Tài liệu Sử dụng nguồn nhân lực trong quá trình phát triển kinh tế ở bắc ninh

  • Số trang: 94 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 185 |
  • Lượt tải: 0
nguyetha

Đã đăng 8489 tài liệu

Mô tả:

HÀ NỘI - 2011 ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ _________________________ NGUYỄN THỊ BỀN SỬ DỤNG NGUỒN NHÂN LỰC TRONG QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ Ở BẮC NINH Chuyên ngành: Kinh tế chính trị Mã số : 60 31 01 LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ CHÍNH TRỊ Người hướng dẫn khoa học: TS. VŨ ĐỨC THANH MỤC LỤC MỞ ĐẦU ................................................................................................................................... 1 Chƣơng 1. NGUỒN NHÂN LỰC VÀ XU HƢỚNG CHỦ YẾU CỦA SỬ DỤNG NGUỒN NHÂN LỰC TRONG QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ .......... 6 1.1. Nguồn nhân lực và vấn đề sử dụng nguồn nhân lực trong quá trình phát triển kinh tế ........................................................................................................ 6 1.1.1. Các quan niệm về nguồn nhân lực ......................................................... 6 1.1.2. Sự cần thiết khách quan phải sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực ........... 9 1.1.3. Vai trò của yếu tố con người trong quá trình phát triển kinh tế .......... 11 1.2. Nội dung, nhân tố ảnh hưởng và xu hướng sử dụng nguồn nhân lực trong quá trình phát triển kinh tế ............................................................ 16 1.2.1. Nội dung của sử dụng nguồn nhân lực ................................................ 16 1.2.2. Những nhân tố ảnh hưởng đến sử dụng nguồn nhân lực ..................... 20 1.2.3. Xu hướng sử dụng nguồn nhân lực trong quá trình phát triển kinh tế ............................................................................................................. 26 Chƣơng 2. THỰC TRẠNG SỬ DỤNG NGUỒN NHÂN LỰC TRONG QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ Ở BẮC NINH ......................................... 40 2.1. Những thuận lợi và khó khăn của sử dụng nguồn nhân lực trong quá trình phát triển kinh tế ở Bắc Ninh ......................................................... 40 2.1.1. Tổng quan đặc diểm tự nhiên, kinh tế - xã hội ở Bắc Ninh ................. 40 2.1.2. Những thuận lợi và khó khăn ............................................................... 41 2.2. Thực trạng sử dụng nguồn nhân lực trong quá trình phát triển kinh tế ở Bắc Ninh những năm vừa qua ................................................................ 44 2.2.1. Tổng quát tình hình thu hút, phân bố và sử dụng lao động ................. 44 2.2.2. Thực trạng sử dụng lao động trong các ngành kinh tế......................... 50 2.2.3. Về hiệu quả sử dụng lao động.............................................................. 55 2.3. Đánh giá chung và những vấn đề đặt ra đối với việc sử dụng nguồn nhân lực ở Bắc Ninh ............................................................................... 57 2.3.1. Đánh giá chung .................................................................................... 57 2.3.2. Những vấn đề cần giải quyết trong thời gian tới ................................. 62 Chƣơng 3. PHƢƠNG HƢỚNG VÀ GIẢI PHÁP CƠ BẢN NHẰM SỬ DỤNG CÓ HIỆU QUẢ NGUỒN NHÂN LỰC CỦA BẮC NINH TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ GIAI ĐOẠN TỚI ........................................................... 66 3.1. Bối cảnh hiện nay và quan điểm sử dụng nguồn nhân lực nhằm phát triển kinh tế ở Bắc Ninh ......................................................................... 66 3.1.1. Bối cảnh hiện nay................................................................................. 66 3.1.2. Những quan điểm cơ bản sử dụng nguồn nhân lực trong quá trình phát triển kinh tế ở Bắc Ninh ................................................................. 67 3.2. Phương hướng và giải pháp nhằm sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực ở Bắc Ninh ................................................................................................. 