Tài liệu So sánh truyền thuyết và lễ hội hai bà trưng ở mê linh và phú thọ

  • Số trang: 137 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 208 |
  • Lượt tải: 0
nguyetha

Đã đăng 8489 tài liệu

Mô tả:

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN --------------- NGUYỄN THỊ HỒNG THANH SO SÁNH TRUYỀN THUYẾT VÀ LỄ HỘI HAI BÀ TRƢNG Ở MÊ LINH VÀ PHÚC THỌ LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC Hà Nội – 2014 ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN --------------- NGUYỄN THỊ HỒNG THANH SO SÁNH TRUYỀN THUYẾT VÀ LỄ HỘI HAI BÀ TRƢNG Ở MÊ LINH VÀ PHÚC THỌ Chuyên ngành : Văn học dân gian Mã ngành : 60 22 01 25 LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC Cán bộ hướng dẫn khoa học: GS. TS Lê Chí Quế Hà nội – 2014 LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu và kết quả trong luận văn là trung thực. Những ý kiến khoa học trong luận văn chƣa đƣợc ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác. Hà Nội, ngày 16 tháng 12 năm 2014 Tác giả luận văn Nguyễn Thị Hồng Thanh LỜI CẢM ƠN Trƣớc tiên, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất đến thầy giáo – GS. TS Lê Chí Quế – ngƣời đã hƣớng dẫn trực tiếp, tận tình nhất để tôi có thể hoàn thành tốt luận văn này. Nhân đây tôi cũng xin cảm ơn các thầy cô giáo, khoa Văn học, phòng Sau đại học trƣờng Đại học khoa học xã hội và nhân văn, Đại học Quốc Gia Hà Nội đã tạo điều kiện cho tôi học tập và hoàn thành luận văn này. Tôi xin cảm ơn Ban quản lý di tích đền Hai Bà Trƣng ở Hát Môn – Phúc Thọ và ở Hạ Lôi – Mê Linh đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ tôi về mặt tƣ liệu thực tế. Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn gia đình, những ngƣời thân, bạn bè luôn quan tâm, ủng hộ, động viên tôi trong suốt thời gian tôi thực hiện luận văn này. Hà nội, Ngày 16 tháng 12 năm 2014 Tác giả luận văn Nguyễn Thị Hồng Thanh MỤC LỤC A. MỞ ĐẦU...................................................................................................... 3 1. Lý do chọn đề tài ...................................................................................... 3 2. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu .......................................................... 4 3. Phƣơng pháp nghiên cứu ........................................................................ 5 4. Dự kiến những đóng góp của luận văn. ................................................. 5 5. Cấu trúc của luận văn. ............................................................................ 5 Chƣơng 1: TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI ........................................................... 6 1.1. Các khái niệm liên quan đến đề tài ..................................................... 6 1.1.1. Truyền thuyết và phân loại truyền thuyết ...................................... 6 1.1.2. Lễ hội ............................................................................................... 9 1.2. Mối quan hệ giữa truyền thuyết và lễ hội ......................................... 11 1.3. Khái quát vùng đất Mê Linh và Phúc Thọ....................................... 14 1.3.1 Mê Linh – một vùng đất giàu truyền thống văn hóa .................... 14 1.3.2. Phúc Thọ - mảnh đất có truyền thống văn hóa lâu đời .............. 20 1.4. Lịch sử nghiên cứu vấn đề ................................................................. 24 1.4.1. Giai đoạn trước 1945..................................................................... 24 1.4.2. Từ 1945 đến nay ........................................................................... 26 Tiểu kết: ...................................................................................................... 31 Chƣơng 2: NHỮNG TƢƠNG ĐỒNG VÀ KHÁC BIỆT TRONG CHUỖI TRUYỀN THUYẾT VỀ CUỘC KHỞI NGHĨA CỦA HAI BÀ TRƢNG Ở MÊ LINH VÀ PHÚC THỌ .................................................................................... 33 2.1. Thống kê và phân loại chuỗi truyền thuyết về cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trƣng ở Mê Linh và Phúc Thọ ................................................... 