Tài liệu Skkn một số biện pháp khắc phục học sinh yếu kém ở lớp 4 - trường tiểu học hải vân

  • Số trang: 18 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 74 |
  • Lượt tải: 0
dangvantuan

Đã đăng 62182 tài liệu

Mô tả:

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM MỘT SỐ BIỆN PHÁP KHẮC PHỤC HỌC SINH YẾU KÉM Ở LỚP 4 TRƯỜNG TIỂU HỌC HẢI VÂN PHIẾU NHẬN XÉT , XẾP LOẠI SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM Đề tài : MỘT SỐ BIỆN PHÁP KHẮC PHỤC HỌC SINH YẾU KÉM Ở LỚP 4 TRƯỜNG TIỂU HỌC HẢI VÂN Loại đề tài Người thực hiện Chức vụ Đơn vị : Sáng kiến kinh nghiệm : Đinh Thị Thu Ngà : GVCN lớp 4/2 : Trường Tiểu học Hải Vân NHẬN XÉT , ĐÁNH GIÁ , XẾP LOẠI TỔ CHUYÊN MÔN .......................................................... .......................................................... .......................................................... ................................................................ ................................................................ ................................................................ ................................................................ .................................. Xếp loại : ....................... Hòa Hiệp Bắc , ngày ..../..../2009 Tổ trưởng chuyên môn 4&5 Lê Thị Cúc HỘI ĐỒNG XÉT CHỌN SKKN ĐƠN VỊ .......................................................... .......................................................... .......................................................... ................................................................... ................................................................... ................................................................... ................................................................... ................................ Xếp loại : ....................... Hòa Hiệp Bắc , ngày ..../..../2009 Thủ trưởng đơn vị Nguyễn Thanh Tuấn NHẬN XÉT , XẾP LOẠI SKKN CỦA PHÒNG GD&ĐT LIÊN CHIỂU ................................................................. ................................................................. ................................................................. ................................................................. ................................................................. Xếp loại : ....................... Hòa Hiệp Bắc , ngày ..../..../2009 Trưởng phòng PHẦN I - ĐẶT VẤN ĐỀ I - LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI Trước xu thế ngày càng phát triển mạnh mẽ của thế giới. Đất nước ta đang tích cực đổi mới trên tất cả các lĩnh vực nhằm đáp ứng trước nhu cầu phát triển của thế giới. Đặc biệt trong những năm gần đây, ngành Giáo dục của chúng ta đã có nhiều bước thay đổi mạnh mẽ, chất lượng ngày càng nâng cao.Tuy nhiên, một đất nước đang còn nhiều khó khăn thì đòi hỏi phải có sự nỗ lực tham gia của tất cả các ngành, các cấp và của toàn xã hội. Trong đó các nhà quản lí, các thầy cô giáo và các bậc phụ huynh là những người trực tiếp giáo dục nuôi dưỡng các em đã và đang dành nhiều sự quan tâm, nhưng cũng không ít băn khoăn, trăn trở về chất lượng giáo dục hiện nay. Ngôi trường thân yêu nơi tôi