử dựng nước và giữ nước. Hệ thống đình, chùa, lăng tẩm, thành quách... không chỉ minh chứng cho sức lao động sáng tạo cần cù, mà còn cho thấy khát vọng, ý chí và nghị lực của cha ông. Việc lưu giữ, tôn tạo các giá trị di sản văn hóa không chỉ thể hiện đạo lí “uống nước nhớ nguồn”, mà còn góp phần làm phong phú đời sống tinh thần các thế hệ mai sau. Năm 1943, Tổng Bí thư Trường Chinh soạn thảo Đề cương về văn hoá Việt Nam đề ra 3 nguyên tắc vận động của văn hóa Việt Nam gồm: Dân tộc, khoa học, đại chúng. Năm 1998, Đảng ta ban hành Nghị quyết Trung ương 5 (khoá VIII) về xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Năm 2004, Kết luận Hội nghị Trung ương 10 (khoá IX) tổng kết 5 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 5: Xác định mục tiêu: “Bảo đảm sự gắn kết giữa nhiệm vụ phát triển kinh tế là trung tâm; xây dựng, chỉnh đốn Đảng là then chốt với không ngừng nâng cao văn hoá - nền tảng tinh thần của xã hội; tạo sự phát triển toàn diện và bền vững của đất nước”. Chính sách vĩ mô của Nhà nước về văn hóa được ghi trong Hiến pháp năm 2013, như sau [31]: Nhà nước và xã hội bảo tồn, phát triển văn hóa Việt Nam: Dân tộc, hiện đại, nhân văn; kế thừa, phát huy những giá trị của nền văn hiến các dân tộc Việt Nam, tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại; phát huy mọi tài năng sáng tạo trong nhân dân. Nhà nước thống nhất quản lý sự nghiệp văn hóa; nghiêm cấm truyền bá tư tưởng và văn hóa phản động, đồi trụy, bài trừ mê tín, hủ tục. Nhà nước đầu tư phát triển văn hóa, văn học, nghệ thuật; tạo điều kiện để nhân dân được thưởng thức những tác phẩm văn học, nghệ thuật có giá trị; bảo trợ để phát triển các tài năng sáng tạo văn học, nghệ thuật. Nhà nước phát triển các hình thức đa dạng của hoạt động văn hóa, nghệ thuật; khuyến khích hoạt động nghệ thuật văn hóa, nghệ thuật quần chúng. 14 Điều 60 Hiến pháp năm 2013 cũng quy định [31]: Nhà nước, xã hội chăm lo xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại. 1.2. Lý luận về thực hiện chính sách và các yếu tố ảnh hưởng đến thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa 1.2.1. Thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa Sau khi chính sách bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa được hoạch định và các cơ quan quản lý nhà nước ban hành thì chính sách này cần được thực thi trong cuộc sống. Các cơ quan quản lý nhà nước, trước hết là các cơ quan quản lý DIVS là chủ thể hoạch định chính sách bảo tồn và phát huy giá trị DSVH, cũng đồng thời là chủ thể tổ chức thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy giá trị DSVH. Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn, khái niệm thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy giá trị DSVH được hiểu là quá trình tổ chức triển khai các văn bản quản lý, chính sách bảo tồn và phát huy giá trị DSVH vào thực tiễn thông qua 06 bước cơ bản của tổ chức thực hiện chính sách công. Các bước thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy giá trị DSVH Bước 1: Xây dựng kế hoạch thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy giá trị DSVH Để đưa chính sách bảo tồn và phát huy giá trị DSVH vào thực tế cuộc sống cần phải xây dựng Kế hoạch triển khai thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy giá trị DSVH một cách chi tiết, hiệu quả và phù hợp với thực tiễn của từng ngành, từng địa phương. Hiệu quả thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy giá trị DSVH phụ thuộc rất nhiều vào những yêu cầu của kế hoạch khi được xây dựng. Kế hoạch thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy giá trị 15 DSVH phải bám sát theo các yêu cầu và nội dung của Chương trình mục tiêu quốc gia về bảo tồn và phát huy giá trị DSVH. Bước 2: Phổ biến, tuyên truyền chính sách bảo tồn và phát huy giá trị DSVH Phổ biến, tuyên truyền thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy giá trị DSVH của chủ thể thực hiện chính sách đề ra là một nội dung hoạt động quan trọng trong thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy giá trị DSVH từ trung ương đến địa phương. Việc phổ biến, tuyên truyền chính sách bảo tồn và phát huy giá trị DSVH giúp các chủ thể làm nhiệm vụ bảo tồn, phát huy giá trị DSVH nắm được tổng thể chương trình này. Để mọi tầng lớp nhân dân hiểu rõ được tầm quan trọng của chính sách bảo tồn và phát huy giá trị DSVH thì cần phải phổ biến và tuyên truyền về thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy giá trị DSVH thông qua các phương pháp, hình thức đa dạng với nội dung dễ hiểu vì Việt Nam là đất nước đa dạng văn hóa và đa dạng về dân tộc. Bước 3. Phân công, phối hợp thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy giá trị DSVH Việc phân công hợp lý và sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan quản lý nhà nước các cấp, các ngành, các địa phương trong thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy giá trị DSVH tạo ra hiệu quả trong quá trình triển khai. Mỗi cấp, mỗi ngành sẽ có những trách nhiệm và quyền hạn khác nhau trong thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy giá trị DSVH. Trên cơ sở đó, các chủ thể thực hiện chính sách sẽ có những vai trò, nhiệm vụ khác nhau trong toàn bộ quas trình này. Bước 4: Duy trì, điều chỉnh chính sách bảo tồn và phát huy giá trị DSVH 16
- Xem thêm -