Tài liệu Thế giới nhân vật trong truyện ngắn của lê tri kỷ

  • Số trang: 121 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 354 |
  • Lượt tải: 2
nguyetha

Đã đăng 8490 tài liệu

Mô tả:

1 nguyÔn thÞ thu h»ng Bé GI¸O DôC Vµ §µO T¹O TR¦êNG §¹I HäC S¦ PH¹M Hµ NéI 2 nguyÔn thÞ thu h»ng lÝ luËn v¨n häc thÕ giíi nh©n vËt trong truyÖn ng¾n cña lª tri kû luËn v¨n th¹c sÜ ng«n ng÷ vµ v¨n hãa viÖt nam Kho¸ 2011 - 2013 Hµ Néi, 2013 2 MỞ ĐẦU 1. Lí do chọn đề tài 1.1. Nhắc đến những thành tựu trong chặng đường phát triển của văn xuôi Việt Nam sau năm 1945 đến nay, không thể không nhắc đến Lê Tri Kỷ và những đóng góp đáng kể của ông đối với nền văn học nước nhà. Là một trong những cây bút xây nền đắp móng cho phong trào sáng tác văn học trong ngành Công an, suốt cuộc đời cầm bút Lê Tri Kỷ không bao giờ tỏ ra chững lại về sự sáng tạo nghệ thuật. Trong các trang viết của mình, cây bút ấy luôn tỏ rõ sự già dặn, từng trải và sâu đằm hơn, hấp dẫn hơn. Cùng với xu thế chung của văn xuôi hiện nay, sáng tác của Lê Tri Kỷ đã bám sát đời sống hiện thực ở nhiều mặt, quan tâm đến con người cá nhân trong cuộc sống thường nhật. Ngay từ những sáng tác đầu tay của mình, ông đã tâm huyết và thủy chung trọn đời văn của mình với mảng đề tài Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống. Và chính ở mảng đề tài này, Lê Tri Kỷ đã đạt được những thành công rực rỡ. 1.2. Tài năng của Lê Tri Kỷ được khẳng định qua thời gian và được kết tinh rõ rệt qua số lượng sáng tác mà ông để lại cho đời. Sáng tác của ông có nhiều thể loại khác nhau như: Tiểu thuyết, truyện ngắn, truyện ký, kịch bản sân khấu, kịch bản điện ảnh... Ở thể loại nào, nhà văn cũng tỏ rõ tài năng, thế mạnh của mình trong việc khám phá hiện thực cuộc sống, con người. Song truyện ngắn được coi là thể loại mạnh nhất của ông. Vì vậy, truyện ngắn của Lê Tri Kỷ gây được sự chú ý của giới văn học và đông đảo bạn đọc. 1.3. Tác phẩm của Lê Tri Kỷ được khẳng định ngay sau khi ông qua đời (1993), hai tập truyện ngắn của ông đã được tặng giải thưởng của Hội Nhà văn Việt Nam. Đó là "Cuộc tình thế kỷ" - Giải A - 1994 và "Không thiện không ác" - Giải A - 1995. 3 Là một nhà văn có nhiều đóng góp như vậy cho nền văn học hiện đại Việt Nam nói chung và văn học trong lực lượng công an nói riêng, nhưng chúng tôi nhận thấy cho đến nay hầu như chưa có một công trình nghiên cứu nào đi sâu nghiên cứu một cách có hệ thống về truyện ngắn của Lê Tri Kỷ. Thực tế đó gợi ý cho chúng tôi đi sâu nghiên cứu đề tài: "Thế giới nhân vật trong truyện ngắn của Lê Tri Kỷ". 2. Lịch sử vấn đề Là cây bút bước vào đời văn khá muộn màng khi đã ở ngoài độ tuổi 35 nhưng Lê Tri Kỷ được đánh giá là: "Nhà văn tiêu biểu nhất của ngành công an nhân dân" (Xuân Thiều). Quả đúng như vậy, trong hành trình sáng tác của mình, Lê Tri Kỷ đã có những đóng góp đáng ghi nhận đối với nền văn học hiện đại Việt Nam. Những sáng tác của Lê Tri Kỷ đã thu hút được sự quan tâm của khá nhiều các nhà văn, các nhà nghiên cứu phê bình và bạn đọc phổ cập. Đã có rất nhiều ý kiến bàn luận về những sáng tác của Lê Tri Kỷ. Có những bài viết chỉ dừng lại ở những ý kiến phác thảo hết sức khái quát và sơ lược song cũng có bài đi vào phân tích một cách khá cụ thể, chi tiết những nhận xét khá tinh tế và xác đáng một số truyện ngắn của Lê Tri Kỷ. Dưới đây, chúng tôi xin tập trung điểm lại các ý kiến bàn luận về truyện ngắn của Lê Tri Kỷ. Tiêu biểu là bài viết khá tâm huyết và thấu đáo của nhà văn Xuân Thiều với nhan đề: "Lê Tri Kỷ - Nhà văn tiêu biểu nhất của ngành Công an nhân dân" in trong cuốn Sáng tác về đề tài an ninh - trật tự lợi thế và chướng ngại (1997) đã giới thiệu khá chi tiết, đầy đủ về các chức danh, nơi công tác và hoạt động của nhà văn Lê Tri Kỷ. Đặc biệt, tác giả đã đạt được với hai tập truyện ngắn: “Cuộc tình thế kỷ” và “Không thiện không ác” đều đạt giải A. Trong bài viết, nhìn từ góc độ tiếp cận tính đặc thù của loại truyện vụ án, truyện hình sự, Xuân Thiều đã phát hiện, khẳng định tài năng và những đặc 4 sắc trong truyện ngắn Lê Tri Kỷ: "Với 18 truyện chúng ta sẽ không thấy nhưng pha ly kỳ, những vụ án phức tạp gợi trí tò mò, những cuộc săn đuổi thủ phạm đầy gay cấn, lối viết truyện hình sự bình thường na ná thông tấn báo chí mà nhà văn