Tài liệu Tăng cường công tác quản lý thu nợ thuế tại cục thuế tỉnh bình phước

  • Số trang: 114 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 203 |
  • Lượt tải: 0
nhattuvisu

Đã đăng 27125 tài liệu

Mô tả:

-1- MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Trong công tác quản lý thu ngân sách nhà nước, việc quản lý đôn đốc thu nợ và cưỡng chế nợ thuế là nhiệm vụ hết sức quan trọng và nan giải. Ngành thuế không những chỉ tuyên truyền, giải thích, đôn đốc người nộp thuế thực hiện nghĩa vụ thuế của mình, mà hơn nữa phải áp dụng cương quyết các biện pháp chế tài để đảm bảo sự công bằng trong việc thực thi nghĩa vụ thuế đối với Nhà nước. Ngày nay chính sách thuế của nước ta đã và đang được chỉnh lý, bổ sung và hoàn thiện cho phù hợp với tình hình phát triển của đất nước. Ngành thuế đang đặt ra mục tiêu là cải tiến toàn bộ quy trình quản lý thu nợ thuế để áp dụng đối với các loại thuế, tiến dần tới việc áp dụng phương pháp quản lý thu nợ thuế hiện đại. Một trong những nhiệm vụ được nêu là phấn đấu quản lý 100% số đối tượng sản xuất kinh doanh trên địa bàn và chấm dứt tình trạng thất thu về đối tượng nộp thuế. Mục tiêu này tưởng chừng như đơn giản thông qua việc cấp mã số thuế, nhưng thực tế có những vướng mắc nhất định. Trong tình hình khó khăn về kinh tế hiện nay, số lượng các doanh nghiệp nợ đọng tiền thuế tăng, dẫn đến khó khăn cho cơ quan thuế trong việc đôn đốc doanh nghiệp thanh toán nợ thuế. Từ phía doanh nghiệp, sự căng thẳng về đồng vốn, tiêu thụ hàng… khiến việc hợp tác và hoàn thành nghĩa vụ thuế đang là bài toán khó và dẫn đến không ít doanh nghiệp còn nợ đọng thuế. Điều đáng lo ngại là một số doanh nghiệp để nợ thuế kéo dài trong suốt nhiều năm qua, có những doanh nghiệp số nợ thuế rất lớn. Mặc dù cơ quan thuế đã nhiều lần đôn đốc, nhắc nhở, song các doanh nghiệp này vẫn cố tình chây ỳ, không dứt điểm trong việc thực hiện nghĩa vụ thuế, tập trung lớn vào một số doanh nghiệp ngoài quốc doanh… Xuất pháp từ vấn đề trên, là người tham gia quản lý lĩnh vực này cuả Cục Thuế tỉnh Bình Phước, tôi lựa chọn đề tài “Tăng cƣờng công tác quản lý thu nợ thuế tại Cục Thuế tỉnh Bình Phƣớc” làm luận văn thạc sỹ Quản trị Kinh doanh – chuyên ngành : Quản trị Tài chính. -2- 2. Mục đích nghiên cứu của đề tài Luận văn chủ yếu nghiên cứu thu nợ thuế trong phạm vi các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Bình Phước, áp dụng một số cơ chế chính sách thuế vào thực tiễn và thực trạng quản lý thu nợ thuế trên địa bàn tỉnh Bình Phước. Cụ thể : - Góp phần làm rõ lý luận về thuế, nợ thuế và công tác quản lý thu nợ thuế. - Khẳng định sự cần thiết khách quan của việc tăng cường đổi mới thu nợ thuế theo cơ chế tự khai - tự nộp tại Cục Thuế tỉnh Bình Phước. - Nghiên cứu thực trạng nợ thuế tại Bình Phước giai đoạn 2009 – 2012, trên cơ sở những vấn đề tồn tại trong công tác quản lý thu nợ thuế tại Cục Thuế tỉnh Bình Phước. - Trên cơ sở định hướng đổi mới công tác quản lý thu nợ thuế và những tồn tại trong thu nợ thuế, luận văn đề xuất các giải pháp nhằm tăng cường công tác quản lý thu nợ thuế trên địa bàn tỉnh Bình Phước, góp phần tăng nguồn thu NSNN đồng thời thúc đẩy phát triển kinh tế của tỉnh. 3. Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu - Đối tượng nghiên cứu : Quản lý thu nợ thuế đối với các đối tượng nộp thuế trên địa bàn tỉnh Bình Phước. - Phạm vi nghiên cứu : Nghiên cứu công tác quản lý thu nợ thuế từ năm 20092012 tại Cục thuế Bình Phước. 4. Phƣơng pháp nghiên cứu Đề tài sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính với nguồn số liệu thứ cấp là chủ yếu, được thu thập từ các báo cáo ngành và các dữ liệu khai thác trên phần mềm QLT của Cục Thuế. Ngoài ra còn có dữ liệu sơ cấp được thu thập từ quan sát thực tiễn. Các dữ liệu sau khi thu thập được phân tích bằng các phương pháp như : tổng hợp, thống kê, so sánh dựa trên lý thuyết tài chính và số liệu thực tiễn về thu nợ thuế tỉnh Bình Phước qua các năm, từ đó làm sáng tỏ các nội dung nghiên cứu. -3- 5. Ý nghĩa thực tiễn của đề tài Qua phân tích những tồn tại của công tác quản lý thu nợ thuế, những việc làm được và chưa làm được; luận văn đưa ra những gợi ý quản lý nhằm nâng cao hiệu quả của công tác quản lý thu nợ thuế giúp cho Cục Thuế tỉnh Bình Phước có cái nhìn sâu sắc hơn về tình hình nợ đọng của cơ quan mình, từ đó đưa ra những quyết định hợp lý, phù hợp với tình hình phát triển của tỉnh nhà. 6. Kết cấu của luận văn Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương như sau : Chương 1 : Tổng quan về thuế, nợ thuế và quản lý thu nợ thuế Chương 2 : Tình hình quản lý thu nợ thuế tại Cục Thuế tỉnh Bình