Tài liệu Sử dụng vốn kinh doanh và hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh của doanh nghiệp

  • Số trang: 75 |
  • Loại file: DOC |
  • Lượt xem: 14 |
  • Lượt tải: 0
hoangtuavartar

Tham gia: 05/08/2015

Mô tả:

Luận văn tốt nghiệp Khoa Tài chính doanh nghiệp Chương I NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN TRONG VIỆC SỬ DỤNG VỐN KINH DOANH VÀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP 1.1. Vốn kinh doanh và vai trò của vốn kinh doanh trong nền kinh tế thị trường 1.1.1. Khái niệm và đặc trưng của vốn kinh doanh của DN. 1.1.1.1. Khái niệm của vốn kinh doanh Trong cơ chế thị trường, mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp từ khi bỏ vốn vào sản xuất cho đến khi tiêu thụ sản phẩm, thu hồi vốn đều diễn ra một cách tuần hoàn liên tục và gắn bó mật thiết với thị trường, xuất phát từ nhu cầu thị trường. Tất cả các hoạt động sản xuất kinh doanh cũng như các giai đoạn vận động tuần hoàn của vốn đều được tiến hành bởi các doanh nghiệp. Doanh nghiệp được hiểu là một tổ chức được thành lập nhằm mục đích chủ yếu là thực hiện các hoạt động sản xuất và kinh doanh để kiếm lời trên các lĩnh vực sản xuất vật chất, thương mại, dịch vụ, có tư cách pháp nhân và thuộc mọi thành phần kinh tế. Tuy nhiên để tiến hành bất cứ hoạt động sản xuất kinh doanh nào, doanh nghiệp cũng cần đến vốn. Vốn là điều kiện tiên quyết và có ý nghĩa quyết định đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Vậy vốn kinh doanh của doanh nghiệp là gì? Theo học thuyết kinh tế cổ điển và cổ điển mới, vốn là một trong các yếu tố đầu vào để sản xuất kinh doanh cũng như đất đai, lao động…Vốn là các sản phẩm được dùng để phục vụ cho sản xuất (máy móc, thiết bị, nguyên vật liệu…). Như vậy, theo quan điểm này vốn chủ yếu được xét dưới góc độ hiện vật. Theo các nhà kinh tế học hiện đại: David Begg, Stanlei Ficher, Rudiger Darnbusch, vốn gồm hai loại là vốn hiện vật và vốn tài chính. Vốn hiện vật là SV: Nguyễn thị Châu Loan – K43/11.02 1 Luận văn tốt nghiệp Khoa Tài chính doanh nghiệp các hàng hoá được sản xuất ra để sản xuất hàng hoá khác. Vốn tài chính là các giấy tờ có giá và tiền mặt của doanh nghiệp được dùng cho hoạt động sản xuất kinh doanh. Theo K.Marx vốn là tư bản (capital), là giá trị mang lại giá trị thặng dư. Theo đó vốn được xem xét dưới giác độ giá trị, là một yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất. Quan điểm này có tính chất khái quát cao, có ý nghĩa thực tiễn đến tận ngày nay, tuy nhiên nó hạn chế ở chỗ vốn luôn tạo giá trị thặng dư và chỉ ở khu vực sản xuất mới tạo ra giá trị thặng dư cho nền kinh tế. Theo quan điểm của nhiều nhà kinh tế học hiện nay và theo giáo trình tài chính doanh nghiệp của Học Viện Tài Chính thì “vốn kinh doanh trong các doanh nghiệp là một loại quỹ tiền tệ đặc biệt…”. Tiền được gọi là vốn khi tiền đồng thời thoả mãn các điều kiện sau: - Tiền phải đại diện cho một lượng hàng hoá nhất định. Hay nói cách khác tiền phải đảm bảo bằng một lượng tài sản có thực, đủ để tiến hành kinh doanh. - Tiền phải được tích tụ và tập trung đến một lượng nhất định, đủ để tiến hành kinh doanh. - Khi có đủ về lượng, tiền phải được vận động nhằm mục đích sinh lời. Điều kiện 1 và 2 được coi là điều kiện ràng buộc (điều kiện cần) để tiền trờ thành vốn, điều kiện 3 được coi là đặc trưng cơ bản nhất của vốn (điều kiện đủ). Bởi vì tiền không vận động thì đó là đồng tiền “chết”, còn nếu vận động mà không nhằm mục đích sinh lời thì cũng không phải là vốn. Sự vận động của vốn trong quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp thể hiện qua sơ đồ sau: TLLĐ T-------H SLĐ -------------- SẢN XUẤT--------H’-----------T’ ĐTLĐ SV: Nguyễn thị Châu Loan – K43/11.02 (Trong đó T’ > T) 2 Luận văn tốt nghiệp Khoa Tài chính doanh nghiệp Mở đầu của quá trình sản xuất, vốn kinh doanh mang hình thái tiền tệ (T). Sau đó doanh nghiệp dùng tiền này để đầu tư, mua sắm tư liệu lao động (TLLĐ), đối tượng lao động (ĐTLĐ) và thuê sức lao động (SLĐ) để phục vụ cho quá trình sản xuất. Lúc này vốn đầu tư từ hình thái tiền tệ trở thành hình thái các yếu tố của quá trình sản xuất. Quá trình sản xuất được tiến hành, tạo ra sản phẩm hàng hoá và vốn tồn tại dưới dạng tư bản hàng hoá. Cuối cùng, khi tiêu thụ hàng hoá xong, vốn kinh doanh lại từ trạng thái hàng hoá