Tài liệu Skkn-Một số biện pháp chỉ đạo công tác phụ đạo học sinh yêu kém góp phần nâng cao chất lượng dạy học

  • Số trang: 17 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 3405 |
  • Lượt tải: 5
dangvantuan

Tham gia: 02/08/2015

Mô tả:

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM MỘT SỐ BIỆN PHÁP CHỈ ĐẠO CÔNG TÁC PHỤ ĐẠO HỌC SINH YÊU KÉM GÓP PHẦN NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DẠY HỌC Họ và tên: Võ Thị Tường Vy Chức vụ: P. Hiệu trưởng Phần đặt vấn đề: 1. Lí do chọn đề tài: Theo Luật giáo dục Việt Nam, giáo dục tiểu học và giáo dục trung học cơ sở là các cấp học phổ cập giáo dục (điều 10). Để đạt được và giữ vững phổ cập giáo dục, bên cạnh làm tốt công tác huy động trẻ trong độ tuổi đến trường, duy trì tốt số lượng học sinh, cần coi trọng đến chất lượng giáo dục, đảm bảo cho trẻ em không những “ được học’ mà còn “ học được”. Cuộc vận động “Kỉ cương - Tình thương- Trách nhiệm trong toàn Ngành đã và đang được đẩy mạnh, cùng với việc triển khai các cuộc vận động “ Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, kết hợp cuộc vận động “ Hai không” với bốn nội dung: Nói không với tiêu cực trong thi cử và bệnh thành tích trong giáo dục, không vi phạm phẩm chất người thầy giáo, khắc phục tình trạng học sinh ngồi nhầm lớp”. Để nâng cao giá trị thực tiễn các cuộc vận động đòi hỏi đội ngũ cán bộ- giáo viên càng phải nhận thức đầu đủ hơn, triển khai hoạt động dạy học tích cực hơn, tạo bước chuyển biến mạnh mẽ trong công tác phụ đạo học sinh yếu kém, khắc phục tình trạng học sinh ngồi nhầm lớp. Là người giáo viên làm công tác dạy học và giáo dục trẻ, chúng ta phải thừa nhận rằng, học sinh yếu kém là một tồn tại khách quan, một phần do giáo viên chưa quan tâm đúng mức, chưa giúp đỡ kịp thời để các em hổng kiến thức cơ bản, một phần là do các em không thích học, không biết cách học dẫn đến ngày một tụt hậu so với trình độ chung của lớp. Tuy nhiên, không biết nguyên nhân do đâu, giúp đỡ học sinh yếu là việc làm cần thiết, cấp bách trong giai đoạn giáo dục hiện nay. Hay nói cách khác, phụ đạo cho học sinh yếu là một hoạt động bình thường và không thể thiếu được trong bất kỳ trường học nào nói chung, trường tiểu học nào nói riêng. Đây chính là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của người thầy, của nhà trường để góp phần giúp cho các học sinh không theo kịp bạn bè có thể nắm bắt được những lỗ hổng kiến thức bản thân. Trong các nhà trường, việc tổ chức các lớp học phụ đạo cho học sinh yếu kém là việc làm thường xuyên chứ không phải chỉ là phong trào thi đua hoặc để đối phó với một đợt thi hoặc kiểm tra. Mặc dầu vậy, đây là một việc làm rất tế nhị, đòi hỏi nhiều công sức, sự yêu thương tận tụy của người thầy, sự nỗ lực hết sức của học sinh, sự quan tâm của các bậc phụ huynh. Công tác phụ đạo học sinh yếu kém không thể nóng vội, phải có lộ trình hợp lý, có biện pháp hiệu quả và kịp thời, có kế hoạch riêng biệt cho mỗi học sinh. Kể từ khi Bộ GD&ĐT có công văn chỉ đạo các Sở GD&ĐT thống kê số lượng học sinh yếu kém và tìm biện pháp giúp đỡ học sinh yếu kém (giữa học kỳ I năm học 2006 – 2007) cho đến nay đã hơn ba năm. Trong các năm qua Ban giám hiệu các trường học và đặc biệt là giáo viên đã rất vất vả, dồn hết công sức của mình để thực hiện một chủ trương lớn của Ngành là giúp đỡ học sinh yếu kém. Thậm chí có nhà trường cho rằng, sự tiến bộ của học sinh trong quá trình học tập được xem là một tiêu chí quan trọng để xem xét đánh giá xếp loại chuyên môn cho giáo viên đó. Với lòng nhiệt tình, yêu nghề, mến trẻ, giáo viên trong cả nước đã suy nghĩ tìm tòi nhiều biện pháp để giúp đỡ học sinh yếu kém. Và theo nhiều giáo viên hiện nay, chưa bao giờ họ chịu nhiều áp lực dạy học như hiện nay, nhất là với công tác giúp đỡ học sinh yếu kém tiến bộ. Phải thừa nhận rằng, cũng có một số ít giáo viên không mặn mà lắm với công tác phụ đạo học sinh yếu kém, có một số lượng lớn giáo viên đã làm tốt công tác này, và cũng có rất nhiều giáo viên đã dồn hết sức để gia giảm số lượng học sinh yếu kém nhưng không có hiệu quả. Vì sao vậy? Làm thế nào để giáo viên, phụ huynh, học sinh thấy được việc giúp đỡ những học sinh yếu kém không theo kịp bạn bè, không theo kịp chương trình học là một việc làm thường xuyên, thiết thực? Làm thế nào để giáo viên, phụ huynh, học sinh thấy được việc phụ đạo, bồi dưỡng học sinh yếu kém phải có sự liên kết, phối hợp chặt chẽ giữa nhiều lực lượng mới đạt được kết quả như mong muốn? Với những lí do trên cùng với ham muốn học hỏi, muốn có cơ hội để tích luỹ thêm kinh nghiệm cho bản thân đã thôi thúc tôi chọn vấn đề “Một số biện pháp chỉ đạo công tác phụ đạo học sinh yêu kém góp phần nâng cao chất lượng dạy học ” làm sáng kiến kinh nghiệm của mình với mong muốn góp phần thiết thực vào việc nâng cao chất luợng dạy học ở bậc tiểu học nói chung cũng như ở trường tiểu học số 1 Kiến Giang nói riêng. 