33 2.1.1. Thống kê chuỗi truyền thuyết về cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng ở Mê Linh và Phúc Thọ ............................................................... 33 2.1.2. Phân loại các truyền thuyết về cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng ở Mê Linh và Phúc Thọ .......................................................................... 36 2.2. Những điểm tƣơng đồng trong chuỗi truyền thuyết về cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trƣng ở Mê Linh và Phúc Thọ. ................................. 40 2.2.1. Kết cấu chuỗi truyền thuyết ......................................................... 40 2.2.2. Lai lịch xuất thân của các nhân vật ............................................. 42 2.2.3. Dung mạo, tài năng, sự nghiệp hơn người của các nhân vật ..... 46 2.2.4. Sự hiển linh, phù trợ của các nhân vật ........................................ 50 2.3. Những điểm khác biệt trong chuỗi truyền thuyết về cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trƣng ở Mê Linh và Phúc Thọ. ............................................ 53 2.3.1. Truyền thuyết về các âm thần phù trợ Hai Bà ở Mê Linh .......... 53 2.3.2. Truyền thuyết về ngày tận của Hai Bà ......................................... 54 2.3.3. Các truyền thuyết địa danh liên quan đến cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng ở Mê Linh và Phúc Thọ ......................................................... 57 1 2.3.3.1 Các truyền thuyết địa danh liên quan đến cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng ở Mê Linh....................................................................... 58 2.3.3.1 Các truyền thuyết địa danh liên quan đến cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng ở Phúc Thọ .................................................................... 62 2.4. Truyền thuyết phong vật về bánh trôi làng Hát ................................. 67 Tiểu kết: ...................................................................................................... 68 Chƣơng 3: NHỮNG TƢƠNG ĐỒNG VÀ KHÁC BIỆT TRONG LỄ HỘI HAI BÀ TRƢNG Ở MÊ LINH VÀ PHÚC THỌ ................................................... 70 3.1. Thống kê các lễ hội về Hai Bà Trƣng và các tƣớng lĩnh trên địa bàn huyện Mê Linh và Phúc Thọ..................................................................... 70 3.2. Những điểm tƣơng đồng trong lễ hội Hai Bà Trƣng ở Hạ Lôi và Hát Môn.............................................................................................................. 74 3.3. Những khác biệt trong lễ hội Hai Bà Trƣng ở Hạ Lôi và Hát Môn78 3.3.1 Thời gian của lễ hội ....................................................................... 79 3.3.2. Nghi thức tế lễ ............................................................................... 81 3.3.2.1. Nghi thức tế lễ ở lễ hội Hạ Lôi – Mê Linh ............................... 81 3.3.2.2. Nghi thức tế lễ ở lễ hội Hát Môn – Phúc Thọ .......................... 87 3.3.3. Những kiêng kỵ trong lễ hội ......................................................... 94 3.3.4 Những lễ vật dâng cúng trong lễ hội ............................................. 95 3.4. Ý nghĩa của lễ hội Hai Bà Trƣng ....................................................... 97 Tiểu kết: ...................................................................................................... 98 C. KẾT LUẬN ............................................................................................. 100 D. TÀI LIỆU THAM KHẢO .................................................................... 