Tài liệu sự cần thiết, vai trò của chính sách công

  • Số trang: 22 |
  • Loại file: DOCX |
  • Lượt xem: 7566 |
  • Lượt tải: 15
xiemnguyenthi

Tham gia: 13/06/2016

Mô tả:

Chính sách công
A, PHẦN MỞ ĐẦU Chính sách công đang ngày càng trở thành một công cụ quản lý của nhà nước ngày càng quan trọng đối với mọi quốc gia trên thế giới. Thông qua một hệ thống chính sách công, các nhà nước điều tiết những vấn đề nảy sinh trong đời sống kinh tế - xã hội của đất nước theo những mục tiêu mong muốn, tạo ra môi trường thuận lợi cho sự phát triển bền vững. Ở Việt Nam, Nhà nước ta đã ban hành và thực thi có hiệu quả nhiều chính sách công. Thời gian qua, việc hoạch định chính sách công ở nước ta đã cho ra đời nhiều chính sách phù hợp với thực tế, thực thi đem lại hiệu quả mà biểu hiện cụ thể là đã góp phần vào phát triển kinh tế - xã hội của đất nước ta trong hơn 30 thực hiện công cuộc đổi mới. Tuy nhiên, việc nghiên cứu, phân tích vận động chính sách công với tư cách là một khoa học, nhất là sự cần thiết và vai trò của nó chưa được đề cập nhiều. Vì vậy, việc nghiên cứu vận động chính sách công dưới góc độ lý luận là một yêu cầu quan trọng đặt ra đối với yêu cầu phát triển khoa học hành chính ở nước ta hiện nay. B, PHẦN NỘI DUNG 1. Những vấn đề chung về vận động chính sách công 1.1 Chính sách Thuật ngữ “chính sách” được sử dụng phổ biến trong các tài liệu và trên các phương tiện truyền thông, tuy nhiên nó khó thể đưa ra định nghĩa một cách rõ ràng. Theo Từ điển tiếng Anh Oxford (Oxford English Dictionary) định nghĩa như sau: chính sách là một đường lối hành động được thông qua và theo đuổi bởi chính quyền, đảng, nhà cai trị, chính sách… Theo sự giải thích này, chính sách không chỉ đơn thuần là một quyết định, mà đó là một đường lối, một phương hướng hành động. Cách hiểu này rất gần với quan điểm về chính sách của David Easton “một chính sách… bao gồm một chuỗi các quyết định và các hành động mà phân phối… các giá trị” [3 tr.7]. Hugh Heclo (năm 1972) định nghĩa về chính sách như sau: Một chính sách có thể được xem như là một đường lối hành động hoặc không hành động thay vì những quyết định của các hành động cụ thể. Còn Smith (năm 1976) quan niệm rằng “khái niệm chính sách bao hàm… sự lựa chọn có chủ định hành động hoặc không hành động, thay vì những lực lượng có tác động quan hệ với nhau”. Ông còn nhấn mạnh “không hành động” cũng như “hành động” và khẳng định “sự quan tâm sẽ không chỉ tập trung vào các quyết định mà tạo ra sự thay đổi, mà còn phải thận trọng với những quyết định chống lại sự thay đổi và khó quan sát bởi vì chúng không được tuyên bố trong quá trình hoạch định chính sách” [4, tr.7]. Như vậy, khó có thể đưa ra một định nghĩa rõ ràng và cụ thể về chính sách. Các chính sách đôi khi có thể được nhận thấy dưới hình thức các quyết định đơn lẻ, nhưng thông thường nó bao gồm một tập hợp các quyết định hoặc như được nhìn nhận như là một sự định hướng. Việc các tác giả nỗ lực đưa ra một định nghĩa cũng cho thấy rằng khó có thể xác định những thời điểm cụ thể mà chính sách được ban hành. Chính sách thường sẽ được tiến hóa trong giai đoạn thực hiện, chứ không phải trong giai đoạn hoạch định của chu trình chính sách. 1.2 Chính sách công Thuật ngữ “chính sách” khi đi với từ “công” thành “chính sách công” không chỉ đơn giản là một từ, mà có sự thay đổi đáng kể về nghĩa bởi vì có sự khác biệt về chủ thể ban hành chính sách, mục đích chính sách, vấn đề chính sách hướng tới giải quyết. Hiện nay có rất nhiều định nghĩa khác nhau về chính sách công. Thomas Dye (năm 1972) đưa ra định nghĩa về chính sách công như sau “chính sách công là bất kỳ những gì nhà nước lựa chọn làm hoặc không làm” [5, tr.4]. Đây là một định nghĩa khá đơn giản về chính sách công. Nó chưa đưa ra được một sự phân định những hoạt động nào là của nhà nước được gọi là chính sách và những hoạt động nào không được gọi là chính tranh trong các hoạt động của nhà nước. Tuy nhiên, định nghĩa này đem lại cho chúng ta những hiểu biết nhất định về chính sách công như sau: Thứ nhất, chủ thể ban hành chính sách công là nhà nước Trong xã hội, chỉ có nhà nước mới được quyền ban hành chính sách công. Còn các quyết định kinh doanh của tư nhân, các quyết định của các tổ chức chính trị - xã hội khác, của cá nhân, lợi ích không phải chính sách công. Cho dù trong thực tế, các hoạt động của họ có thể ảnh hưởng đến những gì nhà nước làm, nhưng bản thân những quyết định hoặc những hoạt động của chủ thể đó không tạo nên chính sách công. Chính sách công là công cụ, biện pháp nhà nước thực hiện trên thực tế. Thứ hai, chính sách công bao gồm sự lựa chọn cơ bản cho nhà nước về việc làm hoặc không làm gì. Quyết định này được cán bộ, công chức nhà nước và các cơ quan nhà nước ban hành. Nói một cách đơn giản nhất, chính sách công là một sự lựa chọn của nhà nước để thực hiện một đường lối hành động. Khái niệm “không làm gì” có nghĩa là nhà nước quyết định không tạo ra một chương trình mới hay đơn giản chỉ là duy trì tình trạng hiện tại. Tuy nhiên, đây là quyết định có tính suy tính, ví dụ nhà nước quyết định không tăng thuế để tạo ra các quỹ bổ sung dùng cho các hoạt động mở rộng sản xuất hoặc tăng sức tiêu dùng của xã hội. B.Guy Peter định nghĩa (1990) “chính sách công