2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu: - Nghiên cứu lí luận về khái niệm học sinh yếu kém, các căn cứ và quan điểm chỉ đạo công tác phụ đạo học sinh yếu kém ở các trường học. - Tìm hiểu thực trạng công tác phụ đạo học sinh yếu kém trong những năm qua và đặc biệt trong năm học 2009-2010 ở trường TH số 1 Kiến Giang. - Hệ thống hoá và đề xuất các biện pháp chỉ đạo công tác phụ đạo học sinh yếu kém góp phần nâng cao chất lượng dạy học của nhà trường. 3. Đối tượng nghiên cứu: Biện pháp chỉ đạo công tác phụ đạo học sinh yếu kém ở trường TH số 1 Kiến Giang. 4. Phạm vi nghiên cứu: Do điều kiện thời gian và khuôn khổ của đề tài, tôi chỉ nghiên cứu việc chỉ đạo công tác phụ đạo học sinh yếu kém ở trường TH số 1 Kiến Giang từ đầu năm học 2009 -2010 cho đến nay. 5. Phương pháp nghiên cứu: *Phương pháp nghiên cứu lí thuyết: - Nghiên cứu các tài liệu, các văn bản của Bộ GD&ĐT,của Sở GD&ĐT, của Phòng GD&ĐT, các tạp chí, các tài liệu có liên quan đến học sinh yếu kém. *Phương pháp nghiên cứu thực tiễn: - Phương pháp quan sát - Phương pháp điều tra - Phương pháp thực hành - Phương pháp toạ đàm trao đổi. Phần nội dung I. cơ sở lí luận và các vấn đề liên quan: 1. Các quan điểm chỉ đạo của Ngành về công tác phụ đạo HS yếu kém: Muốn thực hiện một cách có hiệu quả việc hạn chế học sinh yếu kém và khắc phục tình trạng học sinh ngồi nhầm lớp, cần nhận thức sâu sắc ý nghĩa và mục đích của các cuộc vận động đang thực hiện để xây dựng thành chương trình hành động chung cho đội ngũ cán bộ, giáo viên trong toàn Ngành, hướng vào việc nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục. Xuất phát từ thực trạng tình hình của nhà trường, để có kế hoạch dài hơi và kế hoạch cụ thể từng thời kì; từng giai đoạn để triển khai thực hiện, dù đơn vị ở vùng thuận lợi hay khó khăn cũng phải tạo được sự chuyển biến nhất định qua hàng năm về công tác này; tránh hiện tượng “ đầu voi đuôi chuột”, “ đánh trống thả dùi”; tránh chủ quan nóng vội, tránh quá tải hoặc quá hữu, để không rơi vào tình trạng nảy sinh hậu quả nặng nề trong việc thực hiện các mục tiêu trọng tâm về phát triển giáo dục, những vấn đề khó khắc phục, khó điều hoà cân bằng được. Phải phát triển đồng bộ các biện pháp, giải pháp, từ tuyên truyền vận động, thuyết phục, lên kế hoạch triển khai, đến phối hợp các lực lượng cùng tham gia góp sức, trong đó cần định rõ và chỉ đạo kiên quyết những giải pháp cơ bản, trọng tâm, xác định rõ lực lượng nồng cốt trong việc triển khai thực hiện. Công tác tạo chuyển biến chất lượng học sinh yếu kém, khắc phục tình trạng học sinh ngồi nhầm lớp là công việc thường xuyên, trọng tâm trong hoạt động dạy học, nhằm đảm bảo chất lượng phổ cập giáo dục, muốn vậy phải có sự đầu tư mạnh mẽ về các điều kiện cho việc thực hiện mục tiêu này. 2. Các căn cứ thực hiện: Căn cứ công văn số 8165/BGD-ĐT-VP ngày 02/8/2007 về việc phối hợp tiếp tục triển khai thực hiện Chỉ thị số 33/2006/CT-TTg của Thủ tướng về chống tiêu cực và khắc phục bệnh thành tích trong giáo dục và cuộc vận động “Hai không” với bốn nội dung, đồng thời thực hiện cuộc vận động " Mỗi thầy giáo, cô giáo là một tấm gương tự học và sáng tạo". Căn cứ Quyết định số 12/2007/QĐ-UBND ngày 20/7/2007 của UBND tỉnh Quảng Bình về chương trình nâng cao chất lượng hiệu của GD&ĐT tiếp tục đẩy mạnh phong trào nguồn nhân lực Quảng Bình từ 2001 - 2010. Căn cứ Chỉ thị 12/CT ngày 08/8/2007 của UBND Huyện về việc thực hiện cuộc vận động “Hai không” ở trên địa bàn huyện Lệ Thuỷ. Căn cứ vào công văn số 227/GD-ĐT ngày 6/12/2007 của Phòng GD&ĐT Lệ Thuỷ về kế hoạch thực hiện bồi dưỡng học sinh yếu kém, khắc phục tình trạng học sinh ngồi nhầm lớp. Căn cứ vào hướng dẫn nhiệm vụ bậc học 2009-2010 của Bộ GD&ĐT, Sở GD-ĐT Quảng Bình, hướng dẫn số 626/GD&ĐT-TH ngày 21 tháng 9 năm 2009 của Phòng giáo dục Lệ Thủy về hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ năm học 2009 -2010. Căn cứ kế hoạch triển khai nhiệm vụ năm học 2009-2010 của trường tiểu học số 1 Kiến Giang. Căn cứ vào kết quả phân tích chất lượng học tập của học sinh cuối năm học 2008-2009 và chất lượng khảo sát đầu năm học 2009 - 2010. Căn cứ đánh giá của giáo viên thông qua theo dõi, kiểm tra đánh giá học sinh. 3. Nhận diện học sinh yếu kém: Cần phải nhận diện học sinh yếu kém, phát hiện các nguyên nhân dẫn đến tình trạng học sinh yếu kém trước khi tìm các biện pháp giúp đỡ các em. Học sinh yêú kém là những em có điểm kiểm tra không đạt trung bình. Khi nhìn kỹ các em học sinh yếu kém trong lớp hoặc trường mình giảng dạy, giáo viên có thể nhận ra rằng “gương mặt” của các học sinh yếu kém cũng rất đa dạng. Học sinh yếu kém có thể là học sinh con nhà nghèo, con em các gia đình có bố mẹ bỏ nhau, học sinh cá biệt (diện học sinh được xếp loại đạo đức yếu, có hành vi vô lễ với thầy cô giáo, gây gỗ đánh nhau với bạn bè, hay bỏ giờ, trốn tiết), học sinh không có động cơ học tập (lúc nào cũng thấy chán học), con gia đình công nhân phải di chuyển chỗ ở thường xuyên, học sinh khuyết tật (ở những nơi chưa có trường riêng dành cho