Tài liệu Quản trị rủi ro tín dụng tại ngân hàng bưu điện liên việt phòng giao dịch hà đông

  • Số trang: 82 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 1031 |
  • Lượt tải: 1
dangvantuan

Tham gia: 02/08/2015

Mô tả:

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI TRỊNH VINH QUANG QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG BƯU ĐIỆN LIÊN VIỆT – PHÒNG GIAO DỊCH HÀ ĐÔNG Ngành: Quản trị kinh doanh Mã số: 60.34.01.02 LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. BÙI VĂN HUYỀN HÀ NỘI, 2016 LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu, trích dẫn trong luận văn đảm bảo độ tin cậy, chính xác và trung thực. Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác. TÁC GIẢ Trịnh Vinh Quang MỤC LỤC MỞ ĐẦU ............................................................................................................... 1 Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ RỦI RO TÍN DỤNG VÀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI ...................... 7 1.1. Hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại và rủi ro tín dụng trong các ngân hàng thương mại ........................................................................................ 7 1.2. Quản trị rủi ro tín dụng của ngân hàng thương mại .................................. 16 1.3. Kinh nghiệm Quản trị rủi ro tín dụng tại một số chi nhánh khác tại Ngân hàng Bưu điện Liên Việt……………………………………………………..24 Chương 2: THỰC TRẠNG RỦI RO TÍN DỤNG VÀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG BƯU ĐIỆN LIÊN VIỆT – PHÒNG GIAO DỊCH HÀ ĐÔNG……………………………………………………………..28 2.1. Khái quát về Ngân hàng Bưu điện Liên Việt- Phòng giao dịch Hà Đông 28 2.2. Thực trạng quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Bưu Điện Liên Việt – Phòng giao dịch Hà Đông giai đoạn 2013-2015 .............................................. 33 2.3. Đánh giá thực trạng quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Bưu điện Liên Việt – Phòng giao dịch Hà đông ...................................................................... 44 Chương 3: GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG BƯU ĐIỆN LIÊN VIỆT – PHÒNG GIAO DỊCH HÀ ĐÔNG……………………………………………………………………..…...54 3.1. Định hướng hoạt động tín dụng của Ngân hàng Bưu điện Liên Việt – Phòng giao dịch Hà Đông đến năm 2017 ........................................................ 54 3.2. Giải pháp tăng cường quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Bưu điện Liên Việt – phòng giao dịch Hà Đông ..................................................................... 55 3.3. Kiến nghị ................................................................................................... 66 KẾT LUẬN ......................................................................................................... 75 TÀI LIỆU THAM KHẢO………………………………………………….…76 BẢNG DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT CIC Trung tâm thông tin tín dụng Ngân hàng Nhà nước DPRR Dự phòng rủi ro NHNN Ngân hàng Nhà nước NHTM Ngân hàng thương mại NHTMCP Ngân hàng thương mại cổ phần NQH Nợ quá hạn LienVietPostBank/Ngân hàng Ngân hàng TMCP Bưu điện Liên Việt Bưu điện Liên Việt LienVietPostBank Hà Đông Ngân hàng TMCP Bưu điện Liên Việt – Phòng giao dịch Hà Đông RRTD Rủi ro tín dụng TCTD Tổ chức tín dụng XHTDNB Xếp hạng tín dụng nội bộ DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU Số Tên bảng Trang hiệu bảng 2.1 Dư nợ cho vay và huy động của LienVietPostBank Hà Đông 30 2.2 Cơ cấu nợ quá hạn theo kỳ hạn của khoản vay 30 2.3 Nợ xấu của LienVietPostBank Hà Đông giai đoạn 2013 - 2015 31 2.4 Tình hình trích lập dự phòng RRTD của LienVietPostBank Hà Đông 32 2.5 Bộ chỉ tiêu xếp hạng khách hàng doanh nghiệp 33 2.6 Bảng xếp hạng khách hàng của LienVietPostBank 34 2.7 Thông tin xếp hạng khách hàng doanh nghiệp lớn trung bình nhỏ 37 2.8 Kế hoạch kinh doanh năm 2015 PGD Hà Đông 39 2.9 Kết quả thu hồi nợ nhóm 2, nợ xấu của LienVietPostBank Hà 44 Đông (2013 - 2015) 2.10 Thực trạng chất lượng tín dụng tại LienVietPostBank Hà Đông 46 giai đoạn 2013-2015 DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ Số hiệu Tên sơ đồ Trang sơ đồ 