Tài liệu Rủi ro tín dụng tại ngân hàng thương mại cổ phần nam việt chi nhánh hà nội

  • Số trang: 50 |
  • Loại file: DOC |
  • Lượt xem: 52 |
  • Lượt tải: 0
nganguyen

Đã đăng 34345 tài liệu

Mô tả:

Khóa luận tốt nghiệp LỜI CẢM ƠN Em xin chân thành cảm ơn cô giáo Đàm Thanh Huyền và tập thể cán bộ phòng phân tích tín dụng Ngân hàng thương mại cổ phần Nam Việt chi nhánh Hà Nội đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ em hoàn thành khóa luận này. Sinh viên Phạm Thị Quỳnh SV: Phạm Thị Quỳnh Khoa: Tài chính ngân hàng Khóa luận tốt nghiệp Mục lục SV: Phạm Thị Quỳnh Khoa: Tài chính ngân hàng Khóa luận tốt nghiệp Danh mục bảng biểu Bảng 1: Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh Navibank Hà Nội giai đoạn 2009-2011 Bảng 2: Cơ cấu huy động vốn theo thành phần kinh tế Bảng 3: Tỷ trọng cơ cấu huy động vốn theo thành phần kinh tế Bảng 4: Tình hình sử dụng vốn của Chi nhánh NHTMCP Nam Việt chi nhánh Hà Nội Bảng 5: Tình hình cho vay của ngân hàng Bảng 6: Tình hình dư nợ tại Navibank Hà Nội giai đoạn 2009 - 2011 Bảng 7: Tỷ trọng dư nợ tại Navibank – Chi nhánh Hà Nội Bảng 8: Nợ quá hạn SV: Phạm Thị Quỳnh Khoa: Tài chính ngân hàng Khóa luận tốt nghiệp Danh mục chữ viết tắt NHTM: Ngân hàng thương mại NHTMCP: Ngân hàng thương mại cổ phần TMCP: Thương mại cổ phần NHNN: Ngân hàng nhà nước XHCN: Xã hội chủ nghĩa SV: Phạm Thị Quỳnh Khoa: Tài chính ngân hàng Khóa luận tốt nghiệp 1 Lời nói đầu 1. Lý do chọn đề tài Rủi ro trong hoạt động tín dụng được biết đến như một đặc thù, là yếu tố tất yếu khách quan của kinh doanh tiền tệ của ngân hàng. Rủi ro thường gây ra những tổn thất thiệt hại cho ngân hàng, tuỳ theo cấp độ rủi ro mà hoạt động kinh doanh phải chịu tổn thất lớn hay nhỏ. Với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế nước ta, Đảng ta đã có định hướng cho nền kinh tế đó là nền kinh tế thị trường định hướng XHCN. Lợi nhuận là vấn đề đặt lên hàng đầu cùng với sự phát triển của chính mình. Cơ chế thị trường cũng tạo điều kiện cho các hoạt động có hiệu quả. Nhưng để tồn tại và phát triển các doanh nghiệp càng phải đối mặt với sự cạnh tranh ngày càng gay gắt. Vì thế trong nền kinh tế thị trường mọi doanh nghiệp đều phải hết sức thận trọng trong kinh doanh để tồn tại và phát triển, đôi khi phải chấp nhận mạo hiểm. Các Ngân hàng thương mại cũng không nằm ngoài quy luật đó. Bất kì một hoạt động kinh doanh nào của ngân hàng đều có thể xảy ra rủi ro dù ít hay nhiều cũng không thể tránh khỏi hoàn toàn được, đặc biệt là trong lĩnh vực kinh doanh tiền tệ khả năng gặp rủi ro của hoạt động tín dụng của các Ngân hàng thương mại là rất đáng nói. Hơn nữa hiệu quả của hoạt động tín dụng là thước đo hiệu quả trong Ngân hàng thương mại. Do đó việc phòng ngừa và hạn chế rủi ro trong hoạt động tín dụng là rất quan trọng không chỉ đối với các Ngân hàng thương mại mà còn đối với các thành phần kinh tế. Hoạt động tín dụng của các Ngân hàng thương mại không còn là vấn đề mới mẻ tại Việt Nam tuy nhiên việc phân tích đánh giá rủi ro của hoạt động này trong nền kinh tế thị trường cần có một cách nhìn mới hơn và cụ thể hơn. SV: Phạm Thị Quỳnh Khoa: Tài chính ngân hàng Khóa luận tốt nghiệp 2 Từ góc độ trên mà em đã chọn đề tài “Rủi ro tín dụng tại Ngân hàng thương mại cổ phần Nam Việt chi nhánh Hà Nội” làm đề tài khóa luận tốt nghiệp của mình. 2. Mục đính nghiên cứu Đánh giá thực trạng tình hình rủi ro