các em, phải học chung với các học sinh bình thường khác), học sinh vùng khó khăn, học sinh là con em các dân tộc ít người... Ngoài các đối tượng học sinh thường (hoặc có nguy cơ, bị xếp loại) là học sinh yếu kém như đã liệt kê ở trên, chúng ta cũng nên chú ý đến các đối tượng học sinh khác cũng có thể gọi là học sinh yếu kém. Cụ thể, đó là những học sinh ngồi nhầm lớp. (chúng ta cũng nên lưu ý thêm rằng, ở nước ngoài cũng có học sinh ngồi nhầm lớp, chứ không riêng gì ở Việt Nam ta). Học sinh học hành yếu kém là do các em ghét các môn học mà thời gian trước kia các môn học đó đã tạo ra các dấu ấn, để lại những kỉ niệm buồn cho các em (ví dụ giáo viên đối xử không công bằng đối với các em, trù dập hoặc do ngẫu nhiên, lần nào thầy kiểm tra bài cũ cũng đúng lúc các em không thuộc, phải nhận điểm kém). Học sinh buộc lòng phải nhận là học sinh yếu kém do các tác động khách quan, bị ảnh hưởng từ các sự việc xảy đến cho gia đình các em như các trường hợp bị thiên tai, lũ lụt, mưa bão, hoàn cảnh gia đình trắc trở, … dẫn đến việc sa sút trong học tập. Tuy nhiên, chúng ta nhận diện học sinh yếu kém để có biện pháp, hình thức phụ đạo, giúp đỡ phù hợp với từng đối tượng chứ không phải nhận diện để “phân biệt” giữa học sinh giỏi và học sinh yếu nhằm tránh sự mặc cảm trong các em. ii. cơ sở thực tiễn và thực trạng công tác phụ đạo học sinh yếu kém ở trường tiểu học số 1 kiến giang hiện nay: 1. Đặc điểm tình hình: Trường tiểu học số 1 Kiến Giang nằm giữa trung tâm của huyện Lệ Thuỷ với hệ thống giao thông đi lại vô cùng thuận lợi. Trường luôn được sự quan tâm, chỉ đạo, giúp đỡ của lãnh đạo Ngành, địa phương với nhiệm vụ xây dựng trung tâm chất lượng cao của cấp học. Cơ sở vật chất của trường ngày một khang trang, từng bước hiện đại, đáp ứng yêu cầu dạy và học của trường chuẩn quốc gia mức độ II. Năm học 2009 - 2010 này, trường có tất cả 10 lớp với 316 học sinh. Trường có đủ phòng học cho 10 lớp. Các phòng học được trang bị bàn ghế đủ số chỗ ngồi và đảm bảo tiêu chuẩn (bàn hai chỗ ngồi, ghế rời), bảng chống lóa, điện sáng đảm bảo. Tất cả các học sinh nói chung đều được sự quan tâm của Ban giám hiệu nhà trường, của đội ngũ giáo viên. Trong nhiều năm qua, nhà trường đã thực hiện dạy học kĩ cương, nề nếp. Việc kiểm tra, đánh giá nghiêm túc ; thực hiện dạy học có chất lượng ngăn chặn được tình trạng học sinh yếu tràn lan, xây dựng được ý thức trách nhiệm cho đội ngũ cán bộ, giáo viên và học sinh. Nhà trường luôn chỉ đạo, theo dõi sâu sát tất cả các vấn đề về chương trình, về thời gian lên lớp, về chất lượng học tập, về sự tiến bộ của học sinh. Đặc biệt, nhà trường rất quan tâm đến vấn đề đổi mới phương pháp dạy học nhằm phát huy tính tích cực của học sinh, vấn đề rèn luyện cho các em tất cả các kĩ năng cơ bản, giúp các em phát triển toàn diện. Nhà trường đã thực hiện tốt cuộc vận động ‘ Hai không’, tạo niềm tin đối với cấp uỷ, chính quyền địa phương, phụ huynh, ủng hộ nhà trường thực hiện tốt hơn trong năm học này. Bên cạnh đó, phải kể đến sự hậu thuẫn rất chắc chắn của phụ huynh học sinh. Đa số phụ huynh rất quan tâm, chăm lo đến vấn đề học hành của con em họ. Phụ huynh rất đồng tình ủng hộ, hiểu và hưởng ứng tốt cách kiểm tra đánh giá học sinh theo tinh thần ‘Hai không’, từ đó cùng nhà trường tham gia giáo dục học sinh. Đội ngũ giáo viên của nhà trường rất nhiệt tình, ý thức rõ công việc phụ đạo học sinh yếu kém là trách nhiệm của mình. Thông qua các tiết ôn luyện buổi chiều, giáo viên đã tiến hành dạy phân hóa đối tượng để tăng cường rèn các kỹ năng còn yếu cho các em. Học sinh đi học có đầy đủ sách vở, dụng cụ học tập. Các em rất ngoan, lễ phép với thầy cô, học hành chăm chỉ, đa số các em có nguyện vọng được phụ đạo thêm các kỹ năng còn yếu. Tuy vậy, bên cạnh những mặt thuận lợi cơ bản, việc dạy và học trong nhà trường vẫn còn một số khó khăn: - Số lượng học sinh trên một lớp ở một số lớp khá đông, gây khó khăn cho giáo viên trong giảng dạy( khối 1, khối 4). - Trong giảng dạy, một số giáo viên chưa có sự quan tâm đúng mức, chưa có biện pháp cụ thể, sâu sát giúp đỡ đối tượng học sinh yếu kém trong lớp. - Một số gia đình hoàn cảnh khó khăn, hoặc do công việc làm ăn của mình nên rất ít quan tâm đến việc học hành của con cái, phó mặc việc học của con cho nhà trường. Học sinh yếu thường rơi vào những em lười học, ham chơi, gia đình thiếu quan tâm, việc phối hợp giữa gia đình và phụ huynh còn khó khăn. 2.Thực trạng công tác phụ đạo học sinh yếu kém ở trường tiểu học số 1 Kiến Giang: Công tác phụ đạo cho học sinh yếu kém trong nhà trường là việc làm hết sức tế nhị và đòi hỏi đầu tư nhiều công sức, sự yêu thương học sinh hết lòng, sự tận tụy và cố gắng của thầy và trò. Công tác này ở trường TH số 1 Kiến Giang gặp một số thuận lợi và khó khăn như sau: 2.1. Những thuận lợi cơ bản: - Đã có văn bản của Bộ, Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ về khắc phục bệnh thành tích trong Giáo dục, học sinh ngồi nhầm lớp; Chỉ thị 12/CT