Tài liệu Sử dụng đội ngũ công chức thi hành án dân sự từ thực tiễn cục thi hành án dân sự tỉnh đắk lắk

  • Số trang: 83 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 70 |
  • Lượt tải: 0
dangvantuan

Tham gia: 02/08/2015

Mô tả:

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI TRẦN TIẾN DŨNG SỬ DỤNG ĐỘI NGŨ CÔNG CHỨC THI HÀNH ÁN DÂN SỰ TỪ THỰC TIỄN CỤC THI HÀNH ÁN DÂN SỰ TỈNH ĐẮK LẮK Chuyên ngành: Luật Hiến pháp và Luật Hành chính Mã số: 8380102 NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC TS. NGUYỄN MINH PHÚ Đắk Lắk, năm 2020 LỜI CAM ĐOAN Tác giả xin cam đoan đề tài “Sử dụng đội ngũ công chức thi hành án dân sự từ thực tiễn cục thi hành án dân sự tỉnh Đắk Lắk” là công trình nghiên cứu độc lập của cá nhân tôi. Tất cả các thông tin số liệu, kết quả tự điều tra, khảo sát trong luận văn là trung thực và theo đúng quy định. Tác giả Trần Tiến Dũng LỜI CẢM ƠN Sau 2 năm học tập và nghiên cứu tại Cơ sở Học viện Khoa học Xã hội tại thành phố Buôn Ma Thuột. Được sự quan tâm, giúp đỡ của Lãnh đạo Học viện, các Khoa bộ môn, lãnh đạo cơ sở và các thầy giáo, cô giáo đã giảng dạy và giúp đỡ tận tình về mọi mặt để tác giả hoàn thành tốt khoá đào tạo chuyên ngành Luật Hiến pháp và Luật Hành chính. Đặc biệt, với tình cảm chân thành, tác giả luận văn xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc sự hướng dẫn, chỉ bảo tận tình của TS. Nguyễn Minh Phú để tác giả đã hoàn thành Luận văn. Tác giả xin chân thành cảm ơn Cục Thi hành án dân sự tỉnh Đắk Lắk, đồng nghiệp và gia đình đã giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi cho tác giả trong quá trình học tập và nghiên cứu. Mặc dù đã rất nỗ lực và cố gắng nhưng chắc chắn luận văn sẽ không tránh khỏi những thiếu sót. Tác giả mong tiếp tục nhận được sự hướng dẫn của các thầy, cô giáo, sự góp ý chân thành của bạn bè, đồng nghiệp để luận văn được hoàn thiện hơn. Xin trân trọng cảm ơn! Đắk Lắk, tháng 02 năm 2020 TÁC GIẢ Trần Tiến Dũng DANH MỤC TỪ VÀ CỤM TỪ VIẾT TẮT STT Nghĩa đầy đủ Thuật ngữ viết tắt 1 QLNN Quản lý nhà nước 2 KT - XH Kinh tế - Xã hội 3 CBCC Cán bộ, công chức 4 ĐNCC Đội ngũ công chức 5 THA Thi hành án 6 THADS Thi hành án dân sự 7 CTHADS Cục Thi hành án dân sự 8 TCTHADS Tổng cục Thi hành án dân sự 9 CNH Công nghiệp hóa 10 HĐH Hiện đại hóa 11 CNH-HĐH Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa 12 XHCN Xã hội chủ nghĩa DANH SÁCH BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ, BẢNG Sơ đồ 2.1 Bảng 2.1 Bảng 2.2 Bảng 2.3 Bảng 2.4 Bảng 2.5 Bảng 2.6 Bảng 2.7 Bảng 2.8 Biểu đồ 2.1 Biểu đồ 2.2 Biểu đồ 2.3 Biểu đồ 2.4 Bảng 2.9 Sơ đồ tổ chức bộ máy của Cục Thi hành án dân sự tỉnh ĐắK Lắk Trình độ DNCC của Cục Thi hành án dân sự tỉnh ĐắK Lắk (NguồnPhòng tổ chức Cục Thi hành án dân sự tỉnh ĐắK Lắk năm 2018) Kết quả thi hành án dân sự về việc từ năm 2014 - 2018 Kết quả thi hành án dân sự về tiền từ năm 2014 - 2018 Kết quả thi hành án dân sự có thu cho Ngân sách nhà nước từ năm 2014 2018 Kết quả thi hành án dân sự về giải quyết án tín dụng ngân hàng từ năm 2014 - 2018 Kết quả miễn thi hành án dân sự từ năm 2014 - 2018 Kết quả tổ chức thi hành phần dân sự trong các bản án hình sự đối với phạm nhân tại các Trại giam thuộc Bộ Công an giai đoạn từ năm 2014 2018 Kết quả cưỡng chế thi hành án dân sự từ năm 2014 - 2018 Công tác tuyển dụng ĐNCC giai đoạn 2014 - 2018 Công tác quy hoạch ĐNCC giai đoạn 2014 - 2018 Công tác đào tạo bồi dưỡng ĐNCC giai đoạn 2014 - 2018 Công tác luân chuyển ĐNCC giai đoạn 2014 - 2018 Bảng kết quả đánh giá, phân loại ĐNCC Cục Thi hành án dân sự tỉnh ĐắK Lắk từ năm 2014 - 2018 28 31 33 33 34 35 35 36 36 38 39 40 41 43 MỤC LỤC LỜI CAM ĐOAN LỜI CẢM ƠN DANH MỤC TỪ VÀ CỤM TỪ VIẾT TẮT DANH SÁCH BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ, BẢNG MỤC LỤC MỞ ĐẦU ............................................................................................................................... 1 1. Tính cấp thiết của đề tài .............................................................................................. 1 2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài .................................................................. 2 3. Mục đích, nhiệm vụ của luận văn ............................................................................... 4 4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn ......................................................... 5 5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn ............................................ 5 6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn ................................................................... 6 7. Kết cấu của luận văn ................................................................................................... 7 Chương 1. SỬ DỤNG ĐỘI NGŨ CÔNG CHỨC THI HÀNH ÁN DÂN SỰ MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN .............................................................................................................. 