đang dạy, nằm dưới chân đèo mang cái tên hùng vĩ của ngọn núi Hải Vân. Là một ngôi trường nằm trên mảnh đất có điều kiện về kinh tế, văn hóa xã hội còn thấp kém so với địa bàn thành phố. Vì thế, học sinh ở đây chịu nhiều thiệt thòi hơn so với các trường bạn. Đặc biệt các em thiếu sự quan tâm, giáo dục của gia đình.Vì thế, tình trạng học sinh học yếu kém, có nhiều biểu hiện đạo đức chưa tốt cũng là điều dễ hiểu. Là một giáo viên đã trực tiếp đứng lớp nhiều năm, tôi thực sự trăn trở, day dứt trước những học sinh yếu kém. Bởi vì, thực tế có những học sinh đã học xong Tiểu học mà khả năng “ nghe, nói, đọc, viết, tính toán” chưa thành thạo. Làm thế nào để giúp các em vươn lên ngang hàng với bạn bè ,tạo cho các em khả năng lĩnh hội tri thức một cách tự nhiên? Đó là câu hỏi luôn thường trực trong tâm trí tôi. Từ những trăn trở đó, tôi đã nghiên cứu, tìm hiểu “Nguyên nhân dẫn đến tình trạng học yếu kém ở học sinh Tiểu học và tìm ra giải pháp khắc phục” . Với hi vọng sẽ giải quyết những day dứt, trăn trở của bản thân và góp một phần nhỏ bé vào việc nâng cao chất lượng giáo dục, tránh được tình trạng “học sinh ngồi nhầm lớp .” II - CƠ SỞ KHOA HỌC: 1. Cơ sở lí luận: Đối với học sinh Tiểu học do đặc điểm tâm sinh lí có nhiều nét đặc biệt: Hiếu động, ham chơi, dễ nhớ, chóng quên, nhận thức chủ yếu bằng cảm tính. Vì vậy, tình trạng học yếu kém dễ dàng xuất hiện.Tuy vậy, khắc phục tình trạng đó không phải là quá khó, bởi phần lớn sự học hành của trẻ còn nằm trong ranh giới cho phép,đó chỉ là sự chậm phát triển tạm thời. Mọi cái ở trẻ đều có thể uốn nắn, thay đổi được nếu có sự quan tâm,dẫn dắt của thầy cô, của cha mẹ và những người xung quanh. 2. Cơ sở thực tiễn: Trong mổi trường, mỗi lớp học thường có học sinh giỏi, có những em có năng khiếu đặc biệt và cũng có những học sinh khả năng tiếp thu còn hạn chế, yếu kém. Tình trạng học sinh học yếu kém trong nhà trường là một vấn đề tự nhiên nhưng là một vấn đề cần được quan tâm.Những năm gần đây số lượng học sinh lưu ban không đáng kể, thậm chí có nơi không có học sinh lưu ban, nhưng không vì thế mà chúng ta nghĩ rằng học sinh yếu kém không còn nữa.Trên thực tế ở các trường học, mặt bằng chất lượng đại trà chưa ổn định như trường chúng tôi những năm gần đây tỉ lệ hoc sinh yếu kém chiếm 3% đến 5% , mặc dù công tác phụ đạo học sinh yếu kém luôn đặt lên hàng đầu, được sự quan tâm đặc biệt của Ban giám hiệu nhà trường, của mỗi thầy cô giáo và của các bậc phụ huynh, đã không ít thầy cô đưa ra những biện pháp để ngăn ngừa, khắc phục tình trạng học sinh học yếu kém và đã thu được một số kết quả khả quan nhưng chưa thật hữu hiệu. PHẦN II - GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ I-NGUYÊN NHÂN DẪN ĐẾN TÌNH TRẠNG HỌC SINH HỌC YẾU KÉM: Qua nhiều năm giảng dạy,đúc rút từ những kinh nghiệm thực tế tôi thấy rằng, trừ những trường hợp bệnh lí, các em phát triển bình thường đều có khả năng tiếp thu hệ thống chuẩn kiến thức các môn học và đạt các yêu cầu qui định. Song trên thực tế cho thấy trong một lớp học số học sinh yếu kém còn tương đối nhiều, và tình trạng học sinh yếu kém là do nhiều nguyên nhân: 1. Sự phát triển nhận thức của học sinh