ngày 08/8/2007 của UBND Huyện về việc thực hiện cuộc vận động “Hai không” ở trên địa bàn huyện Lệ Thuỷ; công văn 227 của Phòng GD&ĐT Lệ Thủy kế hoạch thực hiện bồi dưỡng học sinh yếu kém, khắc phục tình trạng học sinh ngồi nhầm lớp. - Qua hai năm thực hiện cuộc vận động “Hai không” chất lượng học sinh được đánh giá sát thực tế hơn tạo được uy tín cho đội ngũ, tạo niềm tin của phụ huynh đối với giáo viên, đồng thời giáo viên dễ dàng phân loại đối tượng học sinh trong giảng dạy. - Đổi mới giáo dục phổ thông nói chung, đổi mới phương pháp dạy học nói riêng đã tạo đà vững chắc cho giáo viên kèm cặp, theo sát được đối tượng học sinh. - Đa số phụ huynh đồng tình với cách đánh giá chất lượng của giáo dục theo Thông tư 32/BGD&ĐT của Bộ ban hành, từ đó có biện pháp giáo dục con cái. - Địa bàn dân cư thuận lợi, trình độ dân trí cao, phụ huynh học sinh có tinh thần hiếu học cao. 2.2. Những khó khăn thách thức: *Về phía nhà trường: - Cơ sở vật chất tuy ngày càng tăng trưởng song vẫn chưa đáp ứng kịp yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông hiện nay, nhất là công tác phụ đạo học sinh yếu kém. - Gánh nặng phổ cập giáo dục đúng độ tuổi gây áp lực cho nhà trường trong vấn đề HS ở lại lớp. - Bệnh thành tích trong những năm qua dẫn đến một số ít học sinh “mất gốc”, khi tiếp thu kiến thức mới không có nền tảng cơ sở ban đầu nên không nắm chắc kiến thức mới, dẫn đến sức học ngày càng yếu. *Về phía đội ngũ: - Một số cán bộ- giáo viên chưa nhận thức được một cách đầy đủ, trọn vẹn mục đích của các cuộc vận động, đang nghiêng về phía chống tiêu cực, đả phá bệnh thành tích mà chưa coi trọng, chưa kịp thời triển khai những giải pháp tích cực để đưa mục đích và những giá trị thực tiễn của cuộc vận động vào nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục. Chính về vậy trong quá trình triển khai đang chú tâm nghiêng về sát hạch, kiểm định mà chưa coi trọng đúng mức việc tìm kiếm những giải pháp để khắc phục tồn tại về mặt chất lượng, hiệu quả đào tạo. Một số ít cán bộ giáo viên thì lại có nhận thức lệch lạc về công tác thi đua, phủ nhận các tiêu chí thi đua. - Trong một số tiết dạy, giáo viên chỉ chú ý truyền đạt kiến thức trọng tâm cho cả lớp ( hoặc là chỉ chú trọng vào các em khá, giỏi và coi đây là chất lượng chung của lớp ) mà ít quan tâm học sinh yếu kém có nắm bắt được kiến thức hay không. Hoặc là có quan tâm đến học sinh yếu nhưng chưa đúng mức, chưa đúng cách. Đặc biệt, hệ thống câu hỏi gợi mở, dẫn dắt chưa logic, chưa phù hợp cho từng đối tượng; có những tiết học giáo viên còn nói lan man, giảng giải nhiều, chưa khắc sâu kiến thức trọng tâm. - Việc sử dụng đồ dùng dạy học trực quan, tranh ảnh, sách giáo khoa còn hạn chế, chưa khai thác hết tác dụng của đồ dùng dạy học, chưa xử lý hết các tình huống trong tiết dạy. - Việc tổ chức các hoạt động còn mang tính hình thức chưa phù hợp. Phương pháp giảng dạy của một số giáo viên còn máy móc, năng lực tổ chức giờ học theo nhóm, theo đối tượng còn hạn chế. Giáo viên chưa động viên tuyên dương kịp thời khi HS có biểu hiện tích cực hay sáng tạo dù là rất nhỏ. - Một số ít giáo viên còn lúng túng, chưa mạnh dạn tìm các giải pháp mạnh giải quyết vấn đề chất lượng học tập của HS. Cá biệt có giáo viên tinh thần trách nhiệm chưa cao, tự thoả mãn, thiếu quyết tâm, bệnh thành tích, không đánh giá đúng thực chất của lớp mình giảng dạy. * Về phía học sinh: - Đa số học sinh tiểu học khả năng chú ý và tập trung vào bài giảng của giáo viên không bền, dễ thích, chóng chán. - Một bộ phận học sinh chưa tự giác học, chưa có động cơ học tập. - Một số ít học sinh lười suy nghĩ, còn trông chờ thầy cô giải giúp, trình độ tư duy, vốn kiến thức cơ bản còn hạn chế. *Về phía phụ huynh: - Cá biệt một bộ phận phụ huynh hoàn cảnh gia đình còn khó khăn, lo làm ăn, chưa thật sự quan tâm, chăm lo và đôn đốc con em mình học tập, chưa quản lý việc học ở lớp, ở nhà của con em, còn phó thác cho nhà trường, cho thầy cô. 2.3. Nguyên nhân của những khó khăn bất cập: - Chương trình phổ thông mới có nhiều ưu điểm, song yêu cầu cao và nặng. Mặt khác, chưa có một chương trình, giáo án nào có sẵn dạy riêng cho riêng đối tượng học sinh yếu, cá biệt. - Một số ít giáo viên do thiếu kinh nghiệm trong giảng dạy hoặc chưa thật sự chịu khó, tận tuỵ với học sinh nên trong quá trình dạy học còn bỏ rơi một bộ phận học sinh yếu kém, do vậy chất lượng thường xuất hiện tình trạng phân cực rõ nét khoảng cách ngày càng xa, những học sinh yếu kém khó được bù đắp về kiến thức kĩ năng dẫn đến ngày càng yếu kém thêm, sức học ngày càng đuối, nguy cơ tái phát ngồi nhầm chỗ luôn ẩn chứa bùng phát. - Mỗi giáo viên Tiểu học phải dạy đủ 23 tiết/tuần và đa số giáo viên Tiểu học phải dạy cả ngày, học sinh phải học đủ các môn theo chương trình quy định. Do đó, thời gian để kèm cặp, phụ dạo cho học sinh yếu còn hạn chế. - Về chế độ: Theo Bộ GD&ĐT thì việc phụ đạo cho học sinh yếu kém là nghĩa vụ phải làm của mỗi giáo viên cho nên không