Phước từ năm 2009-2012. Chương 3 : Tăng cường công tác quản lý thu nợ thuế tại Cục Thuế tỉnh Bình Phước. -4- CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ THUẾ, NỢ THUẾ VÀ QUẢN LÝ THU NỢ THUẾ 1.1. TỔNG QUAN VỀ THUẾ VÀ NỢ THUẾ 1.1.1. Khái niệm và bản chất của thuế Thuế ra đời và tồn tại cùng với sự ra đời và tồn tại của Nhà nước, do đó sự hiện diện của thuế trong nền kinh tế là một tất yếu khách quan nhằm đảm bảo các nhu cầu chi tiêu theo chức năng của Nhà nước. Các-Mác đã nói về quan hệ kinh tế giữa Nhà nước và thuế như sau: ―Thuế là cơ sở kinh tế của bộ máy Nhà nước, là thủ đoạn giản tiện cho kho bạc thu được bằng tiền hay sản vật mà người dân phải đóng góp để dùng vào mọi việc chi tiêu của Nhà nước‖1. ĂngGhen cũng đã chỉ ra: Để duy trì quyền lực công cộng, cần phải có sự đóng góp của công dân cho Nhà nước, đó là thuế 2. Nhà nước là điều kiện đầu tiên cho sự ra đời và tồn tại hệ thống thuế của một quốc gia. Trong trường hợp thu nhập của người dân không đủ chi dùng cho bản thân họ thì Nhà nước cũng không thể thu được thuế. Do đó, một điều kiện thứ hai rất quan trọng cần phải có để bảo đảm sự tồn tại của thuế đó là thu nhập xã hội. Sự hình thành thu nhập trong xã hội chính là tiền đề cho việc động viên các khoản thu của Nhà nước mà trong đó thuế là khoản động viên cơ bản nhất. Tuỳ theo từng góc độ nghiên cứu mà người ta có những cách nhìn khác nhau về thuế: • Dưới góc độ nghiên cứu của kinh tế chính trị học, thuế được coi là hình thức phân phối và phân phối lại tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân để hình thành nên qũy tiền tệ của Nhà nước nhằm đáp ứng nhu cầu chi tiêu theo chức năng của Nhà nước. • Dưới góc độ nghiên cứu pháp luật, thuế được coi là một phần thu nhập mà các tổ chức và cá nhân có nghĩa vụ đóng góp cho Nhà nước theo quy định của pháp luật. -5- • Dưới góc độ nghiên cứu của kinh tế học, thuế được coi là khoản mất mát của các doanh nghiệp hay hộ gia đình để hình thành nên qũy tiền tệ của Nhà nước nhằm đáp ứng cho việc sử dụng các hàng hoá và dịch vụ công. Dù được nhìn nhận dưới góc độ nào, có lẽ không ai có thể phủ nhận rằng thuế là khoản đóng góp có tính chất bắt buộc cho Nhà nước, được thực hiện mà không đề cập đến lợi ích cụ thể của người đóng thuế. Cũng chính vì đặc điểm này mà người nộp thuế thường không mấy dễ chịu và có cảm giác bị tước đoạt một phần tài sản cá nhân của họ, dù rằng ai cũng muốn được hưởng nhiều dịch vụ phúc lợi công cộng từ Nhà nước. Nhận thức được đặc điểm này của thuế, chúng ta sẽ dễ dàng xác định những yêu cầu mà người nộp thuế thường đòi hỏi ở một hệ thống thuế. Từ những phân tích ở trên, có thể hiểu thuế theo khái niệm như sau: Thuế là khoản đóng góp bắt buộc, trích từ một phần thu nhập của các tổ chức và cá nhân cho Nhà nước theo quy định của pháp luật để phục vụ cho các nhu cầu chi tiêu theo chức năng của Nhà nước 3. * Bản chất của thuế : Thu thuế thể hiện mối quan hệ giữa Nhà nước và các tổ chức, cá nhân. Xét về bản chất là quan hệ tái phân phối thu nhập. Thu nhập từ các tổ chức và cá nhân, chuyển thành thu nhập của Nhà nước, góp phần tạo lập quỹ ngân sách Nhà nước. Quá trình phân phối của Nhà nước qua công cụ thuế nhằm tạo lập quỹ ngân sách Nhà nước, suy cho cùng là quá trình Nhà nước tái phân phối tổng sản phẩm quốc nội. Như vậy có thể khái quát về bản chất của thuế như sau : thuế thể hiện quan hệ kinh tế giữa Nhà nước và các tổ chức và cá nhân trong xã hội phát sinh trong quá trình Nhà nước – bằng quyền lực của mình – tham gia tái phân phối tổng sản phẩm quốc nội nhằm tạo lập quỹ ngân sách nhà nước để đáp ứng nhu cầu chi tiêu của Nhà nước 4. 1 Mac-Ang-ghen tuyển tập, 1961, tập 2 Ang-ghen, Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và Nhà nước, 1962 3 Giáo trình thuế - GS.TS. Nguyễn Thanh Tuyền, TS. Nguyễn Ngọc Thanh, 2001 4 Giáo trình thuế 1 – TS. Lê Quang Cường, TS. Nguyễn Kim Quyến, ThS. Võ Thế Hào, 2012 2 -6- 1.1.2. Vai trò cuả thuế 1.1.2.1. Thuế là nguồn thu chủ yếu của Ngân sách Nhà nước3 Nhà nước có thể sử dụng các hình thức khác nhau để tạo nguồn cho Ngân sách của mình. Trong đó thuế được xem là nguồn thu chủ yếu cho Ngân sách Nhà nước. Vì nếu phát hành tiền thì sẽ dẫn đến lạm phát, nền kinh tế đất nước ngày càng suy yếu, còn vay nợ (nhất là nợ nước ngoài) thì chắc chắn phải chịu lãi vay và một số điều kiện ràng buộc bất lợi về kinh tế cũng như chính trị, dễ dẫn đến mất quyền tự chủ trong quan hệ quốc tế. Trong nền kinh tế thị trường, vai trò của thuế ngày càng ảnh hưởng lớn đến nền kinh tế, nó gắn liền với quyền lực chính trị của Nhà nước. Ở nước ta hiện nay, thuế chiếm tỷ trọng ngày càng cao trong tổng thu