1.1 Mối quan hệ giữa lợi nhuận và rủi ro 17 1.2 Sơ đồ Chu trình kiểm soát hoạt động tín dụng 19 2.1 Cơ cấu tổ chức bộ máy điều hành của LienVietPostBank Hà 29 Đông 2.2 Dư nợ cho vay và nguồn vốn của LienVietPostBank Hà Đông 30 2.3 Biểu đồ diễn biến nợ quá hạn qua các năm 2013-2015 31 2.4 Biểu đồ diễn biến nợ xấu qua các năm 2013-2015 32 MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Tín dụng là một hoạt động cơ bản của Ngân hàng thương mại và tạo ra lợi nhuận chủ yếu cho các Ngân hàng trong giai đoạn hiện nay. Tuy nhiên, đây cũng là hoạt động chứa đựng nhiều rủi ro, dẫn đến phát sinh các khoản nợ xấu tại các Ngân hàng thương mại (NHTM). Rủi ro tín dụng (RRTD) là nguyên nhân cản trở sự phát triển của các Ngân hàng, ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh, làm suy giảm năng lực tài chính và khả năng cạnh tranh của các ngân hàng dẫn đến giảm uy tín và khả năng hội nhập của các ngân hàng. Nếu RRTD không được kiểm soát tốt làm cho tỷ lệ các khoản cho vay mất vốn tăng lên quá cao, các NHTM sẽ đối mặt đến nguy cơ phá sản. Theo nghiên cứu của Corsetti (1998), một trong những nguyên nhân quan trọng nhất gây nên cuộc khủng hoảng tài chính châu Á 1997 là tỷ lệ nợ quá hạn tại các NHTM tăng cao. Ngay trước khủng hoảng, tỷ lệ nợ quá hạn tại các NHTM Thái Lan là 13%, Indonesia là 13%, Phillipines là 14%, Malaysia là 10%. Năm 2007-2009 diễn ra cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ toàn cầu, cuộc khủng hoảng này bắt nguồn từ cuộc khủng hoảng tín dụng nhà ở thứ cấp kéo theo là sự sụp đổ của hệ thống tài chính Mỹ. Theo công bố của cục dự trữ liên bang Mỹ, trong năm 2008 có tổng cộng 26 ngân hàng phá sản, đến hết năm 2009, con số này đã lên tới 140 với hàng loạt vụ phá sản của các định chế tài chính có lịch sử lâu đời và tiềm lực tài chính bậc nhất thế giới. Trong những năm gần đây, hệ thống ngân hàng Việt Nam đang đứng trước tình trạng khó khăn về tài chính do những khoản cấp tín dụng khó đòi. Vấn đề nợ xấu trong hệ thống ngân hàng đang là quan tâm lớn của dư luận xã hội. Từ năm 2011 đến năm 2015, tỷ lệ nợ xấu khoảng 17% (tháng 9/2012), có 9 Tổ chức tín dụng được sát nhập, hợp nhất vào các Tổ chức tín dụng khác, có 3 Tổ chức tín dụng được mua lại với giá 0 đồng. Do vậy, tăng cường quản trị và xử lý RRTD đang là vấn đề được các NHTM ưu tiên xử lý hàng đầu trong giai đoạn hiện nay, nhất là trước tiến trình thực hiện các biện pháp nâng cao năng lực cạnh tranh trước yêu cầu mở cửa thị trường dịch vụ tài chính, hội nhập kinh tế quốc tế. 1 Ngân hàng thương mại Cổ phần (NHTMCP) Bưu điện Liên Việt là một trong những NHTMCP trẻ tuổi được thành lập ngày 28/03/2008 nhưng lại có quy mô phát triển nhanh, bền vững trong thị trường tài chính ngân hàng dựa trên nền tảng phát triển vững chắc, hiệu quả, an toàn, đặt biệt năm 2011 với việc Tổng Công ty Bưu chính Việt Nam (nay là Tổng Công ty Bưu điện Việt Nam) góp vốn vào LienVietBank bằng giá trị Công ty Dịch vụ Tiết kiệm Bưu điện (VPSC) và bằng tiền mặt sau khi sát nhập Ngân hàng được đổi tên thành Ngân hàng Bưu điện Liên Việt. Sau 8 năm xây dựng và phát triển, Ngân hàng Bưu điện Liên Việt đang giữ vững vị trí là Ngân hàng có mạng lưới lớn nhất trong hệ thống NHTM tại Việt Nam với 131 điểm giao dịch, gồm 58 chi nhánh, 43 Phòng giao dịch tại 56 Tỉnh/thành phố, 1.081 Phòng giao dịch bưu điện và quyền khai thác hơn 10.000 điểm phòng giao dịch Bưu điện. Đối tượng phục vụ của Ngân hàng chủ yếu là các doanh nghiệp xây dựng, Các khách hàng có liên quan đến Tổng công ty Bưu điện Việt Nam, các doanh nghiệp và đối tượng Khách hàng khác ở khu vực đô thị,…. trên phạm vi cả nước. Nhằm phục vụ được nhiều tầng lớp khách hàng , cũng như hạn chế tối đa giảm thiểu rủi ro có thể ảnh hưởng đến sự phát triển của mình, Ngân hàng Bưu điện Liên Việt vẫn đang tiếp tục mở rộng mạng lưới, ứng dụng công nghệ hiện đại, ban hành và hoàn thiện các quy trình nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm dịch vụ ….Tuy đã có nhiều cố gắng và đạt được thành công nhất định trong việc kiểm soát tỷ lệ nợ xấu, nợ quá hạn, nâng cao chất lượng tín dụng nhưng công tác quản trị rủi ro tín dụng của Ngân hàng Bưu điện Liên Việt vẫn còn những hạn