Lê Tri Kỷ tỏ ra cao tay hơn, cũng trên nền như thế, ông nói về tình đời tình người" [9; tr.69]. Đồng thời, Xuân Thiều cũng khẳng định thành công trong nghệ thuật xây dựng hình tượng người chiến sĩ công an "Lê Tri Kỷ đã có công đem đến cho người đọc một hình tượng người chiến sĩ công an chân thực, Chiến sĩ công an, trước hết là con người,cũng đau đớn, cũng buồn cũng vui, giận hờn, yêu ghét như mọi người khiến ta cảm động và gần gũi". [9; tr.70]. Ngoài ra, Xuân Thiều cũng chỉ rõ thành công về chủ đề cũng như nghệ thuật xây dựng cốt truyện trong truyện ngắn Lê Tri Kỷ, nhà văn đã đặt ra những vấn đề nhân sinh đạo lý con người; về cốt truyện của một số truyện ngắn vừa phức tạp, vừa giản dị. Ông cũng khẳng định cái tài của Lê Tri Kỷ trong việc sử dụng ngôn ngữ: "Truyện chỉ là cái cớ để chuyển tải những ý tưởng đậm đà chất nhân văn, để làm lan tỏa những ý thơ" [9; tr.75]. Bên cạnh đó là bài viết của Giáo sư Hoàng Như Mai với nhan đề: “Những điều suy nghĩ về tác phẩm của nhà văn Lê Tri Kỷ” in trong cuốn “Kỉ yếu hội thảo nhân dịp kỉ niệm 20 năm thành lập Nhà xuất bản Công an nhân dân”(2001), Nxb Công an nhân dân. Bên cạnh đó còn một số bài viết được đăng tải trên báo mạng điện tử của Nhà xuất bản Công an nhân dân như: Phan Quế với bài: “Nhà văn Lê Tri Kỷ - Một đời tài hoa và sâu sắc”, Nguồn: Http//www.Nxbcand.vn. Bài viết đã thống kê khá chi tiết đầy đủ các tác phẩm của Lê Tri Kỷ ở các thể loại khác nhau. Phan Quế cũng có những phát hiện khá tinh tế, sâu sắc về nghệ thuật tự sự trong truyện ngắn của Lê Tri Kỷ: “Đọc văn của nhà văn Lê Tri Kỷ không gặp ở đấy những đao to búa lớn, những mảnh mung ly kỳ hàng chợ, những 5 minh họa khuôn sáo. Rất ít những mẹo mực kiểu trinh thám, giật gân, càng không có những trang hình sự kiểu tự nhiên chủ nghĩa”[62]. Phan Quế cũng đi tìm hiểu một vài truyện ngắn đặc sắc của Lê Tri Kỷ như truyện Đêm Văn Miếu, truyện Mụ Quới. Bài viết cũng đánh giá cao những đặc sắc trong văn phong của nhà văn Lê Tri Kỷ:“Văn ông cẩn trọng, chừng mực, đượm chất nho gia, có nét tây học và đôi chút hóm hỉnh dân gian giàu chất quê kiểng xứ Quảng” [62]. Bài viết của Hà Hải Hưng: “Chê vẫn chưa giận”, đã đưa ra cảm nhận về hình ảnh nhà văn Lê Tri Kỷ với tác phong tỉ mỉ, nhiệt tình, cẩn trọng, có phần nghiêm khắc trong những lúc sửa bản thảo của mình hay sửa chữa bản thảo cho tác giả khác. Bài viết đưa ra một ví dụ khá hóm hỉnh và hài hước của Lê Tri Kỷ khi sửa bản thảo cho nhà văn Tôn Ái Nhân lúc mới vào nghề. Ông từng viết vào trang bản thảo của Tôn Ái Nhân: “Nếu tôi có chết sớm hoặc tôi bị tâm thần thì đó là phải đọc “Trinh sát nội thành” của văn hào Tôn Ái Nhân” [22]. Đó là lời nói đùa vui hóm hỉnh cũng là lời nhắc nhở chân tình đề nhà văn Tôn Ái Nhân trau dồi hơn nữa ngòi bút sáng tác của mình. Chính những ý kiến, sự nghiêm khắc cẩn trọng trong văn chương của Lê Tri Kỷ đã góp phần làm cho tác phẩm “Trinh sát nội thành” của Tôn Ái Nhân được độc giả đón nhận nồng nhiệt. Quả đúng như Nam Cao đã chiêm nghiệm về cách viết văn chương: sự cẩu thả trong bất cứ nghề gì cũng có thể chấp nhận được nhưng sự cẩu thả trong văn chương là tối kỵ. Bài viết của Dương Duy Ngữ: “Ước mong của nhà văn Lê Tri Kỷ” thì đưa ra nhận định về sự kết hợp hài hòa giữa con người đời thường và con người chiến sĩ trong hình tượng người chiến sĩ công an của truyện ngắn Lê Tri Kỷ: “Ở thời điểm ấy, văn học chưa ai mô tả tâm trạng của người chiến sĩ công an trước việc họ phải hành xử hay hơn ông. Không ở trong nghề không 6 viết được” [47]. Bài viết còn tái hiện hình ảnh giản dị, gần gũi của Lê Tri Kỷ từ vóc dáng tới giọng điệu để rồi tác giả phải thốt lên: “Bản thân tôi có cảm giác ông giống cha tôi, một ông đồ Bắc Hà, một túc nho uyên bác” [47]… Bài viết của tác giả Nguyệt Hà: “Lê Tri Kỷ đắc địa trong nghiện ngã”, cũng đưa ra những đánh giá khá sắc sảo về Lê Tri Kỷ. Với nhan đề đầy ý nghĩa “Nhà văn Lê Tri Kỷ không được thưởng là không công bằng” đã cho thấy phần nào sự cảm nhận về cái tài của Lê Tri Kỷ. Bài viết của Ma Văn Kháng và nhà phê bình Tôn Phương Lan là những minh chứng cụ thể ghi nhận những thành công trong văn chương của Lê Tri Kỷ. Ở phương diện nghệ thuật miêu tả tâm lý nhân vật và tính chân thực của hình tượng người chiến sĩ công an, Ma Văn