69 3.2.1. Phương hướng sử dụng nguồn nhân lực .............................................. 69 3.2.2. Một số giải pháp nhằm sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực .................. 72 KẾT LUẬN ............................................................................................................................. 81 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO .................................................................. 83 PHỤ LỤC.............................................................................................................. 87 DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN ĐTNN: Đầu tư nước ngoài CNH, HĐH: Công nghiệp hóa, hiện đại hóa KT - XH: Kinh tế - xã hội KV: Khu vực NNL: Nguồn nhân lực MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Trong quá trình phát triển KT - XH hiện nay NNL được coi là một yếu tố quan trọng bậc nhất. Con người được đặt ở vị trí trung tâm trong chiến lược cũng như sách lược phát triển. Thực tiễn cho thấy, nhiều nhà hoạch định chính sách đã quan tâm đến vấn đề làm thế nào để sử dụng có hiệu quả nguồn lực quan trọng này. Giải quyết việc sử dụng NNL là vấn đề đang cần được quan tâm đặc biệt. Việt Nam được đánh giá là quốc gia có dân số đông, trẻ, lực lượng lao động dồi dào, lao động cần cù, khéo léo, thông minh, nhạy cảm. Tuy nhiên, trong quá trình phát triển và hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay nước ta còn thiếu vốn, tài nguyên thiên nhiên chưa nhiều, khoa học công nghệ chưa cao. Thực tế trên đòi hỏi chúng ta phải khai thác thế mạnh về NNL, tận dụng nguồn lực tại chỗ để phát triển kinh tế không để cho dân số đông trở thành lực cản cho sự phát triển. Bắc Ninh là tỉnh đang được đầu tư mạnh mẽ cả nội lực và ngoại lực để phát triển kinh tế. NNL ở Bắc Ninh là một bộ phận trong lực lượng lao động của đất nước mang đầy đủ đặc điểm của NNL Việt Nam. Hơn nữa, Bắc Ninh là tỉnh giáp danh với thủ đô Hà Nội, nằm trong tam giác kinh tế trọng điểm Bắc Bộ là Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh. Do đó, việc sử dụng hiệu quả NNL ở đây không tách rời những điều kiện chung của đất nước. Song, ở Bắc Ninh cũng có những đặc điểm riêng đòi hỏi những phương hướng và giải pháp cụ thể phù hợp để sử dụng có hiệu quả NNL nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế ở tỉnh nói riêng và cả nước nói chung. Với những lý do trên, chủ đề “Sử dụng nguồn nhân lực trong quá trình phát triển kinh tế ở Bắc Ninh” được chọn làm đề tài cho luận văn thạc sỹ này với mong muốn mang đến cái nhìn toàn diện, phong phú và đầy đủ 1 hơn về vai trò của nguồn lực con người trong phát triển kinh tế nói chung và trong phát triển kinh tế ở Bắc Ninh nói riêng. 2. Tình hình nghiên cứu đề tài Sử dụng hiệu quả NNL có vị trí quan trọng trong mục tiêu phát triển kinh tế nên vấn đề này đã được nhiều nhà khoa học và những nhà hoạch định chính sách quan tâm. Tuy nhiên, trong sự phát triển như vũ bão của khoa học, công nghệ thì việc làm thế nào để sử dụng có hiệu quả NNL là vấn đề cần được quan tâm đặc biệt và cần có sự nghiên cứu đầy đủ hơn. Gần đây có nhiều bài viết tập trung vào những vấn đề liên quan đến những khía cạnh khác nhau trong việc sử dụng NNL. Tác giả Trần Kim Hải trong luận án tiến sỹ kinh tế: “Sử dụng nguồn nhân lực trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở nước ta” đã trình bày một số khái niệm về NNL và những khía cạnh cơ bản trong sử dụng NNL; đưa ra một số giải pháp có tác động mạnh đến việc sử dụng NNL ở Việt Nam. Tác giả Phan Văn Kha trong cuốn sách: “Đào tạo và sử dụng nhân lực trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam” Nxb Giáo dục 2007 trình bày cơ sở lý luận và mối quan hệ giữa đào tạo và sử dụng nhân lực trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế. Thực trạng và giải pháp tăng cường mối quan hệ giữa đào tạo và sử dụng nhân lực ở các cấp trình độ. Tác giả Ngọc Trung trong bài viết: “Làm thế nào