cùng lứa tuổi không đồng đều, hoạt động tư duy có những nét riêng biệt đối với từng em. Trong một lớp học thường có bốn đối tượng học sinh khác nhau: Giỏi, Khá, Trung bình,Yếu kém. Trong số đó có em giỏi toàn diện có em giỏi văn,có em giỏi toán, cũng có những em có năng khiếu đặc biệt khác.Bên cạnh đó,cũng có những em học yếu kém một hoặc nhiều môn học khác.Trong trường hợp này đòi hỏi người giáo viên phải biết kết hợp hài hòa, bao quát giữa các đối tượng và đặc biệt quan tâm chú ý đến những học sinh yếu kém, những học sinh có những nhận thức chưa cao. 2.Việc lĩnh hội các kiến thức cơ bản đã học chưa đầy đủ, thiếu vững chắc tạo nên chỗ hổng trong hệ thống kiến thức. 3.Thái độ học tập thiếu tích cực, thiếu tự giác, chưa xác định được mục tiêu, động cơ, chưa thấy được ý nghĩa lâu dài của vấn đề học tập.Vì thế phải phân tích, giảng giải cho học sinh hiểu rõ tầm quan trọng của việc học, tạo được hứng thú, say mê học tập cho học sinh. 4. Sức khỏe hạn chế, đời sống gặp nhiều khó khăn, thời gian dành cho việc học tập chưa đầy đủ. Đây là nguyên nhân khách quan vì thế phải phát huy tính đoàn kết, đùm bọc, tương trợ lẫn nhau.Đồng thời học sinh đó phải thực sự cố gắng vươn lên, không nản chí bỏ bê việc học. 5. Việc học tập ở nhà của các em chưa thực sự được quan tâm, chú ý, thiếu sự giúp đỡ, động viên, khuyến khích của gia đình. Hầu hết các em là con gia đình nghèo, có hoàn cảnh đặc biệt (mồ côi,cha mẹ li dị,...) . Bên cạnh những nhược điểm của học sinh và phụ huynh , mỗi một giáo viên chúng ta cũng nên đánh giá một cách khách quan rằng:Về phía giáo viên vẫn còn một số đồng chí vẫn đang tồn tại những khuyết điểm không nhỏ như: Nhịp độ giảng dạy quá nhanh, chưa theo từng đối tượng, chưa áp dụng đổi mới phương pháp dạy học, tinh thần trách nhiệm đối với việc giảng dạy, giáo dục học sinh chưa cao. Sự phối hợp với phụ huynh học sinh chưa tích cực, kịp thời. Những nguyên nhân trên tác động tổng hợp vào trẻ làm cho trẻ hứng thú học tập kém, học sinh thiếu tự tin, thiếu cố gắng vươn lên dẫn tới tình trạng học sinh học yếu kém. II- HOẠT ĐỘNG TƯ DUY CỦA HỌC SINH HỌC YẾU KÉM: Ở những học sinh yếu kém hoạt động tư duy có những nét riêng biệt, biểu hiện ở một số điểm sau: 1. Tư duy thiếu linh hoạt và hoạt động tư duy chưa vững chắc.Từ việc lĩnh hội một tính chất chung nào đó, học sinh khó có thể tìm được ví dụ minh họa hoặc từ ví dụ cụ thể khó phát hiện được tính chất chung. Chẳng hạn học sinh có thể trả lời được câu hỏi: Thế nào là tính chất giao hoán của phép cộng ? Nhưng lại không lấy được ví dụ cụ thể. Các em gặp khó khăn khi phải chuyển từ hình thức thao tác tư duy này sang thao tác tư duy khác. Học sinh bị buộc chặt vào lời giảng của giáo viên, thay thế nắm một cách tự giác nội dung kiến thức bằng việc tiếp thu thụ động, không đầy đủ, suy luận thường máy móc hay dựa vào tương tự, căn cứ vào dấu hiệu bên ngoài. Tư duy thiếu linh hoạt này thể hiện khá rõ khi luyện tập.Khi lấy ví dụ các em thường dựa vào sách giáo khoa, khi làm các bài tập mới các em thường lao vào làm bằng cách tái hiện những cách giải đã được luyện tập máy móc nhiều lần,khi hỏi về lí lẽ các em lại không trả lời được.Nhiều