Kháng đã khẳng định: “Nhân vật chiến sĩ công an của ông là những con người có lý trí sáng suốt có tấm lòng nhân hậu, cũng như mọi người, biết buồn, vui, yêu, ghét, cũng sống đủ các cung bậc tình cảm, các kiểu kích của con người”; “Lê Tri Kỷ quan tâm đến thế giới bên trong của con người, ông tập trung bút lực để miêu tả cái phần ẩn chìm trong tâm lý nhân vật” [16]… Bên cạnh đó còn một số ý kiến có tính chất “tạt ngang” như ý kiến của Nhà nghiên cứu Đinh Xuân Dũng, Bùi Việt Thắng và một số tác giả khác. Ngoài ra, phải kể đến bản luận văn thạc sỹ: “Phong cách truyện ngắn Lê Tri Kỷ” của Phạm Thị Thái- Trường ĐHSP Hà Nội 2. Bản luận văn đã có những phát hiện khá tinh tế, sâu sắc về phong cách truyện ngắn của Lê Tri Kỷ. Từ cấu trúc, cốt truyện, đề tài, giọng điệu, nhân vật đến những thành công về nghệ thuật tạo nên phong cách của nhà văn Lê Tri Kỷ. Các bài viết này đã giúp người đọc hình dung ra hình ảnh người chiến sĩ công an - nhà văn Lê Tri Kỷ rất gần gũi chân phương, rất yêu nghề cũng như rất tâm huyết với nghiệp văn chương. Những tác phẩm của Lê Tri Kỷ có 7 sức cuốn hút mạnh mẽ bởi những vấn đề đặt ra mang tầm thời đại, nêu lên quy luật muôn đời của văn chương nghệ thuật, chứa đựng trong đó tình người, khát vọng lớn lao về một xã hội tốt đẹp. Điểm qua những bài viết, các ý kiến, phê bình về văn chương Lê Tri Kỷ, chúng tôi nhận thấy hầu như chưa có tác giả nào đặt vấn đề nghiên cứu một cách có hệ thống thế giới nhân vật trong truyện ngắn Lê Tri Kỷ. Bởi vậy, đây là một hướng nghiên cứu còn để ngỏ chưa được chú ý tìm hiểu thích đáng. Thực tế đó gợi ý cho chúng tôi đi sâu vào đề tài này. Trên cơ sở kế thừa, tiếp thu ý kiến của những nhà nghiên cứu - những người thầy đi trước qua truyện ngắn của Lê Tri Kỷ, chúng tôi mong muốn trình bày cảm nhận của mình về thế giới nhân vật vô cùng đa dạng phong phú của Lê Tri Kỷ. Lẽ dĩ nhiên chúng tôi vẫn coi những ý kiến, những bài viết này là những gợi mở vô cùng quý báu, là cơ sở góp phần soi sáng cho người viết khi đi vào giải quyết đề tài này. Từ đó, người viết hy vọng đóng góp một phần nhỏ trong quá trình tìm hiểu, khám phá như một cách tiếp cận để hiểu về một cây bút trí tuệ - "con chim đầu đàn" trong văn học của ngành Công an. 3. Mục đích nghiên cứu Trên cơ sở khảo sát truyện ngắn của Lê Tri Kỷ, luận văn nhằm tìm hiểu, khám phá, khẳng định thế giới nhân vật phong phú trong truyện ngắn của Lê Tri Kỷ; chỉ ra những nét độc đáo, đặc sắc trong nghệ thuật xây dựng nhân vật. Đồng thời qua đó khẳng định những đóng góp của Lê Tri Kỷ đối với mảng đề tài Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống nói riêng và văn học hiện đại Việt Nam nói chung. 4. Nhiệm vụ nghiên cứu Để thực hiện mục đích trên, nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn là: Trình bày những vấn đề lý thuyết về thế giới nhân vật. 8 Chỉ ra những đặc điểm nổi bật về thế giới nhân vật đa dạng, phong phú và nghệ thuật xây dựng nhân vật trong truyện ngắn của Lê Tri Kỷ. Từ đó bước đầu khẳng định vị trí tiêu biểu nhất của Lê Tri Kỷ trong bức tranh văn học về đề tài Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống cũng như những đóng góp đáng ghi nhận của ông đối với nền văn học hiện đại Việt Nam. 5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5.1. Đối tượng nghiên cứu Luận văn tập trung tìm hiểu thế giới nhân vật trong những truyện ngắn của Lê Tri Kỷ. 5.2. Phạm vi nghiên cứu - Thực hiện đề tài này, luận văn tập trung khảo sát, thống kê, phân tích toàn bộ truyện ngắn của Lê Tri Kỷ được in trong các tập truyện: “Cuộc tình thế kỷ” (1994), Nxb Công an nhân dân; “Không thiện không ác” (1988), Nxb Công an nhân dân; “Tuyển tập truyện ngắn Lê Tri Kỷ”(1995), Nxb Công an nhân dân. - Vì nhiệm vụ của luận văn là tìm hiểu thế giới nhân vật trong truyện ngắn Lê Tri Kỷ nên những tài liệu lý luận về thể loại truyện ngắn liên quan đến đề tài cũng được khai thác, vận dụng. - Trong quá trình khảo sát, chúng tôi sẽ chú ý mở rộng thêm một số tác phẩm của các nhà văn cùng thời và các nhà văn ở thế hệ sau Lê Tri Kỷ cùng viết về đề tài Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống, để làm nổi bật thế giới nhân vật trong truyện ngắn của Lê Tri Kỷ. 6. Phương pháp nghiên cứu Để thực hiện được mục đích nghiên cứu, chúng tôi sử dụng đồng thời các phương pháp sau: - Phương pháp thống kê - phân loại: Khảo sát, thống kê toàn bộ hệ thống nhân vật trong truyện ngắn của Lê Tri Kỷ, từ đó tiến hành phân loại nhân vật theo những tiêu chí riêng. 