chuyển sang hình thái tiền tệ tức trở về hình thái ban đầu. Trong quá trình vận động, vốn có thể thay đổi hình thái biểu hiện, nhưng điểm xuất phát và điểm kết thúc phải là giá trị (T’ > T). Song nếu tiền vận động không quay về nơi xuất phát với giá trị lớn hơn thì đồng vốn cũng không hiệu quả. Điều đó sẽ ảnh hưởng đến chu kỳ vận động tiếp theo của vốn. Vậy, trong quá trình vận động tuần hoàn thì vốn phải được bảo toàn giá trị và lớn dần lên. Ngoài ra, tuỳ theo từng đặc điểm loại hình doanh nghiệp mà phương thức vận động của vốn có đơn giản hơn. Với doanh nghiệp kinh doanh tiền tệ, vốn vận động theo công thức (T-T’). Với các doanh nghiệp thương mại dịch vụ, sự vận động của vốn thể hiện qua phương thức: T – H – T’. Nhờ có sự vận động đó, đồng vốn mới có khả năng bảo toàn và sinh lời. Từ những phân tích trên, chúng ta có thể đi đến định nghĩa tổng quát về vốn: “Vốn kinh doanh của doanh nghiệp là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ tài sản được đầu tư vào sản xuất kinh doanh nhằm mục đích sinh lời”. 1.1.1.2. Đặc trưng của vốn kinh doanh Trong nền kinh tế thị trường, cơ chế bao cấp thông qua giá, qua cấp phát vốn, vật tư không còn tồn tại. Cùng với sự tác động của các quy luật kinh tế thị trường, tính cơ động và tầm quan trọng của vốn được nâng lên. Doanh nghiệp có quyền sử dụng đồng vốn một cách linh hoạt nhằm tạo điều kiện tốt nhất cho hoạt SV: Nguyễn thị Châu Loan – K43/11.02 3 Luận văn tốt nghiệp Khoa Tài chính doanh nghiệp động sản xuất kinh doanh. Vì vậy để quản lý tốt và không ngừng nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, nhà quản lý doanh nghiệp cần nhận thức đầy đủ hơn về những đặc trưng của vốn, đó là: Một là: Vốn phải được đại diện bằng một lượng giá trị thực của tài sản. Vốn được biểu hiện bằng những giá trị của tài sản hữu hình hoặc vô hình như nhà xưởng, đất đai, máy móc thiết bị, nguyên nhiên vật liệu, chất xám, thông tin… Hai là: Vốn phải được vận động để sinh lời. Vốn được biểu hiện bằng tiền, nhưng tiền chỉ là dạng tiềm năng của vốn. Để tiền trở thành vốn, tiền phải được sử dụng cho mục đích kinh doanh, tiền phải vận động để sinh lời. Trong quá trình vận động, đồng vốn có thể thay đổi hình thái biểu hiện nhưng điểm xuất phát và điểm cuối cùng của vòng tuần hoàn phải là giá trị và giá trị tăng lên. Ba là: Vốn phải được tích tụ tập trung đến một lượng nhất định mới phát huy tác dụng. Vốn phải đạt đến một đai lượng đủ lớn mới có thể hoạt động để sinh lời. Để đầu tư kinh doanh, các doanh nghiệp không chỉ khai thác tiềm năng về vốn của chủ doanh nghiệp mà còn phải tìm cách thu hút các nguồn vốn bên ngoài như kêu gọi góp vốn, phát hành cổ phiểu, trái phiếu, liên doanh liên kết. Bốn là: Vốn có giá trị về mặt thời gian. Điều này cũng có ý nghĩa là các doanh nghiệp phải xem xét yếu tố thời gian vận động của vốn. Trong điều kiện nền kinh tế thị trường hội nhập, do ảnh hưởng của giá cả, lạm phát nên sức mua hay giá trị của dồng tiền ở các thời điểm khác nhau cũng khác nhau. Bởi vậy sự bảo toàn giá trị và mức sinh lời của vốn phải tính tới những biến động của giá cả hàng hoá và giá trị đồng tiền. Mặt khác vốn tồn tại dưới dạng tài sản cố định sẽ bị hao mòn vô hình rất nhanh, tỷ suất SV: Nguyễn thị Châu Loan – K43/11.02 4 Luận văn tốt nghiệp Khoa Tài chính doanh nghiệp khấu hao nhanh nên cần phải tính đến thời gian vận động sinh lời của vốn kinh doanh. Năm là: Vốn phải được gắn với chủ sở hữu nhất định. Khi đồng vốn gắn với chủ sỡ hữu nhất định thì mới hướng người ta quan tâm đến hiệu quả sử dụng vốn, bởi đó chính là lợi ích của chính họ. Sáu là: Trong nền kinh tế thị trường, vốn phải được quan niệm là hàng hoá song đó là một loại “hàng hoá đặc biệt”. Một nét “đặc biệt” khác của hàng hoá vốn so với hàng hoá thông thường là: khi được trao đổi “mua bán” trên thị trường, quyền sở hữu vốn không mất đi mà chỉ mất đi quyền sử dụng vốn (gọi là chi phí sử dụng vốn). Nói cách khác, vốn là loại hàng hoá mà người bán không bán quyền sở hữu mà chỉ nhượng quyền sử dụng. Những phân tích trên cho thấy: trong nền kinh tế thị trường, phạm trù vốn phải được nhận thức một cách phù hợp. Việc nhận thức đầy đủ và đúng đắn về vốn trong điều kiện nền kinh tế vận động theo cơ chế thị trường góp phần giúp cho doanh nghiệp quản lý và sử dụng vốn có hiệu quả hơn. 1.1.2. Phân