là toàn bộ các hoạt động của nhà nước có ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến cuộc sống của mọi người dân” [6, tr.41]. Với quan điểm này, tác giả muốn nhấn mạnh đến sự tác động của chính sách công đến đời sống của nhân dân hay cộng đồng xã hội, thay vì tác động lên một cá nhân, một tổ chức cụ thể. Nói cách khác, chính sách công hướng đến giải quyết vấn đề công và việc giải quyết vấn đề này sẽ ảnh hưởng đến một hoặc nhiều nhóm dân số trong xã hội. Điều này cũng đưa ra gợi ý về tiêu chuẩn đánh giá chính sách công là đánh giá tác động của nó đến xã hội. Theo Từ điển bách khoa Việt Nam “chính sách là những chuẩn tắc cụ thể để thực hiện để thực hiện đường lối, nhiệm vụ. Chính sách được thực hiện trong một thời gian nhất định, trên những lĩnh vực cụ thể nào đó. Bản chất, nội dung và phương hướng của chính sách tùy thuộc vào tính chất của đường lối, nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hóa” [6, tr.475]. Hay theo Nguyễn Hữu Hải “Chính sách công là những hành động ứng xử của Nhà nước với các vấn đề phát sinh trong đời sống cộng đồng, được thể hiện bằng nhiều hình thức cá nhân, được thể hiện bằng nhiều hình thức khác nhau, nhằm thúc đẩy xã hội phát triển” [2, tr.14]. Với các cách hiểu trên, mục đích chính sách công là thúc đẩy xã hội phát triển theo định hướng chứ không đơn giản chỉ là dừng lại ở việc giải quyết vấn đề công. Nói cách khác, chính sách công là công cụ để thực hiện mục tiêu chính trị của nhà nước. Ở Việt Nam, chính sách công là công cụ để thực hiện các đường lối, chủ trương của Đảng nhằm xây dựng xã hội Xã hội chủ nghĩa với mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” [1, tr.70]. Trong quá trình xây dựng Chủ nghĩa xã hội, xuất hiện nhiều vấn đề mà Nhà nước cần phải giải quyết bằng chính sách. Tuy nhiên, các chính sách công được ban hành phải đảm bảo phù hợp với định hướng chính trị đã được Đảng xác định. Như vậy, cho dù nhiều quan điểm khác nhau về chính sách công, nhưng chúng ta có thể rút ra những quan điểm cơ bản về chính sách công như sau: Thứ nhất, chính sách công bắt nguồn từ các quyết định do nhà nước ban hành và bao hàm các quyết định của nhà nước. Thứ hai, chính sách công bao gồm một tập hợp các quyết định diễn ra qua một giai đoạn dài và kéo dài vượt ngoài quá trình hoạch định chính sách ban đầu. Ở cấp hoạch định, chính sách công luôn không được thể hiện một cách rõ ràng trong một quyết đinh đơn lẻ, mà có xu hướng được xác định dưới dạng một chuỗi các quyết định gắn liền với nhau, giúp chúng ta nhận thức được chính sách là gì. Thứ ba, chính sách công hướng tới giải quyết vấn đề công và việc giải quyết vấn đề này sẽ làm ảnh hưởng đến một hoặc nhiều nhóm dân số trong xã hội. Thứ tư, chính sách công hướng đến việc thay đổi hành vi của đối tượng và thúc đẩy xã hội phát triển theo định hướng. Thứ năm, chính sách công bao gồm hai bộ phận cấu thành là mục tiêu và giải pháp chính sách. Thứ sáu, các chính sách công luôn thay đổi theo thời gian, vì những quyết định sau có thể có những điều chỉnh tăng dần so với các quyết định trước đó, hoặc do có những thay đổi trong định hướng trong định hướng chính sách ban đầu. Đồng thời kinh nghiệm thực thi chính sách công có thể được phản hồi vào quá trình ra quyết định. Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là các chính sách công luôn thay đổi, mà do quá trình chính sách năng động chứ không cố định và định nghĩa về các vấn đề chính sách cũng thay đổi theo thời gian. Thứ bảy, về cơ bản, chính sách công được xem là đầu ra của quá trình quản lý nhà nước, là sản phẩm trí tuệ của đội ngũ cán bộ, công chức nhà nước, thậm chí của cả xã hội. Từ phân tích những quan niệm về chính sách công nêu trên và những đặc trưng của chính sách công, có thể đưa ra một khái niệm về chính sách công như sau: Chính sách công là một tập hợp các quyết định liên quan với nhau, do nhà nước ban hành, bao gồm các mục tiêu và giải pháp để giải quyết một vấn đề công nhằm thúc đẩy xã hội phát triển theo định hướng nhất định. Trên thực tế, có nhiều loại chính sách công khác nhau đang tồn tại. Mỗi loại chính sách đều có những tính năng, tác dụng nhất định phù hợp với mục đích yêu cầu sử dụng của chủ thể. Tùy theo mục đích, yêu cầu của chủ thể quản lý để lựa chọn cách phân loại độc lập hay kết hợp giữa các cách phân loại sau đây: Theo lĩnh vực hoạt động (kinh tế, xã hội, y tế, quốc phòng, đối ngoại, dân tộc…) Theo thời gian phát huy tác dụng (dài hạn, trung hạn, ngắn hạn) Như vậy, các chính sách công được ban hành và thực thi đều có ảnh hưởng tới xã hội, mọi người và cuộc sống của chúng ta. 1.3 Vận động chính sách công Vận động là hành động (nói, hay viết) để ủng hộ một vấn đề nào đó. Như vậy, một “người vận động” là người có hành động như nói hay viết để ủng hộ một việc nào đó. Theo Từ điển Tiếng Việt phổ thông, vận động là việc tuyên truyền, giải thích, động viên làm cho người khác tự nguyện làm một việc gì đó, thông thường là theo một phong trào. Chẳng hạn, vận động toàn dân tham gia thực hiện quy ước văn minh trong tang, lễ, cưới hỏi ; vận động thanh niên tham gia phong trào thanh niên tình nguyện ; vận động toàn dân thực hiện sinh đẻ có kế hoạch… Như vậy, khi nói đến vận động, thông thường, chủ thể của việc vận động