tín dụng tại Ngân hàng TMCP Nam Việt chi nhánh Hà Nội để qua đó giúp việc quản trị rủi ro tín dụng được tốt hơn. 3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu: Rủi ro tín dụng tại Ngân hàng thương mại cổ phần Nam Việt chi nhánh Hà Nội Phạm vi nghiên cứu: Không gian: Ngân hàng thương mại cổ phần Nam Việt chi nhánh Hà Nội Thời gian: trong 3 năm gần nhất : 2009-2011 4. Phương pháp nghiên cứu Khóa luận sử dụng các phương pháp nghiên cứu là duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, kết hợp với phương pháp thống kê, phân tích kinh tế, tổng hợp, so sánh số liệu. 5. Kết cấu khóa luận Tên đề tài “Rủi ro tín dụng tại Ngân hàng TMCP Nam Việt chi nhánh Hà Nội” Đề tài ngoài phần mở đầu và kết luận gồm 3 chương: Chương 1: Cơ sở lý thuyết cơ bản về rủi ro tín dụng của Ngân hàng thương mại Chương 2: Thực trang rủi ro tín dụng tại Ngân hàng TMCP Nam Việt chi nhánh Hà Nội Chương 3: Các phát hiện nghiên cứu và các hướng giải quyết giảm thiểu rủi ro tín dụng tại NHTMCP Nam Việt chi nhánh Hà Nội SV: Phạm Thị Quỳnh Khoa: Tài chính ngân hàng Khóa luận tốt nghiệp 3 Chương 1: Cơ sở lý thuyết cơ bản về rủi ro tín dụng của Ngân hàng thương mại 1.1 Một số khái niệm cơ bản 1.1.1. Khái niệm Ngân hàng thương mại và các hoạt động của Ngân hàng 1.1.1.1. Khái niệm Ngân hàng thương mại Ngân hàng thương mại(NHTM) là tổ chức kinh doanh tiền tệ tín dụng có vị trí quan trọng nhất trong nền kinh tế thị trường ở các nước. Có nhiều khái niệm khác nhau về NHTM: Ở Mỹ: NHTM là công ty kinh doanh tiền tệ, chuyên cung cấp dịch vụ tài chính và hoạt động trong ngành công nghiệp dịch vụ tài chính. Ở Pháp: NHTM là những xí nghiệp và cơ sở nào thường xuyên nhận của công chúng dưới hình thức ký thác hay hình thức khác các số tiền mà họ dùng cho chính họ vào nghiệp vụ chiết khấu, tín dụng hay dịch vụ tài chính. Ở Ấn Độ: NHTM là cơ sở nhận các khoản ký thác để cho vay hay tài trợ đầu tư. Theo Pháp lệnh Ngân hàng năm 1990 của Việt Nam: NHTM là một tổ chức kinh doanh tiền tệ mà nghiệp vụ thường xuyên và chủ yếu là nhận tiền gửi của khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay, chiết khấu và làm phương tiện thanh toán. Theo quy định tại luật các tổ chức tín dụng thì Ngân hàng được định nghĩa như sau: “ Ngân hàng thương mại là loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ hoạt động Ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan. Theo tính chất và mục tiêu hoạt động, các loại hình Ngân hàng gồm Ngân hàng thương mại, Ngân hàng đầu tư, Ngân hàng chính sách, Ngân hàng hợp tác và các loại hình Ngân hàng khác” (trích Luật các tổ chức tín dụng). Như vậy thông qua một số khái niệm về Ngân hàng thương mại, ta có thể hiểu Ngân hàng thương mại là một loại hình doanh nghiệp đặc biệt kinh SV: Phạm Thị Quỳnh Khoa: Tài chính ngân hàng Khóa luận tốt nghiệp 4 doanh trên lĩnh vực tín dụng với mục đích thu lợi nhuận, và nó có những đặc trưng như sau: Ngân hàng thương mại là một tổ chức được phép nhận ký thác của công chúng với trách nhiệm hoàn trả. Ngân hàng thương mại là một tổ chức được phép sử dụng ký thác của công chúng để cho vay, chiết khấu và thực hiện các dịch vụ tài chính khác. 1.1.1.2. Các hoạt động cơ bản của ngân hàng thương mại ♦ Hoạt động huy động vốn Đây là một trong những nghiệp vụ cơ bản của NHTM và thông qua nghiệp vụ này NHTM thực hiện chức năng tạo tiền. NHTM đã “góp nhặt” toàn bộ nguồn vốn nhàn