khi làm bài giáo viên chỉ cần thay đổi cách hỏi, cách diễn đạt cũng làm các em lúng túng. Ví dụ :Học sinh có thể tìm được kết quả bài: 161 + x = 600 Nhưng lại không trả lời được các câu hỏi để tìm hiểu yêu cầu của bài toán. 2.Sự chú ý , óc quan sát, trí tượng của học sinh học yếu kém đều phát triển chậm. Khi phân tích thường khó phân biệt dấu hiệu bản chất và không bản chất.Khi tổng hợp thường dựa vào các dấu hiệu dễ thấy bên ngoài. Khả năng phân tích tổng hợp kém và phát triển không đồng đều nên có khi phân tích được nhưng không biết tổng hợp. Khả năng trìu tượng hóa,khái quát hóa đều chậm. Chẳng hạn khi làm các bài tập: Thửa ruộng hình chữ nhật có số đo chiều dài là 125m, số đo chiều rộng là 40m.Tính chu vi của thửa ruộng đó ? Các em sẽ tính được kết quả là: Chu vi thửa ruộng hình chữ nhật là: ( 125 + 40 ) x 2 = 330 (m). Hoặc :Tìm chu vi hình vuông khi biết cạnh là 25 m? Các em sẽ tìm được kết quả là: Chu vi hình vuông là: 25 x 4 = 100 (m) Nhưng khi gặp các dạng bài tập như: Tìm chu vi hình chữ nhật, biết số đo chiều dài là 48m và gấp 3 lần chiều rộng? Các em lại rất lúng túng, gặp khó khăn khi tìm cách giải. 3.Diễn đạt bằng ngôn ngữ khó khăn, diễn giải lúng túng, điều này có thể xuất hiện rất rõ khi các em giải các bài toán có lời văn, bài tập suy luận, làm bài tập làm văn, hay luyện nói, luyện kể. Cụ thể: Khi giáo viên yêu cầu các em kể lại một đoạn trong câu chuyện mà các em đã được nghe, được đọc.Các em thường diễn đạt lúng túng, ngôn ngữ què cụt, thiếu chính xác. 4. Những học sinh này thường né tránh các hoạt động trí não,nên lỗ hổng trong kiến thức, dần dần dẫn tới việc giảm khả năng phát triển trí tuệ. Nếu không có biện pháp giúp đỡ kịp thời trẻ sẽ ngày càng kém hơn so với bạn bè và bắt đầu chán nản, không tin vào bản thân mình ngay cả những việc các em có khả năng làm được. Nghĩa là các em không còn khả năng đánh giá bản thân. Qua những biểu hiện trên, ta thấy hoạt động tư duy của học sinh học yếu kém có nhiều hạn chế, kém phát triển và thiếu vững chắc, như nhà giáo học Pháp Sư phạm đã nói: “ Qúa trình tâm lý quan trọng nhất dẫn tới tình trạng trẻ học kém chính là ở tư duy chứ không phải do trí nhớ hay sự chú ý của trẻ kém”. Vậy phải làm gì với những học sinh này? Cho các em vào lớp đặc biệt hay hòa nhập? Nhưng những biểu hiện trên chưa mang tính chất bệnh lý. Qúa trình tư duy của học sinh học yếu kém không hề khác biệt so với học sinh học bình thường . Những học sinh học kém cũng nhớ được các khái niệm cần nhớ nhưng các em không chỉ ra được mối quan hệ của chúng. Hơn nữa, chúng ta đều biết rằng hoạt động tư duy của con người phát huy từng giai đoạn, từng thời kỳ khác nhau. Bởi vậy trẻ học kém không phải là trẻ “thiểu năng trí tuệ”, đó chỉ là sự phát triển tạm thời mà thôi . III- BIỆN PHÁP NGĂN NGỪA ,KHẮC PHỤC VÀ GIÚP ĐỠ HỌC SINH HỌC YẾU KÉM . A- Biện pháp chung: 1. Điều quan trọng đầu tiên là giáo viên cần theo dõi thường xuyên, cụ thể kết quả học tập ( trên lớp,làm bài tập,kiểm tra ...) của học sinh, sớm phát hiện các trường hơp học sinh găp khó khăn trong học tâp và đi sâu tìm hiểu cụ thể, phân tích đúng nguyên nhân đối với từng em . 