103 2 A. MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trƣng năm 40 chống quân Đông Hán xâm lƣợc thắng lợi đã giành quyền tự chủ cho đất nƣớc. Dù ngắn ngủi (40 - 43) nhƣng nó vẫn có tác dụng lớn là đã nuôi dƣỡng và đề cao ý chí độc lập của dân tộc, làm vẻ vang cho nữ giới Việt Nam, rạng ngời trang chính sử. Xung quanh cuộc khởi nghĩa oanh liệt đó có rất nhiều truyền thuyết ly kỳ và nhiều lễ hội ở nhiều địa phƣơng tái hiện lại cuộc khởi nghĩa đó. Qua lịch sử, truyền thuyết, lễ hội, Hai Bà đã đi vào tâm thức ngƣời dân Việt nhiều thế hệ. Cùng với dòng chảy của thời gian, chuỗi truyền thuyết về cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trƣng đƣợc lƣu truyền ở nhiều địa phƣơng nhƣ một mạch ngầm chảy trong tâm trí của nhân dân 20 thế kỷ qua. Nghiên cứu chuỗi truyền thuyết này không chỉ có ý nghĩa về mặt lịch sử mà còn có giá trị to lớn về mặt tƣ tƣởng, văn hóa tín ngƣỡng, tâm linh. Tuy nhiên chuỗi truyền thuyết về cuộc khởi nghĩa của Hai Bà sẽ phong phú, sinh động hơn khi đƣợc “sống” trong môi trƣờng diễn xƣớng của lễ hội. Qua đó ngƣời đọc sẽ hình dung một cách tổng thể hơn về cuộc khởi nghĩa của hai vị nữ vƣơng đầu tiên của Việt Nam. Truyền thuyết và lễ hội Hai Bà Trƣng tồn tại ở nhiều địa phƣơng, vùng miền khác nhau, mỗi vùng miền lại lƣu truyền những câu chuyện kể, có những nghi lễ thờ cúng khác nhau theo những đặc điểm, phong tục, tập quán, quan niệm riêng của mình. Hai trong số những địa phƣơng tiêu biểu trong việc lƣu truyền truyền thuyết và lễ hội Hai Bà là Mê Linh – quê hƣơng của Hai Bà, cũng là nơi Hai Bà xƣng vƣơng, đóng đô và Phúc Thọ - nơi Hai Bà lập đàn thề khởi nghĩa, trẫm mình tự tận để bảo toàn danh tiết. Ngày 9/12/2013 vừa qua, đền Hát Môn (huyện Phúc Thọ) và đền Hai Bà Trƣng (huyện Mê Linh) đƣợc Thủ tƣớng chính phủ ký quyết định số 2383/QĐ-TTg xếp hạng di tích cấp quốc gia đặc 3 biệt. Đây nhƣ một sự ghi nhận, tôn vinh của Đảng, Nhà nƣớc, nhân dân ta đối với Hai Bà. Đặt truyền thuyết và lễ hội Hai Bà Trƣng ở huyện Mê Linh trong sự so sánh với truyền thuyết và lễ hội Hai Bà Trƣng ở huyện Phúc Thọ để tìm ra những nét tƣơng đồng và khác biệt thông qua khảo sát, điền dã thực tế, sƣu tầm tƣ liệu và điều tra xã hội học sẽ cho chúng ta nhiều điều độc đáo, hấp dẫn từ góc độ văn học dân gian. Từ những lý do trên chúng tôi đã chọn đề tài luận văn thạc sĩ là So sánh truyền thuyết và lễ hội Hai Bà Trưng ở Mê Linh và Phúc Thọ để nghiên cứu. 2. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu Đối tƣợng nghiên cứu chính của luận văn là chuỗi những truyền thuyết dân gian xung quanh cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trƣng cùng các tƣớng lĩnh; lễ hội Hai Bà Trƣng và các tƣớng lĩnh trên địa bàn 2 huyện Mê Linh và Phúc Thọ (Thành phố Hà Nội). Phạm vi nghiên cứu: luận văn giới hạn phạm vi nghiên cứu ở nguồn thƣ tịch trong các sách chính thống đã xuất bản và tƣ liệu sƣu tầm đƣợc thông qua điền dã, khảo sát thực tế ở hai huyện Mê Linh và Phúc Thọ (Thành phố Hà Nội). Riêng phần lễ hội tập trung chủ yếu là lễ hội Hai Bà Trƣng ở hai làng Hạ Lôi – Mê Linh và Hát Môn – Phúc Thọ. Bởi đây là hai làng tiêu biểu nhất trong việc thờ tự và tổ chức lễ hội Hai Bà ở Mê Linh và Phúc Thọ nói riêng cũng nhƣ ở đồng bằng sông Hồng nói chung. Bên cạnh đó luận văn có liên hệ một số lễ hội tiêu biểu về các tƣớng lĩnh trên địa bàn hai huyện này. Mê Linh và Phúc Thọ đã qua nhiều lần thay đổi tên gọi, thay đổi địa giới hành chính, nhƣng luận văn chỉ chủ yếu tập trung khảo sát, nghiên cứu các truyền thuyết và lễ hội ở hai huyện này với địa giới hành chính nhƣ hiện nay. 4 3. Phƣơng pháp nghiên cứu Luận văn kết hợp các phƣơng pháp nghiên cứu đa ngành nhƣ điền dã điều tra dân tộc học và văn hóa dân gian; tổng hợp và phân tích các văn bản đƣợc tập hợp bởi những ngƣời đi trƣớc; phƣơng pháp so sánh, đối chiếu thống kê… 4. Những đóng góp của luận văn. Luận văn sẽ so sánh nhằm chỉ ra những nét tƣơng đồng cũng nhƣ khác biệt trong hệ thống các truyền thuyết về cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trƣng lƣu hành ở Mê Linh và Phúc Thọ. Với việc điền dã, điều tra dân tộc học và văn hóa dân gian, luận văn có đóng góp vào việc sƣu tầm, bổ sung nguồn tƣ liệu thực tế liên quan đến truyền thuyết và lễ hội Hai Bà Trƣng ở Mê Linh và Phúc Thọ. Luận văn cũng góp phần khẳng định tính hiệu quả trong hƣớng nghiên cứu hiện nay của văn học dân gian là: tổng hợp, liên ngành, vừa kết hợp khảo sát văn bản có sẵn, vừa đi điền dã, khai thác kho tàng truyền thuyết dân gian gắn với môi trƣờng thực tiễn. Luận văn cũng góp thêm một phần vào việc giáo dục cho thế hệ sau thêm tự hào về cha ông mình đã từng chiến đấu hy sinh chống giặc ngoại xâm bảo vệ bờ cõi, giang sơn giành lại độc lập cho dân tộc. 5. Cấu trúc của luận văn. Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, nội dung chính của luận văn đƣợc trình bày trong 3 chƣơng: Chương 1. Tổng quan về đề tài Chương 2. Những tương đồng và khác biệt trong chuỗi truyền thuyết về cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng ở Mê Linh và Phúc Thọ Chương 3. Những tương đồng và khác biệt trong lễ hội Hai Bà Trưng ở Mê Linh và Phúc Thọ. 5 Chƣơng 1: TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI 1.1. Các khái niệm liên quan đến đề tài 1.1.1. Truyền thuyết và phân loại truyền thuyết Khái niệm truyền thuyết Trƣớc đây truyền thuyết là một khái niệm khá mơ hồ, thiếu xác định. Có quan niệm cho rằng truyền thuyết dùng để chỉ một mẩu chuyện đƣợc lƣu truyền nhƣng chƣa hoàn chỉnh hay không có cốt truyện. Hoặc có quan niệm cho rằng truyền thuyết là những chuyện truyền miệng lấy nhân vật, sự kiện lịch sử làm nội dung. Nhƣng hiện nay, thuật ngữ truyền thuyết chủ yếu đƣợc dùng với tƣ cách là một thể loại văn học dân gian. Ở Việt Nam, truyền thuyết từ lâu đã đƣợc ghi chép thành văn bản. Nguyễn Đổng Chi trong Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam đã đề cập đến khái niệm này: “Truyền thuyết dùng để chỉ những câu chuyện cũ, những sự việc lịch sử còn đƣợc truyền lại nhƣng không đảm bảo về mặt chính xác. Có thể do truyền rộng mà sai lạc, cũng có thể do tƣởng tƣợng của quần chúng phụ họa, thêu dệt mà càng sai lạc hơn.Và truyền thuyết phần nhiều chƣa đƣợc xây dựng thành truyện. Nó mới chỉ là những mẩu chuyện. Nếu nó phát triển đến mức hoàn chỉnh thì tùy theo nội dung mà nó có thể trở thành truyện cổ tích hoặc thần thoại” [4, tr.19]. Trong bài viết Văn học dân gian là một kho tàng quý báu cho sử học in trong cuốn Mối quan hệ giữa truyền thuyết người Việt và hội lễ về các anh hùng ông cũng viết thêm: “Cái mà ta gọi là truyền thuyết chỉ là những truyện kể đƣợc quét một lớp sơn ảo tƣởng. Tuy nhiên nếu nhà làm sử khéo tay sẽ chọn lấy phần tinh chất, phần cốt lõi của hiện thực sau khi đã bóc bỏ cái lớp sơn ảo tƣởng kia” [ 21, tr. 28]. Phan Trần trong Tinh thần dân tộc qua các truyền thuyết lịch sử chú ý đến phƣơng thức phản ánh truyền thuyết: “Truyền thuyết là những truyện truyền tụng trong dân gian về những sự việc và nhân vật có liên quan đến lịch 6 sử. Những nhân vật, sự việc đó thƣờng đƣợc phản ánh qua trí tƣởng tƣợng của con ngƣời, qua sự hƣ cấu của nhân dân” [54, tr. 141]. Hồ Quốc Hùng trong Truyền thuyết Việt Nam và vấn đề thể loại có nêu ra định nghĩa của mình về truyền thuyết: “Truyền thuyết là ký ức cộng đồng về quá khứ, chủ yếu nó phản ánh niềm tin, sự ngƣỡng mộ của nhân vật đối với nhân vật và sự kiện kịch sử của dân tộc ít nhiều bằng hƣ cấu, tƣởng tƣợng. Lịch sử đọng lại trong truyền thuyết nhƣ những tia hồi quang phủ lên cảnh vật, phong thổ của đất nƣớc làm đắm say biết bao thế hệ” [16, tr. 10]. Trong Văn hóa dân gian khảo sát và nghiên cứu, Giáo sƣ Lê Chí Quế đã dựa trên đặc trƣng phản ánh của truyền thuyết để định nghĩa: “Truyền thuyết là một thể loại trong loại hình tự sự dân gian phản ánh những sự kiện, nhân vật lịch sử, danh nhân văn hóa hay nhân vật tôn giáo thông qua sự hƣ cấu nghệ thuật thần kỳ” [41, tr. 114]. Nhƣ vậy, ngƣời ta không thể tìm thấy trong truyền thuyết những sự kiện lịch sử chính xác đích thực, nhƣng lại có thể tìm thấy những thứ mà không có một tài liệu lịch sử nào có thể ghi lại đƣợc. Tính chính xác lịch sử trong truyền thuyết, nhƣ nhà nghiên cứu Kiều Thu Hoạch khẳng định: không phải hoàn toàn ở sự phản ánh về thời gian, không gian, nhân danh, sự biến, trình tự biên niên của sự kiện mà chủ yếu là ở bản chất, ở cái cốt lõi của lịch sử. Đó là một thứ lịch sử văn hoá - tinh thần của nhân dân. Nó không giống nhƣ chính sử, nhƣng lại luôn đƣợc dân gian thừa nhận đó chính là lịch sử đáng tin cậy của mình. Và truyền thuyết thể hiện tất cả những điều đó nhờ yếu tố tƣởng tƣợng, hƣ cấu. Yếu tố tƣởng tƣợng, hƣ cấu trong truyền thuyết làm cho hành trạng của mỗi nhân vật anh hùng trở nên kỳ vĩ, nhân vật đƣợc sánh ngang tầm thần thánh, tạo nên một cốt truyện truyền cảm, sinh động, vừa chân thực vừa hấp dẫn, giúp cho truyền thuyết trở thành một tác phẩm nghệ thuật thực thụ chứ không