loại vốn kinh doanh. Vốn kinh doanh có thể phân loại theo nhiều tiêu thức khác nhau, tuỳ thuộc vào yêu cầu, mục đích nghiên cứu và quản lý. 1.1.2.1. Dựa vào vai trò và đặc điểm luân chuyển giá trị của vốn khi tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh. VKD của DN được chia thành 2 loại là vốn cố định (VCĐ) và vốn lưu động (VLĐ) - Vốn cố định của DN : VCĐ của DN là một bộ phận của vốn đầu tư ứng trước về tài sản cố định hữu hình và vô hình với đặc điểm của nó là tham gia vào SV: Nguyễn thị Châu Loan – K43/11.02 5 Luận văn tốt nghiệp Khoa Tài chính doanh nghiệp nhiều chu kỳ sản xuất, luân chuyển giá trị dần dần từng phần sau mỗi chu kỳ sản xuất và hoàn thành một vòng tuần hoàn khi tài sản cố định hết thời hạn sử dụng. Có thể khái quát những nét đặc trưng của VCĐ trong quá trình SXKD như sau: + Giá trị VCĐ được luân chuyển dần dần từng phần trong các chu kỳ SXKD. Khi tham gia vào quá trình SX một bộ phận VCĐ được luân chuyển vào giá trị sản phẩm theo mức độ hao mòn của TSCĐ . + Sau nhiều chu kỳ sản xuất VCĐ mới hoàn thành một vòng luân chuyển khi TSCĐ hết thời hạn sử dụng. Sau mỗi chu kỳ sản xuất phần VCĐ được luân chuyển vào giá trị sản phẩm tăng lên, phần vốn đầu tư ban đầu vào TSCĐ giảm tương ứng cho đến khi TSCĐ hết thời hạn sử dụng giá trị của nó được dịch chuyển hết vào giá trị sản phẩm đã sản xuất thì VCĐ mới hoàn thành một vòng luân chuyển. Từ những đặc điểm trên của VCĐ đòi hỏi việc quản lý VCĐ phải luôn gắn liền với việc quản lý hình thái hiện vật của nó là TSCĐ của DN. - Vốn lưu động của DN : Vốn lưu động của DN là một bộ phận của Vốn kinh doanh. Nó là số vốn tiền tệ ứng trước để hình thành nên TSLĐ nhằm đảm bảo cho quá trình kinh doanh của DN được thực hiện thường xuyên liên tục. Vốn lưu động của DN có một số đặc điểm sau: + Do VLĐ vận động liên tục qua nhiều hình thái khác nhau bắt đầu từ hình thái tiền tệ sang hình thái dự trữ vật tư, hàng hoá sản xuất, lưu thông và cuối cùng trở về hình thái tiền tệ ban đầu sau một chu kỳ kinh doanh. + Vốn lưu động dịch chuyển toàn bộ giá trị một lần vào giá trị sản phẩm tạo ra. + Vốn lưu động hoàn thành một vòng tuần hoàn sau một chu kỳ SXKD và được thu hồi toàn bộ một lần khi DN tiêu thụ được sản phẩm và thu được tiền. SV: Nguyễn thị Châu Loan – K43/11.02 6 Luận văn tốt nghiệp Khoa Tài chính doanh nghiệp + Trong quá trình hoạt động SXKD của DN, vốn lưu động không ngừng vận động qua các giai đoạn của chu kỳ KD: Dự trữ - sản xuất - lưu thông, quá trình này diễn ra liên tục, thường xuyên lặp đi lặp lại theo chu kỳ và được gọi là quá trình luân chuyển của VLĐ. Từ những đặc điểm đó công tác quản lý VLĐ được quan tâm, chú ý từ việc xác định nhu cầu vốn lưu động thường xuyên cần thiết, huy động nguồn tài trợ và sử dụng vốn phải phù hợp sát với tình hình thực tế SXKD. Đồng thời áp dụng các biện pháp thích ứng nhằm tổ chức quản lý và sử dụng vốn lưu động sao cho đẩy nhanh tốc độ chu chuyển vốn lưu động, tăng hiệu suất sử dụng VLĐ và tăng hiệu quả sử dụng VLĐ của DN. 1.1.2.2. Căn cứ vào hình thái biểu hiện của vốn. Căn cứ vào hình thái biểu hiện của vốn người ta chia VKD thành hai loại: Vốn bằng tiền và Vốn hiện vật. - Vốn bằng tiền: Bao gồm các khoản vốn tiền tệ như tiền mặt tồn quỹ, tiền gửi ngân hàng, vốn trong thanh toán và các khoản đầu tư ngắn hạn. Ngoài ra vốn bằng tiền của DN còn bao gồm cả những giấy tờ có giá để thanh toán. - Vốn hiện vật: Là các khoản vốn có hình thái biểu hiện cụ thể bằng hiện vật như: tài sản cố định, nguyên liệu vật liệu, sản phẩm dở dang, thành phẩm, hàng hoá. Đối với mỗi một DN khác nhau, tuỳ theo từng đặc điểm kinh doanh mà lựa chọn các tiêu thức phân loại VKD khác nhau. Việc phân loại VKD có ý nghĩa quan trọng, giúp cho việc quản lý và sử dụng VKD mang lại hiệu quả hơn. 1.1.3. Nguồn vốn kinh doanh của DN trong nền KTTT. Để quản lý và sử dụng VKD có hiệu quả thì DN phải xem xét nguồn hình thành vốn để có phương án huy động vốn, tạo ra cơ cấu nguồn vốn tối ưu góp phần tăng hiệu quả hoạt động của DN. Để làm được điều đó DN cần phải phân SV: Nguyễn thị Châu Loan – K43/11.02 7 Luận văn tốt nghiệp Khoa Tài chính doanh nghiệp loại nguồn VKD theo từng tiêu thức nhất định, có nhiều tiêu thức khác nhau để phân loại nguồn vốn: 1.1.3.1. Căn cứ vào quyền sở hữu vốn Theo tiêu thức này nguồn VKD của DN được hình thành từ nguồn vốn chủ sở hữu và nợ phải trả. - Nguồn vốn chủ sở hữu (NVCSH): Là phần vốn thuộc quyền sở hữu của chủ DN bao gồm: Vốn điều lệ do chủ sở hữu đầu tư và phần vốn tự bổ sung từ lợi nhuận để lại và các quỹ của DN. Tỷ trọng VCSH trong tổng nguồn vốn của DN thể hiện mức độ tự chủ về tài chính của DN. Nên tỷ trọng của nó trong tổng nguồn vốn càng lớn chứng tỏ sự độc lập về tài chính của DN càng lớn, khả năng đi vay của DN càng dễ dàng thực hiện và ngược lại. Nguồn VCSH có thể được xác định bằng công thức: NVCSH = Tổng giá trị tài sản của DN – Nợ phải trả - Nợ phải trả : Là tất cả các khoản nợ phát sinh trong quá trình SXKD mà DN phải có trách nhiệm thanh toán như: Vốn chiếm dụng, các khoản nợ vay. + Vốn chiếm dụng: Là toàn bộ số nợ phải trả cho người cung cấp, số phải nộp Ngân sách chưa đến hạn nộp, phải trả công nhân viên chưa đến hạn trả. + Các khoản nợ vay: Bao gồm nợ vay ngân hàng, nợ tín phiếu, nợ trái phiếu của các DN … 1.1.3.2. Căn cứ vào thời gian hoạt động và sử dụng nguồn vốn: Theo tiêu thức này nguồn vốn KD của DN được chia thành: Nguồn vốn thường xuyên và nguồn vốn tạm thời . - Nguồn vốn thường xuyên : Là nguồn vốn mang tính chất ổn định và dài hạn mà DN có thể sử dụng để đầu tư XDCB, mua sắm TSCĐ và tài trợ một phần TSLĐ tối thiểu thường xuyên cần thiết cho hoạt động KD của DN. Nguồn vốn thường xuyên được xác định như sau: SV: Nguyễn thị Châu Loan – K43/11.02 8 Luận văn tốt nghiệp Khoa Tài chính doanh nghiệp Nguồn vốn thường xuyên = Giá trị tổng tài sản – Nợ ngắn hạn Hoặc = Vốn chủ sở hữu + Nợ dài hạn - Nguồn vốn tạm thời: Là nguồn vốn có tính chất ngắn hạn mà DN có thể sử dụng để đáp ứng nhu cầu về vốn mang tính chất tạm thời. Các khoản này thường phát sinh trong quá trình SXKD của DN như : vay ngắn hạn ngân hàng và các tổ chức tín dụng, các khoản nợ khác ... Qua nghiên cứu vấn đề trên đặt ra một đòi hỏi cho các DN hiện nay là một mặt phải tăng cường quản lý và sử dụng vốn SXKD đạt hiệu quả, mặt khác phải chủ động khai thác các nguồn vốn một cách hợp lý đảm bảo kịp thời nhu cầu vốn cho hoạt động SXKD đầy đủ với chi phí thấp nhất. 1.2. Hiệu quả sử dụng vốn và sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của DN. 1.2.1. Hiệu quả sử dụng vốn. Vốn là tiền đề vật chất để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh, là tiền đề xuyên suốt trong quá trình sản xuất kinh doanh. Các DN muốn tồn tại và phát triển cần phải quan tâm đến việc bảo toàn và sử dụng vốn một cách có hiệu quả. Hiệu quả sử dụng vốn cũng được hiểu theo các góc độ khác nhau: +) Các nhà đầu tư cho rằng hiệu quả sử dụng vốn được được đánh giá thông qua tỷ suất sinh lời mà nhà đầu tư đòi hỏi mà DN có thể đáp ứng được khi họ đầu tư vào DN. +) Đứng trên giác độ DN, hiệu quả sử dụng vốn được đánh giá thông qua tỷ suất lợi nhuận ròng thực tế (đã loại trừ ảnh hưởng của yếu tố lạm phát). Lợi ích thu được từ việc sử dụng vốn phải đáp ứng yêu cầu của DN và nhà đầu tư ở mức cao nhất. +) Quan điểm khác cho rằng: Khi thu nhập đủ bù đắp được hoàn toàn chi phí bỏ ra đó là sử dụng vốn hiệu quả. SV: Nguyễn thị Châu Loan – K43/11.02 9 Luận văn tốt nghiệp Khoa Tài chính doanh nghiệp Hiệu quả sử dụng vốn của DN được lượng hoá thông qua hệ thống các chỉ tiêu về khả năng sinh lời, khả năng hoạt động, tốc độ luân chuyển vốn…Nó phản ánh quan hệ giữa đầu ra và đầu vào của quá trình sản xuất kinh doanh thông qua thước đo tiền tệ hay cụ thể là mối tương quan giữa kết quả thu được với chi phí bỏ ra để thực hiện nguồn vốn sản xuất kinh doanh. Kết quả thu được càng cao so với chi phí bỏ ra thì hiệu quả sử dụng vốn càng cao. Việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn là điều kiện quan trọng để DN đứng vững và phát triển trên thị trường. Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của DN phải đảm bảo các điều kiện như sau: - Phải khai thác nguồn vốn một cách triệt để, tránh không nhàn rỗi, không sinh lời. - Phải sử dụng vốn một các tiết kiệm và hợp lý. - Phải quản lý vốn một cách chặt chẽ, không để vốn bị sử dụng sai mục đích, không để vốn bị thất thoát do buông lỏng quản lý. Ngoài ra DN phải thường xuyên phân tích, đánh giá hiệu quả sử dụng vốn để nhanh chóng có biện pháp khắc phục những mặt hạn chế và phát huy những ưu điểm của DN trong việc quản lý và sử dụng vốn. 1.2.2. Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh trong DN. Để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh đòi hỏi mỗi DN phải có đủ một lượng vốn nhất định và để duy trì hoạt động sản xuất kinh doanh thì DN buộc phải bảo toàn vốn. Đặc biệt, trong nền KTTT tồn tại nhiều thành phần kinh tế và sự cạnh tranh gay gắt như hiện nay thì vấn đề tổ chức huy động và sử dụng vốn có hiệu quả là một vấn đề hết sức quan trọng. Đây là yếu tố có tính chất quyết định sự tồn tại và phát triển của DN đồng thời giúp DN khẳng định và giữ vững vị trí của mình trong cạnh tranh. Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn SXKD luôn là vấn đề mà mỗi DN cần đặt lên hàng đầu, nó xuất phát từ các lý do sau: SV: Nguyễn thị Châu Loan – K43/11.02 10 Luận văn tốt nghiệp Khoa Tài chính doanh nghiệp - Thứ nhất: Xuất phát từ vai trò quan trọng của vốn kinh doanh đối với các DN. +) Vốn đảm bảo cho sự hoạt động của DN thường xuyên, liên tục. Để tiến hành SXKD phải kết hợp các yếu tố: đối tượng lao động, tư liệu lao động, sức lao động. Muốn vậy buộc phải có một lượng vốn tiền tệ nhất định để tăng thêm tài sản của DN. Như vậy vốn kinh doanh sẽ quyết định năng lực sản xuất, xác lập vị thế của DN trên thương trường. +) Vốn có vai trò định hướng cho hoạt động sản xuất kinh doanh của DN. Ngày nay khoa học kỹ thuật phát triển mạnh mẽ, trình độ trang thiết bị, máy móc ngày càng cao làm cho năng suất lao động cao hơn đòi hỏi DN phải có lượng vốn để đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng này. Nó không chỉ có ý nghĩa giúp DN chủ động hơn trong SXKD mà còn giúp DN chớp được thời cơ, tạo lợi thế trong KD, nâng cao khả năng huy động các nguồn tài trợ, khả năng thanh toán của DN được đảm bảo, DN có đủ tiềm lực để khắc phục những khó khăn, rủi ro trong kinh doanh. Muốn vậy DN cần phải có biện pháp thích hợp để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn sản xuất kinh doanh. - Thứ hai: Xuất phát từ mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận: Trong nền KTTT mục tiêu hoạt động của các DN kinh doanh là lợi nhuận, các DN có quyền độc lập, tự chủ và chịu trách nhiệm KD có lãi, muốn thực hiện được điều đó đòi hỏi các nhà nhà quản trị tài chính DN phải quản lý tốt vốn ở các khâu của quá trình sản xuất, thực hiện nghiên cứu thị trường, tổ chức tốt việc SX và tiêu thụ sản phẩm, sau mỗi chu kỳ SX đồng vốn phải được bảo toàn và phát triển đồng thời phải có lãi để tái đầu tư mở rộng SX . - Thứ ba: Các tác động khác. +) Ngày nay, do cạnh tranh trên thị trường ngày càng gay gắt và quyết liệt. Do vậy, để dành ưu thế trong cạnh tranh, đứng vững trên thị trường thì một trong SV: Nguyễn thị Châu Loan – K43/11.02 11 Luận văn tốt nghiệp Khoa Tài chính doanh nghiệp những con đường cơ bản nhất là nâng cao hiệu quả sử dụng vốn. DN nào sử dụng vốn tốt hơn sẽ có hiệu quả kinh doanh cao, lợi nhuận cao và có điều kiện trong phát triển kinh doanh. +) Trong nền kinh tế thị trường thì mỗi DN là một đơn vị tự chủ trong kinh doanh và tự chịu trách nhiệm về kết quả sản xuất kinh doanh của mình. Do đó, các DN phải có kế hoạch sử dụng vốn có hiệu quả. +) Mặt khác xuất phát từ tình hình thực tế hiện nay là các DN đều gặp khó khăn trong vấn đề huy động vốn do lãi suất tiền vay tăng. Nếu DN làm ăn kém hiệu quả thì sẽ rơi vào tình trạng vỡ nợ, không có khả năng chi trả. Do đó, DN bắt buộc phải quan tâm đến hiệu quả sử dụng vốn. Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn sẽ đảm bảo an toàn về mặt tài chính cho DN. 1.2.3. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh của DN 1.2.3.1. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng của toàn bộ vốn. Để đánh giá một cách chung nhất về hiệu quả sử dụng vốn người ta thường sử dụng các chỉ tiêu: - Vòng quay toàn bộ vốn: phản ánh vốn của DN trong kỳ quay được bao nhiêu vòng. Qua chỉ tiêu này, ta có thể đánh giá được khả năng sử dụng tài sản của DN, thể hiện doanh thu thuần được sinh ra từ tài sản mà DN cần đầu tư. DTT VKD bq - Tỷ suất lợi nhuận/VKD: Phản ánh khả năng sinh lời của mỗi đồng vốn Vòng quay toàn bộ vốn = đầu tư vào hoạt động kinh doanh trong kỳ của DN. Tỷ suất lợi nhuận LNTT hoặc LNST = VKD VKD bq Phản ánh một đồng VKD B/q được sử dụng trong kỳ tạo ra mấy đồng lợi nhuận trước hoặc sau thuế. Tỷ suất lợi nhuận/VKD = Tỷ suất lợi nhuận/ DT x vòng quay