có chế độ riêng cho thầy, trong khi đó, tài chính của mỗi nhà trường cũng không thể có những chế độ bồi dưỡng cho giáo viên làm công tác này. - Do sức ép về phổ cập đúng độ tuổi nên một tỉ lệ không nhỏ phụ huynh học sinh ỷ lại, lười học. - Nhận thức của một bộ phận phụ huynh chưa theo kịp yêu cầu của cuộc vận động, thiếu quan tâm của việc học tập của con cái, chấp nhận việc con học thua kém bạn bè. iii. kế hoạch triển khai chỉ đạo công tác phụ đạo học sinh yếu kém ở trường tiểu học số 1 kiến giang : Từ cơ sở lí luận, cơ sở thực tiễn và thực trạng của công tác phụ đạo học sinh yếu kém như trên, chúng tôi mạnh dạn đưa ra mục tiêu, nhiệm vụ và những biện pháp chỉ đạo như sau: 1. Mục tiêu đề ra: *Nâng cao mặt bằng chất lượng, đạt chỉ tiêu đã đề ra (Trung bình trở lên: 100%, khá giỏi: 70%). *Phấn đấu không có HS yếu trong năm học 2009- 2010 và các năm tiếp theo. Tất cả học sinh đều được lên lớp thực chất ( không có HS ngồi nhầm lớp). * HS hoàn thành CTTH đạt 100%. 2. Nhiệm vụ trọng tâm : *Tiếp tục tuyên truyền cuộc vận động” Hai không”; xác định rõ trọng tâm cuộc vận động: Dạy thật- học thật, học sinh lên lớp thực chất. *Ngăn chặn tình trạng xuất hiện học sinh yếu, học sinh nghỉ học dài ngày. 3. Các biện pháp triển khai thực hiện: Biện pháp 1: Ban giám hiệu phải nhận thức sâu sắc, đầy đủ về tầm quan trọng của công tác phụ đạo học sinh yếu kém; lên kế hoạch chỉ đạo có tính khả thi, kịp thời. Cụ thể thực hiện tốt những vấn đề như sau: - Tiếp tục phối hợp với các tổ chức trong nhà trường thực hiện tốt cuộc vận động “Hai không” , cuộc vận động “ Dân chủ, kỉ cương, tình thương, trách nhiệm”; thể hiện bằng các việc làm cụ thể, giúp các em vượt qua tình trạng học yếu, tự tin vươn lên. - Lập kế hoạch chỉ đạo công tác phụ đạo học sinh yếu kém, thiết lập bộ hồ sơ theo dõi thường xuyên về: Nội dung, chương trình, bài soạn, kết quả tiến bộ của học sinh... - Phân công rõ trách nhiệm cho từng thành viên trong đội ngũ: Ban giám hiệu lên kế hoạch phụ đạo theo thời khóa biểu cố định- Các tổ chuyên môn nắm kế hoạch chỉ đạo của trường, kiểm tra, đôn đốc việc phụ đạo học sinh- Giáo viên thực hiện nghiêm túc kế hoạch chỉ đạo của nhà trường đề ra-Tổ chuyên môn, Ban giám hiệu kiểm tra công tác phụ đạo, đánh giá, điều chỉnh kế hoạch phụ đạo phù hợp tình hình từng giai đoạn. Giáo viên thực hiện nghiêm túc kế hoạch chỉ đạo của nhà trường đề ra. - Tăng cường dự giờ thăm lớp, giúp đội ngũ nắm chắc các phương pháp dạy học đối với từng loại bài trên lớp, phương pháp tiếp cận đối tượng học sinh yếu kém trong từng tiết học. - Tăng cường kiểm tra việc thực hiện của giáo viên, thể hiện qua các hình thức: + Sơ đồ lớp ( thể hiện vị trí ngồi của học sinh yếu, đôi bạn cùng tiến). + Dạy học trên lớp (cách giao việc, tiếp sức đối với học sinh yếu). + Chấm chữa bài cho học sinh yếu. + Theo dõi học sinh yếu. - Phối hợp với các lực lượng trợ giúp học sinh yếu. Tranh thủ sự hỗ trợ của các lực lượng trên địa bàn: Hội khuyến học, Cựu giáo chức, Cựu chiến binh... (Căn cứ vào thực tế để có biện pháp phù hợp: Ví dụ: Gia đình có hoàn cảnh khó khăn thì có thể trợ giúp SGK, vở... Học sinh lười học ham chơi, cần phối hợp trò chuyện giúp các em thấy rõ ích lợi của việc học, khuyến khích động viên các em...). - Kiểm tra chặt chẽ việc đánh giá chất lượng học sinh yếu ( Kiểm tra thường xuyên, kiểm tra định kỳ). Trong các lần kiểm tra, học sinh yếu ngồi riêng, cán bộ quản lý hoặc tổ trưởng trực tiếp coi và chấm bài kiểm tra. - Thường xuyên tổ chức các chuyên đề liên quan đến công tác phụ đạo học sinh yếu kém. Có thể tổ chức theo hình thức sinh hoạt chuyên môn liên trường, hoặc mời phụ huynh có học sinh yếu, đại diện hội cha mẹ học sinh, đại diện UBND Thị trấn, các thôn trưởng cùng giáo viên có học sinh yếu, tổ khối chuyên môn để cùng hợp tác, bàn bạc, trao đổi, tìm biện pháp khắc phục. - Tiếp tục đẩy mạnh phong trào thi đua tự giác- hiệu qủa theo tinh thần cuộc vận động “ hai không”. Kết hợp chặt chẽ với Công đoàn động viên đoàn viên lao động triển khai cuộc vận động đồng thời tìm tòi các biện pháp, giải pháp giúp đỡ học sinh yếu kém. Phối hợp với Hội khuyến học khen thưởng cho học sinh yếu vươn lên trung bình, lớp không còn học sinh yếu ( qua các đợt kiểm tra định kỳ). Biện pháp 2: Tăng cường chỉ đạo vấn đề phân loại học sinh yếu kém, lên chương trình, thời gian phụ đạo học sinhyếu kém một cách khoa học, hợp lý: *Chỉ đạo phân loại học sinh yếu kém: đây là một việc làm tạo thuận lợi cho quá trình phụ đạo. Đối tượng học sinh phải học phụ đạo là những học sinh có điểm kiểm tra định kì không đạt trung bình và cả những học sinh tuy có đạt trung bình nhưng do chính giáo viên lập danh sách đề nghị cho phụ đạo vì không chắc với kết quả ấy. Học sinh yếu kém có thể phân thành nhiều loại: Học sinh “mất gốc” từ lớp dưới; học sinh có khả năng học được nhưng lười học, ít được sự quan tâm chăm sóc của phụ huynh nên ham chơi, ít dành thời gian cho học tập.... *Chỉ đạo lên chương trình: Giáo viên chủ nhiệm lập danh sách HS yếu các kĩ năng, lên kế hoạch, chương trình phụ đạo. Lưu ý: Chương trình phụ đạo phải bám sát chương trình dạy học để phụ đạo thêm cho học sinh về: - Nội dung kiến thức cơ bản. - Kỹ năng vận dụng làm bài tập, thực hành. - Ban giám hiệu duyệt chương trình phụ đạo, theo dõi quá trình thực hiện. *Chỉ đạo vấn đề thực hiện thời gian phụ đạo: - Thực hiện từ 11/2009 đến 20/5/2010 - Thời gian: Khối 1+2: 1 tuần 04 tiết ( tiết thứ tư buổi chiều hàng tuần). Khối 3: 1 tuần 04 tiết ( sáng thứ bảy hàng tuần). Khối 4+5:1 tuần 4 tiết ( dạy đồng thời với các tiết BD Toán+TV hàng tuần). Lưu ý: Trong quá trình lên lớp, GV chú ý dạy phân hóa đối tượng, điều chỉnh nội dung, chương trình phù hợp với khả năng của học sinh. Tuỳ theo kết quả kiểm tra học sinh yếu hàng tuần của tổ chuyên môn, của ban giám hiệu mà thời gian phụ đạo có thể tăng thêm vào các thứ bảy, chủ nhật hàng tuần. Biện pháp 3: Tăng cường chỉ đạo tổ chuyên môn làm tốt vai trò nồng cốt trong công tác phụ đạo học sinh yéu kém: - Chỉ đạo tổ chuyên môn nắm kế hoạch chỉ đạo của trường, lên kế hoạch triển khai công tác phụ đạo học sinh yếu kém trong tổ một cách thường xuyên, kịp thời, có hồ sơ theo dõi đầy đủ. - Chỉ đạo nâng cao chất lượng sinh hoạt tổ chuyên môn, thông qua dự giờ-trao đổi- hội thảo; tăng cưòng giúp đỡ giáo viên còn thiếu kinh nghiệm hoặc năng lực sư phạm còn hạn chế ( mỗi tuần ít nhất 1 tiết); thường xuyên rút kinh nghiệm, định hình cách dạy các môn, cách dạy từng loại bài; chỉ rõ biện pháp kỉ thuật, cách giáo viên tiếp cận học sinh yếu kém, kèm cặp giúp đỡ, tiếp sức từng đối tượng học sinh một cách phù hợp trong từng tiết học trên lớp. - Chỉ đạo tổ chuyên môn tổ chức dự giờ, rút kinh nghiệm thường xuyên về công tác phụ đạo học sinh yếu kém, giúp đỡ đồng nghiệp và bản thân xây dựng nội dung và phương pháp dạy học một cách khoa học và có hiệu quả. Họp tổ khối hàng tuần để cùng phân tích nguyên nhân, bàn kế hoạch khắc phục học sinh yếu. Đề xuất với nhà trường về cách khắc phục học sinh yếu. - Chỉ đạo tổ chuyên môn thường xuyên đôn đốc, kiểm tra các biện pháp khắc phục HS yếu , giao trách nhiệm cho từng giáo viên và báo cáo thường xuyên cho nhà trường. Tổ trưởng báo cáo tiến độ tiếp thu của những em học sinh yếu qua các buổi sinh hoạt chuyên môn hàng tháng. - Chỉ đạo tổ chuyên môn thường xuyên tổ chức bồi dưỡng cá biệt ngoài giờ chính khóa ( cuối buổi học hàng ngày hoặc thứ bảy) do một trong hai giáo viên cùng khối đảm trách ( tự nguyện). Biện pháp 4: Đề cao vai trò chủ đạo của giáo viên trong công tác phụ đạo học sinh yếu: Giáo viên là nhân tố hết sức quan trọng trong việc khắc phục học sinh yếu. Nói cách khác, thành hay bại của công việc này phần lớn do giáo viên. Giáo viên được ví như một người huấn luyện viên trưởng. Nếu có được những thầy cô tâm huyết, có kinh nghiệm dạy học sinh yếu, tận tụy với từng học sinh thì kết quả mới khả quan được. Bởi vì, với học sinh yếu, giáo viên phải vừa dạy vừa dỗ các em đi từ những cái cơ bản nhất của môn học. Thực tế có nhiều thầy rất giỏi nhưng khi dạy đối tượng học sinh này thì không hiệu quả. Ngược lại có những thầy không phải siêu sao gì nhưng kỉ lưỡng, tỉ mỉ và kiên trì với học sinh thì sẽ đạt hiệu quả cao. Chính vì thế, việc chọn giáo viên phụ đạo cho học sinh yếu kém vừa trên cơ sở tự nguyện vừa trên cơ sở dựa vào tâm huyết, sự tận tụy, chu đáo, quan tâm của từng giáo viên và tổ chuyên môn cũng không đứng ngoài việc này. Ban giám hiệu cần chỉ đạo người “huấn luyện viên trưởng” thực hiện tốt các vấn đề sau: - Từ đầu năm học, giáo viên chủ nhiệm phải nắm chắc tình hình học sinh của lớp mình xem những em nào yếu kém, yếu những môn gì hay yếu toàn bộ. GV chủ nhiệm phải tìm hiểu hoàn cảnh gia đình học sinh, tìm hiểu nguyên nhân dẫn đến tình trạng yếu kém. Thăm hỏi gia đình học sinh, bàn bạc trao đổi với phụ huynh để có biện pháp rèn cặp. - Lập kế hoạch phụ đạo theo năm, tháng, tuần ngay từ đầu năm học, giữa kì, cuối kì và theo dõi lưu giữ cuối năm học nộp cho chuyên môn (để bàn giao cho chủ nhiệm đầu năm học sau theo mẫu). Xem xét sự tiến bộ qua hàng tháng, qua các đợt kiểm tra, nộp hồ sơ tại trường ( lưu giữ đến các năm sau, ngăn chặn tình trạng né tránh, đổ lỗi cho nhau). Riêng giáo viên lớp 5: Chuyển giao chất lượng học sinh lớp 5 lên THCS, lấy chất lượng kiểm tra cuối kỳ 2 các môn: Toán, Tiếng Việt làm cơ sở chính. - Chú trọng học sinh có hoàn cảnh khó khăn, học sinh nghèo, vì những học sinh yếu thường hay tự ti, hay mặc cảm. - Nâng cao chất lượng dạy học học sinh yếu ở các khâu: + Xây dựng chương trình, kế hoạch phụ đạo học sinh yếu ( đảm bảo kiến thức, kĩ năng). + Bài soạn: Phải thể hiện rõ nội dung kiến thức, kĩ năng cần được tiếp sức cho học sinh yếu ( tạo điều kiện cho các em tiến kịp các bạn trong lớp). + Dạy học: Phải có sơ đồ chỗ ngồi ( Học sinh yếu phải được ngồi chỗ thuận lợi nhất, dễ dàng cho giáo viên tiếp sức; làm tốt phong trào “Đôi bạn cùng tiến”bố trí học sinh