Ngân sách Nhà nước, đến nay các khoản thu thuế và phí – lệ phí phải đảm bảo trên 90% tổng số thu Ngân sách Nhà nước để vừa đáp ứng nhu cầu chi tiêu thường xuyên không ngừng tăng lên, vừa tạo nguồn tích lũy cho nhu cầu phát triển đất nước. Nhà nước ban hành các chính sách thuế, Luật thuế để động viên một phần thu nhập xã hội vào Ngân sách Nhà nước và phân phối lại giá trị mà nền kinh tế đã tạo ra một cách hợp lý. Nguồn thu thuế có được từ thu nhập quốc dân, vì vậy khả năng động viên thuế vào Ngân sách phụ thuộc vào hoạt động sản xuất trong nền sản xuất có hiệu quả hay không. Vì vậy chính sách thuế, Luật thuế phải cho phép vừa khai thác nguồn thu có hiệu quả, vừa tích cực bồi dưỡng nguồn thu, khích thích phát triển sản xuất và là công cụ để phân phối và điều tiết lợi tức quốc dân. Nền kinh tế nước ta hiện nay, đang từng bước phát triển và ổn định, tiến tới hòa nhập với nền kinh tế trong khu vực và thế giới. Thuế phải được xem là nguồn thu chủ yếu, nguồn tài chính quan trọng nhất của Ngân sách Nhà nước để góp phần tích cực vào yêu cầu giảm bội chi Ngân sách, từng bước có tích lũy và ổn định phát triển3. -7- 1.1.2.2. Thuế là công cụ quản lý và điều tiết vĩ mô nền kinh tế3 Để điều tiết vĩ mô nền kinh tế, Nhà nước sử dụng công cụ thuế nhằm tạo điều kiện và môi trường tăng trưởng thích hợp, tạo sự cân đối giữa các vùng lãnh thổ, các ngành, các lĩnh vực trong sản xuất. Tùy hoàn cảnh kinh tế – xã hội cụ thể của từng giai đoạn phát triển, từng thời kỳ mà Nhà nước có những chính sách thuế khác nhau để phù hợp với những điều kiện của nền kinh tế, nhằm phát huy nội lực thúc đẩy kinh tế phát triển, thu hút đầu tư nước ngoài. Trong tình hình kinh tế hiện nay ở nước ta, với cơ chế nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần thì sự điều tiết vĩ mô của Nhà nước phải phù hợp với nhu cầu khách quan chứ không phải là sự can thiệp tùy tiện bằng mệnh lệnh hành chính. Trong các công cụ mà Nhà nước sử dụng để điều tiết vĩ mô nền kinh tế, thì thuế là công cụ hữu hiệu nhất. Bởi thuế có tác động trực tiếp đến giá cả thị truờng và thu nhập xã hội, thuế tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh giữa các thành phần kinh tế, thuế có thể thu hút và đẩy mạnh đầu tư hoặc hạn chế đầu tư, thuế bảo hộ sản xuất trong nước. Ngoài ra thuế còn được xem là tác nhân tích cực của quá trình phân phối và qua đó tác động đến quá trình tái sản xuất. 1.1.2.3. Thuế là công cụ góp phần thực hiện công bằng xã hội3 Vấn đề phân phối lại sản phẩm xã hội, nếu không có sự can thiệp của Nhà nước thì việc phân phối sẽ mất ý nghĩa vì nó mang tính tập trung, sự phân hóa giàu nghèo ngày càng rõ rệt, mâu thuẫn xã hội ngày càng gay gắt. Tình hình này không những liên quan đến vấn đề đạo đức, công bằng xã hội mà còn tạo ra sự đối lập về quyền lợi, làm triệt tiêu sự phát triển kinh tế – xã hội. Do đó, sự can thiệp của Nhà nước, mà thuế là công cụ hữu hiệu nhất, là cần thiết. Các chính sách thuế như: thuế tiêu thụ đặc biệt đánh vào các mặt hàng xa xỉ, không được khuyến khích tiêu dùng; miễn thuế hay đánh thuế thấp đối với các mặt hàng thiết yếu của đời sống nhân dân lao động; thuế thu nhập đối với nguời có thu nhập cao nhằm điều tiết thu nhập trong xã hội;... Hoặc các chính sách trợ cấp xã hội, xây dựng các công trình phúc lợi xã hội, văn hóa, thể dục thể thao,... Thông qua đó, Nhà nước đã điều tiết được một -8- phần thu nhập của người giàu chuyển sang cho người nghèo, nâng cao mức sống tạo sự công bằng xã hội, khuyến khích mọi người làm giàu chính đáng. Công bằng và bình đẳng xã hội về thuế được thể hiện thông qua chính sách động viên cho Ngân sách Nhà nước. Nhưng công bằng không có nghĩa là ―cào bằng‖ đòi hỏi mọi thành viên trong xã hội phải có thu nhập ngang nhau theo kiểu bình quân chủ nghĩa. Về nguyên tắc người có thu nhập cao phải nộp thuế nhiều hơn người có thu nhập thấp, nhưng chính sách thuế phải tạo điều kiện cho người làm ăn có hiệu quả, có năng suất cao thu nhập sau khi nộp thuế phải cao hơn mức trung bình trong xã hội. Từ đó khuyến khích các tổ chức, cá nhân đầu tư chất xám, siêng năng sáng tạo trong lao động sản xuất, tạo ra nhiều của cải vật chất cho xã hội và có thu nhập cao chính đáng. Công bằng và bình đẳng xã hội về thuế, trước hết phải xuất phát từ chính sách hợp lý, từ nhận thức đầy đủ và xác định đúng đắn quyền lợi, nghĩa vụ của mỗi công dân, mỗi tổ chức kinh tế đối với Nhà nước – là người đại diện cho quyền lực và lợi ích của toàn xã hội, của dân, do dân, vì dân. Công bằng và bình đẳng xã hội về thuế cũng không chỉ là lý thuyết chung chung mà phải được thể hiện bằng những chính sách, những chế độ cụ thể, được