tổng vốn. SV: Nguyễn thị Châu Loan – K43/11.02 12 Luận văn tốt nghiệp Khoa Tài chính doanh nghiệp - Tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu. Tỷ suất lợi nhuận LNST = VCSH VCSH bq Đây là chỉ tiêu đánh giá mức độ thực hiện mục tiêu tạo ra lợi nhuận sau thuế cho các chủ sở hữu của DN. Ngoài ra người ta còn dùng hệ số nợ và các hệ số về khả năng thanh toán để đánh giá hiệu quả sử dụng vốn của DN . Trên đây là một số chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn nói chung. Để đánh giá hiệu quả riêng của từng loại vốn người ta còn có thể sử dụng các chỉ tiêu khác nữa. 1.2.3.2. Nhóm chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn cố định: Để tiến hành kiểm tra tài chính đối với hiệu quả sử dụng VCĐ cần xác định đúng đắn hệ thống các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng VCĐ và TSCĐ của DN . Thông thường gồm các chỉ tiêu tổng hợp và chỉ tiêu phân tích . * Các chỉ tiêu tổng hợp : - Chỉ tiêu hiệu suất sử dụng VCĐ : Là quan hệ tỷ lệ giữa doanh thu thuần (DTT) DN đạt được trong kỳ với số VCĐ bình quân trong kỳ. Hiệu quả sử dụng VCĐ Trong đó: = DTT VCĐ bq trong kỳ VCĐ đk + VCĐ ck 2 VCĐ đầu kỳ ( cuối kỳ) = NG TSCĐ Đkỳ ( cuối kỳ) - KH Lkế Đkỳ (cuối kỳ) VCĐ bq = Chỉ tiêu này phản ánh một đồng VCĐ B/q có thể tạo ra bao nhiêu đồng DTT trong kỳ. - Chỉ tiêu hàm lượng VCĐ: Là đại lượng nghịch đảo của chỉ tiêu hiệu suất sử dụng VCĐ. Hàm lượng VCĐ = SV: Nguyễn thị Châu Loan – K43/11.02 VCĐ bq trong kỳ 13 Luận văn tốt nghiệp Khoa Tài chính doanh nghiệp DTT Chỉ tiêu này phản ánh để tạo ra một đồng DTT trong kỳ của DN cần bao nhiêu đồng vốn cố định. Chỉ tiêu này càng nhỏ thể hiện trình độ quản lý và sử dụng vốn đạt hiệu quả cao. - Chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận VCĐ: Là quan hệ tỷ lệ giữa lợi nhuận trước thuế hoặc sau thuế với VCĐ B/q trong kỳ. Lợi nhuận TT (ST) VCĐ bq trong kỳ * Các chỉ tiêu phân tích: Gồm các chỉ tiêu sau: Tỷ suất lợi nhuận VCĐ = x 100% - Hệ số hao mòn TSCĐ: Là quan hệ tỷ lệ giữa số tiền khấu hao luỹ kế TSCĐ ở thời điểm đánh giá với nguyên giá TSCĐ ở thời điểm đó. Số tiền KH Lkế ở thời điểm đánh giá NG TSCĐ ở thời điểm đánh giá Phản ánh mức độ hao mòn của TSCĐ đồng thời cũng cho thấy năng lực Hệ số hao mòn TSCĐ = sản xuất còn lại của TSCĐ. - Hiệu suất sử dụng TSCĐ: Là quan hệ tỷ lệ giữa DTT và NG TSCĐ B/q sử dụng trong kỳ . DTT NG TSCĐ B/q trong kỳ Chỉ tiêu này phản ánh một đồng TSCĐ trong kỳ tạo ra được bao nhiêu Hiệu suất sử dụng TSCĐ = đồng DTT. - Hệ số trang bị TSCĐ cho 1 công nhân trực tiếp sản xuất : Phản ánh giá trị TSCĐ sản xuất B/q trang bị cho 1 công nhân trực tiếp SX. Hệ số trang bị TSCĐ NG TSCĐ SX B/q trong kỳ SL công nhân trực tiếp SX = Trong đó: NG TSCĐ B/q = NG TSCĐ Đkỳ + NG TSCĐ Ckỳ 2 SV: Nguyễn thị Châu Loan – K43/11.02 14 Luận văn tốt nghiệp Khoa Tài chính doanh nghiệp - Kết cấu TSCĐ của DN: Phản ánh quan hệ tỷ lệ giữa giá trị từng nhóm, loại TSCĐ trong tổng số TSCĐ của DN tại thời điểm đánh giá. Chỉ tiêu này giúp DN đánh giá mức độ hợp lý trong cơ cấu TSCĐ được trang bị ở DN. 1.2.3.3.Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn lưu động. - Tốc độ luân chuyển VLĐ: Được biểu hiện ra ở 2 chỉ tiêu là số vòng quay VLĐ ( L ) và kỳ luân chuyển VLĐ ( K ). + Số vòng quay VLĐ: M VLĐ bq Trong đó: M là tổng mức luân chuyển VLĐ đạt được trong kỳ. Tổng mức L = luân chuyển phản ánh tổng giá trị vốn tham gia luân chuyển thực hiện trong kỳ của DN. + Kỳ luân chuyển VLĐ: Phản ánh trung bình một vòng quay VLĐ hết bao nhiêu ngày. 360 (ngày) L Do tăng tốc độ luân chuyển VLĐ trong SX, lưu thông hàng hoá nên DN K = có thể giảm bớt số VLĐ cần thiết và có thể tiết kiệm được số VLĐ. Mức VLĐ có tiết kiệm được xác định theo công thức: M1 M1 M1 ( K1 - K0) = 360 L1 L0 - Hàm lượng VLĐ ( Mức dùng VLĐ ): Là quan hệ tỷ lệ giữa VLĐ B/q trong kỳ Vtk = với DTT đạt được trong kỳ. Hàm lượng VLĐ = VLĐ B/q DTT - Tỷ suất lợi nhuận/VLĐ: Phản ánh một đồng VLĐ có thể tạo ra bao nhiêu đồng LNTT hoặc LNST. Tỷ suất lợi nhuận trên VLĐ = Lợi nhuận trước thuế ( hoặc sau thuế ) VLĐ bình quân trong kỳ Tỷ suất lợi nhuận/VLĐ càng cao chứng tỏ việc sử dụng VLĐ càng có hiệu quả. SV: Nguyễn thị Châu Loan – K43/11.02 15 Luận văn tốt nghiệp Khoa Tài chính doanh nghiệp Ngoài ra tuỳ mục đích nghiên cứu chỉ tiêu mức độ luân chuyển VLĐ người ta có