9 - Phương pháp phân tích - tổng hợp: Tiến hành phân tích cụ thể các khía cạnh thuộc về vấn đề nhân vật trong truyện ngắn Lê Tri Kỷ. Từ đó, tổng hợp lại rút ra những kết luận cần thiết theo yêu cầu của luận văn. - Phương pháp so sánh - đối chiếu: Tiến hành so sánh, đối chiếu giữa các nhân vật trong truyện ngắn của Lê Tri Kỷ với nhân vật trong một số truyện ngắn cùng viết về đề tài Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống của chính tác giả và một số tác giả khác cùng thời cùng viết về đề tài này để thấy được những sáng tạo của Lê Tri Kỷ. - Phương pháp loại hình: Vận dụng những kiến thức lý luận về thể loại truyện ngắn làm tiền đề cho việc đi vào nghiên cứu các vấn đề cụ thể về thế giới nhân vật trong truyện ngắn của Lê Tri Kỷ. 7. Đóng góp của luận văn - Tìm hiểu thế giới nhân vật truyện ngắn Lê Tri Kỷ, chúng tôi mong muốn bước đầu tìm ra những đặc sắc về thế giới nhân vật và nghệ thuật xây dựng nhân vật trong truyện ngắn của Lê Tri Kỷ để bước đầu có một cái nhìn tương đối hệ thống, toàn diện về một nhà văn từng được tôn vinh là: “Nhà văn tiêu biểu nhất trong ngành Công an”(Xuân Thiều). - Đánh giá những đóng góp khá quan trọng của Lê Tri Kỷ ở mảng đề tài đặc biệt vừa có những “lợi thế” vừa có những “chướng ngại” không dễ vượt qua, đề tài“Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống” nói riêng và văn học hiện đại Việt Nam nói chung. Thông qua đó góp phần khẳng định tài năng và vị trí của Lê Tri Kỷ trong nền văn học hiện đại Việt Nam. 8. Cấu trúc của luận văn Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, tài liệu tham khảo, phần nội dung của luận văn được triển khai thành 3 chương: Chương 1: Những vấn đề chung về nhân vật văn học và hành trình sáng tác truyện ngắn của Lê Tri Kỷ Chương 2: Quan niệm nghệ thuật về con người và các kiểu loại nhân vật trong sáng tác của Lê Tri Kỷ Chương 3: Nghệ thuật xây dựng nhân vật trong truyện ngắn Lê Tri Kỷ 10 NỘI DUNG Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ NHÂN VẬT VĂN HỌC VÀ HÀNH TRÌNH SÁNG TÁC TRUYỆN NGẮN CỦA LÊ TRI KỶ 1.1. Quan niệm chung về nhân vật văn học 1.1.1. Khái niệm nhân vật văn học Trong tác phẩm văn học, nhân vật đóng vai trò hết sức quan trọng. Nhân vật là đối tượng trung tâm, là linh hồn của tác phẩm văn học. Qua nhân vật, nhà văn bày tỏ quan điểm, tư tưởng nhận thức…trước cuộc đời và con người, gửi gắm những tình cảm, suy tư, trải nghiệm của chính lòng mình, đời mình. Đồng thời, thể hiện tài năng, cá tính, phong cách của mình. * Về phương diện thuật ngữ Thuật ngữ “nhân vật” xuất hiện từ rất sớm. Trong tiếng Hy Lạp cổ “nhân vật” (đọc là persona) vốn mang ý nghĩa là “cái mặt nạ” một dụng cụ biểu diễn của diễn viên trên sân khấu. Nhưng sau đó nó trở thành thuật ngữ để chỉ nhân vật văn học. Đôi khi nhân vật văn học còn được người ta gọi bằng các thuật ngữ khác như“vai” (actor),“tính cách” (character). Tuy nhiên, các thuật ngữ này có một nội hàm hẹp hơn so với “nhân vật”. Thuật ngữ “vai” chủ yếu nhấn mạnh đến tính chất hành động của cá nhân, thích hợp với loại nhân vật hành động. Còn thuật ngữ“tính cách” lại thiên về chỉ những nhân vật có tính cách. Trong thực tế sáng tác, không phải nhân vật nào cũng hành động, đặc biệt là những nhân vật thiên về suy tư và cũng không phải nhân vật nào cũng có tính cách rõ rệt. Từ đó, có thể thấy các thuật ngữ “vai”, “tính cách” không bao quát được hết những biểu hiện khác nhau của các loại nhân vật trong sáng tác văn học. 11 Như vậy, “nhân vật” là thuật ngữ có nội hàm phong phú, đủ khả năng bao quát những hiện tượng phổ biến của tác phẩm văn học ở mọi bình diện và cấp độ. * Khái niệm nhân vật văn học Thực tế cho thấy, trong giới nghiên cứu phê bình văn học đã có rất nhiều quan điểm khác nhau về nhân vật văn học . Các tác giả “Từ điển văn học”(tập 2) định nghĩa: “Nhân vật là yếu tố cơ bản nhất trong tác phẩm văn học, tâm điểm để bộc lộ chủ đề, tư tưởng chủ đề và đến lượt mình nó lại được các yếu tố có tính chất hình thức của tác phẩm tập trung khắc họa. Nhân vật, do