rỗi trong xã hội dưới các hình thức như : nhận tiền gửi tiết kiệm, tiền gửi thanh toán... trong đó tiền gửi bao gồm: Tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn. Ngoài ra NHTM còn phát hành thêm chứng chỉ tiền gửi, các trái khoán Ngân hàng hay đi vay từ các Ngân hàng và các tổ chức tín dụng khác. Hoạt động sử dụng vốn Trong nền kinh tế thị trường, NHTM thực chất cũng là một doanh nghiệp vì vậy khi kinh doanh phải coi lợi nhuận là mục tiêu hàng đầu và cuối cùng. Để tạo ra lợi nhuận và thu nhập cho Ngân hàng thì các NHTM phải biết sử dụng và khai thác nguồn vốn một cách triệt để và hiệu quả nhất. Hoạt động cho vay là hoạt động cơ bản đem lại phần lớn lợi nhuận cho các NHTM. Các NHTM dùng nguồn vốn đã huy động được để cho vay từ đó thu lợi nhuận trên cơ sở chênh lệch phí đầu vào và phí đầu ra. Thực hiện nghiệp vụ này các NHTM không những đã thực hiện được chức năng xã hội của mình thông qua việc mở rộng vốn đầu tư, gia tăng sản phẩm xã hội, cải thiện đời sống nhân dân mà còn có ý nghĩa rất lớn đến toàn bộ đời sống kỹ thuật thông qua các hoạt động tài trợ cho các ngành, các lĩnh vực phát triển SV: Phạm Thị Quỳnh Khoa: Tài chính ngân hàng Khóa luận tốt nghiệp 5 công nghiệp, nông nghiệp trong nền kinh tế. Ngoài hoạt động cho vay là chủ yếu, các NHTM còn thực hiện các hoạt động đầu tư hùn vốn liên doanh liên kết, kinh doanh chứng khoán trên thị trường tài chính. Hoạt động này vừa mang lại lợi nhuận cho Ngân hàng vừa góp phần điều hoà lưu thông tiền tệ trong nền kinh tế. 1.1.2. Tín dụng và vai trò của tín dụng đối với ngân hàng thương mại 1.1.2.1. Khái niệm Tín dụng là giao dịch về tài sản (tiền hoặc hàng hoá) giữa bên cho vay là ngân hàng và các định chế tài chính khác với bên đi vay là cá nhân, doanh nghiệp…Trong đó quyền cho vay chuyển giao tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một thời hạn nhất định theo thoả thuận, bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện cả vốn gốc lẫn lãi cho bên cho vay khi đến hạn thanh toán. Bên cạnh đó quan hệ tín dụng cũng cần được hiểu theo nghĩa rộng là quan hệ hai chiều, ngân hàng vừa là người đi vay, vừa là người cho vay. Nghiệp vụ kinh doanh tín dụng là nghiệp vụ kinh doanh chủ chốt của NHTM để tạo ra lợi nhuận nhằm bù đắp những chi phí phát sinh trong hoạt động kinh doanh, trong đó có chi phí bù đắp rủi ro tín dụng và các chi phí khác. 1.1.2.2. Đặc điểm tín dụng của ngân hàng  Những hình thức trong quan hệ tín dụng ngân hàng bao gồm cho vay và cho thuê. Tài sản giao dịch trong cho vay bằng tiền và tài sản trong cho thuê là bất động sản và động sản. Trong quan hệ tín dụng ngân hàng, tiền vay được cấp trên cơ sở cam kết hoàn trả vô điều kiện. ♦ Quan hệ tín dụng được hình thành trên cơ sở lòng tin rằng người đi vay sẽ hoàn trả đúng hạn SV: Phạm Thị Quỳnh Khoa: Tài chính ngân hàng Khóa luận tốt nghiệp ♦ 6 Về mặt pháp lý, những văn bản xác định quan hệ tín dụng như hợp đồng tín dụng, khế ước…Đó là những văn bản pháp lý nhằm ràng buộc những trách nhiệm, nghĩa vụ và quyền lợi của hai bên cho vay và đi vay. ♦ Tính hoàn trả và tính thời hạn của tín dụng Thông thường, người đi vay bắt buộc phải thanh toán phần lãi kèm vốn gốc đã vay của ngân hàng vô điều kiện khi đến đáo hạn. 1.1.2.3. Vai trò của tín dụng ngân hàng ♦ Tín dụng đáp ứng nhu cầu vốn để duy trì quá trình tái sản xuất đồng thời góp phần đầu tư vào phát triển kinh tế Nhu cầu