chế, thiếu sót cần điều chỉnh và khắc phục. Ngân hàng Bưu điện Liên Việt – Phòng giao dịch Hà Đông, là một đơn vị thành viên, một phòng giao dịch lớn đặc thù và được thành lập sớm của Ngân hàng cũng không phải là ngoại lệ, nhận thấy rủi ro tín dụng ngày càng đe dọa sự tồn tại và phát triển của Ngân hàng. Vì vậy, cần phải tăng cường giảm nợ xấu, nâng cao chất lượng tín dụng, góp phần nâng cao hiệu quả kinh doanh, đảm bảo sự phát triển bền vững của Ngân hàng. Xuất phát từ thực tiễn đó, việc nghiên cứu, đánh giá đúng thực trạng và tìm ra các giải pháp nhằm tăng cường quản trị và xử lý rủi ro tín dụng tại Ngân hàng là hết sức cần thiết. Do vậy, tác giả đã chọn đề tài “Quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Bưu điện Liên Việt – Phòng giao dịch Hà Đông” làm luận văn thạc sĩ của mình. 2 2. Tình hình nghiên cứu đề tài Có nhiều nghiên cứu của nhiều nhà khoa học, nhà quản trị kinh tế trên thế giới quan tâm nghiệm cứu về quản trị rủi ro tín dụng, các nghiêm cứu của hộ thường nghiêm về khía cạnh nhận diện rủi ro, các kỹ thuật định hướng rủi ro và các giải pháp phòng ngừa rủi ro… Các kết quả nghiên cứu này đã được công bố trên một số công trình như: - Dominic, Casserley (2002), Đối mặt với rủi ro, Thông tin phòng ngừa rủi ro Ngân hàng Công thương Việt Nam - Peter, S.Rose (2002), Quản trị ngân hàng thương mại, Nhà xuất bản (Nxb) Tài chính, Hà Nội - Eddua, W.Read và Eddua, K.Gill (2004), Ngân hàng thương mại, Nxb Thống kê, Hồ Chí Minh Rủi ro tín dụng là vấn đề đã được nghiên cứu nhiều trên thế giới tuy nhiên chưa được nghiên cứu nhiều ở Việt Nam. Cho đến nay có một số sách, và luận văn về rủi ro tín dụng như: - Nguyễn Văn Tiến (1999), “Quản trị rủi ro trong kinh doanh ngân hàng”, Nxb Thống kê. Giáo trình này đã giới thiệu một cách tổng quát về các loại rủi ro trong kinh doanh ngân hàng, trong đó có RRTD. Tuy nhiên, đây là một nghiên cứu tổng quát về rủi ro trong kinh doanh ngân hàng và chưa đi sâu nghiên cứu vào rủi ro trong hoạt động tín dụng ngân hàng. - Nguyễn Văn Tiến (2007), “Đánh giá và phòng ngừa rủi ro trong kinh doanh ngân hàng”, Nxb Thống kê. Cuốn sách này viết sâu hơn về các loại rủi ro trong kinh doanh ngân hàng, nhưng cũng chưa tập trung nhiều vào phân tích RRTD Ngoài ra, còn một vài luận văn nghiên cứu về quản trị và hạn chế RRTD trong Ngân hàng như: - Mai Xuân Thịnh (2012), “Quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh Bình Định”, Đại học Đà Nẵng. - Bùi Ngọc Quỳnh (2013), “Quản trị rủi ro tín dụng theo Basel II tại Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam”, Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội. 3 - Nguyễn Văn Vui (2014), “Quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng thương mại cổ phần Phát triển Thành phố Hồ Chí Minh (HDBANK), Học viện Khoa học Xã hội. - Nguyễn Thị Thanh (2015), “Quản trị rủi ro tín dụng tại chi nhánh Ngân hàng thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam” – Học Viện Chính trị Khu vực I – Học Viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh. - Trần Văn Tú (2015), “Quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng thương mại cổ phần Quân đội Chi nhánh Hoàng Quốc Việt”, Đại học kinh tế - Đại học quốc gia Hà Nội. - Nguyễn Thị Thúy Hà (2015), “Quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng thương mại cổ phần Công thương Chi nhánh Phú Thọ”, Trường Đại học kinh tế và Quản tri kinh doanh – Đại học Thái Nguyên. - Trần Việt Thạch (2016), “Quản trị rủi ro tín dụng theo Basel II tại Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam”, Học Viện Tài chính. - Nguyễn Quang Hiện (2016), “Quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng thương mại cổ phần Quân đội”, Học Viện Tài chính. Các luận văn trên đã có những đóng góp chính sau: Một là: Các luận văn đã hệ thống được một số vấn đề lý luận cơ bản về tín dụng, rủi ro tín dụng và công tác quản trị rủi ro tín dụng tại các ngân hàng thương mại trong điều kiện kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế. Hai là: Các luận văn đã trình bày, phân tích và đánh giá được thực trạng rủi ro tín dụng tại các Ngân hàng mà luận văn đã nêu, các nguyên nhân chủ yếu của chúng, cũng như công tác