8 1.1. Những vấn đề chung về việc sử dụng đội ngũ công chức thi hành án dân sự ........... 8 1.2. Một số nội dung cần thiết đối với việc sử dụng đội ngũ công chức thi hành án dân sự ................................................................................................................................. 16 1.3. Kinh nghiệm của một số nước trên thế giới và một số tỉnh ở Việt Nam về sử dụng đội ngũ công chức ........................................................................................................... 21 Chương 2. THỰC TRẠNG SỬ DỤNG ĐỘI NGŨ CÔNG CHỨC THI HÀNH ÁN DÂN SỰ TỪ THỰC TIỄN CỤC THI HÀNH ÁN DÂN SỰ 26TỈNH ĐẮK LẮK ...................... 26 2.2. Thực trạng đội ngũ công chức Cục Thi hành án dân sự tỉnh Đắk Lắk..................... 27 2.3. Nội dung công tác tổ chức nhằm sử dụng đội ngũ công chức thi hành án dân sự từ thực tiễn Cục Thi hành án dân sự tỉnh Đắk Lắk .............................................................. 37 2.4. Nhận xét, đánh giá thực trạng sử dụng đội ngũ công chức thi hành án dân sự từ thực tiễn Cục Thi hành án dân sự tỉnh Đắk Lắk ...................................................................... 43 Chương 3. PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG ĐỘI NGŨ CÔNG CHỨC THI HÀNH ÁN DÂN SỰ TỪ THỰC TIỄN CỤC THI HÀNH ÁN DÂN SỰ TỈNH ĐẮK LẮK .......................................................................................... 50 3.1. Phương hướng sử dụng đội ngũ công chức thi hành án dân sự từ thực tiễn Cục Thi hành án dân sự tỉnh Đắk Lắk ........................................................................................... 50 3.2. Các giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đội ngũ công chức thi hành án từ thực tiễn Cục Thi hành án dân sự tỉnh Đắk Lắk ............................................................................. 53 MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài ĐNCC là nhân tố quyết định trong việc thực hiện một nền hành chính hiệu lực, hiệu quả của một nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, đặc biệt, trong giai đoạn Việt Nam đang trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, hội nhập quốc tế. Chính vì vậy, việc sử dụng, quản lý và xây dựng ĐNCC tận tụy, ngang tầm, đáp ứng được các yêu cầu, nhiệm vụ mới, phù hợp với yêu cầu hội nhập quốc tế đang là một yêu cầu cấp bách trong xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN nói chung và đẩy mạnh cải cách nền hành chính nhà nước nói riêng ở Việt Nam hiện nay. Sử dụng đội ngũ cán bộ, công chức đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước luôn là mục tiêu của mỗi quốc gia. Nền hành chính của quốc gia nào cũng hướng tới xây dựng một ĐNCC có năng lực, làm việc nghiêm túc vì chức trách, nhiệm vụ được giao. Có như vậy, nhà nước mới thực hiện được chức năng quản lý kinh tế, quản lý xã hội; giữ vững kỷ cương, phép nước và phát huy được hiệu lực, hiệu quả của nền hành chính nhà nước; xã hội mới ổn định và không ngừng phát triển. Xã hội càng phát triển càng cần có một đội ngũ cán bộ, công chức có năng lực, trình độ hiện đại, chuyên nghiệp đáp ứng được với yêu cầu của thực tiễn. Đại hội XI của Đảng chỉ rõ một trong những nhiệm vụ quan trọng hiện nay là: "Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức có phẩm chất đạo đức tốt, có bản lĩnh chính trị, có năng lực, có tính chuyên nghiệp cao, tận tuỵ phục vụ nhân dân. Quy định rõ và đề cao trách nhiệm của người đứng đầu". [23, 143] và "Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cả về bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, năng lực lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành, quản lý nhà nước." [23, tr.252] Hội nghị lần thứ bảy, Ban Chấp hành Trung ương (khóa XI), tháng 5-2013, xác định một trong những nhiệm vụ quan trọng để tiếp tục đổi mới, hoàn thiện hệ thống chính trị từ Trung ương đến cơ sở là: “Đẩy mạnh cải cách chế độ công vụ, công chức để nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức có đủ phẩm chất chính trị, đạo đức, trình độ, năng lực, kỹ năng công tác; kết hợp việc đào tạo, bồi dưỡng cán bộ với thực hiện luân chuyển để rèn luyện trong thực tiễn.” [25, tr.125] Quyết định 1847/QĐ-TTg ngày 27/12/2018 về phê duyệt Đề án Văn hóa công vụ do Thủ tướng Chính phủ ban hành. Những nội dung của Đề án này là chuẩn mực giao tiếp, ứng xử của cán bộ, công chức, viên chức. Trong đó, khi giao tiếp với người dân, cán bộ, công chức, viên chức phải luôn tôn trọng, lắng nghe, tận tình hướng dẫn về quy trình xử lý công việc và giải thích cặn kẽ những thắc mắc của 1 người dân. Thực hiện “4 xin, 4 luôn”: xin chào, xin lỗi, xin cảm ơn, xin phép; luôn mỉm cười, luôn nhẹ nhàng, luôn lắng nghe, luôn giúp đỡ. Trong những năm gần đây ĐNCC nói chung và ĐNCC của Cục THADS tỉnh Đắk Lắk nói riêng đã có bước phát triển cả về số lượng và chất lượng. Tuy nhiên, ĐNCC vẫn còn bộc lộ những bất hợp lý về cơ cấu, bất