đó là nơi tập trung giá trị tư tưởng – nghệ thuật của tác phẩm văn học” [26; tr.86]. Với định nghĩa này, các nhà biên soạn từ điển đã nhìn nhận nhân vật từ khía cạnh vai trò, chức năng của nó đối với tác phẩm văn học và từ mối quan hệ của nó với các yếu tố hình thức tác phẩm. Có thể coi đây là một định nghĩa tương đối toàn diện về nhân vật văn học . Trong cuốn “150 thuật ngữ văn học”, tác giả Lại Nguyên Ân đề xuất một quan điểm khác. Ông xem xét nhân vật trong mối tương quan với cá tính sáng tạo, phong cách nhà văn, trường phái văn học: “Nhân vật văn học là một trong những khái niệm trung tâm để xem xét sáng tác của một nhà văn, một khuynh hướng, trường phái hoặc dòng phong cách. Nhân vật văn học là hình tượng nghệ thuật về con người, một trong những dấu hiệu về sự tồn tại toàn vẹn của con người trong nghệ thuật. Bên cạnh con người, nhân vật văn học có khi còn là các con vật, các loài cây, các sinh thể hoang đường được gán cho những đặc điểm giống con người” [7; tr.241]. Như vậy, với quan niệm này, nhân vật văn học sẽ là một trong những yếu tố tạo nên phong cách nhà văn và màu sắc riêng của một trường phái văn 12 học. Nhà nghiên cứu này còn chỉ ra những đối tượng tiềm tàng khả năng trở thành nhân vật văn học. Khái niệm “nhân vật văn học” còn được định nghĩa trong cuốn “Từ điển thuật ngữ văn học” của tác giả Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi: “Nhân vật văn học là con người cụ thể được miêu tả trong tác phẩm văn học. Nhân vật văn học có thể có tên riêng (Tấm, Cám, Chị Dậu, Anh Pha…), cũng có thể không có tên riêng (Thằng bán tơ …). Khái niệm nhân vật văn học có khi được sử dụng như một ẩn dụ, không chỉ là một con người cụ thể mà chỉ một hiện tượng văn học nổi bật nào đó trong tác phẩm… Nhân vật văn học là một đơn vị đầy tính ước lệ, không thể đồng nhất nó với con người có thật trong đời sống” [16; tr.235]. Quan điểm trên của nhóm tác giả cuốn “Từ điển thuật ngữ văn học” về nhân vật văn học có phần thu hẹp hơn . Ngoài ra, một số nhà nghiên cứu khác lại định nghĩa nhân vật dựa trên tiêu chí chức năng phản ánh hiện thực của tác phẩm văn học. Nhân vật là phương tiện để nhà văn tái hiện đời sống, mở rộng thế giới nghệ thuật cho tác phẩm: “Nói đến nhân vật là nói đến con người được miêu tả, thể hiện trong tác phẩm bằng phương tiện văn học” [23; tr.277]. Như vậy, nhìn một cách tổng quát, các nhà nghiên cứu, nhà lý luận văn học khi đưa ra những quan điểm, định nghĩa cụ thể về nhân vật văn học có khá nhiều cách định nghĩa về nhân vật. Song tựu chung lại, các ý kiến cơ bản gặp nhau trong sự khẳng định: Thứ nhất, đó phải là đối tượng mà văn học miêu tả, thể hiện bằng phương tiện văn học. Thứ hai, đó là những con người hoặc những con vật, sự vật, đồ vật, hiện tượng mang linh hồn con người, là hình ảnh gần gũi của con người. Thứ ba, đó phải là đối tượng mang tính ước 13 lệ và có cách điệu so với đời sống hiện thực bởi nó đã được khúc xạ qua lăng kính chủ quan của nhà văn. Nghiên cứu về tác phẩm văn chương cần phải tiếp cận nhân vật để chỉ ra cái mới trong ngòi bút nhà văn và đưa ra kết luận về những đóng góp riêng của nhà văn đó . Những quan niệm về nhân vật văn học trên đây là những chỉ dẫn cho chúng tôi trong quá trình tìm hiểu về nhân vật nói chung và nhân vật trong truyện ngắn của Lê Tri Kỷ nói riêng . 1.1.2. Chức năng của nhân vật văn học Trong tác phẩm văn học, nhân vật đóng vai trò là tâm điểm của sự thể hiện đời sống. Nhân vật không chỉ là “tiêu điểm để bộc lộ chủ đề” mà còn là nơi “tập trung giá trị nghệ thuật tư tưởng của tác phẩm”. Một tác phẩm không thể thiếu vắng nhân vật. Khi nhân vật xuất hiện, cái gọi là “hiện thực cuộc sống” không còn tồn tại như một khái niệm khô khan trừu tượng nữa mà trở nên có hình khối rõ ràng, để từ đó người đọc tưởng tượng, khám phá, suy ngẫm những vấn đề có ý nghĩa về cuộc đời. Nói như nhà văn Anh Đức thì sức sống của nhà văn chính là ở việc xây dựng những nhân vật đặc sắc. Tất nhiên, đó không phải là điều đơn giản. Chức năng của nhân vật là khái quát những quy luật của cuộc sống con người, thể hiện những hiểu biết, những ước ao và kỳ vọng về con người. Nhân vật văn học là hình ảnh về con người. Trong vai trò của một “người thư ký trung thành của thời đại” (Banzac), văn