quản trị rủi ro tín dụng tại các chi nhánh mà các tác giả đã nghiên cứu. Ba là: Các luận văn đã đề xuất được một số giải pháp chủ yếu nhằm hoàn thiện công tác quản trị rủi ro tín dụng tại các ngân hàng này trong thời gian tới. Tuy nhiên, do mục đích, yêu cầu khác nhau và đặc thù riêng của từng ngân hàng mà các nhà nghiên cứu trên chỉ tập trung phân tích, đánh giá và đưa ra các kiến nghị, đề xuất cho từng ngân hàng cụ thể và gần như không thể áp dụng các giải pháp đó cho các tổ chức tín dụng khác. Trên cơ sở những lý thuyết cơ bản, rút kinh nghiệm từ những luận văn nghiên cứu trước đó, áp dụng vào đặc thù riêng của ngân hàng, tác giả sẽ đi sâu phân tích quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Bưu điện Liên Việt – 4 Phòng giao dịch Hà Đông để đưa ra các giải pháp đề phòng và hạn chế rủi ro trong tín dụng cho ngân hàng. 3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu - Mục đích nghiên cứu: Trên cơ sở hệ thống hóa những vấn đề lý thuyết có liên quan, luận văn phân tích, đánh giá thực trạng RRTD tại Ngân hàng Bưu điện Liên Việt – Phòng giao dịch Hà Đông, qua đó, tìm kiếm các giải pháp có hiệu quả nhằm quản trị rủi ro tín dụng của Ngân hàng Bưu điện Liên Việt – Phòng Giao dịch Hà Đông. - Nhiệm vụ nghiên cứu: + Hệ thống hóa các vấn đề lý luận cơ bản về RRTD, quản trị rủi ro tín dụng của NHTM. + Phân tích thực trạng RRTD tại Ngân hàng Bưu điện Liên Việt – Phòng Giao dịch Hà Đông. + Đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện việc quản trị RRTD trong cho vay tại Ngân hàng Bưu điện Liên Việt – Phòng giao dịch Hà Đông. 4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu - Đối tượng nghiên cứu là các nội dung liên quan đến quản trị RRTD tại ngân hàng thương mại. - Phạm vi nghiên cứu giới hạn vấn đề quản trị RRTD trong cho vay tại Ngân hàng Bưu điện Liên Việt – Phòng giao dịch Hà Đông (LienVietPostBank Hà Đông) .Thời gian từ năm 2013 đến 2015. 5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu - Phương pháp thu thập thông tin, dữ liệu: Thu thập tài liệu thứ cấp về quản trị rủi ro tín dụng nói chung, số liệu từ các phòng ban trong LienVietPostBank Hà Đông để có số liệu về thực trạng quản trị tín dụng tại ngân hàng sở tại. Tài liệu thứ cấp về quản trị rủi ro tín dụng ở các ngân hàng thương mại khác. Mục tiêu của phương pháp này là tổng hợp các kết quả nghiên cứu có liên quan đến đề tài. Dựa trên những thông tin, dữ liệu, số liệu này, tác giả tiến hành phân tích thực trạng công tác quản trị rủi ro tín dụng tại LienVietPostBank Hà Đông. Các tài liệu thu thập được sẽ tiến hành chọn lọc, hệ thống hóa theo chuỗi thời gian, làm cơ sở đánh giá hoạt động quản trị rủi ro tín dụng của ngân hàng. - Phương pháp thống kê mô tả. 5 - Phương pháp tổng hợp phân tích đối chiếu so sánh. Các phương pháp này phản ánh thực trạng với tiêu chí/yêu cầu quản trị rủi ro tín dụng nói chung, tìm ra điểm mạnh, điểm yếu của LienVietPostBank Hà Đông. Trong đó tác giả đồ thị hóa các số liệu để sự kiện hiện trạng được mô tả sinh động, tính minh bạch cao hơn. 6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn - Hệ thống hóa lý luận những vấn đề cơ bản về tín dụng và rủi ro tín dụng của Ngân hàng thương mại về quan niệm, quy trình quản trị rủi ro tín dụng cũng như các nhân tố ảnh hưởng đến công tác quản trị rủi ro tín dụng trong hệ thống ngân hàng thương mại . - Đã phân tích, đánh giá được thực trạng gây ra rủi ro và công tác quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Bưu điện Liên Việt – Phòng Giao dịch Hà Đông. - Luận văn đã đưa ra một số giải pháp góp phần tăng cường công tác quản trị rủi ro tín dụng trong cho vay tại Ngân hàng Bưu điện Liên Việt – Phòng Giao dịch Hà Đông. 7. Cơ cấu của luận văn Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, luận văn được chia làm 3 chương: Chương 1: Những vấn đề cơ bản về rủi ro tín dụng và quản trị rủi ro tín dụng tại ngân hàng thương mại. Chương 2: Thực trạng rủi ro tín dụng và quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Bưu điện Liên Việt – Phòng giao dịch Hà Đông. Chương 3: Giải pháp tăng cường quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Bưu điện Liên Việt – Phòng giao dịch Hà Đông. 