cập về chất lượng trước yêu cầu của nhiệm vụ trong tình hình mới. Một bộ phận nhỏ có biểu hiện suy thoái phẩm chất, đạo đức, cửa quyền, thiếu ý thức trách nhiệm và tinh thần phục vụ, vô cảm trước yêu cầu của nhân dân, của xã hội. Cùng với cả nước, công tác xây dựng, quản lý công chức của Cục THADS tỉnh Đắk Lắk trong những năm qua đã đạt được những kết quả nhất định. Bộ Tư pháp, Tổng cục THADS, Cục THADS tỉnh đã thật sự quan tâm đến công tác cán bộ, tích cực chăm lo đào tạo, bồi dưỡng ĐNCC, trong đó chú trọng đến quản lý sử dụng ĐNCC THADS đối với ĐNCC đáp ứng được yêu cầu, nhiệm vụ trong giai đoạn hiện nay. Chính vì vậy, Cục THADS tỉnh Đắk Lắk đã xây dựng được một ĐNCC có phẩm chất cách mạng, có bản lĩnh chính trị vững vàng, kiên định mục tiêu và đường lối đổi mới của Đảng. Trình độ kiến thức và năng lực quản lý, năng lực thực thi công vụ ngày càng được nâng cao, không ngừng phấn đấu vươn lên để hoàn thành nhiệm vụ chính trị và nhiệm vụ chuyên môn được giao. Tuy nhiên, chất lượng năng lực công tác của ĐNCC của Cục THADS tỉnh Đắk Lắk chưa đồng đều, một số công chức còn hạn chế về chuyên môn, nghiệp vụ, khả năng ứng dụng công nghệ thông tin, kỹ năng hành chính, thiếu tính nhạy bén, thiếu năng động và chưa thực sự đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ được giao. Trước những yêu cầu bức thiết của việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và thực tế Cục THADS tỉnh Đắk Lắk cần phải có một ĐNCC vững mạnh, có phẩm chất, năng lực, trình độ, phương pháp, phong cách, kỹ năng công tác tốt, nhạy bén, năng động, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của thời kỳ mới. Xuất phát từ thực tế trên tác giả chọn đề tài “Sử dụng ĐNCC thi hành án dân sự từ thực tiễn Cục Thi hành án dân sự tỉnh Đắk Lắk” làm đề tài nghiên cứu của mình nhằm góp phần vào việc thực hiện nhiệm vụ này. 2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài Vấn đề sử dụng đội ngũ cán bộ, công chức luôn được Đảng, Nhà nước, các cơ quan chuyên môn, các nhà khoa học quan tâm. Đã có nhiều đề tài, công trình nghiên cứu khoa học liên quan đến cán bộ, công chức và việc sử dụng nhằm nâng cao năng lực cán bộ, công chức ở nhiều cấp, phạm vi khác nhau. Có thể kể tới những công trình nghiên cứu tiêu biểu cụ thể như sau: Đề tài cấp Nhà nước: “Luận cứ khoa học cho việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước”, mã số 2 KHXH.05-03 (2001) do Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Phú Trọng và Phó giáo sư, Tiến sĩ Trần Xuân Sầm đồng chủ nhiệm. Đề tài đã nghiên cứu tổng quát các quan điểm lý luận, tổng kết thực tiễn, phân tích, lý giải và hệ thống hoá các căn cứ khoa học của việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ; đưa ra hệ thống các quan điểm, phương hướng và giải pháp nâng cao chất lượng ĐNCC đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và hội nhập kinh tế quốc tế. Công trình nghiên cứu: “Cơ sở lý luận và thực tiễn xây dựng ĐNCC” (2005) của hai tác giả Thang Văn Phúc và Nguyễn Minh Phương đồng chủ biên. Công trình khoa học này nghiên cứu khá kỹ cơ sở lý luận và thực tiễn ĐNCC nước ta, đề ra giải pháp xây dựng ĐNCC nước ta nhằm đẩy mạnh thực hiện Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2001-2010 của Chính phủ. Tác giả Tô Tử Hạ có nhiều công trình nghiên cứu và xuất bản một số cuốn sách về công chức hành chính nhà nước được sử dụng làm tài liệu giảng dạy, bồi dưỡng công chức hiện nay. Các công trình nghiên cứu của ông đã phân tích, lý giải và làm rõ khái niệm công chức nhà nước; vai trò của công chức trong việc xây dựng nền hành chính quốc gia và định hướng xây dựng ĐNCC, như: Sổ tay nghiệp vụ cán bộ làm công tác tổ chức nhà nước; Công chức và vấn đề xây dựng ĐNCC; Cẩm nang cán bộ làm công tác tổ chức nhà nước. Tạp chí Cộng sản số 854 (2013) có bài viết của Phó giáo sư, Tiến sĩ Phan Hữu Tích: “Bàn về xây dựng tiêu chuẩn chức danh công chức cơ quan tham mưu tỉnh ủy, thành ủy”; đề cập chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước về xây dựng tiêu chuẩn chức danh công chức trong cơ quan Đảng; tình hình thực hiện ở các tỉnh ủy, thành ủy và đề xuất bốn nhóm tiêu chuẩn cơ bản, các tiêu chí đánh giá công chức; có giá trị tham khảo để xây dựng các giải pháp sử dụng ĐNCC THADS của Cục THADS tỉnh Đắk Lắk. Trường Đại học Kinh tế quốc dân Hà Nội phối hợp với trường Đại học Tổng hợp Mardrid, Tây Ban Nha thực hiện Dự án ASIAN-LINK (mã số ASI/B7301/98/679-042) với sự hỗ trợ của Cộng đồng Châu Âu, đã điều tra, đánh giá chất lượng công chức quản lý cấp tỉnh ở Việt Nam, xác lập chương trình đào tạo về kinh tế và quản lý công chức cho ĐNCC cấp tỉnh. Kết quả nghiên cứu công bố tháng 72004 nêu rõ những yếu kém, thiếu hụt về kiến thức và kỹ năng của ĐNCC hành chính cấp tỉnh; trong đó, đáng chú ý nhất là sự thiếu hiểu biết về kiến thức quản lý hành chính công. Ngân hàng Phát triển Châu Á xuất bản cuốn sách: “Phục vụ và duy trì: Cải thiện hành chính công trong một thế giới