là Nhà nước, các tổ chức chính trị, chính trị – xã hội…Còn đối tượng của việc vận động là các tầng lớp nhân dân. Từ khái niệm về vận động nêu trên, có thể nêu, vận động chính sách công là việc tuyên truyền, giải thích, động viên những người nghiên cứu, soạn thảo và ban hành các chính sách tự nguyện xây dựng các chính sách theo nguyện vọng chính đáng của người vận động. Trong điều kiện ở nước ta hiện nay, khái niệm nêu trên bao hàm trong nó một quy trình ngược. Bởi lẽ, xây dựng, ban hành các chính sách là quyền của cơ quan Nhà nước các cấp, thể hiện ý chí của người quản lý đối với người bị quản lý. Vì vậy, sẽ khó có thể xẩy ra việc người bị quản lý lại tuyên truyền, giải thích, động viên những người có chức năng, quyền hạn trong quản lý làm theo nguyện vọng của mình mặc dù đó là những nguyện vọng chính đáng, hợp pháp. Vận động chính sách công được hiểu là quá trình tác động vào những nhà hoạch định chính sách, những người ra quyết định để tạo ra một chính sách phù hợp hơn, minh bạch và hiệu quả hơn. Thông qua việc thực thi các chính sách đã ban hành trong thực tế, nếu có những ý kiến và cần thiết phải thay đổi chính sách hiện hành để tạo nên những tác động tích cực cho cộng đồng và thực hiện công bằng xã hội tốt hơn thì chúng ta cần phải tham gia vào quá trình vận động chính sách. Thông qua vận động chính sách, chúng ta có cơ hội đóng góp ý kiến với các nhà hoạch định chính sách để thay đổi các chính sách hiện hành đáp ứng được yêu cầu của các bên liên quan. Nếu chúng ta đứng bên lề cuộc sống, thì mọi việc sẽ không thay đổi được. 2. Sự cần thiết của vận động chính sách công 2.1 Vận động chính sách công là tất yếu, khách quan Vận động chính sách là những nỗ lực có tính hệ thống nhằm tác động đến những người ra quyết định nhằm tạo ra những chính sách phù hợp hơn với điều kiện thực tiễn. Vận động chính sách có vai trò bổ sung, tác động mạnh mẽ tới các bước của quá trình ra quyết định. Vận động chính sách được coi là chiến lược nhằm kết nối tích cực giữa các bên liên quan. Kết quả của Vận động chính sách là mong muốn đat được mục tiêu vì công bằng, dân chủ và phát triển của xã hội. Như vậy, vận động chính sách ngày càng trở thành công cụ trong tiến trình dân chủ hóa, từng bước tiếp cận với những người ra quyết định và cải thiện quá trình ra quyết định. Khi vận động chính sách cần lưu ý các vấn đề sau: Vận động luôn là quá trình gây ảnh hưởng đến các nhà hoạch định chính sách. Vận động là các hành động được tính toán kỹ lưỡng. Có nghĩa người đi vận động luôn phải hiểu mình muốn thay đổi chính sách nào và cần tác động đến những ai. Người ra quyết định chính sách có nhiều cấp độ và loại hình khác nhau. Vận động chính sách liên quan đến các vấn đề xã hội nhằm mang lại sự thay đổi, cải thiện cuộc sống của con người, nhất là những người bị thiệt thòi trong xã hội. Trong nền hành chính nhà nước, chính sách công là bộ phận nền tảng trọng yếu của thể chế hành chính, là cơ sở và chi phối các yếu tố cấu thành khác của nền hành chính như: bộ máy hành chính; đội ngũ cán bộ - công chức; tài chính công. Ở Việt Nam, với hoạt động quản lý, điều hành của Chính phủ trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa thì chính sách công là công cụ tiền đề, không thể thay thế và chi phối các công cụ quản lý khác như pháp luật, kế hoạch, phân cấp - phân quyền… Điều đó giải thích vì sao trong những năm gần đây Đảng và Nhà nước ta luôn đặc biệt quan tâm tới việc nâng cao vai trò của chính sách công như là một công cụ hữu hiệu nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước nói riêng và đẩy mạnh chất lượng của sự nghiệp đổi mới nói chung. 2.2 Những vấn đề đặt ra trong quá trình vận động chính sách công Trong thời gian qua, hoạt động hoạch định chính sách công đã đạt được một số kết quả đáng khích lệ cả về số lượng và chất lượng trên các lĩnh vực trọng yếu, cấp bách về kinh tế, chính trị (tổ chức bộ máy nhà nước, an sinh xã hội, quân sự, ngoại giao…). Một số chính sách công quan trọng đã được luận chứng khoa học hơn, bám sát thực tiễn đất nước, địa phương và ngành. Nhờ đó, bước đầu đã tạo lập và hoàn thiện được một hệ thống chính sách công khá phù hợp, đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao của quản lý hành chính nhà nước, phục vụ chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Trong lĩnh vực kinh tế, một số chính sách mới được ban hành đã đáp ứng được về cơ bản yêu cầu phát triển và hoàn thiện thể chế của nền kinh tế thị trường, đặc biệt, có tính ứng phó khá tốt với tác động của cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu như: chính sách kích cầu, chính sách điều chỉnh tiền lương cơ bản, chính sách hạ thấp lãi suất cho vay của ngân hàng, lãi suất tối đa cho tiền gửi bằng đồng Việt Nam, chính sách mang ngoại tệ, tiền Việt Nam của cá nhân khi xuất nhập cảnh, chính sách điều chỉnh thuế thu nhập cá nhân, chính sách miễn giảm thuế sử dụng đất nông nghiệp… Theo đó, nhiều chính sách đã phát huy được tác dụng trong kiềm chế lạm phát, góp phần ổn định giá cả thị trường và mức độ tăng trưởng của nền kinh tế trong điều kiện khủng hoảng kinh tế. Điều đó được đánh giá như những phản ứng kịp thời của nhà nước trước những biến động lớn của kinh tế toàn cầu và khu vực. Bên cạnh đó, việc tổ chức thực thi chính sách công cũng đạt được những yêu cầu cơ bản như: kịp thời, đồng bộ, hiệu quả trong phạm vi cả nước cũng như từng địa phương, ngành. Một số địa phương đã chủ động, linh hoạt và sáng tạo trong triển khai thực thi chính sách cho phù hợp với đặc điểm của mình, có tính đến đặc điểm của đối tượng thụ hưởng chính sách. Công tác tổng kết thực tiễn thi hành chính sách cũng đã bắt đầu được chú ý hơn; một số chính sách được sơ kết, tổng kết khá công phu, có quy trình khoa học và có giá trị tham khảo lớn. Nhìn tổng thể, việc thực thi chính sách đã đi vào nề nếp, nghiêm minh với không ít kinh nghiệm bổ ích đã được đúc rút từ thực tiễn. Hoạt động phân tích, đánh giá chính sách công đã bắt đầu được quan tâm với tư cách là một trong những công đoạn quan trọng của quy trình chính sách công. Tuy chưa nhiều và chưa thật sự phát huy hết hiệu quả nhưng một số cơ quan nhà nước, viện nghiên cứu và cá nhân có những sản phẩm phân tích, đánh giá chính sách công rất tốt, giúp cho việc ban hành, sửa đổi nhằm hoàn thiện hệ thống chính sách hiện hành theo hướng khả thi, hiệu quả, mang lại lợi ích cho xã hội. Đặc biệt, vai trò của một số tổ chức phi nhà nước trong việc phân tích, đánh giá chính sách công được dư luận xã hội thừa nhận về chất lượng, về chính kiến và ảnh hưởng của chúng như: Viện nghiên cứu, tư vấn chính sách, pháp luật và phát triển thuộc Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam… Nhờ đó, từ chỗ là công việc khá lạ lẫm trong quy trình chính sách, thì đến nay hoạt động phân tích, đánh giá chính sách công đã bắt đầu được quan tâm nhiều hơn không chỉ từ phía các cơ quan nhà nước mà còn là của xã hội. Mặc dù vậy, khi đánh giá về hạn chế, khuyết điểm trong 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội X, Đảng ta nhận định: Năng lực xây dựng thể chế, quản lý, điều hành, tổ chức thực thi pháp luật còn yếu… Năng lực dự báo, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước trên một số lĩnh vực còn yếu. Có thể thấy những hạn chế, bất cập đó trên các khía cạnh chủ yếu sau đây: Lý luận về mô hình phát triển chung còn nhiều vấn đề chưa được làm sáng tỏ đã và đang tác động không nhỏ tới lý luận và thực tiễn của nhiều lĩnh vực vĩ mô như: về mối quan hệ giữa cải cách hệ thống chính trị với đổi mới kinh tế, về thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, về tăng trưởng đi đôi với thực hiện công bằng xã hội trong từng bước và trong cả quá trình phát triển, về bảo vệ môi trường trong phát triển bền vững… Trong đó, còn nhiều vấn đề đặt ra rất bức xúc nhưng chưa được kiến giải thấu đáo ở phương diện lý luận hay nói cách khác, lý luận còn bất lực trước nhiều vấn đề thực tế mà cội rễ của nó là tư duy chưa thật sự bắt kịp được yêu cầu ngày càng cao, phức hợp của công cuộc đổi mới. Thực tiễn của Việt Nam, của từng địa phương, từng ngành vẫn chưa thật sự được quan tâm như là một tiền đề, điều kiện tối quan trọng để xây dựng, ban hành, tổ chức thực hiện chính sách. Vì thế, vẫn còn không ít những chính sách xa với thực tế, gây khó khăn khi tổ chức thực hiện và không được dư luận thật sự đồng tình. Đặc biệt, những căn bệnh chủ quan, duy ý chí, chạy theo thành tích, thích “đánh bóng hình ảnh”, lợi ích cục bộ của từng bộ, ngành hoặc lợi ích của một số nhóm trong xã hội vẫn tồn tại dai dẳng đã gây những hậu quả không nhỏ cho xã hội, cho từng ngành và địa phương từ hoạt động hoạch định cho tới tổ chức thực thi chính sách công. Quy trình hoạch định chính sách công tuy đã được nghiên cứu cải tiến theo hướng hiện đại, tiện lợi, dân chủ nhưng vẫn còn những bất cập chủ yếu như: Có quá nhiều chính sách của các bộ, ngành trong khi chúng được xây dựng phân tán; thiếu sự phối hợp giữa các bộ, ngành một cách hợp lý và có cơ quan chủ trì, chịu trách nhiệm đích thực nên chất lượng không cao. Trong khi đó, hầu hết các chiến lược hay chính sách đều thể hiện sự liệt kê mục tiêu, quan điểm định hướng, yêu cầu mà thiếu hẳn những kế hoạch hành động cụ thể hay các biện pháp cần có. Chưa hình thành được những kênh thông tin chính thống cần thiết giữa nhà nước với xã hội trong việc xây dựng, ban hành, thực thi chính sách công để phúc đáp những lợi ích cơ bản của đôi bên. Vai trò của các cơ quan thẩm định, phê duyệt chính sách chưa được phát huy nên đã tạo những kẽ hở đáng kể cho việc ra đời một số chính sách có chất lượng chưa cao, thậm chí xã hội không đồng tình. Hiện tượng “vận động chính sách” (lobby) tuy chưa được chính thức thừa nhận ở phương diện luật pháp nhưng đã xuất hiện dưới nhiều hình thức với những biểu hiện tiêu cực khác nhau làm ảnh hưởng đến tính công bằng của chính sách, gây những nguy hại nhất định cho xã hội lại chưa được quan tâm nghiên cứu để có phương hướng và biện pháp xử lý có hiệu lực, hiệu quả. Trong lĩnh vực tổ chức thực thi chính sách công bộc lộ những hạn chế, bất cập chủ yếu về tính kịp thời, đồng bộ, nhất quán trong tổ chức thực hiện, nhất là ở một số chính sách về kinh tế - xã hội và môi trường trong thời gian gần đây. Hoạt động tuyên truyền, phổ biến, thuyết phục, vận động nhằm định hướng dư luận trong quá trình thực hiện chính sách chậm được đổi mới về hình thức, phương pháp, nội dung; còn nhiều biểu hiện hình thức, “làm cho có”… nên kém hiệu quả. Công tác