6 Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ RỦI RO TÍN DỤNG VÀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1. Hoạt động tín dụng của Ngân hàng thương mại và rủi ro tín dụng trong các ngân hàng thương mại 1.1.1. Khái niệm, đặc điểm và phân loại tín dụng trong các ngân hàng thương mại 1.1.1.1. Khái niệm tín dụng ngân hàng Nói về tín dụng ngân hàng có rất nhiều khái niệm, qua nghiên cứu, luận văn xin khái quát một số khái niệm sau đây: Hoạt động tín dụng là việc NHTM sử dụng nguồn vốn tự có, nguồn vốn huy động để cấp tín dụng cho khách hàng sử dụng một ngân khoản với nguyên tắc có hoàn trả thông qua các nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ liên quan khác. Tín dụng là một quan hệ giao dịch giữa hai chủ thể trong đó một bên chuyển giao tiền hoặc tài sản cho bên kia sử dụng trong một thời gian nhất định, đồng thời bên nhận tiền cam kết hoàn trả theo điều kiện đã thỏa thuận. Tín dụng là quan hệ vay mượn dưới dạng tiền tệ có hoàn trả cả gốc và lãi sau một thời gian nhất định. Từ những khái niệm tín dụng nói trên ta nhận thấy rằng tín dụng chính là việc chuyển giao quyền sử dụng chứ không thay đổi quyền sở hữu, việc chuyển giao này có thời hạn nhất định và có tính hoàn trả bao gồm cả gốc và lãi. Phần lãi chính là một phần thu nhập của người sở hữu vốn tín dụng. Trong Luật các tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12 ngày 16/06/2010, có hiệu lực từ 01/01/2011, phần giải thích từ ngữ không có định nghĩa riêng về tín dụng. Thuật ngữ “Hoạt động ngân hàng” được giải thích như sau: “ Hoạt động ngân hàng là việc kinh doanh, cung ứng thường xuyên một hoặc một số nghiệp vụ sau đây: Nhận tiền gửi; Cấp tín dụng; Cung ứng dịch vụ thanh toán tài khoản” [13, tr.22]. Tiếp đó, thuật ngữ cấp tín dụng được giải thích: “Cấp tín dụng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản 7 tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác” [13, tr.22]. Như vậy, theo giải thích nói trên, thì bản chất của tín dụng ngân hàng đó là việc cấp một khoản tiền cho khách hàng sử dụng và có nguyên tắc hoàn trả. Quan điểm của luận văn là đồng tình với khái niệm nói trên về tín dụng và hoạt động tín dụng, tuy rằng các nghiệp vụ khác được nêu trong Luật các Tổ chức tín dụng vẫn chưa rõ. 1.1.1.2. Phân loại tín dụng Tùy theo nhiều góc độ khác nhau, người ta phân ra nhiều loại tín dụng khác nhau - Về góc độ thời gian, ở Việt Nam có các loại tín dụng sau đây: + Tín dụng ngắn hạn, đó là loại cho vay thông thường không quá 12 tháng. Loại cho vay này nhằm đáp ứng nhu cầu vốn ngắn hạn của khách hàng, vốn lưu động của doanh nghiệp. + Tín dụng trung hạn, đó là loại cho vay có thời hạn trên 12 tháng đến không quá 36 tháng, nhằm đáp ứng nhu cầu vốn trung hạn của khách hàng. + Tín dụng dài hạn, đó là loại cho vay có thời hạn trên 36 tháng, nhằm đáp ứng nhu cầu đầu tư chiều sâu, đầu tư tài sản cố định, đầu tư thiết bị máy móc với thời gian hoàn trả vốn dài của khách hàng. - Đứng trên góc độ tiền tệ, có hai loại sau đây: + Tín dụng nội tệ, đó là cho vay bằng đồng bản tệ của quốc gia đó. + Tín dụng ngoại tệ, đó là cho khách hàng vay vốn và giải ngân vốn vay bằng ngoại tệ, ví dụ như : USD, Euro, Yên Nhật,… - Đứng trên góc độ phương thức cho vay, có các loại sau: + Tín dụng trực tiếp + Tín dụng gián tiếp + Tín dụng thuê mua, hay còn gọi là cho thuê tài chính + Tín dụng có tài sản đảm bảo + Tín dụng không có tài sản đảm bảo + vv… 8 - Đứng trên góc độ mục đích sử dụng vốn, có các loại sau đây: + Tín dụng sản xuất: cho vay vốn đầu tư cho các mục đích sản xuất, kinh doanh + Tín dụng tiêu dùng: cho vay tiền sử dụng cho các mục đích tiêu dùng, như: mua ôtô, du học, du lịch, sửa chữa nhà cửa,….. Ngoài ra đứng trên các góc độ khác còn có các loại tín dụng khác, như: tín dụng đồng tài trợ, tín dụng cho vay trả góp, tín dụng cho vay hợp vốn,….. 