vốn trong hoạt động sản xuất kinh doanh luôn là vấn đề quan trọng đối với mỗi doanh nghiệp, bên cạnh đó quan hệ mua bán chịu luôn tồn tại trên thị trường. Do đó hoạt động tín dụng đã góp phần vào quá trình luân chuyển vốn trong nền kinh tế được diễn ra nhanh hơn, giúp cho người cần vốn có thể tìm được vốn nhanh hơn, hiệu quả hơn để có thể duy trì hoạt động sản xuất kinh doanh được liên tục và giúp cho người thừa vốn có thể bảo quản an toàn, đồng thời kinh doanh kiếm lời. ♦ Tín dụng thúc đẩy quá trình tập trung vốn và tập trung sản xuất Bản chất đặc trưng hoạt động ngân hàng là huy động vốn tiền tệ tạm thời nhàn rỗi phân tán trong nền kinh tế, trong xã hội để thực hiện cho vay tới các đơn vị kinh tế có nhu cầu vốn phục vụ cho quá trình sản xuất kinh doanh. Đầu tư tập trung là yêu cầu tất yếu của nền kinh tế sản xuất hàng hoá, hạn chế sự lãng phí vốn, tiết kiệm mọi nguồn lực như thời gian, chi phí huy động vốn cho sản xuất. ♦ Tín dụng thúc đẩy quá trình luân chuyển hàng hóa và luân chuyển tiền tệ Tín dụng đã tham gia trực tiếp vào quá trình luân chuyển hàng hoá và luân chuyển tiền tệ tạo điều kiện phát triển nền kinh tế, đặc biệt những ngành kinh SV: Phạm Thị Quỳnh Khoa: Tài chính ngân hàng Khóa luận tốt nghiệp 7 tế trọng điểm trong mỗi giai đoạn phát triển kinh tế. Hoạt động tín dụng luôn chịu sự chi phối trực tiếp của chính sách phát triển kinh tế của Chính phủ, vì vậy đã góp phần vào việc đẩy nhanh quá trình lưu chuyển tiền tệ trong nền kinh tế thị trường, hạn chế thấp nhất sự ứ đọng vốn trong quá trình sản xuất kinh doanh, đẩy nhanh vòng quay của vốn. ♦ Tín dụng tạo điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế Hiện nay, xu hướng hội nhập kinh tế quốc tế của đất nước yêu cầu các doanh nghiệp phải mở rộng mối quan hệ kinh tế không chỉ trong phạm vi một quốc gia mà còn phải mở rộng ra phạm vi khu vực và thế giới. Tín dụng đã trở thành cầu nối giữa nền kinh tế trong nước với thế giới và khu vực. Đối với nước ta, một nước đang trong quá trình công nghiệp hoá hiện đại hoá, tín dụng đóng vai trò rất quan trọng nhất là trong công tác xuất nhập khẩu, trong công cuộc quảng bá thương hiệu VIỆT trên thế giới. Tín dụng ngày nay là một công cụ để giúp đỡ các doanh nghiệp trong nước có đủ năng lực để tham gia vào thị trường thế giới như tài trợ việc mua bán chịu hàng hóa, mở rộng sản xuất , nâng cao chất lượng sản phẩm cho phù hợp với yêu cầu về quy mô và chất lượng của thị trường thế giới. 1.1.3. Khái niệm về rủi ro tín dụng của ngân hàng thương mại Rủi ro tín dụng là khoản lỗ tiềm tàng vốn có được tạo ra khi cấp tín dụng cho một khách hàng, hay có thể hiểu là khả năng khách hàng không trả được nợ theo hợp đồng tín dụng. Xét về khía cạnh của ngân hàng thì rủi ro tín dụng đồng nghĩa với thu nhập dự tính của ngân hàng từ các tài sản có sinh lời không được hoàn trả đầy đủ cả về mặt số lượng và thời hạn. Do quan hệ tín dụng được hiểu theo hai chiều là đi vay và cho vay, vì vây, cũng cần phải hiểu rủi ro tín dụng theo hai chiều đó là rủi ro trong cho vay và rủi ro trong hoạt động đi vay. SV: Phạm Thị Quỳnh Khoa: Tài chính ngân hàng Khóa luận tốt nghiệp 8 Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, nhu cầu cấp thiết về nguồn vốn đầu tư càng lớn thì mức độ rủi ro tín dụng càng cao. Nguồn thu nhập chính của các NHTM là từ lãi suất mà người vay sẽ thanh toán cho ngân hàng, phần khác là từ hoạt động trao đổi các món vay hoặc từ việc bảo đảm và cung cấp các dịch vụ tương tự. Nguồn thu nhập này phụ thuộc chủ yếu vào doanh số và lãi suất cho vay. 1.2. Nội dung lý thuyết về rủi ro tín dụng của ngân hàng thương mại 1.2.1. Các chỉ tiêu đo lường rủi ro tín dụng trong hoạt động kinh doanh của các NHTM Để có thể đánh giá được đúng mức độ rủi ro tín dụng của các NHTM cần phải dựa trên một số chỉ tiêu sau: ♦ Chỉ tiêu tổng dư nợ tín dụng trên tổng tài sản có = Dư nợ tín dụng/ Tổng tài sản có Đây là chỉ số tổng quan về quy mô hoạt động của ngân hàng. Chỉ tiêu này phản ánh hiệu quả tín dụng của một đồng tài sản có. Có thể đánh giá kèm với chỉ tiêu: Dư nợ tín dụng Tổng nguồn vốn huy động Từ đó có thể đánh giá được rằng hiệu quả sử dụng vốn nói chung của ngân hàng và hiệu quả sử dụng vốn huy động của ngân hàng. Rủi ro tín dụng chỉ có thể xảy ra khi bản thân ngân hàng cho vay quá nhiều so với tiêu chuẩn an toàn của Ngân hàng Nhà nước so với quy mô vốn huy động. Hiện nay, các ngân hàng thường cho vay với tỷ lệ chiếm khoảng trên 70% trong toàn bộ danh mục tài sản có. Nếu cho vay qua mức sẽ ảnh hưởng đến khả năng thanh khoản, khả năng quản lý của ngân hàng, khi đó khả năng xảy ra rủi ro tín dụng sẽ rất lớn. ♦ Chỉ tiêu tỷ lệ nợ quá hạn trên tổng dư nợ = Nợ quá hạn/ Tổng dư nợ SV: Phạm Thị Quỳnh Khoa: Tài chính ngân hàng Khóa luận tốt nghiệp 9 Đây là chỉ tiêu cơ bản để đánh giá chất lượng tín dụng. Chỉ tiêu này càng thấp càng tốt, nhưng ngược lại không thể đánh giá rằng khi chỉ số này vượt quá tiêu chuẩn chung của ngành thì là xấu. Để có thể đánh giá được một cách chính xác hơn về tình hình nợ quá hạn của ngân hàng ta cần phải đánh giá kèm theo chỉ tiêu vòng quay của các khoản nợ quá hạn này, khả năng giải quyết các khoản nợ quá hạn. Bởi vì, tỷ lệ nợ quá hạn cao mà khả năng giải quyết nợ quá hạn hay vòng quay của các khoản nợ quá hạn cao thì khả năng ngân hàng gặp rủi ro tín dụng sẽ sất thấp. Và ngược lại, ngân hàng sẽ gặp rủi ro tín dụng. ♦ Chỉ tiêu nợ khó đòi trên tổng nợ quá hạn = Nợ quá hạn khó đòi/ Tổng nợ quá hạn Tỷ lệ này đánh giá các khoản nợ quá hạn trên 360 ngày, được xác định là không có khả năng thu hồi. Tỷ lệ này cao chứng tỏ khả năng thu hồi vốn thấp, nguy cơ mất vốn cao, chất lượng tín dụng của ngân hàng thấp. ♦ Chỉ tiêu mức độ chênh lệch thời lượng của tài sản có với tài sản nợ Chỉ tiêu này phản ánh nếu kế hoạch huy động vốn và sư dụng vốn không có sự nhất quán thì sẽ dẫn đến nguy cơ xảy ra rủi ro tín dụng rất cao và do đó mức độ ảnh hưởng là toàn bộ hoạt động của ngân hàng. Đánh giá mức độ ảnh hưởng của sự chênh lệch của thời lượng có thể dựa vào công thức sau: E = A - L Trong đó: + A = - DA. A . i 1+i L = - DL . L . i 1+i Với: * i * DA, DL SV: Phạm Thị Quỳnh : lãi suất : là thời lượng của toàn bộ tài sản có và tài sản nợ Khoa: Tài chính ngân hàng Khóa luận tốt nghiệp * A, L 10 : là giá trị của tài sản có và tài sản nợ Trong trường hợp E < 0, chứng tỏ rằng ngân hàng gặp rủi ro trong hoạt động kinh doanh, trong đó có cả rủi ro tín dụng. 1.2.2. Các dấu hiện nhận biết rủi ro tín dụng 1.2.2.1. Nhóm các dấu hiệu liên quan đến quá trình vay và thanh toán của khách hàng ♦ Khó khăn trong thanh toán lương, sự biến động của số dư các tài khoản, đặc biệt là giảm sút số dư tài khoản tiền gửi ♦ Thường xuyên yêu cầu hỗ trợ nguồn vốn lưu đông từ nhiều nguồn khác nhau ♦ Mức độ vay thường xuyên gia