thể chế hóa bằng các văn bản pháp quy rõ ràng. 1.1.3. Phân loại thuế4 1.1.3.1. Theo đối tượng của thuế. Phân loại thuế theo tính chất của đối tượng tính thuế, có thể phân loại hệ thống thuế thành các nhóm sau : + Thuế thu đối với thu nhập như : thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập cá nhân. + Thuế thu đối với hàng hoá dịch vụ như: thuế doanh thu, thuế hàng hoá, dịch vụ, thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất khẩu – thuế nhập khẩu, thuế bảo vệ môi trường, thuế tiêu dùng. + Thuế thu đối với tài sản như: thuế sử dụng đất phi nông nghiệp, thuế sử dụng đất nông nghiệp, thuế bất động sản, thuế động sản, thuế tài nguyên, thuế di sản, thuế quà tặng. -9- Cách phân loại này cho thấy phạm vi chi phối của thuế. Qua đó, có thể xây dựng chính sách thuế bao quát các nguồn thu có thể động viên cho ngân sách Nhà nước. 1.1.3.2. Theo phương thức huy động của thuế4 Đây là cách thức phân loại mang tính chất truyền thống và cổ điển. Tiêu thức phân loại này thuế được chia thành thuế trực thu và thuế gián thu. + Thuế trực thu : Là loại thuế mà Nhà nước thu trực tiếp vào phần thu nhập của các tổ chức, cá nhân có thu nhập phải chịu thuế, một sắc thuế trực thu trước hết là một hình thức đánh thuế có địa chỉ: một cá nhân, một hộ gia đình, một tổ chức hoặc một doanh nghiệp. Tính chất trực thu của loại thuế này thể hiện ở chỗ người nộp thuế đồng thời cũng là người chịu thuế. Với sắc thuế trực thu này, Nhà nước thực hiện phân phối và điều tiết thu nhập. Thuế trực thu thường đụng chạm trực tiếp đến lợi ích kinh tế của người nộp thuế, nên dễ gây ra tâm lý bất an trong nhân dân. Do đó, Nhà nước cần phải xác định mức thu hợp lý, phù hợp với điều kiện kinh tế của đất nước và khả năng nộp thuế của người chịu thuế. + Thuế gián thu : Là loại thuế đánh vào hàng hóa dịch vụ và được ấn định dưới hình thức một khoản thu thêm, đóng vai trò là một bộ phận cấu thành trong giá cả hàng hóa hoặc cước phí dịch vụ tiêu dùng, nhằm động viên thêm một phần thu nhập của người tiêu dùng vào Ngân sách Nhà nước. Thông qua cơ chế giá cả, thuế gián thu được chuyển cho người tiêu dùng gánh chịu. Tính chất gián thu của loại thuế này được thể hiện ở chỗ người nộp thuế và người chịu thuế không phải là một, người sản xuất kinh doanh hàng hóa, cung ứng dịch vụ (người nộp thuế) thu hộ phần thuế gián thu và nộp lại cho Nhà nước. Cách phân loại này cho thấy vai trò của từng loại thuế trong phân phối và điều tiết thu nhập của các chủ thể trong xã hội, phản ánh mối tương quan giữa thuế trực thu và thuế gián thu trong tổng thu nhập về thuế của Ngân sách Nhà nước. 1.1.3.3. Theo tính chất của thuế4 - 10 - Phụ thuộc vào mức độ động viên thuế so với thu nhập phân loại thành : thuế luỹ tiến, thuế theo tỷ lệ cố định và thuế luỹ thoái. Thuế luỹ tiến thiên về khía cạnh điều tiết công bằng thu nhập, chú trọng đến nhân thân, hoàn cảnh của đối tượng chịu thuế. Thuế theo tỷ lệ cố định áp dụng một tỷ lệ phần trăm duy nhất đối với toàn bộ căn cứ tính thuế. Thuế này thường được áp dụng cho các loại thuế gián thu. Thuế luỹ thoái nhằm mục tiêu tập trung số thuế cho ngân sách nhà nước, do đó chưa thật sự công bằng trong điều tiết thu nhập của đối tượng chịu thuế. 1.1.4. Khái niệm nợ thuế Nợ thuế là một phạm trù tất yếu khách quan tồn tại cùng với sự tồn tại của thuế, khi còn thuế thì vẫn còn nợ thuế. Xét ở góc độ hành vi thì nợ thuế là hành vi của người nộp thuế chưa nộp kịp thời số tiền phải thực hiện nghĩa vụ đóng góp cho Nhà nước theo quy định của pháp luật. Về phía cơ quan thuế, đây là số tiền phải thu của người nộp thuế theo quy định của pháp luật được Nhà nước giao trách nhiệm thu nhưng chưa thu được. 1.1.5. Phân loại nợ thuế5 Việc phân loại tiền thuế nợ được quy định rất cụ thể trong Quyết định số 1123/QĐ-TCT và trong quyết định 1395/QĐ-TCT và nhiều văn bản khác… Trong đó phân loại chi tiết về nợ khó thu, nợ chờ xử lý và nợ có khả năng thu. Tóm tắt các loại nợ như sau: * Nợ khó thu gồm: Nợ của người nộp thuế lâm vào giải thể, phá sản; Nợ của người nộp thuế bỏ trốn mất tích; Nợ của người nộp thuế bị khởi tố; Nợ của người nộp thuế ngừng hoạt động sản xuất kinh doanh; Nợ của người nộp thuế chờ giải quyết theo luật phá sản * Nợ chờ xử lý gồm: Nợ của người nộp thuế đang chờ xử lý điều chỉnh; Nợ chờ điều chỉnh do có khiếu nại; Nợ của NNT chờ xoá, miễn giảm; Nợ của NNT được gia hạn khoanh nợ, giãn nợ; Nợ của NNT xử lý hoàn thuế thoái trả tiền thuế; Nợ chờ xử lý khác. - 11 - * Nợ không có khả năng thu gồm: Nợ thuế chậm nộp dưới 30 ngày; Nợ thuế chậm nộp từ 30 đến 90 ngày; Nợ thuế quá 90 ngày. 1.1.6. Nguyên nhân của việc nợ thuế6  Nguyên nhân khách