cạnh tranh” (2003); từ Chương 10 đến Chương 12 của cuốn sách đề cập các vấn đề về việc làm, tiền lương trong khu vực nhà nước; quản lý nhân sự trong bộ máy chính phủ và đầu tư phát triển nhân sự cho 3 chính phủ, với rất nhiều ý tưởng đáng chú ý để nghiên cứu, tham khảo cho việc nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ, công chức. Một số luận văn thạc sĩ chuyên ngành Quản lý công tại Học viện Hành chính thực hiện đề tài về chất lượng, năng lực đội ngũ cán bộ, công chức. Đáng chú ý gần đây là: Luận văn của Bùi Hoàng Phan (2018), Đề tài: “Nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ, công chức Thủ đô đáp ứng yêu cầu hội nhập”; Luận văn của Trần Thị Bằng (2009), Đề tài: “Nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ, công chức ngành thi đua, khen thưởng trong giai đoạn hiện nay”; Luận văn của Cù Ngọc Hùng (2012), Đề tài: “Nâng cao năng lực công chức của Đài Truyền hình Việt Nam trong giai đoạn hiện nay”; Luận văn của Nguyễn Thị Hảo (2015), Đề tài: “Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng ĐNCC, viên chức của Bộ Công thương từ thực tiễn Trung tâm Thông tin công nghiệp và thương mại - Bộ Công thương”. Các luận văn này nghiên cứu khá kỹ về cơ sở lý luận, thực trạng và các giải pháp cụ thể nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ, công chức ở từng địa phương, ngành, cơ quan, đơn vị; có giá trị tham khảo để xây dựng các giải pháp nâng cao năng lực cán bộ, công chức ở các địa phương, cơ quan khác trong nước. Nhìn chung, những công trình nghiên cứu trên đây đã có những đóng góp quan trọng về lý luận và thực tiễn trong việc phân tích, đánh giá, kiến giải, gợi mở, đề xuất giải pháp sử dụng nhằm nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ, công chức. Tuy nhiên, cho đến thời điểm hiện tại, chưa có đề tài luận văn, luận án nào đi sâu nghiên cứu một cách có hệ thống, cụ thể về nội dung sử dụng ĐNCC THADS từ thực tiễn Cục THADS tỉnh Đắk Lắk. Tuy vậy, các công trình nghiên cứu nêu trên là nguồn tư liệu tham khảo có giá trị cả về mặt lý luận và thực tiễn để tác giả thực hiện đề tài nghiên cứu của mình. Vì thế, đây là một đề tài cần được nghiên cứu nhằm giải quyết những bất cập hiện nay của vấn đề sử dụng ĐNCC THADS từ đó góp phần nâng cao hiệu quả của công tác này 3. Mục đích, nhiệm vụ của luận văn 3.1. Mục đích Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn, luận văn đánh giá đúng thực trạng và tìm ra các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác sử dụng ĐNCC THADS từ thực tiễn Cục THADS tỉnh Đắk Lắk hiện nay. Góp phần quan trọng trong việc hoàn thành tốt nhiệm vụ chính trị, chuyên môn của Cục THADS tỉnh Đắk Lắk. Trên cơ sở đó, đề tài rút ra một số giá trị có ý nghĩa tham khảo trong việc đổi mới công tác sử dụng ĐNCC THADS nói chung và Cục THADS tỉnh Đắk Lắk nói riêng. Để qua đó giúp cho công chức của Cục THADS tỉnh Đắk Lắk tinh thông về 4 nghiệp vụ, thực hiện nghiêm kỷ cương kỷ luật công vụ, nhiệt tình, nhẹ nhàng trong giao tiếp, trong tiếp công dân và trong làm việc với công dân, giúp cho Cục THADS tỉnh luôn hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao trong giai đoạn hiện nay và các năm tiếp theo. 3.2. Nhiệm vụ Để thực hiện mục đích trên luận văn có các nhiệm vụ sau: - Xác định vai trò quan trọng, định hướng có tính chiến lược của Nhà nước về công tác sử dụng ĐNCC THADS hiện nay. - Phân tích thực trạng, tìm ra nguyên nhân của các hạn chế, xác định những việc đã làm được, những việc chưa làm được, những vướng mắc trong pháp luật về THADS góp phần sử dụng ĐNCC THADS từ thực tiễn Cục THADS tỉnh Đắk Lắk. - Từ khảo sát hoạt động thực tiễn công tác sử dụng ĐNCC THADS tại Cục THADS tỉnh Đắk Lắk. Qua đó, đề xuất các giải pháp có tính thực thi nhằm sử dụng, quản lý một cách đầy đủ, toàn diện và chặt chẽ việc thi hành công vụ từ thực tiễn Cục THADS tỉnh Đắk Lắk. 4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn 4.1. Đối tượng nghiên cứu - Luận văn tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận về sử dụng ĐNCC THADS như khái niệm, đặc điểm, vai trò, hiệu quả; thực trạng công tác sử dụng ĐNCC THADS trong hoạt động quản lý ĐNCC của Cục THADS tỉnh Đắk Lắk. - Nghiên cứu những yêu cầu, đòi hỏi để nâng cao hiệu quả và giải pháp nâng cao hiệu quả năng lực thực thi công vụ từ thực tiễn Cục THADS tỉnh Đắk Lắk hiện nay. 4.2. Phạm vi nghiên cứu Luận văn nghiên cứu, khảo sát việc sử dụng ĐNCC; đánh giá việc sử dụng ĐNCC THADS từ thực tiễn Cục THADS tỉnh Đắk Lắk từ năm 2014 đến nay; tình hình nhiệm vụ và yêu cầu về sử dụng ĐNCC THADS của Cục THADS tỉnh Đắk Lắk từ nay đến năm 2025. - Về không gian: Về việc sử dụng ĐNCC THADS từ thực tiễn Cục THADS tỉnh Đắk Lắk. - Về thời gian: Khảo sát, đánh giá thực trạng sử dụng ĐNCC THADS từ thực tiễn Cục THADS tỉnh Đắk Lắk từ 2014 đến 2018. Đề xuất quan điểm và các giải pháp nâng cao hiệu lực, hiệu quả đến năm 2025. 