1.1.2. Rủi ro tín dụng và những tác động chủ yếu 1.1.2.1. Khái niệm rủi ro tín dụng Rủi ro tín dụng được hiểu là rủi ro thất thoát tài chính có thể phát sinh khi một bên đối tác không thực hiện một nghĩa vụ tài chính hoặc nghĩa vụ theo hợp đồng đối với một ngân hàng. [9, tr.169]. Dưới con mắt của chuyên gia rủi ro thì: RRTD là khả năng không chi trả được nợ của người đi vay đối với người cho vay khi đến hạn thanh toán. Đối với NHTM, RRTD là khả năng gây ra tổn thất cho ngân hàng do người vay không đáp ứng được các nghĩa vụ trả nợ trong hợp đồng tín dụng. Nói cách khác, RRTD xảy ra khi khách hàng không trả đầy đủ cả gốc và lãi của khoản vay, hoặc là việc thanh toán nợ gốc và lãi không đúng hạn gây nên những tổn thất ngoài dự kiến cho ngân hàng (Định nghĩa của GARP- Hiệp hội chuyên gia toàn cầu – Global Association of Risk Professionals). Tuy có nhiều khái niệm khác nhau về RRTD nhưng ta nhận thấy rằng đây là loại rủi ro lớn nhất và thường xuyên xảy ra trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Bản chất của RRTD đó là khoản tiền cấp cho khách hàng sử dụng không được hoàn trả đúng thời gian và nội dung đã thỏa thuận, do đó gây thiệt hại cho ngân hàng về kế hoạch sử dụng vốn, về thu nhập, về uy tín… Mỗi khi có hoạt động cung ứng tín dụng thì RRTD luôn có nguy cơ xẩy ra, nó muôn hình muôn vẻ, với nhiều hình thái, màu sắc, cung bậc khác nhau, nó luôn tiềm ẩn trong suốt quá trình trước, trong và sau cho vay và nó được biểu hiện ra bên ngoài là số tiền cho vay không thu hồi được đầy đủ như mong đợi Cho đến nay chưa có một khái niệm chính thức, hay giải thích thuật ngữ trong Luật chuyên ngành về khái niệm rủi ro tín dụng. Song theo quan điểm của luận văn, có thể sử dụng quan niệm RRTD như sau: 9 RRTD là thiệt hại kinh tế của ngân hàng do một khách hàng hoặc một nhóm khách hàng không hoàn trả được nợ vay cho ngân hàng. RRTD là khoản lỗ tiềm tàng vốn có khi ngân hàng cấp tín dụng cho một khách hàng hay nói cách khác RRTD là khả năng xẩy ra do khách hàng không thực hiện trả nợ theo các điều khoản đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng. RRTD là rủi ro tổn thất tài chính (trực tiếp hoặc gián tiếp) xuất phát từ người đi vay không thực hiện nghĩa vụ trả nợ đúng hạn theo cam kết hoặc mất khả năng thanh toán. RRTD xẩy ra khi xuất hiện các biến cố không thể lường trước khiến khách hàng không thực hiện được các cam kết đã thỏa thuận với ngân hàng. 1.1.2.2. Tác động của RRTD đối với ngân hàng thương mại - Tăng chi phí, giảm lợi nhuận trong hoạt động ngân hàng: Trong hoạt động ngân hàng chi phí là một yếu tố quan trọng để thực hiện các nghiệp vụ. Thông thường chi phí cho các hoạt động ngân hàng bao gồm: Chi phí trả lãi cho khách hàng tiền gửi, chi phí mua sắm phương tiện, thiết bị phục vụ hoạt động của ngân hàng, điện sáng, điện thoại,…. Khi RRTD xẩy ra để bù đắp được những khoản tín dụng gặp rủi ro đòi hỏi ngân hàng phải tăng lãi suất cho vay, giảm lợi nhuận trong kinh doanh của ngân hàng. Khi rủi ro xảy ra ngân hàng không thu được số vốn như dự kiến do vậy không quay vòng được vốn, mất cơ hội đầu tư các dự án khả thi, làm giảm lợi nhuận của ngân hàng. - Giảm khả năng thanh toán của ngân hàng: RRTD xẩy ra, làm cho ngân hàng không thu hồi được gốc và lãi số vốn đã cho vay, do vậy làm giảm khả năng thanh toán của ngân hàng. Nếu tình trạng này kéo dài có thể làm cho ngân hàng mất khả năng thanh toán và phá sản. - Suy giảm uy tín của ngân hàng: RRTD xẩy ra nó phản ánh hiệu quả kinh doanh, quản trị của ngân hàng yếu kém, lòng tin của khách hàng đối với ngân hàng giảm, chính là làm giảm uy tín của ngân hàng trên thị trường, nó tác động mạnh nhất tới nghiệp vụ huy động vốn của ngân hàng làm giảm quy mô hoạt động của ngân hàng. Uy tín ngân hàng giảm cũng 10 làm giảm lòng tin với các tổ chức tài chính tiền tệ trên thế giới do vậy ngân hàng khó khăn trong việc vay vốn, thiết lập quan hệ đại lý… với các tổ chức đó. - Nguy cơ phá sản ngân hàng: Nếu RRTD kéo dài, làm thất thoát lượng vốn lớn thì NHTM có thể rơi vào tình trạng mất khả năng thanh toán và có thể dẫn tới phá sản. Việc phá sản ngân hàng có thể dẫn tới phản ứng dây chuyền gây nên phá sản các ngân hàng khác, nó tác động tiêu cực đến toàn bộ nền kinh tế, chính trị quốc gia. 1.1.3. Những dấu hiệu của rủi ro tín dụng Trong hoạt động tín dụng các khoản cho vay luôn tiềm ẩn rủi ro nhưng không phải nó thường xuyên xảy ra bất ngờ mà không có dấu hiệu báo trước. Do vậy đối với hầu hết các trường hợp, một khoản cho vay đang xấu dần đi, đều có những