phải là một tài liệu sử học. Mà nói nhƣ cố thủ tƣớng Phạm Văn Đồng: “Những truyền 7 thuyết dân gian thƣờng có một cái lõi sự thực lịch sử mà nhân dân qua nhiều thế hệ đã lí tƣởng hoá, gửi gắm vào đó tâm tình thiết tha của mình cũng thơ và mộng. Chắp đôi cánh của sức tƣởng tƣợng và nghệ thuật dân gian làm nên những tác phẩm văn hoá mà đời đời con cháu ta ƣa thích” [9, tr. 9]. Phân loại truyền thuyết Việc phân loại các thể loại văn học dân gian nói chung và phân loại truyền thuyết nói riêng khó có thể mạch lạc. Chỉ cần tuyệt đối hóa một đặc trƣng duy nhất nào đó của thể loại cũng dẫn đến phiến diện trong việc phân loại. Tùy mục đích, đối tƣợng nghiên cứu mà mỗi nhà nghiên cứu có một cách phân loại khác nhau. Lê Chí Quế trong Giáo trình văn học dân gian Việt Nam, viết chung với Võ Quang Nhơn và Nguyễn Hùng Vĩ, Nhà xuất bản Đại học quốc gia, in lần thứ hai, xuất bản năm 1996 chia làm ba loại: truyền thuyết lịch sử, truyền thuyết anh hùng, truyền thuyết về các danh nhân văn hóa. Đỗ Bình Trị trong Văn học [56] chia truyền thuyết làm ba loại: truyền thuyết địa danh, truyền thuyết lịch sử, truyền thuyết phổ hệ. Vũ Ngọc Khánh trong Truyền thuyết Việt Nam [19] lại chia thành: truyền thuyết địa danh và di tích, truyền thuyết lịch sử, truyền thuyết tổ ngành nghề. Còn Kiều Thu Hoạch trong Văn học dân gian người Việt – góc nhìn thể loại [14] đã chia truyền thuyết làm ba loại: truyền thuyết nhân vật, truyền thuyết phong vật, truyền thuyết địa danh….Ở đây chúng tôi thấy cách phân loại của nhà nghiên cứu Kiều Thu Hoạch đã dựa trên đặc trƣng phản ánh của truyền thuyết, lấy đối tƣợng và nội dung của truyền thuyết làm yếu tố quan trọng. Và ở mỗi tiểu loại lại có đặc trƣng riêng: Truyền thuyết nhân vật: là những truyện kể dân gian về những nhân vật và sự kiện lịch sử. Truyền thuyết địa danh là những truyện kể dân gian để nhằm giải thích nguồn gốc tên gọi của tên gọi của địa danh ở các địa phƣơng có gắn các sự kiện 8 và nhân vật lịch sử có liên quan nhƣ: tên xóm, tên làng, tên sông, tên suối, ngọn núi, sƣờn đồi….. Truyền thuyết phong vật là truyền thuyết về các phong tục và sản vật của địa phƣơng, giải thích về nguồn gốc các phong tục, kỵ hèm, hội hè, trò diễn, diễn xƣớng dân gian…hoặc các sản vật có gắn với các nhân vật hoặc sự kiện lịch sử. Vì thế chúng tôi thống nhất chọn cách phân loại của Kiều Thu Hoạch. 1.1.2. Lễ hội Lễ hội là một hình thức sinh hoạt văn hóa dân gian phổ biến ở nƣớc ta. Nó ra đời từ rất sớm và đã tồn tại, phát triển qua nhiều thời đại. Tuy nhiên cho đến nay, tên gọi đích thực của nó vẫn chƣa đƣợc các nhà nghiên cứu định danh một cách thống nhất. Có ngƣời gọi là lễ hội, có ngƣời gọi là hội lễ, có ngƣời gọi là hội hè hay hội hè đình đám…. Dù gọi với tên gọi nào cũng đều bao chứa hai yếu tố cơ bản của nó là lễ và hội. Và cũng không thể coi lễ quan trọng hơn hay hội quan trọng hơn. Bởi nếu thiếu một trong hai yếu tố này sẽ không còn là hội lễ nữa. Vì thế gọi là lễ hội hay hội lễ đều đƣợc mà không ảnh hƣởng đến nội dung, tính chất của lễ hội. Nhƣng phần đông các học giả cũng nhƣ trong dân gian gọi là lễ hội. Cho đến nay, nhiều nhà nghiên cứu đƣa ra quan điểm, định nghĩa về lễ hội. Vũ Ngọc Khánh cho rằng: “Lễ hội cũng gọi là hội lễ, là hình thức sinh hoạt văn hóa xã hội của một tập thể, một tổ chức thuộc giới, nghề, ngành hoặc tôn giáo trong phạm vi một địa phƣơng hoặc trong cả nƣớc” [18, tr. 79]. Đinh Gia Khánh thì cho rằng: “Trƣớc hết phải nói rằng hội lễ là môt hình thức sinh hoạt văn hóa cộng đồng tất yếu nảy sinh trong xã hội loài ngƣời trên cơ sở một nhu cầu không thể không thỏa mãn của con ngƣời sống thành xã hội. Hội lễ đã nảy sinh trong xã hội thị tộc, bộ lạc, tức là dƣới chế độ cộng sản 9 nguyên thủy và sẽ còn là một hình thức sinh hoạt văn hóa cộng đồng của xã hội cộng sản văn minh sau này” [17, tr. 172]. Trong Cơ sở văn hóa Việt nam, nhóm tác giả đã định nghĩa lễ hội thông qua việc lý giải nguồn gốc, thời điểm ra đời lễ hội từ nghi lễ nông nghiệp: “Cƣ dân Việt và cƣ dân các dân tộc ít ngƣời ở Việt Nam là những cƣ dân nông nghiệp sống bằng nghề trồng lúa nƣớc. Vòng quay của thiên nhiên và mùa vụ tạo ra trong họ những nhu cầu tâm linh. Khoảng