2. Phân loại học sinh học yếu kém theo những nguyên nhân chủ yếu.( Sự phát triển trí tuệ chậm, kiến thức không vững chắc, thái độ học tập không đúng đắn, hoàn cảnh gia đình nhiều khó khăn...)Từ đó có kế hoạch giúp đỡ thích hợp từng loại học sinh. 3. Giáo viên tìm phương pháp giảng dạy thích hợp có trọng tâm, nhằm vào các yêu cầu quan trọng nhất với mức độ vừa sức, nâng cao dần. không nôn nóng, sốt ruột, khắc phục tính ngại khó và tính định kiến thiếu tin tưởng vào sự tiến bộ của học sinh. Khi giảng dạy giáo viên phải có thủ thuật thu hút sự chú ý của học sinh, đối với học sinh yếu kém cần phải có sự quan tâm đặc biệt: ở lớp các em phải được ngồi vị trí dễ theo dõi bài, giáo viên dễ quan sát mọi hành vi học tập của các em; phân công việc theo dõi chuẩn bị bài ở nhà cũng như kèm cặp các em trong các giờ tự học là các cán bộ phụ trách học tập ( tổ trưởng, bàn trưởng hay lớp phó phụ trách học tập ); trong khi giảng dạy cần theo dõi sự chú ý của học sinh học kém ,kiểm tra kịp thời sự tiếp thu bài giảng bằng các câu hỏi gợi mở, câu hỏi đơn giản .Từ đó các em có cơ sở để làm các bài tập đơn giản bằng sức lực của mình; phần hướng dẫn học bài ở nhà nên có một số bài, dạng câu để học sinh có thể tự kiểm tra, tự rút ra những điều cơ bản cần đi sâu , nhớ kĩ . Mọi nhiệm vụ được giao cần được kiểm tra cụ thể, kịp thời, các sai lầm mắc phải cần được phân tích sửa chữa; khuyến khích, động viên đúng lúc khi các em có tiến bộ hay đạt được một số kết quả( dù là khiêm tốn ), đồng thời phân tích, nhắc nhở đúng mực thái độ vô trách nhiệm hoặc lơ là đối với nhiệm vụ học tập được giao nhưng tránh thái độ, lời nói làm chạm lòng tự ái hay mặc cảm của học sinh. 4.Hướng dẫn phân công cho học sinh khá giỏi thường xuyên giúp đỡ các bạn học kém về cách học tập, về phương pháp vận dụng kiến thức. Nhắc nhở động viên, gần gũi với các bạn, không được xa lánh, chê cười. 5.Tổ chức kèm cặp, phụ đạo trong điều kiện thời gian qui định (sáng thứ 2, thứ 4 hàng tuần hoặc lúc học nhóm ở nhà ). Trong các buổi này, nội dung chủ yếu là kiểm tra việc lĩnh hội các kiến thức đã học ở trên lớp, ôn tập củng cố lại để các em nắm vững chắc hơn, kiểm tra việc thưc hiện các hướng dẫn về làm bài tập và học bài ở nhà, giảng giải phân tích cụ thể một số dạng bài mà các em dễ mắc sai lầm và hướng dẫn phương pháp giải để các em nắm vững .Nói chuyện trao đổi để tìm hiểu thêm những chỗ các em chưa hiểu hoặc chưa nắm chắc để bổ sung, củng cố. 6.Phối hơp với gia đình tạo điệu kiện cho các em học tập, quan tâm chăm sóc sức khỏe, giúp đỡ khi các em gặp khó khăn, đôn đốc việc thực hiện kế hoạch học tập ở trường, ở nhà. Với những biện pháp trên chúng ta có thể ngăn ngừa và khắc phục được tình trạng học sinh học yếu kém cụ thể, cần phải có phương pháp cụ thể, riêng biêt. B – Biện pháp giúp đỡ cụ thể đối với một số học sinh học yếu kém: 1 - Phân loại trẻ học yếu kém: Có thể phân ra ba nhóm chính sau: * Trẻ học yếu kém nhưng có thái độ học tập tích cực. * Trẻ có tư duy bình thường, nhưng thái độ học tập kém, không muốn học nên kết quả học tập kém. * Trẻ vừa học kém, lại vừa có thái độ học tập không tốt, hoàn toàn mất đi hay mất đi một phần tư cách của người học