hướng dẫn, đôn đốc, kiểm tra chưa kịp thời, thường xuyên và thiếu thực chất. Việc xử lý khiếu nại, tố cáo các vi phạm pháp luật trong quá trình thực hiện còn chậm, nhiều trường hợp thiếu công bằng, nghiêm minh đã ảnh hưởng xấu đến thực hiện chính sách công. Công tác tổng kết thực tiễn, rút kinh nghiệm cho hoạch định và thực thi chính sách chưa được coi trọng, chưa làm thường xuyên, kịp thời. Trong một thời gian dài, hoạt động này chưa thật sự được các cơ quan nhà nước có thẩm quyền quan tâm, coi trọng do sự bất cập trong tư duy làm chính sách. Điều này không chỉ đúng với quy trình chính sách của chính quyền địa phương mà còn của Chính phủ, các bộ, ngành. Trong những năm gần đây, thực tiễn cho thấy xã hội đã bắt đầu ý thức rõ hơn về vai trò quan trọng của hoạt động này trong tổng thể quy trình chính sách. Tuy vậy, xét về tổng thể, hoạt động phân tích, đánh giá chính sách công còn ở trong tình trạng lẻ tẻ, rời rạc, hình thức; không có nhiều những sản phẩm nghiên cứu có tầm cỡ về nội dung, chất lượng và quy mô để có thể tạo ra được những đột phá về chính sách trong từng lĩnh vực. Vì những lý do rất khác nhau mà những kết quả nghiên cứu, phân tích, đánh giá chính sách công được ứng dụng vào thực tế một cách hữu ích chưa nhiều, gây lãng phí, thiệt thòi cho toàn bộ quy trình chính sách công hoặc từng công đoạn trong đó. Việc tiếp thu các kết quả phân tích, đánh giá chính sách công từ phía các cơ quan nhà nước có thẩm quyền còn rất dè dặt, cứng nhắc; thậm chí có những trường hợp tỏ thái độ phân biệt, phê phán, “chụp mũ”… Số lượng các cơ quan hoặc cá nhân nghiên cứu về chính sách công chưa đủ để đáp ứng nhu cầu thực tế của lĩnh vực này, trong đó bản thân họ cũng gặp những khó khăn nhất định về khung pháp lý và phản ứng của một số cơ quan nhà nước. Để nâng cao chất lượng, hiệu quả của các hoạt động hoạch định và thực thi chính sách công ở nước ta trong giai đoạn hiện nay và những năm tiếp theo, cần đặt trọng tâm vào các vấn đề sau: Tiếp tục nâng cao nhận thức để trên cơ sở đó mở rộng sự tham dự một cách có hiệu quả của mọi cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội và nhất là của cá nhân người lãnh đạo, quản lý vào quá trình hoạch định và thực thi chính sách công. Nói cách khác, làm cho chính sách công từ chỗ chỉ là chức năng đặc quyền của các cơ quan nhà nước thành mối quan tâm chung và trách nhiệm của toàn xã hội. Đổi mới quy trình hoạch định chính sách công theo hướng dân chủ, huy động sự tham gia đắc lực của toàn xã hội, nhất là của đội ngũ chuyên gia vào xây dựng chính sách. Từng bước tạo lập một quy trình làm chính sách gọn, tiện lợi nhưng khoa học, có hiệu quả kinh tế - xã hội cao. Sửa đổi, bổ sung nhằm hoàn thiện cơ chế thẩm định và phê duyệt chính sách, nhất là với những chính sách lớn, quan trọng, có tác động trực tiếp và lâu dài tới lợi ích chung của toàn xã hội. Chấn chỉnh để nâng cao tính kịp thời, đồng bộ, nghiêm túc, hiệu quả của quá trình tổ chức thực thi chính sách cônh. Đặc biệt, coi trọng tính tiên phong của các khâu tuyên truyền, vận động, định hướng dư luận xã hội trong quy trình thực hiện chính sách. Tăng cường công tác đôn đốc, kiểm tra, giám sát về tiến độ, hiệu quả thực hiện chính sách công. Phát hiện và xử lý kịp thời, công bằng, minh bạch các khiếu kiện, vi phạm pháp luật nảy sinh. Coi trọng hoạt động tổng kết thực tiễn về hoạch định, thực thi chính sách công theo hướng thường xuyên, thiết thực; tránh phô trương, hình thức, lãng phí để rút kinh nghiệm cần thiết, bổ ích cho các hoạt động đó. Đề cao vai trò của hoạt động phân tích, đánh giá chính sách công như là một điều kiện tối quan trọng để từng bước cải thiện chất lượng của quy trình hoạch định và thực thi chính sách. Có cơ chế ràng buộc các cơ quan nhà nước trong việc phản hồi ý kiến, tiếp nhận các kết quả nghiên cứu, phân tích, đánh giá chính sách công. 3. Vai trò của vận động chính sách công 3.1 Vị trí trong vận động chính sách công Vận động chính sách công hoạt động như một công cụ để làm cầu nối, đề đạt tâm tư nguyện vọng của người dân tới các nhà hoạch định chính sách. Do vậy có thể có bốn vị trí để vận động chính sách công: Vị trí 1: Cá nhân, tổ chức vận động chính sách công đứng hoàn toàn về phía Nhà nước. Với vị trí này, vận động chính sách công không thể hiện vai trò cầu nối, hoạt động theo định hướng từ trên xuống. Vị trí 2: Cá nhân, tổ chức vận động chính sách công đứng hoàn toàn về phía người dân. Với vị trí này, chính sách công không thể hiện vai trò cầu nối, hoạt động như một công cụ của người dân với các nhà hoạch định chính sách (Vị trí các tổ chức cộng đồng). Vị trí 3: Cá nhân, tổ chức vận động chính sách đứng ở giữa. Đây là vị trí là cầu nối, tích cực truyền tải bức thông điệp của người dân tới các nhà hoạch định chính sách một các thuyết phục nhất (Vị trí của các tổ chức phi chính phủ). Vị trí 4: Cá nhân/tổ chức vận động chính sách đứng ở giữa (cầu nối độc lập). Đây cũng là vị trí cầu nối, nhưng giữ vai trò độc lập hơn và thể hiện vai trò là người đàm phán với cả hai bên (Vị trí của các nhà vận động hành lang). Sự tham gia của tổ chức xã hội vào quá trình xây dựng chính sách công là một cách thể hiện và phát huy vai trò của dân chủ. Mức độ tham gia vào quá trình ra quyết định dựa vào: Cách