học trở thành một phương thức khái quát, phản ánh và thể hiện cuộc sống - bằng những hình tượng nhân vật cụ thể - vô cùng hữu hiệu. Do vậy, vai trò, chức năng quan trọng đầu tiên phải kể đến của nhân vật văn học là phương tiện để nhà văn khái quát hiện thực. Nhân vật chính là người dẫn dắt người đọc vào thế giới riêng của đời sống trong một thời kỳ lịch sử nhất định. 14 Thứ nhất, nhân vật có chức năng của một chiếc chìa khóa, giúp nhà văn mở cánh cửa bước vào hiện thực rộng lớn, tiếp cận những đề tài mới mẻ. Sự phát triển của cốt truyện cũng như tình tiết truyện chính là sự xoay quanh các nhân vật trong tác phẩm, qua đó tác giả gửi gắm những giá trị nội dung và tư tưởng. Có thể khẳng định, nhân vật sẽ quyết định việc nhà văn đi sâu vào vấn đề cốt lõi nào của đời sống và thế giới nghệ thuật mà nó tạo nên, vì thế mà cũng có nét riêng phù hợp. Thứ hai, nhân vật trong tác phẩm văn học được coi là phương tiện để khái quát các loại tính cách xã hội. Với chức năng này, nhân vật chứng tỏ được ưu thế vô song của mình trong việc phản ánh bản chất xã hội trong một hiện tượng mang tính chất kết tinh là tính cách. Khi mang trong mình sự khái quát tính cách nhất định, nhân vật vừa có nét riêng lại vừa có khả năng đại diện cho một lớp người nào đó. Trong đời sống ta được tiếp xúc với nhiều loại tính cách khác nhau. Đây là hiện tượng thú vị của thực tế khách quan, đòi hỏi được văn học nghiên cứu và tìm hiểu. Mỗi nhân vật có phẩm chất riêng nổi bật. Với nhân vật Grăngđê (trong tiểu thuyết Eugenie Grandet), H.de Banlzac đã tạo ra một loại tính cách keo kiệt, bủn xỉn đặc trưng của giai cấp tư sản (thời tích lũy tư bản ),… Nhà văn Nga - Xôviết K.AFedin từng hình dung nhân vật giống như “một công cụ” hữu hiệu giúp người viết nhận ra bản chất của đời sống và giúp độc giả thấu hiểu những quy luật sâu xa đang ngầm chi phối mọi diễn biến lịch sử. Quả vậy, nếu không có một nhân vật mang tính cách đa diện của thời Âu hóa và có số phận may mắn lạ lùng của Xuân Tóc Đỏ thì làm sao Vũ Trọng Phụng có thể thâu tóm thần tình đến vậy bản chất của xã hội (xã hội thực dân nửa phong kiến) mà ông gọi là xã hội “chó đểu”. Bởi vậy, lý luận 15 văn học đã chỉ ra tính cách là sự khái quát bản chất xã hội - lịch sử, tâm lý con người bằng hình thức con người cụ thể, là sự thể hiện các phẩm chất xã hội của con người với tư cách là con người xã hội. Tính cách là điểm trung tâm của các mối quan hệ giữa nội dung và hình thức. Thứ ba, nhân vật văn học có chức năng biểu hiện quan niệm nghệ thuật của nhà văn về thế giới và con người. Khi xây dựng nhân vật, nhà văn có mục đích gắn liền nó với những vấn đề mà nhà văn muốn đề cập nó trong tác phẩm. Do đó, bên cạnh việc xác định những tính cách của nhân vật trong tác phẩm, cần nhận ra hiện thực và quan niệm của nhà văn mà nhân vật thể hiện. Một chức năng khác của nhân vật trong tác phẩm là chức năng tạo nên mối liên kết giữa các sự kiện trong tác phẩm và cốt truyện. Nhờ nhân vật mà kết cấu của nhiều tác phẩm đạt được sự thống nhất, hoàn chỉnh, chặt chẽ và nhiều tiềm năng biểu đạt của các phương tiện ngôn từ được phát lộ, để rồi tự chúng trở thành những phương tiện nghệ thuật độc lập có thể được nghiên cứu riêng như một đối tượng thẩm mỹ chuyên biệt. Với vai trò, vị trí quan trọng như vậy, một lần nữa có thể khẳng định: nhân vật là yếu tố không thể thiếu đối với tác phẩm văn chương. Hiểu được đúng đắn chức năng của nhân vật văn học, người viết có thêm cơ sở lý luận để nghiên cứu đề tài này. 1.1.3. Các tiêu chí phân loại nhân vật văn học Nhân vật văn học là hiện tượng hết sức đa dạng. Những nhân vật được xây dựng thành công là những sáng tạo độc đáo không lặp lại. Tuy nhiên, xét về mặt nội dung, cấu trúc, chức năng có thể thấy những hiện tượng lặp đi lặp lại tạo thành các loại nhân vật khác nhau. Để chiếm lĩnh thế giới nhân vật đa dạng, có thể tiến hành phân loại dưới nhiều góc độ, theo nhiều tiêu chí khác nhau. 16 1.1.3.1. Phân loại theo tầm quan trọng và vai trò của nhân vật trong tác phẩm (xét từ góc độ kết cấu) Xét về vị trí và vai trò của nhân vật trong tác phẩm văn học có thể chia thành: nhân vật chính, nhân vật phụ, nhân vật trung tâm. * Nhân vật chính Nhân vật chính là nhân vật xuất hiện nhiều trong tác phẩm, tham