sinh. Tuy nhiên còn có một nhóm học sinh học kém khác do sức khỏe yếu, khuyết tật về ngôn ngữ, thính giác, thị giác... 2-Biện pháp khắc phục: 2.1. Đối với học sinh nhóm 1 (Học sinh học kém nhưng có thái độ hoc tập tốt).Trước hết phải sửa đổi khắc phục những nhược điểm về tu duy, kém khái quát, cứng nhắc.Chúng ta cần triển khai các hoạt động mang tính chất thực tiễn dựa trên khuôn mẫu trực quan. Cần thực hành nhiều bài tập đòi hỏi sự chuyển đổi tư duy từ mức độ cụ thể sang mức độ khái quát trừu tượng và ngược lại. Cho học sinh luyện tập nhiều những bài tập đòi hõi sự so sánh, phân tích ,đối chiếu. Giai đoạn đầu là giai đoạn hình thành ở học sinh hứng thú học tập, vì vậy nên tiến hành những hoạt động đơn giản, vừa sức làm sao cho học sinh lấy lại lòng tự tin là chúng có khả năng học tập tốt .Chỉ khi trẻ có hứng thú học tập dần dần mới hướng dẫn trẻ vào hoạt động tư duy tích cực, đặt ra cho các em những vấn đề và cung cấp cho chúng cách suy nghĩ. Quan trọng là làm sao người giáo viên có thể tạo ra tình huống, trong đó mỗi học sinh được thể hiện mình và người giáo viên biết khen ngợi kịp thời, đúng mực với từng tiến bộ của trẻ. Những học sinh học yếu kém có khả năng sử dụng và lệ thuộc vào sự giúp đỡ của người khác.Bởi vậy, người giáo viên phải biết rút lui từ từ để trẻ làm quen dần với cách làm việc độc lập . điều quan trọng hơn cả là lựa chọn đúng đắn hình thức học tập. Có trường hợp trẻ cần học riêng, có trường hợp trẻ học chung cả nhóm nhưng mỗi đối tượng có mức độ khác nhau về nội dung, số lượng và cách diễn đạt...Nếu có điều kiện những trẻ cùng nhóm này được học tập riêng (Vào các buổi phụ đạo). Sau một thời gian nhất định được kiểm tra đánh giá về mức độ nắm bắt và vận dụng kiến thức, nhằm theo dõi sự tiến bộ của các em. 2.2 Đối với học sinh nhóm 2:(Tư duy bình thường nhưng thái độ học tập yếu kém) Những học sinh này ít chuẩn bị bài khi đến lớp,các em đã quen học điều chúng thích vì vậy việc phải tập trung chú ý, và ghi nhớ, suy nghĩ tích cực gây nên sự chán nản ở các em. Kết quả học tập yếu kém bị coi là vấn đề hành vi đạo đức, điều này càng làm cho thái độ học tập vốn đã yếu kém càng thêm tồi tệ hơn. Bình thường các em nhanh nhẹn và thích hoạt động, tuy nhiên hoạt động của chúng không mấy liên quan đến việc học tập. Nhu cầu nhận thức đa dạng phong phú, các em có thể say mê một môn học nào đó, thích đọc một cuốn sách nào đó. Những ước mơ tương lai của các em gắn liền với những hoạt động ngoài giờ học. Với những học sinh này điều quan trọng là phải biết tôn trọng sở thích của các em.Chẳng hạn các em thích đọc sách hãy tạo điều kiện cho các em được thoả mãn, hãy cùng đọc và tranh luận với các em về các cuốn sách đã đọc. Cung cấp thêm cho các em những cuốn sách phù hợp với lứa tuổi theo định hướng của chúng ta, chỉ cho các em thấy những điều thú vị mà trước đó chúng không hề để ý đến, từ đó kích thích tính hiếu kì dẫn dắt trẻ khám phá, tìm tòi những điều lí thú trong học tập. Thay đổi cách ghi nhớ máy móc, áp đặt bằng cáctrò chơi,câu đố,... Chẳng hạn: Muốn tìm diện tích hình thang Đáy lớn đáy bé ta mang cộng vào Rồi đem nhân với chiều cao Chia đôi lấy nửa thế nào cũng ra Với