5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn 5.1. Cơ sở lý luận 5 - Luận văn nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về sử dụng đội ngũ cán bộ, công chức. Cùng với các quan điểm, chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước trong thời kỳ đổi mới, trong đó có đổi mới, vai trò về sử dụng ĐNCC nhằm nâng cao năng lực thực thi công vụ. - Bên cạnh đó, trong xu thế toàn cầu hóa và sự hội nhập sâu rộng của Việt Nam vào các diễn đàn quốc tế, những văn kiện quốc tế về công tác quản lý sử dụng đối với ĐNCC sẽ được đề cập khi giải quyết một số vấn đề đặt ra trong đề tài. Ngoài ra, những thành tựu lý luận và một số kinh nghiệm mà nhân loại đã đạt được trong việc sử dụng ĐNCC THADS cũng được xem xét, chắt lọc khi phân tích, đối chiếu các vấn đề đặt ra trong đề tài. 5.2. Phương pháp nghiên cứu Trên nền tảng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng, đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu: phương pháp thống kê, phân tích, tổng hợp, phương pháp kết hợp lý luận với thực tiễn, phương pháp lịch sử và logic; phương pháp so sánh… để giải quyết các vấn đề đặt ra trong đề tài. Những phương pháp trên được sử dụng nhằm đưa ra những kết luận chính xác và đề ra các biện pháp khả thi để khắc phục những tồn tại trong công tác sử dụng ĐNCC THADS cũng như nâng cao hiệu quả quản lý đối với công tác này tại Cục THADS tỉnh Đắk Lắk. 6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn 6.1. Về lý luận Đây là công trình không những có ý nghĩa trong việc hệ thống hóa các thông tin, các quan điểm về sử dụng ĐNCC THADS ở Việt Nam, mà còn có ý nghĩa trong việc phát triển cơ sở thực tiễn công tác sử dụng ĐNCC Cục THADS tỉnh Đắk Lắk. Kết quả nghiên cứu của Đề tài góp phần bổ sung vào kiến thức lý luận về sử dụng ĐNCC THADS trong điều kiện hiện nay ở Cục THADS tỉnh Đắk Lắk. 6.2. Về thực tiễn Luận văn góp thêm những thông tin có giá trị giúp các nhà hoạch định chính sách, các nhà lập pháp, các cán bộ làm công tác nghiên cứu, làm công tác thực thi pháp luật cũng như trong hoạt động thực tiễn có cách nhìn toàn diện, sâu sắc hơn việc sử dụng ĐNCC THADS. Trên cơ sở đó có những đóng góp tích cực vào việc thực hiện tốt chính sách của Đảng, pháp luật của nhà nước, nâng cao hiêu lực, hiệu quả về công tác này. 6 7. Kết cấu của luận văn Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung của luận văn gồm 3 chương. - Chương 1: Sử dụng đội ngũ công chức thi hành án dân sự – Một số vấn đề lý luận. - Chương 2: Thực trạng sử dụng đội ngũ công chức thi hành án dân sự từ thực tiễn Cục Thi hành án dân sự tỉnh Đắk Lắk hiện nay. - Chương 3: Phương hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đội ngũ công chức Thi hành án dân sự từ thực tiễn Cục Thi hành án dân sự tỉnh Đắk Lắk. 7 Chương 1 SỬ DỤNG ĐỘI NGŨ CÔNG CHỨC THI HÀNH ÁN DÂN SỰ MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN 1.1. Những vấn đề chung về việc sử dụng đội ngũ công chức thi hành án dân sự 1.1.1. Một số khái niệm liên quan * Khái niệm công chức Khái niệm công chức trên thế giới xuất hiện cùng với sự ra đời của chế độ công chức ở các nước tư bản phương Tây từ nửa cuối thế kỷ XIX, đánh dấu bước phát triển quan trọng của lịch sử các tổ chức nhà nước, là mốc son của văn minh nhân loại. Tuy vậy, mỗi quốc gia có quan niệm khác nhau về công chức. Ở Cộng hoà Pháp: Công chức là những người được tuyển dụng, bổ nhiệm vào làm việc trong các công sở gồm các cơ quan hành chính công quyền và các tổ chức dịch vụ công cộng do Nhà nước tổ chức, bao gồm cả Trung ương và địa phương, nhưng không kể đến các công chức địa phương thuộc các hội đồng địa phương quản lý. [35, tr228]. Ở Vương quốc Anh, khái niệm công chức bao hàm những nhân viên công tác trong ngành hành chính, ví dụ như nội chính và ngoại giao. Ở Hợp chủng quốc Hoa Kỳ, tất cả những nhân viên trong bộ máy hành chính của Chính phủ được gọi chung là công chức. Các nghị sĩ Quốc hội (thượng nghĩ sĩ, hạ nghị sĩ) và những người làm thuê trong Quốc hội đều không phải là công chức. Công chức gồm hai loại: Công chức lãnh đạo là những người thừa hành quyền lực nhà nước, được bổ nhiệm theo các trình tự luật định, chịu sự điều hành của Hiến pháp, Điều lệ công chức và Luật tổ chức của chính quyền các cấp. Công chức nghiệp vụ là những người thi hành chế độ thường nhiệm, do cơ quan hành chính các cấp bổ nhiệm và quản lý căn cứ vào Điều lệ công chức. [35, tr268] Như vậy, không có một khái niệm thống nhất của thế giới về công chức, nhưng có điểm chung, công chức là những công dân được tuyển dụng, bổ nhiệm giữ một chức danh, thừa hành một công vụ trong cơ quan nhà nước, được xếp vào một ngạch, hưởng lương từ ngân sách nhà nước và chịu sự điều hành của pháp luật. Công chức theo Quy chế này giới hạn trong phạm vi rất hẹp, chỉ có trong các cơ quan Chính phủ. Tuy nhiên, do chiến tranh và nhiều nguyên nhân khác, Quy chế này không được phổ biến, khái niệm công chức rất ít sử dụng mà thay vào đó là thuật ngữ: “cán bộ, công nhân, viên chức”, không phân biệt ĐNCC, công nhân, viên