quan - Giai đoạn 2008 – 2012, nền kinh tế gặp khó khăn lớn thể hiện ở những bất ổn kinh tế vĩ mô với hai đợt lạm phát kéo dài vào năm 2008 và cuối năm 2011, ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế toàn cầu cuối năm 2008 và 2009. Lạm phát cao đi kèm với đó là lãi suất vay vốn cao khiến nhiều DN gặp khó khăn về tài chính, không có nguồn tiền để tiến hành sản xuất, kinh doanh cũng như nguồn tiền để nộp thuế. - Ý thức tuân thủ pháp luật các DN kém, sẵn sàng vi phạm pháp luật miễn là đạt được lợi ích cục bộ của bản thân, kể cả DN Nhà nước. - DN nợ nhiều do xây dựng những công trình nhà nước, đòi hỏi phải có khối lượng vốn trong khi tình trạng giải ngân cho DN chậm, dẫn đến chậm trễ nộp thuế. - Sự kém hiệu quả của DN Nhà nước chính là một trong những nguyên nhân khách quan khiến số nợ thuế của khu vực này quá cao và chiếm một tỷ trọng lớn trong tổng số nợ thuế thời gian qua.  Nguyên nhân chủ quan - Tỷ lệ phạt nộp chậm thuế theo Luật Quản lý thuế được điều chỉnh giảm một nửa so với trước đây. Theo đó, trước khi có Luật Quản lý thuế tỷ lệ phạt nộp chậm thuế là 0,1%, còn kể từ 1/7/2007 thì tỷ lệ này chỉ còn là 0,05%. Trong bối cảnh nền kinh tế lạm phát cao như Việt Nam thì tỷ lệ phạt nộp chậm như trên là thấp, không đủ sức nặng kinh tế răn đe người nộp thuế có ý đồ vi phạm. Một số DN sẵn sàng nợ thuế và chấp nhận nộp phạt do nộp thuế chậm vì tỷ lệ này thấp hơn nhiều so với lãi suất vay vốn ngân hàng, kể cả trường hợp tính đến chi phí sau thuế của các khoản này (Do phạt nộp chậm thuế không được tính vào chi phí được trừ khi tính thuế thu nhập DN, còn lãi vay nếu đủ điều kiện là chi phí được trừ nên khi so sánh cần quy đổi lãi vay ngân hàng ra lãi vay sau thuế). 5 Quyết định 1395/QĐ-TCT 6 Tạp chí tài chính, 3-2012 - 12 - Chẳng hạn như, với lãi suất vay vốn trong thời gian gần đây có khi lên tới 26%/năm thì chi phí lãi vay sau thuế của khoản vay này là 19,5%/năm. Trong khi đó, phạt nộp chậm thuế chỉ là 18%/năm. Thời gian gần đây lãi suất vay vốn đã giảm xuống còn 12-14%/năm, nhưng để DN tiếp cận với nguồn vốn vay này không dễ. Thêm vào đó, ngay cả khi lãi suất vay vốn và tỷ lệ phạt nộp chậm thuế tương đồng nhau thì không ít DN vẫn sẵn sàng nộp phạt nộp chậm thuế vì để vay được vốn đòi hỏi những điều kiện rất chặt chẽ, thêm vào đó chi phí thực sự để vay vốn không chỉ nằm ở lãi suất ghi trong hợp đồng vay vốn mà còn phát sinh một số khoản chi khác để có thể vay được vốn. - Hiện chưa có chính sách cho phép DN gặp khó khăn đặc biệt trong sản xuất, kinh doanh được gia hạn nộp thuế và cam kết nộp thuế trên cơ sở phương án sản xuất, kinh doanh khả thi. - Khuôn khổ pháp lý về cưỡng chế nợ thuế chưa hoàn thiện và chưa hợp lý. Hiện Luật Quản lý thuế quy định còn khá cứng nhắc về nguyên tắc thực hiện các biện pháp cưỡng chế nợ thuế. Theo đó, chỉ khi không thực hiện được biện pháp cưỡng chế quy định trước thì mới được thực hiện biện pháp cưỡng chế nợ thuế tiếp theo. Tuy nhiên, những biện pháp khả thi nhất thì lại là biện pháp phải thực hiện sau. - Một số nội dung trong quy trình quản lý nợ chưa hợp lý, đặc biệt là quy định về phân loại nợ thuế. Hiện tại quy trình này mới chỉ hướng dẫn phân loại nợ thuế theo khả năng thu với 3 nhóm là nợ có khả năng thu, nợ khó thu và nợ chờ xử lý. Trong khi đó, nhiều tiêu chí khác cần thiết sử dụng để phân loại nợ hiện chưa được quy định trong quy trình quản lý nợ thuế. - Kỷ luật công tác của nhiều cơ quan thuế chưa nghiêm, số nợ thuế chuyển từ năm trước sang do có hiện tượng một vài cơ quan thuế khi đã hoàn thành chỉ tiêu dự toán nên đã thực hiện chuyển số đối tượng nộp thuế phải nộp sang năm sau gây nên tình trạng số nợ đọng ít đi, báo cáo không trung thực số nợ thuế, giấu giếm khuyết điểm, yếu kém trong quản lý đôn đốc nộp thuế. - 13 - 1.1.7. Hậu quả của việc nợ thuế Thuế càng lớn, mức độ sinh lợi của khoản tiền thuế càng cao, doanh nghiệp lại càng muốn nợ thuế. Trong quá trình thực hiện chính sách thuế của bất cứ thời đại, quốc gia nào, nợ thuế tồn tại là điều hết sức bình thường, tuy nhiên, sẽ là không bình thường nếu như đối tượng nộp thuế cố tình tìm kẽ hở của pháp luật nhằm trì hoãn nghĩa vụ thuế. Nợ thuế không những gây tổn hại cho lợi ích của đất nước mà còn tạo ra sự bất bình đẳng về nghĩa vụ thuế của công dân. Bởi vậy, nhiệm vụ của quản lý thuế là phải phân tích nguyên nhân nợ trên tất cả các mặt có liên quan như: nợ ở sắc thuế nào, đối tượng nợ là ai, cá nhân hay tổ chức, chính sách thuế còn phù hợp thực tiễn hay không, tổ chức thực hiện chính sách thuế đó như thế nào, sự tác động của các chính sách khác đến chính sách thuế ra sao, từ đó tìm ra được giải