thể tính riêng cho từng loại VLĐ: Số vòng quay Hàng tồn kho Số vòng quay các khoản đã thu 1.3. = = Giá vốn hàng bán Hàng tồn kho bình quân DTBH Số dư B/q các khoản phải thu Những giải pháp nâng cao hiệu quả VKD. 1.3.1. Những nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất kinh doanh. Trong nền kinh tế thị trường biểu hiện của vốn kinh doanh rất phong phú và đa dạng.Vốn kinh doanh luôn vận động không ngừng, chuyển từ hình thái này sang hình thái khác. Quá trình vận động của vốn kinh doanh chịu tác động của nhiều nhân tố cả chủ quan lẫn khách quan. * Nhóm nhân tố chủ quan. - Do lựa chọn phương án đầu tư và kế hoạch kinh doanh: Đây là một trong những nhân tố ảnh hưởng lớn đến hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh của DN. Nếu DN đầu tư sản xuất ra các sản phẩm, lao vụ dịch vụ chất lượng tốt mẫu mã đẹp, giá thành hạ, được thị trường chấp nhận thì tất yếu hiệu quả kinh doanh sẽ lớn. Ngược lại, sản phẩm hàng hoá DN sản xuất ra kém chất lượng, không phù hợp với nhu cầu, thị yếu ngưòi tiêu dùng sẽ dẫn đến không tiêu thụ được, gây nên tình trạng ứ đọng vốn, hiệu quả sử dụng vốn thấp. - Trình độ tổ chức quản lý, tổ chức sản xuất: Muốn tổ chức sử dụng vốn có hiệu quả thì bộ máy tổ chức quản lý, tổ chức sản xuất phải thực sự có trình độ, có năng lực, bộ máy phải gọn nhẹ ăn khớp. Trình độ quản lý là yếu tố quan trọng bậc nhất quyết định đến hoạt động SXKD của DN nói chung và tới việc tổ chức sử dụng vốn nói riêng. SV: Nguyễn thị Châu Loan – K43/11.02 16 Luận văn tốt nghiệp Khoa Tài chính doanh nghiệp - Sự hợp lý của cơ cấu tài sản và nguồn vốn kinh doanh trong DN: Việc đầu tư vào các tài sản không sử dụng hoặc chưa sử dụng quá lớn hoạc vay nợ quá nhiều, sử dụng không triệt để nguồn vốn bên trong thì không những không phát huy được tác động của vốn mà còn bị hao hụt, mất mát, tạo ra rủi ro cho DN. -Vấn đề xác định nhu cầu vốn kinh doanh: việc xác định nhu cầu vốn kinh doanh không chính xác sẽ dẫn đế việc thừa hoặc thiếu vốn trong quá trình sản xuất kinh doanh, làm hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh giảm. - Trình độ tay nghề người lao động : Nếu công nhân trong DN có trình độ cao đủ để thích ứng phù hợp với yêu cầu kỹ thuật hiện đại của máy móc thiết bị từ đó máy móc thiết bị được sử dụng tốt hơn, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn sản xuất của DN. - Mức độ sử dụng năng lực sản xuất hiện có của DN: Do việc mua sắm máy móc, trang thiết bị, vật tư không phù hợp với qui trình sản xuất, không đúng tiêu chuẩn kỹ thuật, không tận dụng hết các loại phế phẩm, phế liệu trong quá trình sản xuất kinh doanh gây nên tình trạng lãng phí vốn, ảnh hưởng không nhỏ tới hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh của DN. * Nhóm nhân tố khách quan. Là yếu tố bên ngoài nhưng đôi khi đóng vai trò quyết định tới hiệu quả sử dụng vốn của DN. - Các chính sách vĩ mô của Nhà nước: Nhà nước đưa ra những chính sách những chế độ pháp lý, những chủ trương tạo hành lang cho các DN phát triển SXKD, mỗi khi các chính sách kinh tế của Nhà nước phù hợp với điều kiện của DN sẽ tạo ra cho DN những ưu thế nhất định từ đó nó có thể tăng hiệu quả sử dụng tài sản của DN và ngược lại . SV: Nguyễn thị Châu Loan – K43/11.02 17 Luận văn tốt nghiệp Khoa Tài chính doanh nghiệp - Rủi ro trong kinh doanh: Hoả hoạn, bảo lụt…làm tài sản của DN bị tổn thất giảm giá trị dẫn đến vốn của DN cũng không được bảo toàn. - Sự tiến bộ của khoa học công nghệ : Đây một mặt là cơ hội cho các DN giám chấp nhận mạo hiểm tiếp cận kịp thời với khoa học công nghệ, một mặt là nguy cơ với các DN không nắm bắt kịp thời những tiến bộ đó, tài sản của DN sẽ bị hao mòn vô hình và dẫn tới DN bị mất vốn. - Ngoài ra phải kể đến tác động của nền kinh tế có nhiều biến động như lạm phát, thiểu phát, sự biến động của thị trường và cạnh tranh trên thị trường, đây cũng là những nhân tố ảnh hưởng rất lớn đến việc tổ chức sử dụng vốn của DN. 1.3.2. Một số biện pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh của DN. Để đảm bảo cho việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn KD, DN cần thực hiện các biện pháp cơ bản sau: Thứ nhất: Thực hiện chặt chẽ việc thẩm định, đánh giá và lựa chọn dự án đầu tư phù hợp với tình hình thực tế và điều kiện của DN mình.Việc lựa chọn dự án đầu tư tốt