để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực” đã đề cập những giải pháp nhằm nâng cao chất lượng NNL đáp ứng yêu cầu ngày càng cao về NNL có trình độ, tay nghề cao. Tác giả Phạm Kiên Cường trong luận án: “Tổ chức và sử dụng có hiệu quả nguồn lao động xã hội của Việt Nam trong lĩnh vực đưa lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài” đã trình bày những giải pháp quan trọng nhằm 2 mở rộng về số lượng, nâng cao về chất lượng nguồn lao động đi làm việc ở nước ngoài. Tuy khai thác ở những khía cạnh khác nhau nhưng nhìn chung các tác giả đều khẳng định vai trò quan trọng của NNL và sử dụng có hiệu quả NNL là yêu cầu tất yếu để đạt được những mục tiêu phát triển KT-XH trong những năm gần đây. Nghiên cứu vấn đề sử dụng NNL ở Bắc Ninh cũng đã được đề cập đến trong một số bài báo đăng trên các tạp chí nhưng chưa được trình bày một cách hệ thống. Tuy nhiên, thực tiễn việc sử dụng NNL ở Bắc Ninh trong quá trình phát triển kinh tế có những đặc điểm riêng cần có sự khái quát và có giải pháp phù hợp. 3. Mục đích và nhiệm vụ của đề tài * Mục đích: Trên cơ sở phân tích lý luận về tầm quan trọng, ý nghĩa thực tiễn của sử dụng NNL, luận văn làm rõ yêu cầu, xu hướng phổ biến của sử dụng NNL trong sự nghiệp phát triển kinh tế của đất nước. Từ đó giải quyết những vấn đề quan trọng để sử dụng có hiệu quả NNL ở Bắc Ninh hiện nay. * Nhiệm vụ:. Hệ thống hoá những vấn đề lý luận về NNL và sử dụng NNL trong quá trình phát triển kinh tế. Phân tích yêu cầu, xu hướng, đặc điểm của sử dụng NNL trong phát triển kinh tế. Phân tích những thuận lợi, khó khăn và hạn chế trong sử dụng NNL để phát triển kinh tế ở Bắc Ninh Đề xuất một số phương hướng, giải pháp tác động đến hiệu quả sử dụng NNL trong phát triển kinh tế ở Bắc Ninh. 3 4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu * Đối tượng nghiên cứu: Luận văn lấy việc sử dụng NNL trong quá trình phát triển kinh tế làm đối tượng nghiên cứu. * Phạm vi nghiên cứu: Lấy Bắc Ninh làm không gian nghiên cứu và giới hạn về thời gian khảo sát từ năm 2000 đến nay. Các giải pháp đề cập trong luận văn là những giải pháp cơ bản nhìn từ góc độ kinh tế chính trị. 5. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu * Cơ sở lý luận: Lý luận Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam và các luận điểm khoa học của các nhà khoa học về những vấn đề liên quan đến đề tài luận văn. * Phương pháp nghiên cứu: Trên cơ sở phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử luận văn sử dụng phương pháp khác như trừu tường hoá khoa học, phương pháp phân tích, tổng hợp, thống kê, hệ thống hoá. 6. Đóng góp của luận văn Làm rõ thêm cơ sở lý luận và thực tiễn về NNL trong mối quan hệ với sử dụng NNL. Đề xuất phương hướng và giải pháp cơ bản để sử dụng có hiệu quả NNL của Bắc Ninh trong quá trình phát triển kinh tế. 7. Kết cấu của luận văn Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo luận văn gồm 3 chương, 7 tiết: 4 Chƣơng 1. Nguồn nhân lực và xu hướng chủ yếu của sử dụng nguồn nhân lực trong quá trình phát triển kinh tế. Chƣơng 2. Thực trạng sử dụng nguồn nhân lực trong phát triển kinh tế ở Bắc Ninh. Chƣơng 3. Phương hướng và giải pháp cơ bản nhằm sử dụng có hiệu quả nguồn nhân lực của Bắc Ninh trong phát triển kinh tế giai đoạn tới. 5 Chƣơng 1 NGUỒN NHÂN LỰC VÀ XU HƢỚNG CHỦ YẾU CỦA SỬ DỤNG NGUỒN NHÂN LỰC TRONG QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ 1.1. Nguồn nhân lực và vấn đề sử dụng nguồn nhân lực trong quá trình phát triển kinh tế 1.1.1. Các quan niệm về nguồn nhân lực NNL là khái niệm đã thu hút sự quan tâm của nhiều nhà khoa học. Trong quá trình nghiên cứu các nhà khoa học đã đưa ra nhiều khái niệm về NNL dưới những góc độ khác nhau: Trong lý luận về tăng trưởng kinh tế nhân tố con người được đề cập với tư cách là lực lượng sản xuất chủ yếu, là phương tiện để sản xuất hàng hoá, dịch vụ. Ở đây, con người được xem xét từ góc độ những lực lượng sản xuất cơ bản nhất trong xã hội. Việc cung cấp đầy đủ, kịp thời lực lượng lao động theo yêu cầu của nền kinh tế là vấn đề quan trọng nhất đảm bảo tốc độ tăng trưởng