pháp khắc phục. 1.2. TỔNG QUÁT VỀ QUẢN LÝ THU NỢ THUẾ 1.2.1. Giới thiệu về quy trình quản lý thu nợ đọng thuế 1.2.1.1. Định nghĩa liên quan trong quy trình7 - ―Thuế‖ quy định trong quy trình: Là khoản thu theo quy định của pháp luật, bao gồm các loại thuế, phí, lệ phí, tiền phạt và các khoản thu khác của Ngân sách Nhà nước thuộc phạm vi cơ quan thuế quản lý. - ―Kỳ tính thuế‖: Là khoảng thời gian theo quy định tại các văn bản pháp luật về thuế mà trong khoảng thời gian đó đối tượng nộp thuế phải xác định nghĩa vụ nộp Ngân sách Nhà nước. - ―Kỳ kê khai thuế‖: Là thời gian mà đối tượng nộp thuế phải thực hiện kê khai số thuế phải nộp theo kỳ tính thuế và phải nộp tờ khai cho cơ quan thuế theo quy định của pháp luật về thuế. - ―Hạn nộp thuế‖: Là ngày cuối cùng một khoản thuế phát sinh phải được nộp đầy đủ vào Ngân sách Nhà nước theo quy định của pháp luật về thuế. - ―Tiền nợ thuế‖: Là số tiền thuế được xác định phải nộp vào Ngân sách Nhà nước nhưng đã hết hạn nộp theo quy định của pháp luật về thuế mà chưa được nộp hoặc chưa nộp đủ vào Ngân sách Nhà nước. - 14 - - ―Khoản nợ‖:Là số tiền thuếcòn nợ được xác định theo từng lần phát sinh. - ―Thời điểm bắt đầu nợ thuế‖: Là ngày đầu tiên kể từ sau ngày hết hạn nộp thuế theo quy định của pháp luật về thuế. - ―Thời điểm kết thúc tính nợ‖: Là ngày đầu tiên kể từ sau ngày khoản nợ đã được đối tượng nộp thuế tự nguyện nộp đầy đủ vào NSNN; hoặc đã được xoá nợ theo chính sách của Nhà nước; hoặc được miễn nộp theo quy định; hoặc đã được xử lý bằng hình thức kê biên tài sản để bán đấu giá; hoặc đã được thu hồi theo lệnh thu Ngân sách. - ―Tuổi nợ‖: Là khoảng thời gian một khoản thuế nợ chưa được nộp hoặc chưa nộp đủ vào Ngân sách Nhà nước tính từ thời điểm tính nợ thuế đến thời điểm khoản nợ đó được xác định tuổi. (Tuổi nợ được tính theo ngày bao gồm cả ngày nghỉ theo quy định của Bộ Luật lao động). - ―Mức nợ‖: Là số tiền thuế còn nợ tính bằng đồng Việt Nam. - ―Tiền phạt nộp chậm thuế‖: Là khoản tiền phạt được tính trên số tiền thuế nợ trong thời gian kể từ thời điểm nợ đến ngày số tiền thuế nợ đó được nộp vào NSNN (Bao gồm cả ngày nghỉ theo quy định tại Bộ luật Lao động). - ―Khả năng thanh toán nợ thuế‖: Là khả năng nộp các khoản nợ thuế trong hiện tại và tương lai của đối tượng nộp thuế đang nợ thuế. 1.2.1.2. Mục đích của việc ban hành quy trình quản lý thu nợ - Đảm bảo thi hành tốt các Luật thuế, Pháp lệnh thuế và các văn bản hướng dẫn về thuế. - Nâng cao năng lực quản lý có hiệu quả của cơ quan thuế theo pháp luật thuế và cải cách hành chính thuế. - Nâng cao tính tuân thủ của các tổ chức, cá nhân trong việc thực hiện nộp đúng, nộp đủ, nộp kịp thời các khoản thu theo chế độ quy định vào Ngân sách Nhà nước. - Quy định những bước công việc, thời gian thực hiện và mối quan hệ giữa các bộ phận tại cơ quan thuế các cấp trong công tác quản lý thu nợ thuế. 7 Quyết định 477/QĐ-TCT - 15 - 1.2.1.3. Các bước trong quy trình quản lý thu nợ thuế Bao gồm các bước được tóm tắt như sau : * Lập kế hoạch quản lý thu nợ năm : Xây dựng chỉ tiêu quản lý thu nợ năm; Lập kế hoạch quản lý thu nợ năm; Điều chỉnh kế hoạch; Thực hiện kế hoạch thu nợ năm. * Thực hiện quản lý thu nợ : Phân loại nợ; Thực hiện thu nợ thuế đối với nhóm nợ thông thường; Quản lý thu nợ đối với nhóm nợ chờ xử lý; Quản lý thu nợ đối với nhóm nợ khó thu; Lưu hồ sơ * Báo cáo kết quả thực hiện công tác quản lý thu nợ thuế : Lập báo cáo; Tổng hợp báo cáo; Đánh giá kết quả thực hiện kế hoạch thu nợ hàng năm. Trong đó việc các giai đoạn thu nợ thông thường được tóm tắt theo sơ đồ sau: Thông báo lần 1 Biện pháp nhắc nhở Thông báo lần 2 Trích tài khoản tiền gửi Biện pháp thu nợ Ngừng bán, đình chỉ sử dụng hoá đơn Biện pháp thu nợ Ngừng các thủ tục xuất nhập khẩu hàng hoá Thông báo cho thông tin đại chúng Kê biên tài sản Chuyển hồ sơ cho các cơ quan pháp luật Sơ đồ 1.1 : trình tự các giai đoạn thu nợ thông thƣờng - 16 - 1.2.2 Những nhân tố ảnh hưởng đến công tác quản lý thu nợ  Nhân tố khách quan Từ khi chuyển đổi cơ chế từ cơ chế bao cấp sang cơ chế thị trường, nước ta đã mở cửa quan hệ hợp tác với các nước trong khu vực và trên thế giới, việc thông thương hàng hóa qua cửa khẩu thuận tiện. Đây là một nhân tố tích cực, nhưng ngược lại nếu không được quản lý thì nó sẽ tác động xấu đến việc phát triển kinh tế và làm ảnh hưởng đến nguồn thu cho đến việc phát triển kinh tế và làm ảnh hưởng đến nguồn thu cho ngân sách Nhà nước dẫn đến có nguy cơ làm mất công bằng trong xã hội. Do đó, ngày 17/5/2011 Thủ tướng Chính phủ đã có quyết định số 732/QĐTTg về việc phê duyệt chương trình cải cách hệ thống thuế đến năm 2020, trong đó mục