giỏi ngồi cạnh để giúp giáo viên trong một số trường hợp cụ thể). Trong từng phần của tiết học, cần lựa chọn hình thức dạy học phù hợp, tiết kiệm thời gian để giáo viên được tiếp cận, giúp đỡ học sinh yếu nhiều hơn. Giảng dạy trên lớp ở từng phần của mỗi tiết học cần lựa chọn hình thức hoạt động cho học sinh cả lớp một cách phù hợp, tiết kiệm được thời gian để tranh thủ tạo ra cơ hội cần thiết cho giáo viên tiếp cận học sinh yếu kém nhằm kèm cặp, hưóng dẫn, tiếp sức cần thiết trong mỗi tiết dạy. Mỗi học sinh yếu kém phải hoạt động tối thiểu như nhắc lại định nghĩa, định lý, quy tắc, đọc đoạn văn... Nội dung này được coi là biện pháp trọng tâm chủ yếu nhất trong công tác nâng cao chất lượng học sinh yếu kém và ngồi nhầm lớp do đó cần quan tâm thường xuyên và triển khai liên tục. Chẳng hạn, đối với phân môn chính tả: Trong lớp học có học sinh yếu về viết, viết rất chậm thì giáo viên đọc thật chậm, đọc xong phải đến tiếp sức cho học sinh, động viên học sinh, hoặc khi giáo viên đọc cho HS viết thì đối với học sinh yếu giáo viên cho học sinh mở SGK để tập chép... Hay đối với phân môn Tập đọc: Học sinh không đọc được các bài tập đọc hoặc đọc với tốc độ rất chậm. Giáo viên vẫn dạy bình thường, đến phần luyện đọc giáo viên gọi em đó đọc nhưng chỉ đọc một chữ cái, âm, vần, ghép tiếng dần dần học sinh đọc được và nâng cao dần lên (tập đọc). Trong phần tìm hiểu bài cũng cho các em học sinh yếu tham gia bình thường nhưng chỉ hỏi những câu dễ và gần gũi để các em trả lời được. - Tăng cường công tác kiểm tra, chấm chữa của giáo viên đối với học sinh trong các tiết luyện tập, chấm hết tất cả các bài tập, chấm chữa kĩ các lỗi mà học sinh yếu hay vấp phải. Thường xuyên khuyến khích, động viên để các em cố gắng. - Sắp xếp chỗ ngồi hợp lý thuận tiện đối với đối tượng này để giáo viên có nhiều cơ hội, tiếp sức kịp thời. Phân công HS khá, giỏi giúp đỡ bạn ở trường, ở nhà. Xây dựng các nhóm học tập, thi đua trong các nhóm có học sinh yếu. - Thường xuyên phối hợp với phụ huynh, kiểm tra việc tự học ở nhà ( ngăn chặn học sinh đi chơi không làm bài tập); Thông tin cho phụ huynh ít nhất mỗi tháng 1 lần ( Qua phiếu theo dõi). Sau mỗi lần thông tin, phụ huynh phải ký cam kết trách nhiệm về việc kèm cặp con em mình. Tóm lại, người giáo viên chủ nhiệm phải nắm bắt tình hình học tập cũng như diễn biến về tư tưởng của các em học sinh yếu, báo cáo thường xuyên cho BGH nhà trường (mỗi tuần/ lần) để nhà trường có kế hoạch chỉ đạo một cách sát sao, kịp thời hơn, có như vậy công tác phụ đạo học sinh yếu kém mới đạt hiệu quả như mong muốn. Biện pháp 5: Phối kết hợp tốt với chính quyền địa phương, phụ huynh học sinh cùng giúp sức giáo dục, giúp đỡ học sinh yếu kém vươn lên: *Đối với chính quyền địa phương: - Tham mưu với địa phương có biện pháp hỗ trợ vật chất cho những gia đình gặp khó khăn. - Duy trì tốt mối liên hệ với UBND Thị trấn và thôn trưởng các thôn, thường xuyên báo cáo về những phụ huynh không quan tâm đến việc học của con cái, phó mặc việc học của con cho nhà trường để từ đó UBND Thị trấn và các thôn có biện pháp nhắc nhở, động viên những phụ huynh học sinh này. * Đối với phụ huynh học sinh: Ban giám hiệu phải phối hợp thật tốt với các tổ chức đoàn thể và Ban đại diện hội cha mẹ học sinh, đặc biệt là những phụ huynh có con em thuộc diện phải phụ đạo. Phải trao đổi, giải thích rõ cho cha mẹ học sinh hiểu được sức học cụ thể của con em họ, biết được sự lo lắng, quan tâm và trách nhiệm của nhà trường để phối hợp, tạo điều kiện cho con em mình đi học đầy đủ. Làm thế nào để họ thấy rằng việc phụ đạo là việc làm giúp đỡ những học sinh yếu kém không theo kịp bạn bè, không theo kịp chương trình học. Giao việc cụ thể cho phụ huynh: - Theo dõi và kiểm tra bài vở của con em mình. - Giúp đỡ HS trong quá trình học tập ở nhà, phải có thời gian biểu cho HS. - Đôn đốc, động viên con em đi học chuyên cần. - Có sự kiểm tra và chuẩn bị cho con em trước khi đến trường. - Thường xuyên liên hệ với giáo viên chủ nhiệm lớp để nắm được tình hình học tập của con em mình, từ đó giáo viên chủ nhiệm cùng trao đổi với phụ huynh để tìm biện pháp tốt nhất cho con em mình học tập. Phần kết luận 1. Kết quả đạt được : Sau hai năm áp dụng các biện pháp nêu trên vào dạy học trong nhà trường, tôi tự nhận thấy hiệu quả đạt được rất cao: Số lượng học sinh yếu càng ngày càng ít đi, nhiều học sinh yếu đã vươn lên đạt điểm trung bình, thậm chí là điểm khá. Điều đó thể hiện rất rõ nét qua các bảng số liệu sau: Bảng thống kê số lượng HS yếu qua KTĐK giữa kì I, năm học 2009-2010 TT Tổ Lớp 1 1 2 3 4 5 6 1 12 21 22 31 32 Tổ 1+2+3 1 7 8 9 10 4 42 51 52 Tổ 4+5 tshs Môn Toán SL % 35 35 31 30 31 30 192 34 36 27 28 125 317 TT Thống kê số lượng HS yếu kém 01 01 01 02 01 03 09 03 02 02 02 09 18 2,9 2,9 3,2 6,7 3,2 10,0 4,7 8,8 5,6 7,4 7,1 7,2 5,7 Đọc tiếng 1 1 01 02 01 02 08 02 02 1 1 06 14 2,9 2,9 3,2 6,7 3,2 6,7 4,2 5,9 5,6 3,7 3,6 0,8 4,4 Môn TV Đọc hiểu Chính tả 1 1 1 1 1 3 8 9 17 20 3,3 