chức. Ngày 25-5-1991, Hội đồng Bộ trưởng ban hành Nghị định số 169/HĐBT về công chức nhà nước, quy định công chức ở phạm vi rộng hơn: “Công dân Việt Nam được tuyển dụng và bổ nhiệm giữ một công vụ thường xuyên trong một công sở của 8 Nhà nước ở Trung ương hay địa phương, ở trong nước hay nước ngoài đã được xếp vào một ngạch, hưởng lương do ngân sách nhà nước cấp gọi là công chức”. [29] Khái niệm công chức theo Nghị định số 169/HĐBT đã bao gồm khá đầy đủ các dấu hiệu cơ bản về công chức trong nền hành chính hiện đại, phù hợp với quan niệm chung của thế giới. Nhưng có hạn chế khi quy định những người làm việc trong các cơ quan của Đảng và đoàn thể không là công chức; trong khi tất cả những người làm việc trong các trường học, bệnh viện, cơ quan nghiên cứu khoa học, cơ quan báo chí, phát thanh, truyền hình của Nhà nước lại quy định là công chức. Pháp lệnh CBCC năm 1998 (sửa đổi, bổ sung năm 2000 và 2003); phạm vi điều chỉnh mở rộng đến tất cả những người trong tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội và gọi chung là “ĐNCC”; căn cứ xác định gồm 3 tiêu chí cơ bản: là công dân Việt Nam; trong biên chế nhà nước và hưởng lương từ ngân sách nhà nước. Quy định như vậy, vì đặc thù nước ta khác với nhiều nước trên thế giới, đó là các cơ quan Nhà nước, cơ quan của Đảng, các đoàn thể chính trị - xã hội có mối quan hệ liên thông, cùng nằm trong một hệ thống chính trị do Đảng lãnh đạo. Công chức là người được tuyển dụng và bổ nhiệm vào làm việc trong một cơ quan của Nhà nước ở trung ương hay ở địa phương, làm việc thường xuyên, toàn bộ thời gian, được xếp vào ngạch của hệ thống ngạch bậc, được hưởng lương từ ngân sách Nhà nước, có tư cách pháp lý khi thi hành công vụ của Nhà nước. [38, tr159]. Tuy nhiên theo định nghĩa này thì công chức chỉ trong phạm vi các cơ quan Nhà nước, không bao gồm các tổ chức khác trong hệ thống chính trị nên có nhiều vướng mắc khi áp dụng trên thực tiễn nước ta. Trước yêu cầu của thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập quốc tế và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân; Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XII, Kỳ họp thứ 4, ngày 13-11-2008 đã thông qua Luật CBCC. Khoản 2, Điều 4 Luật CBCC quy định về công chức như sau: Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị – xã hội (sau đây gọi chung là đơn vị sự nghiệp công lập), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị 9 sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật. Giải thích rõ hơn về phạm vi những người là công chức, Điều 32 của Luật quy định: Công chức quy định tại khoản 2 Điều 4 của Luật này bao gồm: a) Công chức trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, tổ chức chính trị xã hội; b) Công chức trong cơ quan nhà nước; c) Công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập; d) Công chức trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; công chức trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp [32]. Hướng dẫn thực hiện Luật CBCC, Chính phủ ban hành Nghị định số 06/2010/NĐ-CP, ngày 25-01-2010; Bộ Nội vụ ban hành Thông tư số 08/2011/TTBNV, ngày 02-6-2011 quy định những người là công chức. Như vậy, theo quy định của Luật CBCC, tiêu chí xác định công chức gắn với cơ chế tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh (khác với tiêu chí xác định cán bộ gắn với cơ chế bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ). Công chức là những người được tuyển dụng lâu dài vào biên chế, hoạt động của họ gắn với quyền lực công (hoặc quyền hạn hành chính nhất định) được cơ quan có thẩm quyền trao cho và chịu trách nhiệm trước cơ quan, tổ chức có thẩm quyền về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được giao theo quy định của pháp luật. * Khái niệm sử dụng Có nhiều quan niệm về sử dụng, khi con người bắt đầu hình thành các nhóm để thực hiện những mục tiêu mà họ có không thể đạt được với tư cách là những cá nhân riêng lẻ, thì sử dụng xuất hiện như một yếu tố cần thiết để phối hợp những nỗ lực cá nhân hướng tới những mục tiêu chung. Xuất phát từ những góc độ nghiên cứu khác nhau, rất nhiều học giả trong và ngoài nước đã đưa ra giải thích không giống nhau về sử dụng. Cho đến nay, vẫn chưa có một định nghĩa thống nhất về sử dụng, có nhiều cách hiểu về sử dụng như sau: Theo tác giả Hrold Kontz viết: “Sử dụng là một hoạt động thiết yếu, nó đảm bảo phối hợp những nỗ lực cá nhân nhằm đạt được các mục đích của nhóm. Mục tiêu của mọi nhà quản lý là nhằm hình thành một môi trường mà trong đó con người có thể đạt được các mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc và sự bất mãn cá nhân ít nhất”. [6] 10 Theo Đặng Vũ Hoạt và Hà Thế Ngữ: “Sử dụng là một quá trình định hướng, quá trình có mục tiêu, quản lý một hệ thống nhằm đạt được những mục tiêu nhất định”. [7] Theo “Một số thuật ngữ hành chính” của Viện nghiên cứu hành chính – Học viện Hành chính Quốc gia định nghĩa về sử dụng: “Sử dụng là hoạt động có ý thức của con người nhằm sắp xếp tổ chức, chỉ huy, điều hành, hướng dẫn, kiểm tra…các quá trình xã hội và hoạt động của con người để hướng chúng phát triển phù hợp với quy luật xã hội, đạt được mục tiêu xác định theo ý chí của nhà quản lý với chi phí thấp nhất”.