thức điều hành của chính quyền (Nhà nước) Tính chất đặc thù của vấn đề Thời điểm xây dựng chính sách Sự tham gia của tổ chức xã hội vào xây dựng chính sách theo cách điều hành của chính quyền có thể diễn ra theo các hình thức sau đây: Kiểu cực đoan độc đoán (đối với những vấn đề quan trọng, phạm vi hẹp) Kiểu cực đoan sáng suốt (thông qua các nghiên cứu) Kiểu hỏi ý kiến (mở rộng hơn sự đóng góp ý kiến) Kiểu có sự tham gia (đối thoại) Kiểu tản quyền (đồng ra quyết định) Kiểu hợp tác (người dân trở thành đối tác trong quá trình ra chính sách) Kiểu tạo điều kiện (người dân trở thành những người khởi xướng của quá trình ra chính sách) Đặc trưng vận động chính sách ở Việt Nam Đó chính là việc đưa ra những ý kiến đề xuất, góp ý, phản biện cho các chính sách kinh tế và xã hội để những nhà hoạch định chính sách đưa ra những chính sách phù hợp, minh bạch và hiệu quả hơn. Chủ thể của việc vận động phải là những nhà hoạch định chính sách theo một quy trình nhất định. Đối tượng của việc vận động là các tầng lớp nhân dân, cộng đồng doanh nghiệp, các tổ chức xã hội, xã hội - nghề nghiệp… Việc đưa ra những ý kiến đề xuất, góp ý, phản biện cũng phải tuân thủ pháp luật và theo những quy định, quy trình nhất định 3.2 Ý nghĩa, vai trò của việc vận động chính sách Ý nghĩa của việc vận động chính sách Nâng cao nhận thức về vai trò của người dân đối với sự nghiệp xây dựng, phát triển đất nước. Tăng cường tính công khai minh bạch, khả năng tiếp cận thông tin về các CS của nhà nước. Tăng cường sự tham gia của người dân trong quá trình xây dựng và thực hiện luật pháp. Tạo ra khả năng ‘dân biết’, ‘dân bàn’, ‘dân làm’, ‘dân kiểm tra’ trong quá trình ra các quyết định của nhà nước. Góp phần xây dựng mối quan hệ hài hòa giữa Nhà nước - Doanh nghiệp Xã hội dân sinh. Vai trò của vận động chính sách Trong quá trình quản lý, nhà nước sử dụng chính sách công để làm công cụ chủ yếu giải quyết những vấn đề chung nhằm thúc đẩy xã hội phát triển theo hướng nhất định. Vai trò của chính sách công được thể hiện ở những khía cạnh sau đây: Thứ nhất, vai trò định hướng Một trong những vai trò quan trọng của chính sách công là định hướng cho các hoạt động của các thực thể kinh tế - xã hội. Mục tiêu chính sách công thể hiện thái độ ứng xử của nhà nước trước vấn đề công, nên nó thể hiện rõ xu hướng tác động của nhà nước lên các thực thể xã hội để chúng vận động phù hợp với những giá trị tương lai mà nhà nước theo đuổi. Các giá trị này phản ánh ý chí của nhà nước nhằm đáp ứng nhu cầu cơ bản của đời sống xã hội. Nếu các thực thể xã hội tiến hành những hoạt động phù hợp với mục tiêu chính sách thì cũng có nghĩa đạt được mục tiêu phát triển chung và sẽ nhận được những sự trợ giúp của nhà nước. Hơn nữa, bản thân các giải pháp chính sách cũng có vai trò định hướng cho các thực thể kinh tế - xã hội trong việc đề ra các biện pháp. Thứ hai, vai trò khuyến khích và hỗ trợ Để đạt được mục tiêu chính sách công, nhà nước ban hành nhiều giải pháp, trong đó có giải pháp mang tính khuyến khích và hỗ trợ về tài chính như miễn, giảm thuế, hỗ trợ lãi suất, về trợ giá, trợ cấp… và các biện pháp kỹ thuật như đơn giản hóa thủ tục hành chính, hỗ trợ kỹ thuật để tạo thuận lợi cho các thực thể xã hội tham gia. Cần lưu ý rằng, các biện pháp này không mang tính bắt buộc, nó tạo ra cơ chế khuyến khích sự tham gia tự nguyện các thực thể kinh tế - xã hội tiến hành những hoạt động mà nhà nước mong muốn. Ví dụ chính sách khuyến khích đầu tư trong nước, chính sách thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, nhà nước ban hành nhiều biện pháp nhằm khuyến khích các nhà đầu tư bỏ vốn xây dựng, đầu tư nhà máy để tiến hành các hoạt động kinh doanh như miễn, giảm tiền thuê đất, đơn giản hóa thủ tục hành chính, hỗ trợ giải phóng mặt bằng… Hay như trong chính sách tam nông, nhà nước ban hành giải pháp khuyến nông như hỗ trợ về giống, hướng dẫn kỹ thuật cho nông dân, thu mua lương thực với giá bảo đảm cho người nông dân có một mức lợi nhuận nhất định, cho vay vốn lãi suất thấp… Vai trò tạo lập Thông qua các chính sách công, nhà nước đưa ra những điều kiện cần thiết nhằm tạo ra môi trường thuận lợi cho các thực thể kinh tế - xã hội tiến hành các hoạt động. Ví dụ, chính sách phát triển thị trường lao động, thị trường vốn, thị trường khoa học – công nghệ, thị trường chứng khoán, thị trường bất động sản, thị trường dịch vụ… Để thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển một cách ổn định, nhà nước ban hành nhiều chính sách bảo đảm các cân đối vĩ mô chính yếu như: cân đối giữa cung – cầu, tiền – hàng, xuất – nhập khẩu, đầu tư – tiêu dụng, tiết kiệm – tiêu dụng… Vai trò điều tiết Nhà nước cũng sử dụng các chính sách công để điều tiết thu nhập giữa các cá nhân và doanh nghiệp trong xã hội, điều tiết các thị trường lao động, vốn… như thuế thu nhập cá nhân, thuế thu nhập doanh nghiệp, quy định giá cả một số hàng hóa thiết yếu, bình ổn giá trên thị trường, chính sách tiền lương, lãi suất, chính sách tỉ giá… Nhà nước dùng các chính sách công để đảm bảo sự phát triển đồng đều giữa các vùng, miền, thông qua việc phân bổ và tái phân bổ các nguồn lực xã hội. Vai trò hiệu chỉnh những khuyết điểm của nền kinh tế thị trường Kinh tế thị trường được hiểu là một thể chế