kinh tế. Trong lý luận về vốn người, nhân tố con người được xem xét trước hết như một yếu tố của quá trình sản xuất, một phương tiện để phát triển KT XH. Ngoài ra, lý luận về vốn còn xem xét con người từ quan điểm nhu cầu về các nguồn lực cho sự phát triển của nó. Đầu tư cho con người được phân tích với tính cách là sự “tư bản hoá các phúc lợi” tương tự như đầu tư vào các nguồn vật chất có tính đến tổng hiệu quả các đầu tư này, hoặc thu nhập mà con người và xã hội thu được từ các đầu tư đó. Cách tiếp cận này đang được áp dụng phổ biến ở hầu khắp các nước hiện nay. Theo cách tiếp cận này, Ngân hàng thế giới (WB) cho rằng NNL là toàn bộ vốn người (thể lực, trí lực, kỹ năng nghề nghiệp…) mà mỗi cá nhân sở hữu. Ở đây NNL được coi như một nguồn vốn bên cạnh các loại vốn vật chất khác như vốn tiền, vốn công nghệ, vốn tài nguyên thiên nhiên… Đầu tư cho 6 con người giữ vị trí trung tâm trong các loại đầu tư và được coi là cơ sở chắc chắn cho sự phát triển bền vững. Theo cách tính của WB thì đầu tư cho giáo dục tiểu học tỷ lệ thu hồi vốn là 24% so với đầu tư, cho trung học là 17%, cho cao đẳng và đại học là 14% trong khi đó đầu tư cho các ngành sản xuất vật chất tỷ lệ thu hồi vốn chỉ đạt 13%. Theo quan niệm của Liên Hiệp Quốc: NNL là tất cả những kiến thức, các kỹ năng, năng lực và tính sáng tạo có quan hệ tới sự phát triển của đất nước. Đây được coi là một yếu tố quan trọng bậc nhất trong kết cấu hạ tầng của một quốc gia. Theo UNDP, NNL là tổng thể những năng lực (cơ năng, trí năng) của con người huy động vào quá trình sản xuất, nguồn năng lực - nội lực đó của con người cũng chính là nội lực xã hội của một quốc gia. Đối với những nước đang phát triển như Việt Nam, với số dân đông, NNL dồi dào đang trở thành một trong những nguồn lực quan trọng nhất và nếu khai thác nguồn nội lực đó một cách hiệu quả sẽ tạo ra một động lực to lớn cho sự phát triển KT- XH của Việt Nam. Theo quan điểm của các nhà khoa học Việt Nam: NNL được hiểu là dân số và chất lượng con người bao gồm cả thể chất và tinh thần, trí tụê và sức khoẻ, năng lực và phẩm chất, thái độ và phong cách làm việc [27, tr.328]. Như vậy NNL được biểu hiện trên hai mặt số lượng và chất lượng: - Về số lượng: NNL phụ thuộc vào thời gian làm việc có thể có được của cá nhân và quy mô độ tuổi lao động của mỗi quốc gia. Ở Việt Nam hiện nay, Luật Lao động quy định độ tuổi lao động đối với nam từ 15 - 60 tuổi, đối với nữ từ 15 - 55 tuổi. Số lượng NNL đóng vai trò quan trọng đối với sự phát triển KT - XH. Nếu số lượng không tương xứng với sự phát triển (thừa hoặc thiếu) thì sẽ ảnh hưởng không tốt tới quá trình phát triển. Nếu thừa sẽ dẫn đến thất nghiệp, tạo gánh nặng về mặt xã hội cho nền kinh tế, nếu thiếu thì không có đủ lực lượng cho quá trình phát triển kinh tế đất nước. 7 - Về chất lượng: NNL được biểu hiện ở thể lực, trí lực, tinh thần, động cơ, thái độ, ý thức văn hoá, văn hoá lao động công nghiệp, phẩm chất tốt đẹp của người công dân đó là yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội. Trong 3 mặt: thể lực, trí lực, tinh thần thì thể lực là nền tảng, cơ sở để phát triển, trí lực là phương thức để truyền tải kỹ thuật vào thực tiễn. Ý thức, tinh thần, đạo đức, tác phong là yếu tố chi phối hiệu quả hoạt động chuyển hoá của trí lực vào thực tiễn. Trí tuệ là yếu tố có vai trò quan trọng hàng đầu của NNL bởi có nó con người mới có thể nghiên cứu sáng tạo và ứng dụng tiến bộ khoa học vào quá trình hoạt động sản xuất và cải biến xã hội. C.Mác đã nói: “Tất cả cái gì thúc đẩy con người hành động đều tất nhiên phải thông qua đầu óc của họ” [34, tr.483]. Theo quan điểm của tác giả Lê Thị Ngân trong luận án tiến sĩ: “Nâng cao chất lượng NNL tiếp cận kinh tế tri thức ở Việt Nam” thì NNL được quan niệm là tổng thể sức lao động của xã hội đang và sẽ được vận dụng cho quá trình sản xuất xã hội hay nói cách khác: NNL là tổng thể những năng lực thể chất và tinh thần tồn tại trong tổng số lực lượng lao động của xã hội và được họ đang và sẽ đem ra vận dụng để sản xuất ra hàng hoá tiêu dùng cho xã hội [28, tr.32]. Từ những vấn đề nêu trên có thể thấy rằng NNL được đề cập đến như một nguồn vốn tổng hợp với các yếu tố hợp thành: sức lực và trí lực, số lượng cùng các đặc trưng về chất lượng lao động như trình độ văn hoá, kỹ thuật, kinh nghiệm nghề nghiệp, thái độ và phong cách làm việc. Ở đây con người được xem xét với tư cách là một yếu tố cơ bản của quá trình sản xuất, một nguồn lực chủ yếu để phát triển KT - XH. Nếu coi NNL là toàn bộ tiềm năng người nói chung, những tiềm năng mà con người có thể đóng góp vào sự phát triển KT - XH thì việc sử dụng NNL chính là khơi dậy và phát huy tất cả những tiềm năng đó. Quá trình này bao gồm nhiều vấn đề như tạo việc làm, sử dụng lực lượng lao động, phát huy 8 tiềm năng trí tuệ và yếu tố tinh thần dân tộc, tạo ra những kích thích và động cơ lao động. Trong đó giải quyết việc làm và sử dụng nguồn lao động chỉ là một nội dung của sử dụng NNL. 1.1.2. Sự cần thiết khách quan phải sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực NNL được đề cập đến như một nguồn vốn tổng hợp với hệ thống các yếu tố tổng hợp lại thành: sức lực, trí tuệ, khối lượng cùng đặc trưng về chất lượng lao động như trình độ văn hoá, kỹ thuật, kinh nghiệm nghề nghiệp, thái độ, phong cách làm việc. Đó là sức lao động, như Mác nói: khả năng mà con người có thể thông qua lao động để biến thành hiện thực từ đó có thể đóng góp vào sự phát triển KT - XH. Tuy nhiên, khi nói NNL tức là nói sức lao động do vậy nó còn ở trạng thái khả năng, ở trạng thái tĩnh nó phải chuyển sang trạng thái động tức là phải đem phân bố, sử dụng nó một cách hiệu quả, phải làm thế nào để NNL dưới dạng khả năng đó trở thành hiện thực, thành vốn nhân lực. Sử dụng NNL tức là tiêu dùng sức lao động của con người trong quá trình lao động sản xuất để tạo ra của cải vật chất, tinh thần phục vụ các nhu cầu sản xuất và nhu cầu tiêu dùng của con người trong xã hội. Quá trình lao động sản xuất đó là quá trình kết hợp sức lao động với các yếu tố khác của lực lượng sản xuất nên việc khai thác, phát huy NNL không thể tách rời việc tổ chức nền sản xuất cùng những cách thức của sự phát triển KT - XH. Bởi vậy, sử dụng NNL được hiểu là việc khơi dậy và phát huy tất cả những khả năng của con người thành hiện thực, biến sức lao động thành lao động trong quá trình phát triển KT - XH. Quá trình sử dụng NNL luôn gắn kết với sản xuất nên kết quả của nó phụ thuộc vào sự đổi mới trong cách thức tổ chức quản lý sản xuất, những cải tiến về công nghệ và phụ thuộc rất lớn vào việc hoàn thiện giáo dục đào tạo (đặc biệt là đào tạo nghề). 9 Trong quá trình CNH, HĐH ở nước ta việc khai thác, sử dụng NNL có thể được xem xét ở các khía cạnh sau: Một là, NNL được biểu hiện ra là nguồn lao động nó bao gồm toàn bộ những người lao động đang có khả năng phục vụ cho xã hội và các thế hệ nối tiếp, vì vậy sử dụng NNL trước hết là sử dụng lực lượng lao động sản xuất. Tạo việc làm và sử dụng có hiệu quả nhất NNL hiện có là yêu cầu cơ bản và chủ yếu của sử dụng NNL. Hai là, con người khi tham gia vào các quá trình phát triển KT - XH không những chỉ sử dụng lao động chân tay mà còn phải sử dụng cả lao động trí óc ngày càng nhiều khi xã hội ngày càng phát triển. Ngày nay thế giới đang dần bước vào giai đoạn phát triển kinh tế tri thức thì vai trò của lao động trí tuệ của con người thể hiện ngày càng rõ nét. Dự báo của C.Mác và Ph. Ăngghen: khoa học do lao động trí tuệ của con người sáng tạo ra sẽ trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp. Tri thức khoa học đang thấm sâu vào mọi yếu tố của quá trình sản xuất và trở thành một nhân tố có ý nghĩa quyết định sự phát triển. Do đó, có thể khẳng định lao động trí tuệ, lao động qua đào tạo là yếu tố giữ vai trò quan trọng hàng đầu của NNL, do vậy cần coi trọng và phát huy tiềm năng của NNL qua đào tạo. Ba là, sự tác động của cuộc cách mạng khoa học công nghệ hiện đại đã và đang làm thay đổi tính chất, nội dung của lao động, cơ cấu lao động, việc làm làm cho tốc độ tăng trưởng kinh tế không còn đi đôi với tiến trình phát triển việc làm. Điều đó đòi hỏi phải chuyển việc