3,2 3,3 1,6 23,5 25,0 13,6 6,3 TLV 2,9 2,9 1 03 1 3,3 1,6 2,9 1 2 05 3,6 1,6 1,6 1 1 3,3 3,2 2 2 3 1 1 07 09 1,1 5,9 8,3 3,7 3,6 5,6 2,8 Bảng thống kê số lượng HS yếu qua KTĐK cuối kì I, năm học 2009-2010 TT 1 2 3 Tổ Lớp 1 1 12 21 tshs 35 35 31 Thống kê số lượng HS yếu kém Môn Toán SL % 0 01 0 2,9 Đọc tiếng 1 2,9 Môn TV Đọc hiểu Chính tả TLV 4 5 6 22 31 32 Tổ 1+2+3 30 31 30 192 34 36 27 28 125 1 1 1 3 3 3 0 01 01 3,2 3,2 3,3 3,2 3,3 1,6 8,8 8,6 1 1 3,3 3,2 1 0,5 2 03 1,6 1 2,9 7 4 01 2,9 2 8 4 01 2,7 1 1 3,7 1 9 5 0 0 2 1 3,6 1 10 5 0 0 Tổ 4+5 1 0,8 07 5,6 1 0,8 2 02 1,6 2 0,6 10 3,2 1 0,3 4 317 TT 05 1,6 Nhìn vào hai bảng thống kê ta thấy: Trong KTĐK giữa kì I, số học sinh yếu môn Toán:18 HS - chiếm tỉ lệ 5,7% số học sinh yếu môn Tiếng Việt: 02 HS - chiếm tỉ lệ 0,6% Trong đó, HS yếu kĩ năng đọc tiếng là: 14 HS - chiếm tỉ lệ 4,4% HS yếu kĩ năng đọc hiểu là: 20 HS - chiếm tỉ lệ 6,3% HS yếu kĩ năng Chính tả là: 05 HS - chiếm tỉ lệ 1,6% HS yếu kĩ năng Tập làm văn là: 09 HS - chiếm tỉ lệ 2,8% Tỉ lệ học sinh yếu toàn trường là 6,3%. Qua KTĐK cuối kì I, số học sinh yếu môn Toán giảm 13 HS, còn 05 HS chiếm tỉ lệ 1,6%. số học sinh yếu môn Tiếng Việt giảm còn 01 HS - chiếm tỉ lệ 0,3% Trong đó, HS yếu kĩ năng đọc tiếng giảm 12 HS còn 02 HS - chiếm tỉ lệ 0,6% HS yếu kĩ năng đọc hiểu giảm 10 HS còn 10 HS - chiếm tỉ lệ 3,2% HS yếu kĩ năng Chính tả giảm 04 HS còn 01 HS - chiếm tỉ lệ 0,3% HS yếu kĩ năng Tập làm văn giảm 05 HS còn 04 HS - chiếm tỉ lệ 1,2% Tỉ lệ học sinh yếu toàn trường là 2,2%. 1 1,1 3,7 3,6 1,6 1,2 Bảng thống kê số lượng HS yếu qua KTĐK giữa kì II, năm học 20092010 TT 1 2 3 4 5 6 Tổ Lớp 1 1 12 21 22 31 32 tshs 35 35 31 30 31 30 Thống kê số lượng HS yếu kém Môn Toán SL % 0 0 0 0 0 0 Đọc tiếng 1 Môn TV Đọc hiểu Chính tả 2,9 TLV 1 1 3,3 2,9 Tổ 1+2+3 1 7 8 9 10 4 42 51 52 Tổ 4+5 192 34 36 27 28 125 317 TT 1 01 01 2,9 2,7 01 01 3,7 3,6 1 04 04 1,6 1,3 0,5 1 0,5 01 01 2,9 2,7 3,7 01 01 3,7 3,6 1 0,8 2 0,6 04 05 1,6 1,6 1 1 0,5 1 3,7 1 2 0,8 0,6 2,9 1 0,8 1 0,3 Bảng thống kê số lượng HS yếu qua KTĐK cuối kì II, năm học 20092010 TT Tổ Lớp 1 1 2 3 4 5 6 1 12 21 22 31 32 Tổ 1+2+3 1 7 8 9 10 4 42 51 52 Tổ 4+5 TT tshs Thống kê số lượng HS yếu kém Môn Toán SL % 35 35 31 30 31 30 192 34 36 27 28 125 317 0 Đọc tiếng 1 2,9 1 0,5 01 0,3 Môn TV Đọc hiểu Chính tả 0 0 TLV 0 Nhìn bảng thống kê chất lượng cuối năm học 2009-2010, ta dễ dàng nhận thấy rằng, số lượng HS yếu của các lớp ngày càng giảm đáng kể. KTĐK cuối năm, số lượng HS yếu môn Toán: Không Môn TViệt: Không Chuyển giao chất lượng lớp 5: 100% đạt khá giỏi. 100% học sinh được lên lớp thẳng. Đặc biệt có những học sinh đầu năm thuộc đối tượng học sinh yếu, cuối năm đã vươn lên xếp loại học lực đạt khá, đạt danh hiệu học sinh tiên tiến như em Nguyễn Văn Tiến Hải lớp 5 2, em Hoàng Thạch lớp 51,... Kết quả đó chứng tỏ rằng, ngoài sự nhiệt tình, tận tâm, tận lực của đội ngũ giáo viên trong dạy và học thì những biện pháp chỉ đạo công tác của phụ đạo học sinh yếu của nhà trường đưa ra có tính khả thi cao. Cuối năm học 2009-2010, trường không còn học sinh yếu lõi, không còn học sinh phải rèn luyện để thi lại trong hè. 2. Bài học kinh nghiệm: Từ thực tiễn chỉ đạo công tác phụ đạo học sinh yếu trong những năm qua, tôi đã đúc rút lại ngắn gọn thành các bài học kinh nghiệm sau: 1. Quán triệt và nâng cao nhận thức tầm quan trọng, ý nghĩa của các cuộc vận động do cấp trên phát động. 2. Xây dựng kế hoạch chỉ đạo công tác phụ đạo học sinh yếu kém cụ thể, có tính khả thi ngay từ đầu năm học. Phân công rõ người rõ việc. 3. Cần đề cao vai trò, trách nhiệm của tổ chuyên môn, giáo viên, phụ huynh, học sinh trong công tác phụ đạo học sinh yếu. 4. Coi trọng công tác kiểm tra, đôn đốc để giải quyết kịp thời các vướng mắc nảy sinh trong quá trình thực hiện. 5. Làm tốt công tác tham mưu với các cấp uỷ đảng, chính quyền địa phương, thôn. Bởi khi các cấp uỷ đảng, chính quyền địa phương thông suốt, thấu hiểu vấn đề sẽ hỗ trợ, giúp sức cho nhà trường trong hoạt động dạy và học. 3. Kết luận: Công tác Phụ đạo học sinh yếu là “ cuộc chiến” cam go trong việc nâng cao chất lượng dạy- học theo tinh thần cuộc vận động “ Hai không”. Mỗi cán bộ, giáo viên của trường phải nêu cao tinh thần, trách nhiệm trước học sinh, phụ huynh và chính quyền địa phương; giương cao phẩm chất và lương tâm nghề nghiệp, thực hiện dạy học đạt hiệu quả , chăm lo đến đối tượng yếu kém, phấn đấu không còn học sinh yếu. Tất cả học sinh đều được lên lớp thực chất. Trên đây là những suy nghĩ, những công việc bản thân đã làm, đang làm và tiếp tục thực hiện trong quá trình công tác giảng dạy tại trường TH số 1 Kiến Giang. Những kết quả gặt hái được đã khẳng định được tính khả thi của vấn đề đưa ra. Rất mong sự góp ý chân thành của đồng nghiệp để sáng kiến ngày càng hoàn thiện hơn, góp phần nhỏ vào phong trào chung trong sự nghiệp giáo dục của huyện nhà trong giai đoạn hiện nay. Xin chân thành cảm ơn. Người viết Võ Thị Tường Vy
- Xem thêm -