thời gian nghỉ ngơi này là dịp để ngƣời dân vừa cảm ơn thần linh đã phù hộ cho mùa vụ đã qua và cầu mong phù hộ cho một mùa màng sắp tới. Dần dà biến thiên thời gian đã lắng đọng nhiều phù sa văn hóa trong lễ hội. Sinh hoạt văn hóa ấy của cƣ dân đƣợc gọi là lễ hội” [60, tr. 97]. Trong Mối quan hệ giữa truyền thuyết người Việt và hội lễ về các anh hùng, tác giả Lê Văn Kỳ đã đƣa ra định nghĩa: “Hội lễ là một cuộc vui lớn của cộng đồng nhằm đáp ứng nhu cầu giải trí, tín ngƣỡng, thi thố tài năng,biểu dƣơng sức mạnh, tái hiện cuộc sống con ngƣời trong trƣờng kỳ lịch sử.Nó là một loại hình tổng hợp bao gồm nhiều yếu tố văn hóa dân gian luôn luôn tƣơng tác lẫn nhau” [21, tr. 38]. Lễ hội là một diễn xƣớng văn hóa tổng hợp với nhiều yếu tố cấu thành. Nhƣng dù là lễ hội, thời đại nào cũng đều nhất thiết phải có hai yếu tố cơ bản là lễ và hội. Hai thành tố này có quan hệ biện chứng, hữu cơ không tách rời. Mà theo nhƣ Đinh Gia Khánh: “Danh từ hội lễ nên đƣợc dùng nhƣ một thuật ngữ văn hóa. Có thể sơ bộ xác định ý nghĩa của thuật ngữ này theo hai thành tố là hội và lễ. Hội là tập hợp đông ngƣời trong một sinh hoạt cộng đồng. Lễ là các nghi thức đặc thù gắn với sinh hoạt ấy” [17, tr. 172]. Trần Quốc Vƣợng cũng cho rằng: “Lễ hội gồm hai phần vừa tách rời vừa không tách rời nhau: Lễ (nghi lễ cúng thần, thánh, phật, mẫu…) và hội (tụ hội 10 của dân một làng hay liên làng)” [61, tr. 9]. “Trên thực tế và về lý thuyết, lễ hội xoắn xuýt hữu cơ vào nhau không thể tách rời” [62, tr. 31]. Ngô Đức Thịnh cũng đồng quan điểm khi cho rằng: “Lễ và hội là một thể thống nhất không thể chia tách. Lễ là phần tín ngƣỡng, là phần thế giới tâm linh sâu lắng nhất của con ngƣời, là phần đạo, phần đời của mỗi con ngƣời, của cộng đồng. Hội gắn liền với lễ và chịu sự quy định của lễ, có lễ mới có hội” [51, tr. 321]. Theo Lê Văn Kỳ trong Mối quan hệ giữa truyền thuyết người Việt và hội lễ về các anh hùng thì “Hội lễ là một hiện tƣợng văn hóa phức tạp, tổng thể” [21, tr. 38] và ông chia ra bảy yếu tố cấu thành hội lễ: lễ, hội, tín ngƣỡng, phong tục, ngƣời đóng vai, các thành tố nghệ thuật, vật phẩm dâng cúng. Nhƣ vậy về cơ bản, các nhà nghiên cứu có nhiều cách nói, diễn đạt khác nhau trong lúc cắt nghĩa hội lễ nhƣng về cơ bản nội dung các ý kiến không có gì mâu thuẫn. Tất cả đều khẳng định hội lễ là một cuộc vui của cộng đồng, hội đi đôi với lễ để đáp ứng nhu cầu tín ngƣỡng và đảm bảo cho cuộc vui đó hoàn thiện hơn. Tổng hợp các quan điểm của các học giả trên, chúng tôi cho rằng: Lễ hội là sự kiện văn hóa đƣợc tổ chức mang tính cộng đồng, bao gồm phần lễ và phần hội. Lễ là hệ thống những hành vi, động tác nhằm biểu hiện sự tôn kính của con ngƣời với thần linh, phản ánh những ƣớc mơ chính đáng của con ngƣời trƣớc cuộc sống mà bản thân họ chƣa có khả năng thực hiện. Lễ trong lễ hội là hoạt động của một tập thể ngƣời liên quan đến tín ngƣỡng chung của cộng đồng. Hội là sinh hoạt văn hóa, tôn giáo, nghệ thuật của cộng đồng, xuất phát từ nhu cầu cuộc sống. 1.2. Mối quan hệ giữa truyền thuyết và lễ hội Truyền thuyết và lễ hội đều là sản phẩm hoạt động tinh thần của nhân dân, do dân sáng tạo, bồi đắp, lƣu giữ và thể hiện. Tuy nhiên truyền thuyết và lễ 11 hội là hai lĩnh vực khác nhau, truyền thuyết thuộc phạm trù văn học dân gian, còn lễ hội thuộc phạm trù văn hóa – xã hội. Truyền thuyết tập trung khắc hoạ nhân vật, sự kiện lịch sử bằng ngôn từ, bằng hình tƣợng, bằng các biện pháp nghệ thuật theo đặc trƣng của thể loại. Trong khi đó lễ hội là một sinh hoạt văn hoá dân gian tổng hợp, cần có môi trƣờng diễn xƣớng, có cộng đồng tham dự. Lễ hội ca ngợi ngƣời anh hùng bằng tín ngƣỡng, bằng nghi thức lễ bái, bằng phong tục, bằng sự kiêng kị, bằng vật phẩm dâng cúng, bằng việc diễn lại sự tích, hành trạng, bằng trò chơi dân gian, bằng đám rƣớc…. Với thế mạnh, và cũng là đặc trƣng thể loại của mình, cả truyền thuyết và lễ hội là công cụ để nhân dân nhận thức về lịch sử, là tấm gƣơng phản chiếu trung thành lý trí và tình cảm của nhân dân trong sự nhận thức đó. Về mối quan hệ giữa truyền thuyết và lễ hội có thể nói quan hệ giữa truyền thuyết nhân vật, đặc biệt là truyền thuyết về ngƣời anh hùng và lễ hội