sử dụng lao động theo chiều rộng sang khai thác sử dụng theo chiều sâu. Việt Nam là một nước đang phát triển, thực hiện CNH sau, NNL dồi đào nhưng chất lượng và trình độ còn thấp vì vậy trong quá trình sử dụng NNL chúng ta vẫn cần thiết phải sử dụng lao động theo hướng kết hợp cả chiều rộng và chiều sâu. 10 Tóm lại, trong bất kỳ giai đoạn nào để phát triển KT - XH cũng cần phải coi trọng việc khai thác, phát huy và nâng cao hiệu quả sử dụng NNL, dựa trên điều kiện hoàn cảnh cụ thể của từng địa phương, từng vùng miền. 1.1.3. Vai trò của yếu tố con người trong quá trình phát triển kinh tế 1.1.3.1. Khái niệm phát triển kinh tế Phát triển kinh tế là quá trình lớn lên, tăng tiến mọi mặt của nền kinh tế. Nó bao gồm sự tăng trưởng về kinh tế đồng thời có sự hoàn chỉnh về mặt cơ cấu, thể chế kinh tế, chất lượng cuộc sống. Điều kiện đầu tiên của phát triển kinh tế là phải có tăng trưởng kinh tế (gia tăng về quy mô, số lượng của nền kinh tế, nó phải diễn ra trong một thời gian tương đối dài và ổn định). Sự thay đổi trong cơ cấu kinh tế thể hiện ở tỷ trọng vùng, miền, ngành, thành phần kinh tế… thay đổi. Trong đó tỷ trọng các vùng nông thôn giảm tương đối so với tỷ trọng vùng thành thị, tỷ trọng các ngành công nghiệp, dịch vụ tăng, đặc biệt là ngành dịch vụ. Cuộc sống của đại bộ phận dân số trong xã hội sẽ trở nên tốt đẹp hơn: giáo dục, y tế, tinh thần của người dân được chăm lo nhiều hơn, môi trường được đảm bảo. Phát triển kinh tế là một quá trình tiến hoá theo thời gian và do những nhân tố nội tại quyết định toàn bộ quá trình phát triển đó. Phát triển kinh tế là mục tiêu, ước vọng của các dân tộc trong mọi thời đại. Phát triển kinh tế bao hàm mối quan hệ biện chứng giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội. Tăng trưởng và phát triển kinh tế là điều kiện tiên quyết để giải quyết công bằng xã hội, là mục tiêu phấn đấu của nhân loại. 1.1.3.2. Vai trò của nguồn nhân lực trong phát triển kinh tế Vai trò quan trọng mang tính quyết định của NNL đối với sự phát triển KT - XH đã được khẳng định. Có nhiều công trình nghiên cứu về NNL và các tác giả đều có chung quan điểm con người là vốn lớn nhất, là yếu tố quyết định nhất đối với mọi quá trình phát triển KT -XH. 11 Trong tất cả các nguồn lực, NNL có ưu thế nổi bật ở chỗ nó không bị cạn kiệt đi trong quá trình khai thác và sử dụng mà còn có khả năng tái sinh và phát triển. Nó chính là nguồn lực cơ bản cho sự phát triển nhanh và bền vững. Do đó, ở hầu hết các quốc gia hiện nay đều đặt con người vào vị trí trung tâm của sự phát triển và đề ra chính sách, biện pháp nhằm khai thác và sử dụng có hiệu quả nguồn lực quan trọng này. Vai trò của NNL, của yếu tố con người được các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác-Lênin đánh giá rất cao. Việc phát huy hiệu quả nguồn lực này là vấn đề cơ bản nhất để phát triển sản xuất và nâng cao năng xuất lao động. Trong điều kiện của cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa, khoa học đang dần trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, các phát minh khoa học được áp dụng ngày càng nhiều vào sản xuất nhưng không vì thế mà vai trò của nguồn lực con người giảm nhẹ. Chủ nghĩa Mác khẳng định: Thiên nhiên không tạo ra máy móc, đầu máy xe lửa… tất cả những thứ đó là thành quả sáng tạo của bộ óc con người, được con người tạo ra và là sức mạnh tri thức của con người được vật hoá. Điều này chứng tỏ cùng với quá trình phát triển của sản xuất, của tiến bộ khoa học được áp dụng vào sản xuất, con người cùng với tiềm năng trí tuệ có vai trò ngày càng quan trọng. Thực tiễn lịch sử cho thấy quốc gia nào phát triển kinh tế mà biết phát huy trí tuệ và sức mạnh tiềm năng của NNL thì sẽ đạt được sự phát triển nhanh và ổn định. Chẳng hạn như Nhật Bản, Hàn Quốc, Singgapo và các quốc gia Đông Nam Á khác. Ngược lại, những quốc gia chỉ dựa vào điều kiện tự nhiên hoặc vốn từ bên ngoài như một số nước Trung Đông, Châu Phi hoặc Mỹ Latinh thì tốc độ tăng trưởng và phát triển không bền vững. Ví dụ Nigieria chỉ dựa vào nguồn dầu lửa - tài nguyên thiên nhiên