hình thức này chắc chắn kích thích được trí tò mò và gây hứng thú học tập cho trẻ. Phải nhớ rằng: Những hoạt động nhận thức đa dạng là một thế mạnh của nhóm trẻ này. Người giáo viên phải dựa vào đó mà xây dựng thái độ học tập đúng đắn cho các em. 2.3. Đối với học sinh nhóm 3:( Vừa học yếu, vừa có thái độ học tập không tốt) Với nhóm học sinh này đòi hỏi người giáo viên phải dành thời gian và sự quan tâm đặc biệt, thường xuyên gần gũi bên các em, theo dõi sát sao quá trình học tập và rèn luyện của chúng. Phải biết kết hợp hài hòa các phương pháp giúp đỡ của cả 2 nhóm học sinh trên. Vừa xây dựng thái độ học tập tích cực, tự giác, vừa nâng cao hoạt động tư duy , nâng cao khả năng tiếp thu ngày một đầy đủ hơn. Đối với nhóm học sinh này đòi hỏi học sinh phải biết quan tâm, chia sẻ, thông cảm với những khó khăn, trở ngại của các em , phải thường xuyên gần gũi ,động viên, giúp đỡ để các em vươn lên.Giáo viên vừa là người thầy vừa là người bạn dìu dắt các em từng bước đi lên. Việc gây dựng mối quan hệ tốt giữa giáo viên và học sinh, việc tạo ra không khí vui tươi hòa đồng trong các giờ học , hình thành cho các em thái độ học tập đúng đắn, kịp thời động viên, khen thưởng về những tiến bộ dù nhỏ nhưng cũng là những việc cần thiết và đúng đắn mà mà mỗi giáo viên chúng ta nên làm. C- Phối hợp thực nghiệm. Tôi đã phối hợp với Ban giám hiệu và ba giáo viên dạy lớp Bốn Trường Tiểu học Hải Vân nơi tôi công tác để điều tra khảo sát, áp dụng các phương pháp ngăn ngừa tình trạng học yếu kém ở học sinh và đã thu được kết quả như sau: 1- Khảo sát, điều tra, thống kê, phân loại học sinh yếu kém :( Lần 1) - Thời gian tiến hành: 20/9/2008 - Địa điểm tiến hành: Phòng số 14 Trường Tiểu học Hải Vân - Đối tượng được khảo sát: Học sinh yếu của khối Bốn. - Số lượng: 16 em (4/1: 5em; 4/2: 6em; 4/3: 6em) - Hình thức điều tra, khảo sát: Kiểm tra, khảo sát chất lượng học sinh yếu. * Kết quả: Phân loại học sinh yếu TT Lớp Số HS yếu Nhóm 1 Nhóm 2 Nhóm 3 1 4/1 5 2 2 1 2 4/2 6 2 4 0 3 4/3 6 2 3 1 17 6 9 2 Cộng Qua điều tra , khảo sát chúng tôi nhận thấy học sinh yếu phần lớn rơi vào nhóm 1 và 2 vì vậy việc kèm cặp, giúp đỡ các em có phần dễ dàng hơn. Sau khi phân loại học sinh yếu chúng tôi bắt tay vào việc kèm cặp giúp đỡ các em. Có giáo viên còn tự nguyện xin phép nhà trường phụ đạo riêng cho các em một buổi trong tuần ngoài giờ lên lớp.Qua một thời gian triển khai đề án, chúng tôi đều có chung một nhận xét: chất lượng học sinh yếu kém được nâng lên, phần lớn học sinh yếu đã tích cực tham gia vào hoạt động học tập và đã xóa dần số lượng học sinh yếu kém ở các lớp. 2- Khảo sát. điều tra, thống kê, tổng hợp học sinh yếu kém: (lần 2) - Thời gian tiến hành: 20/12/2008 - Đối tượng, địa điểm, số lượng, hình thức tiến hành như lần 1 - Số lượng: 10 em (4/1: 3em; 4/2: 3em; 4/3: 4em) * Kết quả: Phân loại học sinh yếu TT Lớp Số HS yếu Nhóm 1 Nhóm 2 Nhóm 3 1 4/1 3 1 1 1 2 4/2 3 1 2 0 3 4/3 4 1 2 1 10 3 5 2 Cộng Từ kết quả khảo sát lần 2 cho thấy công việc chúng tôi đang làm có nhiều khả thi, số học sinh yếu ở các lớp giảm dần. Thời gian còn lại của năm học, chúng tôi tiếp tục tiến hành công việc khảo sát thêm một lần