tăng, thường xuyên yêu cầu ngân hàng cho đáo hạn ♦ Thanh toán chậm các khoản nợ gốc và lãi ♦ Yêu cầu các khoản vay vượt quá nhu cầu dự kiến ♦ Sử dụng nhiều nguồn tài trợ ngắn hạn cho các hoạt động phát triển dài hạn ♦ Chấp nhận sử dụng các nguồn tài trợ đắt nhất 1.2.2.2. Nhóm các dấu hiệu liên quan tới phương pháp quản lý của khách hàng ♦ Thay đổi thường xuyên cơ cấu của hệ thống quản trị và ban điều hành ♦ Thuyên chuyển nhân viên diễn ra thường xuyên, việc lập kế hoạch những người kế cận không đầy đủ ♦ Có biểu hiện giảm vốn điều lệ 1.2.2.3. Nhóm các dấu hiệu liên quan tới xử lý thông tin tài chính, kế toán ♦ Chuẩn bị không đầy đủ số liệu tài chính, hoặc chậm trễ, trì hoãn ♦ Sự gia tăng không cân đối về tỷ lệ nợ thường xuyên, số khách hàng nợ tăng nhanh và thời hạn thanh toán của các con nợ kéo dài SV: Phạm Thị Quỳnh Khoa: Tài chính ngân hàng Khóa luận tốt nghiệp 11 ♦ Khả năng tiền mặt giảm ♦ Thường xuyên không đạt mức kế hoạch về sản xuất và bán hàng 1.2.3. Tài trợ rủi ro tín dụng Để tài trợ cho rủi ro tín dụng, các ngân hàng có thể sử dụng các phương pháp sau: ♦ Tăng cường công tác trích lập dự phòng rủi ro và xử lý tài sản đảm bảo Cho vay là một trong những hoạt động chính của ngân hàng, và rủi ro trong hoạt động cho vay là một điều tất yếu khó tránh khỏi. Do đó, các ngân hàng phải dự phòng rủi ro tín dụng trong hoạt động cho vay. Đây không phải là điều mà ngân hàng nên hay không nên làm, nó là bắt buộc. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã ban hành một loạt các quyết định và chỉ thị nhằm mục đích nâng cao chất lượng tín dụng và kiểm soát rủi ro, trong đó có Quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/4/2005 ban hành quy định về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng. Thông qua việc tăng cường trích lập dự phòng rủi ro và xử lý tài sản đảm bảo, ngân hàng sẽ chủ động hơn trong việc đối mặt với rủi ro khi chúng xảy ra. ♦ Chứng khoán hóa các khoản nợ Việc thực hiện chứng khoán hóa cho phép khắc phục được những tồn tại hạn chế về nguồn vốn cho vay trung dài hạn của các NHTM. Đồng thời đảm bảo cho các NHTM hoạt động hiệu quả, đúng bản chất - hoạt động trên thị trường tiền tệ nhằm đáp ứng vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh và vốn lưu động của doanh nghiệp. ♦ Mua bảo hiểm tiền vay Đây cũng là một biện pháp mà nhiều ngân hàng áp dụng trong việc phòng tránh rủi ro tín dụng. Đối với những khoản cho vay mà ngân hàng nghi ngờ nợ xấu, họ sẽ mua bảo hiểm cho khoản cho vay đó. SV: Phạm Thị Quỳnh Khoa: Tài chính ngân hàng Khóa luận tốt nghiệp 12 1.3. Các nhân tố ảnh hưởng tới rủi ro tín dụng của ngân hàng thương mại 1.3.1. Nhóm nguyên nhân chung ♦ Môi trường kinh tế xã hội Môi trường kinh tế xã hội trong một nước biến động chịu ảnh hưỏng của những biến động từ nền kinh tế thế giới. Đó là nguyên nhân làm phát sinh rủi ro trong hoạt động kinh doanh của nền kinh tế, từ đó ảnh hưởng tới các lĩnh vực kinh tế trong đó hoạt động kinh doanh tiền tệ chứa nhiều nguy cơ rủi ro lớn nhất. Sự thay đổi các mối quan hệ quốc gia, các quan hệ ngoại giao của chính phủ cũng là nguyên nhân gây ra rủi ro lớn cho hoạt động cho vay của ngân hàng cho vay. Bên cạnh đó hoạt động cho vay phụ thuộc rất nhiều thói quen, truyền thống, tập quán của người dân. Những yếu tố đó nhiêu khi gây khó khăn và hạn chế mở rộng hoạt động cho vay của các ngân hàng cho vay. ♦ Môi trường chính