nhưng do khai thác và sử dụng lãng phí nên khi nguồn tài nguyên có hạn này cạn kiệt thì trở nên nghèo đói. Hoặc Braxin chỉ dựa vào nguồn vốn nước ngoài nên năm 1982 nước này rơi vào khủng hoảng về nợ nước ngoài, lạm 12 phát tăng lớn hơn 500%/năm, thu nhập đầu người không tăng trong suốt 10 năm liền. Cuộc cách mạng khoa học công nghệ hiện đại đã làm cho nền kinh tế thế giới bước vào giai đoạn mới của sự phát triển. Đặc điểm nổi bật của nền sản xuất hiện đại là hàm lượng khoa học cao - máy móc công nghiệp đã được thiết kế theo dây chuyền công nghệ tự động, những máy móc cơ khí công nghệ cao được kết nối với máy tính, điều khiển tự động làm cho năng xuất lao động tăng, sản phẩm đạt mức chuẩn xác cao. Sự phát triển đó không thể thiếu được vai trò của yếu tố con người, sự phát triển của nguồn lực con người với trí tuệ, tri thức về hàm lượng chất xám công nghiệp. Đây chính là nguồn tài nguyyên vô giá của một quốc gia nó đóng vai trò to lớn trong tiến trình phát triển kinh tế đất nước. Nước ta tiến hành xây dựng chủ nghĩa xã hội từ một nền nông nghiệp lạc hậu. Để tạo dựng cơ sở vật chất kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội và đưa đất nước phát triển đi lên nước ta đã và đang từng bước tiến hành CNH, HĐH; từng bước chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng ưu tiên phát triển công nghiệp, dịch vụ phấn đấu đến năm 2020 đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp. Song thực tế hiện nay các nguồn lực với tư cách tiền đề để đưa nước ta tiến hành CNH, HĐH còn rất hạn chế. - Về khoa học công nghệ: trình độ công nghệ nước ta còn ở mức trung bình kém, nhất là trong ngành công nghiệp. So với các nước phát triển thì hệ thống máy móc thiết bị của chúng ta lạc hậu từ 2 đến 4 thế hệ, các loại vật liệu mới chỉ chiếm 5% tổng số vật liệu đang sử dụng, so với các nước công nghiệp phát triển thì công nghệ của ta lạc hậu từ 50 đến 100 năm. - Về cơ sở hạ tầng, dịch vụ ở nước ta còn yếu kém, chưa đáp ứng được yêu cầu của sự phát triển, thể hiện rõ nhất ở hệ thống đường giao thông, sân bay, bến cảng, đường sắt, điện nước… Trong số gần 200 ngàn kilômét đường 13 bộ chỉ có 8,5% đường rải nhựa, 65% đường đá còn lại là đường cấp phối, đường đất. Cảng biển, sân bay thiếu về số lượng, kém về chất lượng. - Về vốn: Nền kinh tế nước ta còn thiếu vốn. Tỷ lệ huy động vốn đầu tư phát triển hàng năm mới chỉ đạt 23 - 24% GDP. - Về tài nguyên thiên nhiên, khoáng sản nước ta tuy phong phú về chủng loại nhưng trữ lượng không nhiều, ví dụ như dầu khí. Theo dự tính trữ lượng dầu khí của nước ta chỉ tương đương với Malayxia nhưng dân số nước ta gấp 4 lần họ. Do đó nên tính theo trữ lượng bình quân đầu người thì nước ta thấp hơn họ. Điều đó chứng tỏ nguồn tài nguyên thiên nhiên cũng chưa phải là thế mạnh của Việt Nam. Hơn nữa, nguồn tài nguyên thiên nhiên chỉ có hạn nên khai thác và sử dụng lãng phí thì sẽ nhanh chóng cạn kiệt. Đánh giá sơ bộ một số nguồn lực cho thấy các nguồn lực vật chất của nước ta chưa thể là tiền đề vững chắc cho sự phát triển kinh tế. Cuối cùng là nguồn lực con người, với dân số nước ta hiện nay là trên 80 triệu người trong đó khoảng 50 triệu người trong độ tuổi lao động. Đây chính là nguồn lực dồi dào và đang là lợi thế tiềm năng quan trọng nhất mà Việt Nam hiện có. Hơn nữa, người lao động được đánh giá là cần cù, chịu khó, thông minh… Vì vậy so với bất cứ nguồn lực nào khác nguồn lực con người chiếm vị trí trung tâm, đóng vai trò quan trọng trong quá trình phát triển KT - XH của đất nước. Đại hội Đại biểu toàn quốc Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ VIII đã khẳng định: “lấy việc phát huy nguồn lực con người làm yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh và bền vững” [19, tr.23]. Đây là tư tưởng quan trọng trong tiến trình thực hiện phát triển KT - XH của đất nước. * Sử dụng hiệu quả NNL góp phần thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế. Nếu như trong những năm 50 - 60 của thế kỷ XX tăng trưởng kinh tế chủ yếu do CNH, sự thiếu vốn và nghèo nàn về cơ sở vật chất là khâu chủ yếu