hay không có tính chất quyết định đến sự tồn tại và phát triển của DN. Thứ hai: Tổ chức tốt quá trình huy động vốn hợp lý, tổ chức khai thác triệt để các nguồn lực đã huy động. Huy động vốn phải đảm bảo được tính độc lập, chủ động trong sản xuất kinh doanh của DN. Thứ ba: Xác định đúng đắn nhu cầu vốn kinh doanh cần thiết, tối thiểu cho hoạt động sản xuất kinh doanh của DN trong từng thời kỳ hoạt động. Từ đó lập kế hoạch huy động vốn, bố trí sử dụng vốn có hiệu quả, tiết kiệm, đảm bảo hoạt động kinh doanh diễn ra thường xuyên liên tục, không bị gián đoạn. SV: Nguyễn thị Châu Loan – K43/11.02 18 Luận văn tốt nghiệp Khoa Tài chính doanh nghiệp Thứ tư: DN phải xác định cơ cấu vốn hợp lý và chủ động điều chỉnh cơ cấu vốn để đảm bảo an toàn tài chính, phát huy hiệu quả sử dụng vốn và phù hợp với tình hình nền kinh tế trong từng thời kỳ. Thứ năm: Tổ chức tốt quá trình sản xuất, đẩy mạnh công tác tiêu thụ sản phẩm. DN cần phối hợp nhịp nhàng giữa các bộ phận sản xuất, không ngừng nâng cao năng suất lao động nhằm sản xuất ra nhiều sản phẩm có chất lượng cao, giá thành hạ, tiết kiệm nguyên vật liệu, khai thác tối đa công suất máy móc thiết bị hiện có. Bên cạnh đó, cần phải tăng cường công tác tiếp thị, quảng cáo nhằm tăng sản lượng tiêu thụ, mở rộng thị phần. Thứ sáu: Có biện pháp quản lý thích hợp đối với từng loại vốn. - Một số biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng VCĐ: Vốn cố định là loại vốn có thời hạn sử dụng tương đối dài vì thế các DN cần chú ý đến việc tổ chức, mua sắm xem xét hiệu quả kinh tế của vốn đầu tư vào TSCĐ. Để thực hiện tốt công tác đầu tư mua sắm TSCĐ thì ngay từ đầu DN phải xem xét thực trạng tình hình SXKD của mình, khả năng cung cấp sản phẩm, cơ cấu năng lực sản xuất của TSCĐ hiện có trên cơ sở đó quyết định đầu tư vào những loại tài sản nào cho phù hợp và hiệu quả nhất đối với DN. Quản lý chặt chẽ và sử dụng có hiệu quả TSCĐ trong quá trình SXKD: + DN phải thực hiện phân loại và phân cấp TSCĐ bàn giao rõ ràng TSCĐ cho từng bộ phận cá nhân, khi hình thành TSCĐ phải đánh số, mở sổ theo dõi, thường xuyên kiểm tra, bảo dưỡng theo quy định, cần phải cân nhắc giữa việc mua sắm TSCĐ mới và việc đi thuê TSCĐ. Đồng thời có những chính sách xử phạt hợp lý đối với người quản lý TSCĐ. + Huy động tối đa TSCĐ vào SXKD, khai thác hết công suất máy móc thiết bị và góp phần giảm chi phí khấu hao TSCĐ trên một đơn vị sản phẩm sản xuất ra. Từ đó làm hạ giá thành sản phẩm, tăng sức cạnh tranh, nhằm từng bước SV: Nguyễn thị Châu Loan – K43/11.02 19 Luận văn tốt nghiệp Khoa Tài chính doanh nghiệp nâng cao hiệu quả sử dụng VCĐ theo chiều sâu và theo chiều rộng tiết kiệm tới mức tối đa VCĐ tăng nhanh vòng quay của vốn. + DN phải mua bảo hiểm tài sản, trích dự phòng giảm giá đối với các khoản đầu tư dài hạn. + Đánh giá, đánh giá lại TSCĐ để thực hiện khấu hao TSCĐ hợp lý. + Thực hiện tốt việc khấu hao và sử dụng quỹ khấu hao hợp lý, với những TSCĐ có nhu cầu đổi mới kỹ thuật công nghệ và những TSCĐ được hình thành từ vốn vay nên áp dụng phương pháp khấu hao nhanh. Hiện nay quỹ khấu hao được để lại toàn bộ cho DN, sau đó DN cần sử dụng đúng mục đích đồng thời linh hoạt sử dụng quỹ khấu hao này đáp ứng nhu cầu vốn SXKD khi chưa có nhu cầu đầu tư, tái tạo TSCĐ. + Chú trọng đổi mới trang thiết bị, công nghệ sản xuất, lựa chọn dự án đầu tư cũng là một biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng VCĐ. - Một số biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động: + Xác định chính xác nhu cầu VLĐ thường xuyên cần thiết phục vụ cho hoạt động SXKD của DN: Xác định nhu cầu VLĐ trong từng thời kỳ có ý nghĩa rất quan trọng đảm bảo cho quá trình SXKD được diễn ra liên tục tránh được tình trạng gián đoạn do thiếu vốn hoặc thừa vốn gây lãng phí, vốn luân chuyển chậm làm giảm hiệu quả hoạt động của DN. + Tăng tốc độ luân chuyển VLĐ trong khâu sản xuất, lưu thông hàng hoá: Bằng cách rút ngắn chu kỳ sản xuất, cụ thể là rút ngắn thời gian làm việc và thời gian gián đoạn trong quy trình công nghệ. + Tăng tốc độ luân chuyển VLĐ trong khâu lưu thông: DN cần phải làm tốt các hợp đồng mua nguyên vật liệu và hợp đồng tiêu thụ sản phẩm đảm bảo cho quá trình sản xuất, tiêu thụ diễn ra một cách liên tục. Trong khâu tiêu thụ sản SV: Nguyễn thị Châu Loan – K43/11.02 20
- Xem thêm -