trị pháp luật Kinh doanh ngân hàng là một trong những ngành kinh doanh chịu sự giám sát chặt chẽ của luật pháp. Môi trường pháp lý sẽ mang đến cho ngân hàng một loạt các cơ hội mới cũng như thách thức mới. Điều này được thể hiện rõ trong hoạt động tín dụng, như việc rỡ bỏ các hạn chế trong cho vay các doanh nghiệp ngoài quốc doanh, còn sự nới lỏng trong quản lý của luật pháp cũng có thể đặt ngân hàng trước những nguy cơ cạnh tranh mới, như việc cho phép thành lập các ngân hàng nước ngoài sẽ đặt các ngân hàng của nước đó vào tình thế cạnh tranh gay gắt hơn và chính sách đầu tư, tiết kiệm của Chính phủ trong từng thời kỳ. Sự thiếu chính xác trong dự đoán môi trường luật pháp trong hoạt động tín dụng cũng đẩy ngân hàng vào tình trạng rủi ro, như dự đoán sai khu vực SV: Phạm Thị Quỳnh Khoa: Tài chính ngân hàng Khóa luận tốt nghiệp 13 kinh tế được ưu tiêu đầu tư, hay bị hạn chế… dẫn đến tình trạng sai lầm trong chính sách huy động vốn và trong chính sách cho vay. ♦ Môi trường địa lý Các vùng địa lí khác nhau cũng có những đặc điểm khác nhau như tài nguyên, giao thông, địa hình, tập quán, cách thức giao tiếp, nhu cầu về hàng hoá dịch vụ nói chung và sản phẩm dịch vụ tài chính ngân hàng nói riêng. Chính những điều kiện đó hình thành các tụ điểm dân cư, trung tâm thương mại, du lịch hoặc trung tâm sản xuất… Rủi ro trong hoạt động tín dụng do môi trường địa lí mang đến rất khó có thể nắm bắt, dự đoán và nếu có thể dự đoán dược thì cũng sẽ bị tổn thất rất cao như sự khắc nghiệt của thiên nhiên, sự khan hiếm nguồn tài nguyên… Những doanh nghiệp hoạt động trong những khu vực này luôn chịu sự cạnh tranh gay gắt, những nguy cơ rủi ro rất cao. 1.3.2. Nguyên nhân từ phía khách hàng  Đối với khách hàng cá nhân Cho vay tiêu dùng là các khoản cho vay nhằm tài trợ cho nhu cầu chi tiêu của người tiêu dùng bao gồm cá nhân và hộ gia đình. Nguyên nhân dẫn đến rủi ro trong cho vay tiêu dùng đó là: Do tình trạng sức khoẻ, bệnh tật, hoặc mâu thuẫn trong gia đình. Người vay bị thất nghiệp tạm thời, hoặc lâu dài ảnh hưởng đến thu nhập. Do người đi vay hoạch định ngân sách không chính xác, hoặc có thể do người đi vay sử dụng tiền vay sai mục đích, hoặc chưa có kinh nghiệm trong việc tổ chức sản xuất, quản lý kinh doanh… dẫn đến trả nợ không đúng hạn cho ngân hàng.  Đối với khách hàng doanh nghiệp Doanh nghiệp sử dụng vốn vay sai mục đích, hoặc sử dụng vốn vay vào việc sản xuất kinh doanh các loại mặt hàng bị pháp luật cấm. SV: Phạm Thị Quỳnh Khoa: Tài chính ngân hàng Khóa luận tốt nghiệp 14 Không đảm bảo tính hiệu quả trong sử dụng vốn, lãng phí, tham ô, tham nhũng. Doanh nghiệp gặp phải các rủi ro trong hoạt động kinh doanh của mình, đây là nguyên nhân trực tiếp dẫn tới rủi ro cho ngân hàng. 1.3.3. Nguyên nhân từ phía ngân hàng ♦ Chất lượng cán bộ tín dụng Cán bộ ngân hàng còn thiếu tinh thần trách nhiệm, vi phạm đạo đức kinh doanh như: thông đồng với khách hàng lập hồ sơ giả để vay vốn, xâm tiêu khi giải ngân hay thu nợ, đôi khi còn nể nang trong quan hệ khách hàng. Do trình độ nghiệp vụ của cán bộ tín dụng còn hạn chế nên việc đánh giá các dự án, hồ sơ xin vay còn chưa tốt, còn xảy ra tình trạng dự án thiếu tính khả thi mà vẫn cho vay. ♦ Chính sách tín dụng Do chính sách của ngân hàng cho vay không phù hợp, thiếu sự kiểm soát chặt chẽ hoặc đặt mục tiêu lợi nhuận quá cao. Chúng ta đều biết đặc điểm của kinh doanh tiền tệ là lợi nhuận cao luôn đi cùng với rủi ro cao nên các ngân hàng cho vay phải biết lựa sức mình để xác định lợi nhuận hợp lý cho ngân hàng của mình. ♦ Quy trình tín dụng Do cán bộ ngân hàng chưa chấp hành đúng quy trình cho vay như: không đánh giá đầy đủ chính xác khách hàng trước khi cho vay, cho vay khống, thiếu tài sản đảm bảo, cho vay vượt tỷ lệ an toàn. Đồng thời cán bộ ngân hàng không kiểm tra, giám sát chặt chẽ về tình hình sử dụng vốn vay của khách hàng. ♦ Thông tin và trang thiết bị công nghệ Thể hiện rất rõ trong các dự án, phương án vay vốn trung dài hạn tại Chi nhánh, phần lớn vốn vay của doanh nghiệp được sử dụng vào đầu tư máy SV: Phạm Thị Quỳnh Khoa: Tài chính ngân hàng Khóa luận tốt nghiệp 15 móc, thiết bị. Nhiều dự án của doanh nghiệp không thể thành công do không thẩm định rõ chất lượng, giá trị thực tế của công nghệ, vi vậy ảnh hưởng đến quá trình hoạt động sản xuất sau này và không thực hiện đúng cam kết trả nợ cho ngân hàng. Bên cạnh đó, sự thiếu thông tin hoặc nắm bắt thông tin sai lệch cũng sẽ dẫn đến rủi ro trong hoạt động tín dụng của ngân hàng. Chương 2: Thực trạng rủi ro tín dụng tại ngân hàng TMCP Nam Việt chi nhánh Hà Nội 2.1. Giới thiệu khái quát về ngân hàng TMCP Nam Việt chi nhánh Hà Nội 2.1.1. Lịch sử hình thành và phát triển Được thành lập từ năm 1995, trải qua hơn 15 năm hoạt động, Ngân hàng TMCP Nam Việt (NAVIBANK) đã khẳng định được vị trí của mình trên thị trường tài chính – tiền tệ thể hiện qua sự tăng trưởng nhanh chóng và ổn định cả về quy mô tổng tài sản, vốn điều lệ lẫn hiệu quả kinh doanh. NAVIBANK là một trong những ngân hàng thương mại bán lẻ của Việt Nam, hoạt động đa năng với sản phẩm đa dạng, chất lượng dịch vụ cao, mạng lưới kênh phân phối rộng dựa trên nền tảng mô hình tổ chức và quản lý theo chuẩn mực quốc tế, công nghệ thông tin hiện đại, công nghệ ngân hàng tiên tiến. Trụ sở chính được đặt tại thành phố Hồ Chí Minh. Hoạt động của ngân hàng phát triển mạnh mẽ ở khu vực phía Nam. Chi nhánh Hà Nội được thành lập từ tháng 7/2006. Chi nhánh Hà Nội tuy mới đi vào hoạt động được gần 6 năm nhưng không ngừng phát triền, mở rộng quy mô, đóng góp quan trọng vào việc tạo dựng một Navibank vững vàng, phát triển. 2.1.2. Hệ thống sơ đồ tổ chức, chức năng và nhiệm vụ các phòng ban: SV: Phạm Thị Quỳnh Khoa: Tài chính ngân hàng Khóa luận tốt nghiệp 16 Giám đốc Phó giám đốc Phòng Quan hệ khách hàng Phòng Phân tích Tín dụng Đầu tư Phòng dịch vụ khách hàng Phòng Hành chính – Nhân sự Phòng Kế toán Tài chính Các phòng giao dịch Quỹ tiết kiệm Phòng công nghệ thông tin Sơ đồ: Bộ máy tổ chức ngân hàng thương mại cổ phần Nam Việt chi nhánh Hà Nội Chức năng, nhiệm vụ các phòng ban: Giám đốc: Xây dựng kế hoạch ngắn hạn, trung hạn và dài hạn của Chi nhánh; đề xuất phương án phát triển phù hợp với từng thời kỳ; tổ chức thực hiện phương án hoạt động kinh doanh của Chi nhánh theo chỉ tiêu đã được phân bổ; tổ chức quản lý hoạt động của Chi nhánh và các phòng Giao dịch trực thuộc khoa học và hiệu quả; tổ chức việc xây dựng chiến lược kinh doanh của Chi nhánh, phát triển khách hàng, xây dựng mạng lưới, quảng bá sản phẩm và dịch vụ đến các khách hàng doanh nghiệp và cá nhân được đồng bộ và hiệu quả; lập kế hoạch củng cố và phát triển quan hệ các khách hàng tiềm năng; quản lý và phát triển nguồn nhân lực tại Chi nhánh hoạt SV: Phạm Thị Quỳnh Khoa: Tài chính ngân hàng
- Xem thêm -