gia hầu hết các sự kiện chính được miêu tả, giữ vai trò then chốt trong việc thúc đẩy sự phát triển của cốt truyện và là cơ sở quan trọng để nhà văn triển khai đề tài trung tâm hay tư tưởng nghệ thuật cơ bản của mình. Nhân vật chính thường được tập trung miêu tả, khắc họa tỉ mỉ từ ngoại hình, nội tâm, quá trình phát triển tính cách. Trong tác phẩm, nhân vật chính có thể có nhiều hoặc ít tùy theo dung lượng hiện thực và những vấn đề đặt ra trong tác phẩm. Trong “Truyện Kiều” (Nguyễn Du) nhân vật chính là Thúy Kiều, Kim Trọng, Mã Giám Sinh, Tú Bà, Sở Khanh, Thúc Sinh, Hoạn Thư, Từ Hải, Hồ Tôn Hiến. Trong “Tắt Đèn”(Ngô Tất Tố ), nhân vật chính là Nghị Quế, Chị Dậu. Ở những tác phẩm có nhiều tuyến cốt truyện hoặc có quy mô sử thi đồ sộ, số lượng nhân vật có thể lên đến hàng chục, thậm chí hàng trăm. Đó là trường hợp của những tác phẩm như: “Thủy Hử” (Thi Lại Am), “Tam Quốc Diễn Nghĩa” (La Quán Trung ),… * Nhân vật trung tâm Trong một tác phẩm có nhiều nhân vật chính, nhân vật chính có vai trò quan trọng hơn cả xuyên suốt toàn bộ tác phẩm được gọi là nhân vật trung tâm. Ở một số tác phẩm, số lượng nhân vật trung tâm không phải chỉ có một bởi do các nhân vật đều có vai trò tương đương nhau trong việc thể hiện những xung đột cơ bản của tác phẩm. Chẳng hạn tác phẩm “Tam Quốc Diễn Nghĩa” (La Quán Trung), các nhân vật: Tào Tháo, Lưu Bị, Quan Công, Trương Phi, Gia Cát Lượng, Tôn Quyền đều là những nhân vật trung tâm. 17 * Nhân vật phụ Trong tác phẩm văn học, hệ thống nhân vật ngoài nhân vật chính (bao hàm trong đó cả nhân vật trung tâm) còn lại là nhân vật phụ. Nhân vật phụ giữ vai trò thứ yếu so với nhân vật chính trong quá trình phát triển diễn biến của cốt truyện, trong việc thể hiện chủ đề tác phẩm. Nhân vật phụ góp phần hỗ trợ bổ sung cho nhân vật chính, không được làm mờ nhạt nhân vật chính. Có nhiều nhân vật phụ vẫn được nhà văn miêu tả đậm nét, có cuộc đời và tính cách riêng, cùng với những nhân vật khác trong tác phẩm tạo nên một bức tranh đời sống sinh động và hoàn chỉnh (Thầy Thơ Lại trong “Chữ người tử từ” của Nguyễn Tuân, Thị Nở trong “Chí Phèo” của Nam Cao )… 1.1.3.2. Phân loại theo quan hệ thuận- nghịch giữa nhân vật và lí tưởng (xét từ góc độ nội dung tư tưởng hay phẩm chất nhân vật ) Có thể chia ra nhân vật chính diện (nhân vật tích cực) và nhân vật phản diện (nhân vật tiêu cực). * Nhân vật chính diện: là loại nhân vật mang trong mình những phẩm chất tốt đẹp, có thể đại diện cho những giá trị tư tưởng, đạo đức thẩm mỹ mà nhà văn cùng thời đại nhân vật đó hướng tới. Đó là những nhân vật Chị Út, Chiến, Việt trong tác phẩm của Nguyễn Thi … * Nhân vật phản diện: là nhân vật có phẩm chất ngược lại với nhân vật chính diện. Nhân vật phản diện bị miêu tả trong tác phẩm với thái độ phê phán. Đó là những nhân vật như Bá Kiến trong tác phẩm “Chí Phèo” của Nam Cao, Nghị Quế trong “Tắt Đèn” của Ngô Tất Tố, Giave trong “Những người khốn khổ”của V.Huygô… Nhân vật chính diện và nhân vật phản diện là những phạm trù lịch sử. Việc miêu tả và đối lập chúng với nhau chỉ diễn ra khi xã hội có đối kháng giai cấp và khi nhà văn đã xác định rõ lập trường chỉ đứng về một phía nhất định của mình. 18 Trong quá trình phát triển của văn học, ở mỗi giai đoạn lịch sử khác nhau, việc xây dựng các nhân vật chính diện và phản diện cũng khác nhau. Nếu như trong thần thoại chưa có sự phân biệt rạch ròi giữa nhân vật chính diện và nhân vật phản diện thì trong truyện cổ tích, các truyện thơ Nôm, các nhân vật thường được xây dựng thành hai tuyến rõ rệt có tính chất đối kháng quyết liệt. Ở đây, hễ là nhân vật chính diện thường tập trung vào những tính chất tốt đẹp còn nhân vật phản diện thì hoàn toàn ngược lại. Trong các tác phẩm văn học hiện đại nhiều khi khó phân biệt được đâu là nhân vật chính diện, đâu là nhân vật phản diện. Vì vậy, sự phân biệt nhân vật chính diện và nhân vật phản diện ở đây chỉ có tính chất tương đối. 1.1.3.3. Phân loại theo hình thức cấu trúc nhân vật Ở tiêu chí phân loại này, theo gợi ý của E. M. Forster trong cuốn “Diện mạo tiểu thuyết” (1927), có thể nói tới nhân vật dẹt, nhân vật tròn. Ngoài ra còn có thể nhắc tới nhân vật tư tưởng, nhân vật tâm lý. * Nhân vật dẹt Là loại nhân vật không được khắc họa đầy đủ các mặt. Trong