cản trở tốc độ tăng trưởng kinh tế thì từ vài thập niên cuối thế kỷ XX trở lại đây chỉ có một phần nhỏ thuộc về tăng trưởng kinh tế được giải thích bởi khía 14 cạnh đầu vào là vốn; phần quan trọng gắn với chất lượng của lao động. Cho nên việc đầu tư cho con người sẽ là yếu tố góp phần rất quan trọng nâng cao năng suất lao động. Garry Bec Ken (người Mỹ) cho rằng: Không có sự đầu tư nào mang lại nguồn lợi lớn như đầu tư vào NNL. Thực tế lịch sử các nền kinh tế thế giới cho thấy không có một quốc gia nào đạt được tỷ lệ tăng trưởng cao trước khi đạt được mức phổ cập giáo dục phổ thông. Việt Nam tuy là nước đang phát triển nhưng những kết quả về tăng trưởng KT - XH trong thời gian qua đã chứng minh điều đó. Theo đánh giá của Ngân hàng Thế giới, Việt Nam đã duy trì và đạt được tỷ lệ tăng trưởng khá cao và ổn định. Từ năm 1996 đến năm 2000 tốc độ tăng tổng sản phẩm trong nước bình quân mỗi năm 7,5% . Đến năm 2009 tổng sản phẩm trong nước đã gấp 2 lần so với năm 2000. Từ năm 2001 đến nay tỷ lệ tăng trưởng vẫn duy trì ở mức độ bình quân hơn 7%. Những năm cuối thập kỷ này tình hình kinh tế thế giới có nhiều biến động song Việt Nam vẫn duy trì tốc độ tăng trưởng khá (5,32% năm 2009) cao hơn so với mục tiêu đề ra. Bảng 1.1: Tốc độ tăng tổng sản phẩm trong nƣớc 2006-2010 Năm Tỷ lệ (%) 2006 2007 2008 2009 2010 8,3 8,46 6,31 5,32 6,78 Nguồn: Tổng cục Thống kê (2011), Niên giám thống kê 2010. Nhờ sự tăng trưởng của nền kinh tế bộ mặt xã hội không ngừng được cải thiện, chỉ số HDI được nâng lên đáng kể. Năm 1994 Việt Nam xếp thứ 116/173 nước với chỉ số 0,514; năm 1995 chỉ số này tăng lên 0,649; đến năm 2002 Việt Nam xếp thứ 108 với chỉ số 0,69. Những kết quả đó tuy chưa cao nhưng đã phản ánh rất rõ ràng chiến lược phát triển NNL của Đảng ta là đúng đắn. Sự phân tích trên đây cho thấy nguồn lực con người - NNL đóng vai trò hết sức quan trọng trong quá trình phát triển KT - XH của nước ta. Trong mọi giai đoạn con người luôn giữ vai trò trung tâm và là động lực quan trọng thúc đẩy sự phát triển KT - XH. 15 1.2. Nội dung, nhân tố ảnh hƣởng và xu hƣớng sử dụng nguồn nhân lực trong quá trình phát triển kinh tế 1.2.1. Nội dung của sử dụng nguồn nhân lực Sự tác động của cuộc cách mạng khoa học công nghệ cùng với những đòi hỏi tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững hiện nay đang đặt ra những yêu cầu mới trong việc khai thác và phát huy tiềm năng NNL. Ngày nay, ở hầu hết các quốc gia, con người được coi là nhân tố trung tâm của quá trình sản xuất nên đã diễn ra quá trình tìm kiếm những cách thức và giải pháp tối ưu sử dụng NNL. Sử dụng NNL là một mặt quan trọng trong sự phát triển. Khi xác định chiến lược phát triển đất nước, đẩy mạnh CNH, HĐH Đảng ta đã chỉ rõ những nguồn lực làm cơ sở cho việc thực hiện thành công CNH, HĐH đất nước là con người Việt Nam, nguồn lực tự nhiên, cơ sở vật chất, tiềm lực khoa học kỹ thuật vốn có và các nguồn lực ngoài nước (vốn, thị trường, công nghệ, kinh nghiệm quản lý). Nhưng các nguồn lực đó tự nó không thể tham gia vào các quá trình KT - XH bởi phần lớn mới ở dạng tiềm năng. Để thực hiện được mục tiêu chúng ta không thể không khai thác, sử dụng phát huy tối đa nguồn lực lâu bền và quan trọng nhất đó là NNL vì chỉ có con người mới có thể tác động khai thác các nguồn lực đó biến nó ở dạng tiềm năng thành hiện thực. Hơn nữa, nguồn lực con người không chỉ quyết định sử dụng hiệu quả việc khai thác các nguồn lực tự nhiên mà còn góp phần tạo ra các nguồn lực mới. Như Ph.Ăngghen đã nói: “Những con người có năng lực phát triển toàn diện, đủ sức tinh thông và nắm vững nhanh chóng toàn bộ hệ thống sản xuất trong thực tiễn đáp ứng được nhu cầu khai thác sử dụng các nguồn lực tự nhiên cho sự phát triển xã hội” [33, tr.474-475]. Sử dụng NNL như thế nào để phát huy được mọi tiềm năng của nó đặc biệt là tiềm năng trí tuệ và sức sáng tạo là vấn đề quan trọng. Điều này đã được khẳng định thông qua kinh nghiệm thực tiễn của các nước trong khu vực và thế giới. Vấn đề thực tiễn đặt ra cho nước ta hiện nay là với một nguồn lao 16
- Xem thêm -