dấu hiệu báo trước là rắc rối đang sắp xảy ra. Nếu cán bộ tín dụng muốn phát hiện những khoản cho vay có vấn đề thì họ phải liên tục nghiên cứu cẩn thận các khoản cho vay thông qua việc sử dụng vốn đầu tư để xác định những yếu tố báo hiệu khả năng rủi ro có thể xảy ra. Dưới đây là một số dấu hiện rủi ro có thể xảy ra đối với khoản vay. - Khách hàng trả nợ gốc, lãi không đúng hạn: Đây là dấu hiệu ngân hàng dễ nhận thấy nhất, nó phản ánh khả năng xảy ra rủi ro rất cao, việc hoàn trả gốc và lãi là tiêu chuẩn cơ bản để đánh giá chất lượng tín dụng, nếu khách hàng không trả nợ gốc và lãi đúng hạn như đã cam kết trong hợp đồng tín dụng khi vay vốn thi đồng nghĩa với việc RRTD xảy ra. - Khách hàng trì hoãn nộp báo cáo tài chính: Báo cáo tài chính là một trong những tài liệu quan trọng giúp cho cán bộ tín dụng thẩm định và quyết định việc tham mưu tới cấp có thẩm quyền cho vay. Thông qua báo cáo tài chính (Bảng cân đối kế toán, báo cáo lưu chuyển tiền tệ, báo cáo kết quả kinh doanh....) giúp cho ngân hàng đánh giá khả năng tài chính, nhu cầu vay vốn... của khách hàng, trên có sở đó ngân hàng sẽ có chính sách biện pháp phù hợp áp dụng đối với khách hàng. Việc khách hàng chậm nộp báo cáo tài chính có thể có nhiều nguyên nhân khác nhau nhưng ngân hàng cũng cần xem xét đến nguyên nhân, có thể người vay gặp khó khăn, tình hình tài chính có vấn đề. Do vậy khách hàng cố tình chậm trễ trong việc nộp 11 báo cáo để có thời gian sửa đổi, điều chỉnh số liệu báo cáo.... không phản ánh trung thực kết quả kinh doanh. Vì vậy thông tin về khách hàng không chính xác và ngân hàng có thể đưa ra quyết định cho vay tiềm ẩn rủi ro lớn. - Chất lượng sản phẩm và dịch vụ của doanh nghiệp giảm sút: Đối với doanh nghiệp, chất lượng sản phẩm và dịch vụ có vai trò quan trọng đến việc thành công của doanh nghiệp, nó là tiêu thức đánh giá kết quả quá trình tổ chức sản xuất kinh doanh. Trong quá trình theo dõi doanh nghiệp cán bộ ngân hàng nhận thấy rằng khả năng tiêu thụ sản phẩm khó khăn, hàng tồn kho tăng, doanh số bán hàng giảm sút, các khoản công nợ tăng..., điều đó phản ánh khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp giảm sút, khả năng trả nợ của doanh nghiệp cho ngân hàng khó khăn, có nghĩa là RRTD có thể xảy ra. - Mục đích sử dụng khoản vay không rõ ràng: Mỗi một khách hàng khi có nhu cầu vay vốn đều xác định rõ ràng mục đích vay vốn, đó chính là một trong những cơ sở để ngân hàng xem xét cấp tín dụng. Đối với khách hàng nêu lên mục đích khoản vay không rõ ràng thì khả năng sử dụng vốn vay không phù hợp với mục đích đề nghị vay vốn rất dễ xảy ra. Do vậy khả năng hoàn trả không cao và ở đây RRTD rất dễ xảy ra. - Xuất hiện tình trạng quan hệ tín dụng với nhiều ngân hàng: Trong hoạt động kinh doanh khách hàng thông thường chỉ có quan hệ giao dịch với một ngân hàng. Tuy nhiên khi khách hàng mở rộng quan hệ với nhiều ngân hàng thì ta cần xem xét khách hàng, có thể khách hàng khó khăn không thể trả đúng hạn, do vậy vay nhiều ngân hàng để đảo nợ, hoặc, quan hệ với ngân hàng khác để tránh sự kiểm soát về nguồn vốn thanh toán qua ngân hàng đang cho vay, để không trả nợ những khoản nợ đến hạn. - Sự thay đổi tổ chức bộ máy bất thường hoặc đang bị cơ quan chức năng tiến hành điều tra: Bộ máy lãnh đạo, hay đó là bộ máy quản trị điều hành của khách hàng có vai trò rất quan trọng đến hoạt động kinh doanh của khách hàng, mỗi khi có sự thay đổi bộ máy tổ chức bất thường xảy ra, thường là khi khách hàng có vấn đề như thua lỗ, kiện cáo.... Khi ban lãnh đạo mới về thay thế nếu không thiện chí trả những khoản nợ đã 12 vay của ban lãnh đạo cũ, coi đó là những tồn tại của ban lãnh đạo cũ cần giải quyết, do vậy RRTD rất dễ xảy ra. Trong trường hợp khách hàng của ngân hàng đang bị cơ quan pháp luật xem xét, điều tra.... thì rủi ro rất dễ xảy ra đối với ngân hàng do hoạt động kinh doanh bị đình trệ, tài sản doanh nghiệp dễ bị cơ quan pháp luật phong tỏa... - Bạn hàng của khách hàng gặp rủi ro, phá sản, truy tố: Trong nền kinh tế thị trường việc quan hệ mua bán chịu luôn xảy ra, khi khách hàng là bạn hàng của doanh nghiệp bị rủi ro thì khả năng trả nợ cho doanh nghiệp là rất thấp do vậy sẽ dẫn đến rủi ro cho