kinh tế với sự không tập trung (phân tán) về kế hoạch hoá và sự điều khiển quá tŕnh kinh tế được tiến hành theo sự điều phối của cơ chế giá cả. Trong nền kinh tế thị trường, phạm vi nhiệm vụ của Nhà nước ít nhất là phải tạo ra các điều kiện khung để khuyến khích đầy đủ được chức năng điều phối từ sự cạnh tranh, thi đua cũng như khuyến khích việc sẵn sàng cung cấp các loại hàng hoá công cộng không sinh lợi của kinh tế tư nhân. Đồng thời mỗi một đề án về các chính sách kinh tế như chính sách thời vận, chính sách cơ cấu và chính sách xă hội cần bổ sung thêm nhiệm vụ làm hạn chế tính tự trị của kế hoạch hoá cá nhân. Kinh tế thị trường còn được hiểu là một hệ thống kinh tế mà trong đó các kế hoạch và tổ chức sản xuất kinh doanh của từng đối tượng kinh tế đều hoạt động dựa trên nền tảng của việc tự do tạo lập giá cả và được điều tiết theo giá cả. Đó là một nền kinh tế hàng hoá trao đổi và tự do cạnh tranh, thi đua là thực sự cần thiết. Sự cạnh tranh đầy đủ trong nền kinh tế thị trường không chỉ điều tiết nền kinh tế cả theo chiều dọc và chiều ngang mà c nc thường xuyên điều chỉnh các diễn biến kinh tế và kích thích tính hiệu quả của nền kinh tế. Hiệu quả hoạt động của nền kinh tế thị trường được thể hiện ở động cơ sản xuất và năng xuất, ở mức thu nhập quốc dân và mức sống xă hội cao cũng như các khả năng cung ứng tốt các hàng hoá và dịch vụ. Các chức năng trật tự, điều hành và điều phối cân bằng cần phải được đảm bảo nhằm chế ngự được tính độc quyền của sản xuất hàng hoá nhưng đồng thời cũng phải mang lại khả năng thịnh vượng chung cho toàn xă hội. Khái niệm về kinh tế thị trường đến nay đă trải qua nhiều giai đoạn phát triển với nhiều góc độ nhh n nhận khác nhau. Nhưng dù sao khi thiết lập các nguyên tắc hoạt động trong luật kinh tế, nhà nước cũng phải đảm bảo được tác động thực sự của sự cạnh tranh trên thị trường. Đồng thời, cũng đề cập đến những định mức chuẩn như thu hẹp tính độc quyền cá nhân, uốn nắn những lệch lạc, sai phạm hoặc ngăn cản sự cạnh tranh. Bên cạnh đó, nhà nước với chính sách kinh tế cũng điều tiết và định hướng cho sự phát triển của hệ thống kinh tế thị trường. Tuy nhiên, các nguyên tắc này cũng không bảo hành cho các mục tiêu chung của toàn bộ nền kinh tế quốc dân như đầy đủ việc làm, ổn định giá cả… Mặc dù nguyên tắc tự điều chỉnh nền kinh tế thông qua cạnh tranh là điều kiện rất cần thiết nhưng cũng cần phải được bổ sung trong lĩnh vực kinh tế vĩ mô thông qua các biện pháp điều chỉnh tổng thể của nhà nước. Hiện nay, trên thế giới có nhiều mô hình kinh tế thị trường khác nhau, điều đó phụ thuộc vào sự thích ứng của từng nước đối với điều kiện, hoàn cảnh tự nhiên, kinh tế xă hội cũng như tập quán dân tộc mà lựa chọn một mô hình kinh tế thích hợp. Sẽ không bao giờ có một mô hình kinh tế thị trường khuôn mẫu thích hợp cho tất cả các nước hoặc dù chỉ điển hình cho một nhóm nước cùng thực hiện. ở đây phải kể ra một số mô hình kinh tế thị trường tiêu biểu như: kinh tế thị trường xă hội của Cộng hòa liên bang Đức, kinh tế thị trường tự do tương đối của Mỹ, mô hình của nhà nước thịnh vượng trong nền kinh tế thị trường của Thụy Điển, kinh tế thị trường xă hội xã hội chủ nghĩa của Trung Quốc, kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa có sự điều tiết của Nhà nước ở Việt Nam… Điều cần xem xét chung là khi tiến hành nền kinh tế thị trường người ta phải biết chấp nhận cả những bất lợi do hậu quả của nền kinh tế thị trường mang lại cho xă hội và ở mỗi nước khác nhau đều có cách nhh n nhận và giải quyết vấn đề này một cách khác nhau. Cụ thể là vấn đề thời vận kinh tế nhất là lúc suy thoái, nạn lạm phát và nạn thất nghiệp. Điều đó có nghĩa là không có sự bảo hành trên con đường tiến hành kinh tế thị trường. Do vậy, phải có các biện pháp mang tính bị động nhằm ngăn chặn hoặc hạn chế những hậu quả xấu xẩy ra đối với xă hội cũng như đối với các tầng lớp dân cư “yếu” hơn trong xă hội. Và điều này được nhh n nhận một cách đơn giản là những công cụ nhằm mục đích bảo đảm xă hội, ổn định xã hội trong mọi tình huống – đây là một trong những nhiệm vụ chính của chính sách xă hội. Chúng ta có thể minh hoạ thêm về khái niệm kinh tế thị trường thông qua nền kinh tế thị trường xă hội của Cộng hòa liên bang Đức và nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa có sự điều tiết của nhà nước ở Việt Nam để hiểu rõ thêm về bản chất nền kinh tế thị trường. Tư tưởng xây dựng nền kinh tế thị trường xă hội được hình thành ở cộng hòa liên bang Đức từ những năm 50 trên cơ sở lựa chọn, khắc phục nhược điểm của nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa không thể kiểm tra được với nền kinh tế hành chính tập trung quan liêu. Nền kinh tế thị trường xă hội là khả năng của sự hòa hợp giữa sự tự do về kinh tế với tư tưởng Nhà nước xă hội, tương tự như sự bảo đảm xã hội và sự bình đẳng cần đạt được. Trong nền kinh tế thị trường, người ta luôn đặt ra mối quan hệ giữa thị trường và những người chịu trách nhiệm tích cực, các ông chủ doanh nghiệp và người lao động làm thuê, sự bảo đảm xă hội cũng như vai trò, trách nhiệm của Nhà nước. Điều đó được thể hiện ở chỗ: sự tự do trên thị trường (cho các ông chủ doanh nghiệp) nối liền với sự bảo đảm xă hội xác định được (cho người lao động) trong đó