tiêu tổng quát là ―Mục tiêu của chiến lược cải cách thuế lần này là nhằm xây dựng hệ thống chính sách thuế đồng bộ, thống nhất, công bằng, hiệu quả phù hợp với thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN đồng thời xây dựng công tác quản lý thuế minh bạch, đơn giản, dễ hiểu, dễ thực hiện dựa trên ba nền tảng cơ bản: Thể chế chính sách thuế minh bạch, quy trình thủ tục hành chính thuế đơn giản, khoa học phù hợp với thông lệ quốc tế; Nguồn nhân lực có chất lượng, liêm chính; Ứng dụng công nghệ thông tin hiện đại, có tính liên kết, tích hợp, tự động hoá cao‖. Cụ thể lộ trình cải cách thuế được thể hiện như sau : - Thuế giá trị gia tăng: Hoàn thiện theo hướng giảm bớt số lượng nhóm hàng hóa, dịch vụ không chịu thuế tạo điều kiện cho việc tính thuế, khấu trừ thuế được liên hoàn giữa các khâu trong quá trình sản xuất kinh doanh; áp dụng một mức thuế suất để đảm bảo công bằng về nghĩa vụ thuế và đơn giản trong việc tính thuế giá trị gia tăng của hàng hóa, dịch vụ; hoàn thiện phương pháp tính thuế, tiến tới xác định ngưỡng doanh thu chịu thuế giá trị gia tăng để thực hiện một phương pháp khấu trừ, phù hợp với thông lệ quốc tế. - Thuế xuất - nhập khẩu : Hoàn thiện Luật thuế xuất nhập khẩu theo hướng khuyến khích tối đa xuất khẩu, sửa đổi các quy định về thuế xuất, giá tính thuế, thời hạn nộp thuế để thực hiện cam kết và thông lệ quốc tế; sửa đổi quy trình, thủ tục - 17 - nộp thuế cho phù hợp với Luật Hải quan, góp phần tăng cường quản lý hoạt động xuất, nhập khẩu theo cam kết quốc tế. - Thuế thu nhập doanh nghiệp : Sẽ hoàn thiện theo hướng giảm mức thuế suất, giảm diện miễn giảm thuế; thống nhất mức thuế suất và ưu đãi thuế giữa các thành phần kinh tế để đảm bảo khuyến khích đầu tư và bảo đảm bình đẳng trong cạnh tranh. - Thuế tiêu thụ đặc biệt : Hoàn thiện theo hướng mở rộng đối tượng chịu thuế tiêu thụ đặc biệt, điều chỉnh thuế suất thuế tiêu thụ đặc biệt cho phù hợp với mục tiêu điều tiết thu nhập và hướng dẫn tiêu thụ. Tiến tới xoá bỏ miễn, giảm thuế tiêu thụ đặc biệt để đảm bảo công bằng, bình đẳng về nghĩa vụ thuế và nguyên tắc không phân biệt đối xử giữa hàng hóa sản xuất trong nước và hàng nhập khẩu. - Thuế sử dụng đất, thuế tài nguyên : Hoàn thiện theo hướng mở rộng đối tượng chịu thuế và đối tượng nộp thuế. - Thuế bảo vệ môi trường : Sẽ hoàn thiện Luật thuế bảo vệ môi trường theo hướng đối tượng chịu thuế là các sản phẩm hàng hóa, dịch vụ gây ô nhiễm môi trường; căn cứ tính thuế được xác định phù hợp với từng loại hàng hóa, dịch vụ gây ô nhiễm môi trường. Nguồn thu này chỉ dùng riêng cho mục đích bảo vệ môi trường, sẽ không sử dụng cho mục đích khác. - Thuế tài sản : Đến 2015 sẽ trình Quốc hội ban hành Luật thuế tài sản theo hướng mở rộng đối tượng tài sản chịu thuế để đảm bảo công bằng giữa các tổ chức, cá nhân có quyền sở hữu, sử dụng tài sản. - Phí, lệ phí : được sắp xếp theo hướng tiếp tục rà soát, bãi bỏ hoặc sửa đổi các loại phí, lệ phí không hợp lý gây cản trở sản xuất và ảnh hưởng đến đời sống. Các loại phí thu do cung cấp dịch vụ công sẽ chuyển dần sang giá dịch vụ, các loại phí mang tính chất thuế chuyển thành thuế, thống nhất mức thu phí và lệ phí đối với các tổ chức, cá nhân trong nước và tổ chức, cá nhân nước ngoài để thực hiện công bằng xã hội. - Thuế thu nhập cá nhân : Mở rộng đối tượng nộp thuế, thu hẹp sự khác biệt giữa đối tượng nộp thuế là người Việt Nam với người nước ngoài. - 18 -  Nhân tố chủ quan Chính sách, pháp luật của Nhà nước với vai trò là công cụ quản lý, giúp cho nhà quản lý thực hiện được các mục tiêu đề ra. Chính sách phù hợp với điều kiện khách quan và các nhân tố chủ quan thì chính sách mới chỉ thành công trên phương tiện lý thuyết mà mục tiêu quản lý chưa thực hiện được. Quản lý là khoa học và cũng là nghệ thuật. Để chính sách đi vào cuộc sống, được xã hội chấp nhận và thực hiện theo thì khi đề ra chính sách các nhà quản lý phải tính đến nhân tố con người làm cốt lõi. Chính vì vậy một chủ trương sai, một chính sách sai sẽ dẫn đến hậu quả không theo mong đợi và sẽ gây cản trở cho phát triển kinh tế, ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống sinh hoạt của người dân. Khi thực hiện chính sách pháp luật thuế cần đảm bảo tính nghiêm minh, ý thức trách nhiệm, nghĩa vụ của cơ quan thu thuế đến đối tượng nộp thuế.  