[8] Từ những quan niệm về sử dụng đã nêu trên ta có thể hiểu: Sử dụng là sự tác động có tổ chức, có định hướng của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả các tiềm năng, các cơ hội của hệ thống để đạt được mục tiêu đề ra trong điều kiện biến động của môi trường. * Khái niệm thi hành án dân sự Luật Thi hành án dân sự năm 2008 được quy định tại Điều 1 và 2 “THADS là hoạt động của nhiều tổ chức và cá nhân, bao gồm cả cơ quan THADS trong quá trình tổ chức thi hành các bản án, quyết định của Tòa án, Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh và Trọng tài thương mại”. Các bản án, quyết định được THADS bao gồm: bản án, quyết định về dân sự, hình phạt tiền, tịch thu tài sản, truy thu tiền, tài sản thu lợi bất chính, xử lý vật chứng, tài sản, án phí và quyết định dân sự trong bản án, quyết định hình sự, phần tài sản trong bản án, quyết định hành chính của Tòa án, quyết định của Tòa án giải quyết phá sản, quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh của Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh có liên quan đến tài sản của bên phải thi hành và phán quyết, quyết định của Trọng tài thương mại hoặc những bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm được thi hành án ngay, mặc dù có thể bị kháng cáo, kháng nghị. Hoạt động THADS được thực hiện theo nguyên tắc và trình tự, thủ tục theo quy định của Luật THADS, các văn bản hướng dẫn thi hành và các văn bản quy phạm phát luật có liên quan. THADS là hoạt động của nhiều tổ chức và cá nhân được thực hiện theo nguyên tắc và trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật THADS và pháp luật có liên quan trong quá trình tổ chức thi hành các bản án, quyết định của Tòa án, Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh và Trọng tài thương mại. * Khái niệm sử dụng đội ngũ công chức thi hành án dân sự Sử dụng ĐNCC THADS là mối liên hệ giữa chủ thể sử dụng và khách thể sử dụng. Được thể hiện ở chủ thể sử dụng thường xuyên, chủ động có các hoạt động tác động có định hướng vào khách thể sử dụng là ĐNCC. Tác động của chủ thể sử 11 dụng không diễn ra một cách tự do mà có mục đích rõ ràng, đó là xây dựng cho Đảng và Nhà nước một ĐNCC đủ về số lượng và đảm bảo về mặt chất lượng. Nhằm thực hiện tốt các nhiệm vụ chính trị, chuyên môn. Sử dụng ĐNCC nói chung và sử dụng ĐNCC của THADS nói riêng có chất lượng thì phải trải qua nhiều khâu, nhiều cung đoạn khác nhau. Từ việc xác định chủ trương, mục tiêu đến việc xây dựng tiêu chuẩn, đánh giá, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, bổ nhiệm, luân chuyển, bố trí,... thực hiện chính sách cán bộ. Quá trình này được xem là sử dụng ĐNCC. Sử dụng ĐNCC THADS là công việc cơ bản trong công tác cán bộ do chủ thể lãnh đạo. Trước hết là do tập thể cấp ủy và cá nhân người đứng đầu tổ chức chịu trách nhiệm tổ chức và thực hiện. Nhằm tuyển chọn, quản lý, đào tạo, bố trí, đánh giá và phát triển ĐNCC đáp ứng yêu cầu của tổ chức và xã hội trong quá trình thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ đề ra. Từ những luận cứ trên có thể khái quát khái niệm sử dụng ĐNCC THADS như sau: "Là hoạt động lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức các hoạt động thực tiễn về công tác cán bộ của Đảng, của nhà nước nhằm làm cho ĐNCC THADS có cơ cấu, số lượng hợp lý, có phẩm chất, năng lực và sức khỏe đáp ứng được yêu cầu và nhiệm vụ được giao”. 1.1.2. Nội dung, nguyên tắc và vai trò quản lý sử dụng đội ngũ công chức Thi hành án dân sự * Nội dung quản lý sử dụng ĐNCC Thi hành án dân sự Thứ nhất, Bộ Tư pháp thống nhất quản lý sử dụng ĐNCC, viên chức và người lao động khác của Tổng cục THADS theo quy định của pháp luật, bảo đảm xây dựng Tổng cục THADS trong sạch, vững mạnh. Bộ Tư pháp đã ban hành Quy chế Phân cấp quản lý công chức, viên chức và người lao động trong ngành THADS (ban hành kèm theo Quyết định số 518/QĐBTP ngày 04/03/2019 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp. Quy chế này quy định về thẩm quyền và trách nhiệm quyết định biên chế công chức, viên chức, số lượng người lao động; việc tuyển dụng, đánh giá, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, bổ nhiệm, miễn nhiệm, khen thưởng, kỷ luật, chế độ, chính sách đối với công chức, viên chức và người lao động; về điều động, luân chuyển công chức; hướng dẫn, kiểm tra, giám sát công tác tổ chức cán bộ và giải quyết khiếu nại, tố cáo đối với công chức, viên chức và người lao động; bảo vệ chính trị nội bộ và xây dựng, quản lý hồ sơ, dữ liệu về công chức, viên chức và người lao động. Qua đó, Tổng cục THADS có thẩm quyền: Ban hành văn bản hướng dẫn về quản lý biên chế công chức, viên chức và người lao động trong ngành thuộc Tổng cục THADS. 12 Lập kế hoạch biên chế công chức, viên chức và người lao động hàng năm của hệ thống THADS. Đề nghị cấp có thẩm quyền phê duyệt Đề án xác định vị trí việc làm và cơ cấu các ngạch công chức của hệ thống THADS; phê duyệt Đề án xác định vị trí việc làm và cơ cấu các ngạch công chức hàng năm của các đơn vị thuộc Tổng cục THADS và các Cục THADS cấp dưới. Quyết định phân bổ biên chế cho các đơn vị thuộc Tổng cục THADS; phân bổ biên chế, số lượng chấp hành viên cho Cục THADS tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, cấp huyện thuộc mỗi Cục THADS tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; phân bổ số lượng người lao động (Hợp đồng 68/NĐ-CP) cho Chi cục THADS các cấp đã được các cơ quan có thẩm quyền giao. Thanh tra, kiểm tra việc quản lý biên chế công chức và người lao động trong hệ thống THADS. Báo cáo cơ quan có thẩm quyền về biên chế, số lượng, cơ cấu công chức và người lao động theo quy định của pháp luật. Ngoài ra, còn có thẩm quyền: Thành lập các hội đồng tuyển dụng; Ban hành, phê duyệt chương trình, kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng công chức trong hệ thống THADS; Đánh giá, phân loại công chức và người lao động theo quy định; Quyết định bổ nhiệm, giao quyền hoặc phụ trách, miễn nhiệm, cách chức chức vụ lãnh đạo, quản lý, chức danh tư pháp và các chức danh khác của Tổng cục THADS; Phê duyệt danh sách đề nghị nâng bậc lương trước thời hạn đối với công chức và người lao động trong hệ thống THADS... Thứ hai, Cục trưởng các Cục THADS trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, có trách nhiệm quản lý công chức và người lao động khác của hệ thống theo quy định của Quy chế trên và theo sự phân công, phân cấp của Tổng cục trưởng Cục THADS. Những người được phân cấp quản lý công chức và người lao động theo quy định của Quy chế này gồm Thủ trưởng các đơn vị thuộc Tổng cục THADS, Cục trưởng Cục THADS cấp tỉnh, Chi cục trưởng Chi cục THADS cấp huyện. Trên cơ sở chỉ tiêu biên chế được giao, căn cứ vào yêu cầu nhiệm vụ, Tổng cục trưởng phân bổ biên chế cho Văn phòng, các phòng thuộc tổng cục và tương đương, Cục trưởng Cục THADS cấp tỉnh phân bổ biên chế cho các phòng và tương đương, các Chi cục THADS cấp huyện trực thuộc. Quản lý, xây dựng hồ sơ, cập nhật, khai thác cơ sở dữ liệu công chức và người lao động thuộc Tổng cục THADS, Cục THADS cấp tỉnh và Chi cục THADS cấp huyện. * Nguyên tắc sử dụng ĐNCC Thi hành án dân sự 13 Trong Thể chế chính trị Việt Nam, ĐNCC không chỉ làm việc trong bộ máy nhà nước mà còn làm việc trong các tổ chức chính trị, chính trị - xã hội. Mặc khác, vai trò lãnh đạo toàn diện của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với nhà nước sẽ là những yếu tố quan trọng trong việc thiết lập các nguyên tắc cơ bản để quản lý ĐNCC nói chung và ĐNCC của Tổng cục THADS nói riêng. Một số nguyên tắc cơ bản sau: Một là, Phải bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng, vai trò quản lý của Nhà nước về công tác cán bộ. Đây là quan điểm rất mới được bổ sung so với Chiến lược cán bộ trước đây. Quan điểm thứ nhất này xác định rõ vai trò, vị trí của đội ngũ cán bộ và công tác cán bộ trong sự nghiệp cách mạng và công tác xây dựng Đảng. Quán triệt quan điểm giai cấp công nhân của Đảng, phát huy sức mạnh toàn dân tộc, truyền thống yêu nước, đại đoàn kết và gắn bó mật thiết với nhân dân; tập hợp rộng rãi các loại cán bộ, trọng dụng nhân tài, không phân biệt Đảng viên hay người ngoài Đảng, dân tộc, tôn giáo, người ở trong nước hay người Việt Nam định cư ở nước ngoài; Gắn việc xây dựng đội ngũ cán bộ với xây dựng tổ chức và đổi mới cơ chế chính sách. Thực hiện tốt công tác qui hoạch, đào tạo, bố trí và sử dụng cán bộ. Trong điều kiện hiện nay còn phải gắn công tác cán bộ với việc “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”; tích cực đẩy mạnh phòng chống tham nhũng, lãng phí và các hiện tượng suy thoái về phẩm chất chính trị, đạo đức, tư tưởng. Hai là, kết hợp vị trí việc làm và giữa tiêu chuẩn chức danh của ĐNCC. Vị trí việc làm và cơ cấu công chức được pháp luật xác định là nhiệm vụ bắt buộc đối với các bộ, ngành, địa phương để thực hiện đổi mới cơ chế quản lý, sử dụng ĐNCC. Vị trí việc làm là công việc gắn với chức danh, chức vụ, cơ cấu và ngạch công chức để xác định biên chế và bố trí công chức trong cơ quan, tổ chức, đơn vị. Nội dung của việc xác định vị trí việc làm là nhằm sắp xếp lại đội ngũ ĐNCC; phát hiện những chồng chéo về chức năng, nhiệm vụ của các vị trí việc làm, các cơ quan, tổ chức; phục vụ hiệu quả cho hoạt động tuyển dụng, bố trí sử dụng, đào tạo bồi dưỡng công chức, đánh giá quy hoạch cán bộ và cải cách tiền lương hiệu quả. Biên chế là số người làm việc trong cơ quan, tổ chức của nhà nước để thực hiện chức năng, nhiệm vụ được giao và được hưởng lương từ ngân sách nhà nước, do cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt và giao, làm căn cứ cấp kinh phí hoạt động thường xuyên hàng năm. 14
- Xem thêm -