nhiệm vụ của Nhà nước là xây dựng và thực hiện pháp luật theo hướng các chính sách tổng thể và chính sách quá trình. Quá tŕnh hoạt động kinh tế trong nền kinh tế thị trường xă hội được đặt dưới sự cân nhắc về mặt xă hội. Diễn giải về từ “xã hội” thu hoạch được từ hệ thống “kinh tế thị trường xă hội” này là tất yếu với nó thực hiện trước hết cho sự phát triển kinh tế thông qua các khả năng, hiệu quả của nền kinh tế thị trường cạnh tranh có tổ chức, “sự thịnh vượng cho tất cả” là có thể được và thứ hai là sự tự do kinh tế cho tất cả được tôn trọng. Con người trong hệ thống này một mặt là một cá nhân, sự tự do và đặc tính cá thể của nó được bảo vệ và khuyến khích. Mặt khác, về góc độ bản chất xã hội, con người được nối liền với nghĩa vụ và những ràng buộc của tự do trong xã hội. Nguyên tắc cao nhất của nền kinh tế thị trường xă hội là sự nối liền tự do trên thị trường với đ ci hỏi cân bằng xă hội theo phương thức: Sự quyết định tự do của các chủ thể kinh tế (ngân sách của cá nhân hoặc ngân sách doanh nghiệp) về thị trường được bảo đảm đảm mà ở đó sự cố gắng đạt được một cách đồng đều về bảo đảm xã hội và sự thịnh vượng chung toàn xã hội. Ở Việt Nam, nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa có sự điều tiết của nhà nước đã thể hiện rõ sự phát triển của nền kinh tế thị trường nhằm mục tiêu dân giàu, nước mạnh gắn liền sự phát triển của một xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Điều đó có nghĩa là sự tôn trọng, khuyến khích và sử dụng tối đa các đặc tính ưu việt của nền kinh tế thị trường có tổ chức, của các tổ chức kinh tế nhằm đáp ứng cho sự phát triển nhanh và mạnh nền kinh tế quốc dân. Và nhịp độ phát triển kinh tế này luôn được gắn chặt với sự phát triển con người và xã hội. Vì vậy, vai trò của nhà nước đối với sự phát triển nền kinh tế thị trường mang đặc trưng riêng ở nước ta giữ vai trò hết sức quan trọng. Đặc điểm chung là nền kinh tế thị trường của nước ta được chuyển biến từ một nền kinh tế kế hoạch hóa hành chính tập trung. Trải qua ba mưoi năm chuyển đổi, với sự điều chỉnh từng bước của Nhà nước đã không gây nên những biến động làm ảnh hưởng đến sự phát triển của xã hội cũng như đời sống của đại bộ phận người lao động và dân cư trong toàn xã hội. Trái lại, sự thành công của công cuộc chuyển đổi kinh tế đã mang lại bộ mặt mới cho đời sống xã hội cả nước. Thành công đó là do một mặt chúng ta từng bước áp dụng các yếu tố kinh tế thị trường vào từng ngành, từng khu vực; từng bước đa dạng hoá các thành phần kinh tế, tăng cường năng lực cạnh tranh và bình đẳng của các thành phần kinh tế; chuyển đổi cơ cấu kinh tế; tạo ra các hành lang pháp lý cần thiết cho hoạt động thị trường đi đúng hướng, mặt khác nhà nước ta rất coi trọng công cụ điều tiết xã hội, sử dụng toàn diện các công cụ của chính sách xă hội như: xoá đói giảm nghèo, cho vay vốn ưu đãi để sản xuất kinh doanh; khuyến khích người lao động tự tạo việc làm và tăng thêm thu nhập; nâng cao chất lượng cung cấp cho các đối tượng hưởng ưu đãi xã hội; từng bước quan tâm đến vấn đề nhà ở cho mọi người dân…nhằm từng bước phấn đấu mang lại sự công bằng, bình đẳng cả về mặt chính trị, tinh thần lẫn đời sống kinh tế cho từng thành viên hay nhóm thành viên trong xă hội. Để hạn chế sự xuất hiện của các rủi ro xã hội cũng như điều tiết cân bằng hậu hoạ của các rủi ro. Các chính sách sẽ can thiệp vào quá trình kinh tế theo phương thức đa dạng. Tất nhiên các tác động của chính sách đến nền kinh tế thị trường luôn dẫn đến các mâu thuẫn và tranh chấp cơ bản về sự can thiệp của các chính sách xă hội một mặt được coi như là nguyên tắc chống đối lại cơ chế thị trường và theo cách tính toán lợi nhuận của các chủ doanh nghiệp thì đó là các chi phí ngọai lai làm giảm bớt lợi nhuận. Nhưng mặt khác nó lại là các điều kiện cần thiết cho sự ổn định về kinh tế – xã hội và đồng thời đảm bảo cho các khả năng phát triển của toàn bộ hệ thống kinh tế. Sự can thiệp của chính sách vào quá trình kinh tế được thể hiện đầy đủ ở các mặt sau: Thông qua các quy định của luật pháp, nhất là các quy định về thị trường lao động và quan hệ lao động nhằm khuyến khích phát triển các hoạt động sản xuất kinh doanh nhưng trong phạm vi xă hội kiểm soát được, đồng thời ngăn ngừa hoặc làm giảm bớt các hậu quả xấu của việc sản xuất kinh doanh gắn liền với quy mô của từng đơn vị kinh tế riêng (ví dụ như: điều kiện làm việc, tiền lương, lợi nhuận cho phép…). Thông qua việc chi trả bằng tiền nhằm điều tiết bổ sung cho việc phân phối lại thu nhập từ những đối tác tham gia vào thị trường cũng như hiệu quả của thị trường nhằm loại trừ sự nghèo đói, giúp đỡ vượt qua những rủi ro làm mất mát thu nhập trong quá trình làm việc cũng như xem xét đến việc bảo đảm những nhu cầu thiết yếu. Thông qua các nguồn phúc lợi bằng hiện vật hoặc bằng tiền trong lĩnh vực sức khoẻ nói riêng và và lĩnh vực xã hội nói chung mà đảm bảo đáp ứng đầy đủ các nhu cầu sống tối thiểu cho các thành viên trong xã hội và họ không phải chi trả cho những phúc lợi đó. Tổ chức tài chính cho các hoạt động của chính sách xă hội, đây được coi là một trong những nhiệm vụ quan trọng của Nhà nước. Các nguồn thu từ thuế và từ đóng góp nghĩa vụ căn cứ vào thu nhập trong quá trình hoạt động kinh tế.
- Xem thêm -