Đối với cơ quan thuế Là hệ thống tổ chức quản lý thuế thống nhất trong cả nước; chịu sự lãnh đạo của ngành dọc và chính quyền địa phương. Công tác quản lý thuế theo chế độ người nộp thuế tự tính thuế, tự kê khai và nộp thuế theo thông báo cảu cơ quan thuế. Tổ chức quản lý thuế được tổ chức thành 3 bộ phận độc lập : Bộ phận cấp đăng ký mã số thuế, nhận và kiểm tra tờ khai thuế; Bộ phận tính thuế thông báo nộp thuế và đôn đốc thu nộp thuế; Bộ phận thanh tra : kiểm tra, xử lý vi phạm về thuế. Hiện nay Ngành Thuế từng bước thực hiện chuyên môn hoá quản lý thuế theo chức năng, nâng cao trình độ cán bộ thuế; hiện đại hóa toàn diện công tác quản lý thuế cả về phương pháp quản lý, thủ tục hành chính, bộ máy tổ chức, đội ngũ cán bộ, áp dụng công nghệ thông tin để nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác, quản lý, kiểm soát các đối tượng chịu thuế, đối tượng nộp thuế; nâng cao trình độ và phẩm chất đạo đức của cán bộ thuế theo hướng chuyên sâu, chuyên nghiệp; tạo môi trường dân chủ, lành mạnh trong cơ quan thông qua việc ban hành chế độ làm việc, có sự giám sát kiểm tra giữa các tổ chức và cá nhân. - 19 -  Đối với người nộp thuế : Trình độ hiểu biết về thuế, ý thức chấp hành các luật, pháp lệnh về thuế của đại bộ phận nhân dân còn hạn chế; tình trạng trốn thuế, gian lận thuế, nợ đọng thuế còn diễn ra khá phổ biến ở nhiều nơi.  Đối với các cơ quan có liên quan : Sự phối hợp giữa các cơ quan với nhau còn thiếu chặt chẽ, đồng bộ; một số cán bộ thuế còn thiếu phẩm chất đạo đức và nghiệp vụ yếu kém dẫn đến khi thực hiện chính sách thuế. 1.2.3. Nội dung cơ bản cuả công tác quản lý thu nợ5  Phân công công chức quản lý nợ Căn cứ chức năng nhiệm vụ của bộ phận quản lý nợ và cưỡng chế thu nợ thuế các cấp phụ trách bộ phận phân công công việc cho từng công chức để thực hiện công tác quản lý nợ. Ở mỗi bộ phận quản lý nợ có bộ phận tổng hợp và bộ phận trực tiếp quản lý người nợ thuế (do trưởng bộ phận quản lý nợ các cấp phân công). Công chức quản lý nợ phải thường xuyên nắm tình hình nợ thuế của từng đối tượng nợ thuế do mình phụ trách, xác định rõ nguyên nhân và tình trạng nợ để áp dụng các biện pháp phù hợp theo quy định của pháp luật để người nợ thuế nộp số thuế còn nợ vào Ngân sách Nhà nước.  Lập sổ theo dõi nợ thuế Căn cứ vào phân loại nợ thuế, công chức quản lý nợ thực hiện rà soát từng trường hợp nợ của từng người nợ thuế còn nợ thuế tháng trước chuyển sang và nợ mới phát sinh tháng này theo nguyên nhân, tình trạng và tuổi nợ để phân loại các khoản nợ. Công chức thực hiện việc phân loại phải chịu trách nhiệm về tính chính xác của việc phân loại nợ. - Sau khi phân loại nợ, công chức quản lý nợ cập nhật kết quả phân loại nợ vào Sổ theo dõi nợ thuế của từng người nợ thuế (theo mẫu 02-QTR-QLN ban hành kèm theo quy trình này), chuyển cho bộ phận tổng hợp để tổng hợp nợ của toàn bộ phận. - Căn cứ vào Sổ theo dõi thu nộp thuế của cơ quan thuế, công chức quản lý nợ phải tiến hành lập và mở sổ theo dõi nợ thuế theo từng người nợ thuế để ghi chép, phản ánh toàn bộ tình hình nợ thuế của người nợ thuế từ bộ phận kê khai và kế toán thuế chuyển sang. - 20 - - Sổ theo dõi nợ thuế được lập chi tiết cho từng người nợ thuế. Công chức quản lý nợ thuế phải cập nhật đầy đủ, kịp thời kết quả thực hiện công tác quản lý thu nợ thuế vào sổ theo dõi nợ thuế ngay khi có các hoạt động liên quan đến công tác thu nợ thuế. - Sổ theo dõi nợ thuế được lập theo từng tháng. Hàng tháng vào ngày làm việc cuối cùng của tháng, căn cứ Sổ theo dõi nợ thuế, công chức quản lý nợ phải kết chuyển sổ theo dõi nợ sang tháng sau. - Sau ngày 10 hàng tháng, bộ phận quản lý nợ được giao nhiệm vụ tổng hợp công tác quản lý thu nợ của Cục Thuế, Chi cục Thuế phải lập Sổ tổng hợp theo dõi nợ thuế theo mẫu 03-QTR-QLN ban hành kèm theo quy trình này (Chi cục Thuế gửi lên Cục Thuế để tổng hợp chung). Bộ phận quản lý nợ của Cục Thuế tổng hợp chung toàn Cục, đồng thời in và lưu Sổ tổng hợp theo dõi nợ thuế mẫu 03-QTRQLN tại bộ phận quản lý nợ.  Quản lý nợ và xử lý thu nợ Căn cứ vào Sổ theo dõi nợ thuế, công chức được phân công theo dõi và quản lý nợ phải thực hiện các công việc sau:  Đối với nhóm nợ khó thu Căn cứ vào Sổ theo dõi nợ thuế, công chức được phân công theo dõi và quản lý các trường hợp thuộc nhóm nợ khó thu phải thực hiện các công việc cụ thể cho từng trường hợp nợ như sau: - Nợ của người nợ thuế lâm vào tình trạng giải thể, phá sản, nhưng chưa tuyên bố giải thể, phá sản: công chức quản lý nợ lập hồ sơ trình lãnh đạo cơ quan thuế yêu cầu người nợ thuế giải trình về việc chưa nộp được tiền thuế, tiền phạt. Đồng thời gửi thông báo tới các cơ quan chức năng liên quan về tình trạng nợ thuế để được xử lý theo quy định của luật Luật Doanh nghiệp. Luật Phá sản, kiến nghị các biện pháp cưỡng chế thu hồi nợ. Nợ của người nợ thuế đã có quyết định giải thể hoặc tuyên bố phá sản: công chức quản lý nợ thu thập thông tin, hồ sơ, chứng từ, thủ tục phá sản của người nợ
- Xem thêm -