nữa. 3-Khảo sát, điều tra,thống kê, tổng hợp học sinh yếu (lần 3) -Thời gian: 20/3/2009 - Địa điểm, đối tượng, hình thức khảo sát như lần 1 - Số lượng: 4 em (4/1: 1em; 4/2: 1em; 4/3: 2em) * Kết quả: Phân loại học sinh yếu TT Lớp Số HS yếu Nhóm 1 Nhóm 2 Nhóm 3 1 4/1 1 0 1 0 2 4/2 1 0 1 0 3 4/3 2 0 1 1 4 0 3 1 Cộng Qua quá trình thực nghiệm chúng tôi nhận thấy công việc mình làm có kết quả rõ rệt. Chắc chắn trong những năm tiếp theo chúng tôi sẽ mạnh dạn tiếp tục áp dụng và sẽ trao đổi cùng các bạn đồng nghiệp để cùng thực hiện thành công biện pháp khắc phục dần dần tình trạng học sinh yếu kém trong nhà trường. PHẦN III - KẾT LUẬN CHUNG Trong một lần học Intel ở trường chúng tôi tổ chức, do thầy Duy Linh PGD Liên Chiểu dạy.Tôi đã được nghe thầy kể câu chuyện “Nguyện làm hạt gạo”trong tác phẩm Suối Nguồn. Câu chuyện muốn nói với chúng ta rằng trong mỗi con người có một thế thế mạnh riêng của nó, chúng ta không vội vàng kết luận một ai đó mà phải biết khơi dậy tiềm năng,thế mạnh, khuyến khích động viên họ vươn lên. Khắc phục tình trạng học sinh học yếu kém là vấn đề cần được đặc biệt quan tâm, được đặt lên hàng đầu trong vấn đề nâng cao chất lượng giáo dục trong nhà trường . Bất kì một giáo viên nào cũng phải trăn trở, day dứt trước những học sinh yếu kém. Làm sao người thầy có thể yên tâm được trong khi trong lớp còn có những học sinh học yếu kém , còn có những học sinh đang phải chịu thua thiệt so với các bạn bè cùng lứa . Tình trạng học sinh học yếu kém không chỉ là nỗi lo của các bậc làm cha làm mẹ, của các thầy cô giáo,của mỗi trường, của mỗi địa phương mà là mối quan tâm chung của toàn xã hội. Vì vậy, bằng mọi cách để xóa bỏ, thanh toán nạn học yếu kém hay chí ít cũng giảm dần được tỉ lệ học sinh học yếu kém. Giúp các em phát huy hết khả năng để hòa nhập cùng các bạn. Mặc dù phạm vi, đối tượng nghiên cứu có hạn nhưng tôi vẫn hi vọng rằng với những vấn đề nêu ra trong đề tài này sẽ góp một phần vào việc nạn học kém chẳng hạn, biết được nguyên nhân dẫn đến tình trạng trẻ học kém để khắc phuc và tạo điều kiện cho trẻ học tốt hơn. Biết được tư duy của những trẻ học yếu kém có những đặc điểm gì khác biệt để từ đó có cách điều chỉnh, và bổ sung cho phù hợp. Đặc biệt với những biện pháp khắc phục, ngăn ngừa và giúp đỡ học sinh học yếu kém nêu trên có thể đó là một con đường, một giải pháp đúng đắn , cần thiết giúp cho giáo viên giáo dục những học sinh yếu kém. Nghiên cứu học sinh học yếu kém không phải là một vấn đề đơn giản trong ngày một ngày hai, bởi đó là một vấn đề rất lớn, rất đa dạng, phong phú. Để nghiên cứu đầy đủ trọn vẹn đòi hỏi phải có cả một quá trình theo dõi đánh giá lâu dài, phải có nhiều công sức, thời gian, kinh nghiệm và sự hiểu biết. Bởi vậy vấn đề tôi đưa ra trong đề tài chỉ là một khía cạnh nhỏ trong vấn đề lớn “Nghiên cứu về học sinh học kém” và chắc chắn rằng trong quá trình nghiên cứu, vẫn còn tồn tại, thiếu sót, ở mức độ còn nhiều hạn chế, một giới hạn nhất định, mong các đồng nghiệp tham khảo, góp ý để đề tài được đầy đủ, trọn vẹn hơn. Tôi xin chân thành cám ơn./. Hoà Hiệp Bắc , ngày 20 tháng 12 năm 2009 Người thực hiện Đinh Thị Thu Ngà
- Xem thêm -