về ngƣời anh hùng là rõ nét hơn cả. Bởi “rõ ràng các nhân vật truyền thuyết khi đã biến thành thần thì có một sức mạnh huyền diệu, đƣợc dân làng tin tƣởng và phụng thờ theo cách riêng của làng mình nhƣ ngƣời ta hay nói “trống làng nào làng ấy đánh, thánh làng nào làng ấy thờ”” [21, tr. 102]. Trong loại truyền thuyết nhân vật, đặc biệt là truyền thuyết về ngƣời anh hùng, có truyền thuyết phản ánh trọn vẹn về hành trạng của nhân vật, nhƣng cũng có truyền thuyết chỉ phản ánh một phần của hành trạng, một hoặc một vài giai đoạn của cuộc đời ngƣời anh hùng. Ví dụ hội Hát Môn 4/9 âm lịch diễn lại cảnh Hai Bà Trƣng giết trâu mở tiệc khao quân….. Trong mối quan hệ giữa truyền thuyết và lễ hội về ngƣời anh hùng, lễ hội có một số ƣu thế trong việc phản ánh ngƣời anh hùng. Bởi lễ hội có sự huy động sự đông đảo của nhiều ngƣời tham gia. Những hành trạng của nhân vật thông qua các nghi lễ, trò diễn sẽ tác động trực tiếp, trực quan đến ngƣời xem, tạo cho họ không khí thiêng liêng, tôn kính nhân vật trong lễ hội ấy. 12 Ngƣợc lại, trong việc phản ánh nhân vật lịch sử, truyền thuyết cũng có những ƣu thế mà lễ hội không có đƣợc. Truyền thuyết có khả năng kể về cả cuộc đời, thuật đƣợc nhiều chiến công của nhân vật chính thông qua các chi tiết hƣ cấu nghệ thuật thần kỳ theo đặc trƣng thể loại. Mặt khác nó còn có khả năng khơi dậy, kích thích trí tƣởng tƣợng của ngƣời nghe, ngƣời đọc về nhân vật chính. Đó là quá trình sáng tạo nghệ thuật của truyền thuyết. Thuộc hai lĩnh vực khác nhau nhƣng truyền thuyết và lễ hội có mối quan hệ khăng khít. Đặc biệt với thể loại truyền thuyết nhân vật về ngƣời anh hùng chống xâm lƣợc thì mối quan hệ này lại càng gắn bó. Truyền thuyết tạo cho nội dung lễ hội thêm phong phú, thiêng liêng, cao cả; ngƣợc lại lễ hội nhằm minh chứng, khẳng định cho sự tồn tại của truyền thuyết. Truyền thuyết đƣợc biểu hiện bằng diễn xƣớng trong lễ hội, tạo sự sinh động, hấp dẫn, thu hút và để lại ấn tƣợng sâu sắc cho mọi ngƣời, tạo nên một diện mạo văn hóa khá hoàn chỉnh, mang dấu ấn riêng về nét đẹp văn hóa làng nƣớc – một sản phẩm Foklore độc đáo của dân tộc. Mối quan hệ này đƣợc thể hiện rõ trong các truyền thuyết và lễ hội ở một số nơi nhƣ: Hội chọi trâu Đồ Sơn 9/8 âm lịch gắn với truyền thuyết về ngƣời anh hùng nông dân áo vảo Quận He Nguyễn Hữu Cầu chống lại nhà nƣớc phong kiến tàn bạo những năm 1741 – 1745. Để tƣởng nhớ công lao và ngƣời anh hùng, nhân dân mở hội múa cờ và chọi trâu. Hội Gióng đƣợc tổ chức từ 5 – 12/4 âm lịch hàng năm ở làng Phù Đổng để tƣởng nhớ ngƣời anh hùng làng Gióng. Đây là lễ hội hoành tráng, mang tính chất hoàn chỉnh, mẫu mực trên các bình diện: truyền thuyết, tổ chức và nghệ thuật biểu diễn. Lễ hội diễn lại đầy đủ cuộc đời, hành trạng của Thánh Gióng từ lúc nhỏ cho đến lúc lớn lên đánh trận, múa cờ, chém giặc… 13 Hay tục đánh phết ở Hiền Quan (Tam Nông – Phú Thọ) trong lễ hội bà Thiều Hoa công chúa – tƣớng lĩnh của Hai Bà Trƣng; hay tục hú đáo trong lễ tế thần Ngọc Trinh công chúa ở xã Lũng Hòa – Vĩnh Tƣờng - Vĩnh Phúc…. Tất cả đều thể hiện rõ mối quan hệ giữa truyền thuyết và lễ hội. Điểm qua các lễ hội trên đây ta thấy rằng các lễ hội bao giờ cũng gắn với truyền thuyết dân gian. Truyền thuyết là nội dung còn lễ hội là hình thức. Nhƣ vậy có thể nói, truyền thuyết là cốt lõi của lễ hội, khiến cho lễ hội có nội dung thiêng liêng, còn lễ hội làm cho việc diễn xƣớng truyền thuyết đƣợc sinh động, thu hút sự gắn bó và cộng cảm của tập thể. Đối với lễ hội, truyền thuyết đóng vai trò là xƣơng sống, là cốt truyện dẫn dắt tiến trình lễ hội, là cách bảo lƣu truyền thuyết có hiệu quả nhất, là sự minh giải cho lễ hội: mở hội vào ngày nào, sau bao nhiêu năm lại mở lại một lần, tại sao kéo dài từng ấy ngày, rƣớc từ đâu đến đâu, lễ vật dâng cúng gồm những gì, phải kiêng kị những gì… 1.3. Khái quát vùng đất Mê Linh và Phúc Thọ 1.3.1 Mê Linh – một vùng đất giàu truyền thống văn hóa Mê Linh là một vùng đất cổ với sự xuất hiện con ngƣời sinh sống từ mấy nghìn năm trƣớc. Trải qua bao thăng trầm của lịch sử, bao tác động của tự nhiên, con ngƣời, vùng đất nơi đây đã tạo nên một kho tàng di sản phong phú, đặc sắc về văn hóa. Mê Linh là một huyện