các loại nhân vật dẹt, có thể nói tới: nhân vật chức năng (hay mặt lạ), nhân vật loại hình (các thuật ngữ này do L.Ghinzburg đề xuất). Nhân vật chức năng: Đây là loại nhân vật “được giao cho nhiệm vụ” thực hiện một chức năng nhất định trong tác phẩm và phản ánh đời sống. Nhân vật chức năng chủ yếu xuất hiện trong văn học cổ đại và trung đại (nhất là cổ tích). Chẳng hạn, nhân vật Bụt trong các câu chuyện cổ tích có chức năng ban hạnh phúc, đem lại nhiều may mắn cho người lương thiện, giúp họ vượt qua những trở ngại của cuộc sống; nhân vật phù thủy có chức năng gieo rắc những rủi ro, những điều xấu, ngăn trở cuộc sống của người lương thiện… Các nhân vật của “Thạch Sanh”, “Tấm Cám”… đều là những nhân vật chức năng. 19 Nhân vật chức năng không có đời sống nội tâm. Các phẩm chất, đặc điểm nhân vật cố định không thay đổi từ đầu đến cuối, hành động gần như theo những công thức đã vạch sẵn. Nhờ đặc điểm này mà các nhân vật chức năng dễ dàng trở thành biểu trưng trong đời sống tinh thần và hình thức hóa trong sáng tác. Khi phân tích các nhân vật này cần tìm hiểu vai trò và chức năng mang nội dung xã hội thẩm mỹ của chúng. Nhân vật chức năng không hoàn toàn mất bóng trong văn học các thời đại sau này, chỉ có điều nó không tồn tại ở dạng thuần túy như trước. Nhân vật loại hình: là loại nhân vật thể hiện tập trung các phẩm chất xã hội, đạo đức của một loại người nhất định của một thời. Đó là nhân vật khái quát chung về “loại” của các tính cách và nhờ vậy được gọi là điển hình. Chẳng hạn như nhân vật Acpagông (Lão hà tiện của Môlie) đã thể hiện tập trung cho thói keo kiệt, Ông Guốcđanh (Trưởng giả học làm sang của Môlie) là hiện thân cho thói phù phiếm, hiếu danh của các gã tư sản muốn làm quý tộc. Hạt nhân của loại nhân vật này là nét khu biệt về mặt tính cách xã hội của một loại người nào đó. Đúng như Puskin nhận xét: “Ở Môlie người keo kiệt thì keo kiệt, và chỉ có thế”. Nhân vật điển hình loại này luôn đòi hỏi một cá tính nhất định được thực hiện qua một số chi tiết chân thực, sống động nào đó chứ không phải là một khái niệm trừu tượng, điều đáng nói là khi đắp da, đắp thịt cho tính cách, nhà văn không quên chủ đích của mình là làm sao gọi cho đúng cái “thần” của “loại”. Nhân vật chị Út Tịch trong “Người mẹ cầm súng” của Nguyễn Thi mang nhiều đặc điểm của nhân vật loại hình. Chị chính là “khái niệm” về người phụ nữ Việt Nam “anh hùng, bất khuất, trung hậu, đảm đang”. Tuy vậy, vẫn có những nét hấp dẫn nhất định của một cá tính. * Nhân vật tròn Là nhân vật được khắc họa trên nhiều bình diện, đưa tới cho độc giả cảm tưởng “thực” về nhân vật. 20 Nhân vật tròn thực chất là nhân vật tính cách. Khi xây dựng nhân vật tính cách, điều nhà văn chú ý trước hết là cá tính làm nên một nhân cách độc lập. Cá tính đó luôn có mối liên hệ sống động với môi trường xung quanh. Qua việc nhìn vào những mối liên hệ đó người ta nhận ra những quy luật tồn tại của con người. Sức hấp dẫn của loại tính cách này nằm ở cá tính cùng cấu trúc phức tạp của nó. Nhân vật tính cách thường đa diện, chứa đầy mâu thuẫn và chính những mâu thuẫn ấy làm cho tính cách không tĩnh tại mà vận động phát triển, đôi khi làm bất ngờ cả người sáng tạo ra nó. * Nhân vật tư tưởng Trong tác phẩm văn học, có những nhân vật mà hạt nhân cấu trúc của nó không phải là cá tính, cũng không phải là các phẩm chất loại hình, mà là một tư tưởng, một ý thức. Xây dựng loại nhân vật này, các nhà văn nhằm tới việc phát biểu hoặc tuyên truyền cho một tư tưởng nào đó về đời sống. Ví dụ như nhân vật “tôi” trong truyện ngắn “Bức tranh” của Nguyễn Minh Châu… đều mang những nét cơ bản của nhân vật tư tưởng. * Nhân vật tâm lý Ở loại nhân vật này, nhà văn tập trung vào việc tái hiện “hiện thực tâm lý”, vào những hành động bên trong chứ không phải hành động bên ngoài của nhân vật. Nhiều khi hiện thực tâm lý đó không làm nên nhân vật mà còn làm nên chính câu chuyện, làm nên những tác phẩm được gọi là “truyện không có cốt truyện”. Từ đây, vô số các thủ pháp miêu tả được thể hiện, dẫn đến sự ra đời của thủ pháp “dòng ý thức’. Loại nhân vật này xuất hiện nhiều trong văn học hiện đại. 1.1.3.4. Phân loại nhân vật theo thể loại Có thể phân thành: nhân vật tự sự, nhân vật kịch, nhân vật trữ tình.
- Xem thêm -