nằm ở phía bắc thành phố Hà Nội, giáp sân bay quốc tế Nội Bài. Đây là địa danh gắn với tên tuổi của Hai Bà Trƣng. Huyện Mê Linh vốn thuộc tỉnh Vĩnh Phúc, đƣợc thành lập ngày 5 tháng 7 năm 1977. Sau nhiều lần thay đổi địa giới hành chính, từ ngày 1 tháng 8 năm 2008, huyện Mê Linh đƣợc tách ra khỏi Vĩnh Phúc và sáp nhập vào thành phố Hà Nội. 14 Mê Linh hiện có 18 đơn vị hành chính trực thuộc, bao gồm 02 thị trấn là Thị trấn Chi Đông và Quang Minh; 16 xã là: Chu Phan, Đại Thịnh, Hoàng Kim, Kim Hoa, Liên Mạc, Mê Linh, Tam Đồng, Thạch Đà, Thanh Lâm, Tiền Phong, Tiến Thắng, Tiến Thịnh, Tráng Việt, Tự Lập, Văn Khê, Vạn Yên. Lịch sử hình thành và phát triển huyện Mê Linh gắn liền với thời đại các vua Hùng dựng nƣớc, là địa bàn cƣ trú của các Lạc tƣớng, Lạc hầu dòng dõi vua Hùng. Vùng đất đồng bằng phì nhiêu, màu mỡ này vốn là nơi giao lƣu kinh tế và văn hoá của các vùng nhƣ: miền núi, trung du và đặc biệt là sự giao thoa văn hoá với các tỉnh lân cận nhất là với kinh đô Thăng Long, nên đã hội tụ ở đây một nền văn hoá phong phú, đa dạng góp phần không nhỏ vào sự hình thành phát triển của nền văn minh sông Hồng rực rỡ. Trong đó, các di tích lịch sử - văn hoá nhƣ một minh chứng cho đôi bàn tay khéo léo, óc sáng tạo tinh tế của ngƣời Việt, đồng thời còn đánh dấu sự ra đời và phát triển của văn minh cộng đồng, làng xã Việt Nam. Qua nghiên cứu tìm hiểu, các nhà khoa học đã cho thấy các di tích lịch sử, đình, đền, chùa, miếu là biểu tƣợng cho cộng đồng làng xã Việt Nam, ẩn chứa trong đó là cốt cách, là tâm hồn của ngƣời dân đất Việt. Từ lâu trong tâm thức của ngƣời dân Mê Linh, các di tích lịch sử - văn hoá chính là một phần linh hồn, một nét văn hoá đặc sắc của quê hƣơng. Do vậy, nơi đây đã lƣu giữ đƣợc 179 di tích, trong đó 27 di tích đƣợc xếp hạng cấp quốc gia, 01 di tích đƣợc xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt, 42 di tích đƣợc xếp hạng cấp tỉnh, thành phố. Cũng giống nhƣ các di tích lịch sử - văn hoá trong cả nƣớc, di tích lịch sử - văn hoá huyện Mê Linh gồm có: đình, đền, chùa, miếu; bên cạnh còn có di chỉ khảo cổ học. Di chỉ khảo cổ học đƣợc tìm thấy ở Mê Linh đó là di tích Thành Dền. Di chỉ Thành Dền ở xã Tự Lập đƣợc phát hiện năm 1970 với diện tích khoảng 15 2,5ha. Hiện vật thu lƣợm đƣợc khá phong phú, bao gồm: đồ đá, đồ đồng, và đồ gốm… Đặc biệt đây còn tìm đƣợc nhiều khuôn đúc và hàng trăm cục sỉ đồng. Có thể khẳng định Thành Dền không những là một di chỉ cƣ trú mà còn là một trung tâm luyện đúc đồng quan trọng đƣơng thời. Cùng với di chỉ Đồng Đậu huyện Yên Lạc tỉnh Vĩnh Phúc, di chỉ Thành Dền ở Mê Linh đã tạo nên một bộ mặt văn hoá, một giai đoạn đồ đồng khá phát triển ở cả lƣu vực sông Hồng thời kỳ tiền Hùng Vƣơng. Cho đến nay trong giai đoạn văn hoá Đồng Đậu, trên lƣu vực sông Hồng, chƣa có điểm nào phong phú, toàn diện hơn di chỉ Đồng Đậu và Thành Dền. Mê Linh là huyện đồng bằng, nên không có sự phân chia vùng miền. Điều kiện địa lý này đã tác động đến quy mô, cấu trúc, cũng nhƣ việc tôn thờ trong các di tích lịch sử - văn hoá địa phƣơng. Các di tích lịch sử - văn hoá ở đây thƣờng đƣợc xây dựng to lớn, bề thế, chạm trổ tinh xảo, với nhiều cách điệu dân gian nhƣ: Rồng phun nƣớc, cá vƣợt vũ môn và các đề tài: “Tứ Linh” (long – ly – quy - phƣợng) là những con vật biểu tƣợng cho sức mạnh, sự thông minh, khéo léo, trƣờng tồn cùng thời gian, hay “Tứ Quý” (tùng - cúc - trúc mai) biểu tƣợng cho sự mềm dẻo, linh hoạt, bền vững và cái đẹp quý phái. Bên cạnh yếu tố địa lý, các yếu tố thuân lợi về kinh tế, văn hoá, cũng góp phần quan trọng làm nên sự quy mô, bề thế của hệ thống di tích lịch sử, văn hoá ở Mê Linh. Mê Linh tự hào là vùng đất đế đô thời Hai Bà Trƣng phất cờ khởi nghĩa. Vì vậy, phần lớn các di tích lịch sử, văn hoá ở đây đều ghi dấu những chiến công hiển hách của Hai Bà Trƣng nhƣ: cố đô Mê Linh ở Hạ Lôi, xã Mê Linh, nay có đền thờ Hai Bà Trƣng - cùng thân quyến và các tƣớng lĩnh của Hai Bà. Cuối năm 2013 đền thờ hai Bà Trƣng ở Hạ Lôi đƣợc Thủ tƣớng Chính phủ ký quyết định công nhận là di tích quốc gia đặc biệt. Bên cạnh đó, Mê Linh còn có nhiều di tích thờ tƣớng lĩnh của Hai Bà nhƣ: đình Bạch Trữ thờ Cống Sơn, đền 16
- Xem thêm -