ngân hàng. Các thảm họa thiên nhiên, biến động về chính trị xã hội luôn có ảnh hưởng đến sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, nhất là đối với doanh nghiệp hoạt động phụ thuộc vào thiên nhiên, khi có biến động trên xảy ra doanh nghiệp rất dễ gặp khó khăn trong sản xuất và ảnh hưởng đến khả năng trả nợ cho ngân hàng, RRTD rất dễ xảy ra. - Mối quan hệ giao dịch giữa khách hàng và ngân hàng không bình thường: Mức độ vay thường xuyên gia tăng, yêu cầu các khoản vay vượt quá dự kiến trong khi nhu cầu sản xuất không thay đổi, hay có nhu cầu vay vốn không quan tâm đến lãi suất vay vốn cao hay thấp. - Các dấu hiệu rủi ro khác: Khách hàng mở rộng kinh doanh quá nhanh trong khi nguồn vốn để đầu tư chưa đủ khả năng, khi đó khách hàng có thể chiếm dụng vốn trong kinh doanh và dễ mất cân đối giữa tài sản và nguồn vốn, rủi ro có thể xảy ra. Khách hàng luôn có những quyết định tức thì và vội vã trong hoạt động sản xuất kinh doanh. Sự biến mất hay xuống giá của tài sản thế chấp, cầm cố, bảo lãnh khi rủi ro xảy ra việc thu hồi vốn đầy đủ sẽ khó khăn. Khách hàng mua bán trước khi thu xếp nguồn tài chính, đây là một dấu hiệu dẫn đến rủi ro cho ngân hàng nhất là đầu tư vào tài sản cố định. Vì khi khách hàng chưa thu xếp đủ nguồn tài chính mà đã quyết định mua bán thì khi không thu xếp được nguồn tài chính sau khi mua bán, khách hàng sẽ dùng các nguồn khác để thanh toán việc mua bán đó, giảm khả năng trả nợ ngân hàng. 13 Phát hành séc quá số dư một cách thường xuyên chứng tỏ tình hình tài chính có vấn đề và cần xem xét. Quản trị có tính chất gia đình: Mọi vị trí quan trọng trong doanh nghiệp đều do người thân quen, gia đình nắm giữ, mọi quyết định về hoạt động kinh doanh đều mang tính chất cá nhân, không quan tâm ý kiến của tập thể, việc chi tiêu, mua bán... đều do một người quyết định, rất dễ dẫn đến tham ô, trục lợi không quan tâm đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, doanh nghiệp dễ thua lỗ, ảnh hưởng đến khả năng trả nợ cho ngân hàng. 1.1.4. Các chỉ tiêu đánh giá và đo lường RRTD Thứ nhất: Tỷ lệ nợ quá hạn Khoản 6, điều 3, Thông tư 02/2013/TT-NHNN ngày 21/01/2013 của Ngân hàng Nhà nước thì “khoản nợ quá hạn là khoản nợ mà một phần hoặc toàn bộ nợ gốc và/hoặc lãi đã quá hạn” [17, tr.3] Nợ quá hạn (NQH) là một chỉ tiêu rất quan trọng trong việc đánh giá rủi ro tín dụng của một ngân hàng. Nợ quá hạn được hiểu là các khoản nợ mà người vay không có khả năng thanh toán đầy đủ và đúng hạn như đã cam kết với ngân hàng khi đến hạn trả nợ. Khi đáo hạn, người vay không trả được nợ cho ngân hàng thì ngân hàng sẽ chuyển khoản nợ này từ nợ trong hạn sang nợ quá hạn. Tổng nợ quá hạn + Tỷ lệ NQH = ------------------------ x 100% Tổng dư nợ Tỷ lệ NQH càng cao thì mức độ RRTD của ngân hàng càng cao. Việc NQH tăng chứng tỏ khách hàng đang gặp khó khăn trong việc trả nợ là cao, do đó xác suất sau này khách hàng có thể trả được nợ cho ngân hàng là thấp. Mặt khác ngân hàng còn phải tăng chi phí trong việc giám sát, đôn đốc thu nợ và các chi phí liên quan khác có thể như chi phí liên quan đến tòa án, tài sản bảo đảm, đặc biệt là chi phí cơ hội của việc dùng số tiền cấp tín dụng đó để cấp tín dụng cho khách hàng khác có khả năng thanh toán tốt hơn. Hiện nay nước ta đang sử dụng phổ biến chỉ tiêu này để đánh giá chất lượng tín dụng của các NHTM. Hiện nay, nhiều nhà kinh tế cho rằng tỷ lệ NQH 14 nhỏ hơn 5% là mức có thể chấp nhận được trong hoạt động tín dụng và được coi là ngưỡng an toàn đối với hoạt động tín dụng của ngân hàng và của nền kinh tế. Tuy nhiên, tỷ lệ này chỉ phản ánh các khoản nợ đã quá thời hạn thanh toán chứ chưa phản ánh được mức độ rủi ro của các khoản nợ chưa đến thời hạn thanh toán. Vì một số khoản nợ mặc dù chưa quá hạn nhưng có thể còn chứa đựng nhiều rủi ro hơn các khoản nợ đã được xác định là NQH. Thứ hai: Nợ xấu Theo Khoản 8, Điều 3, Thông tư 02/2013/TT-NHNN ngày 21/01/2013 của Ngân hàng Nhà nước thì “ nợ xấu là nợ thuộc các nhóm 3,4, và 5”. Tỷ lệ nợ xấu càng cao thì RRTD càng lớn. Tổng dư nợ xấu + Tỷ lệ nợ xấu = ------------------------ x 100% Tổng dư nợ Theo quy định tại Thông tư 02/2013/TT-NHNN ngày 21/01/2013, dư nợ tín dụng của tổ chức tín dụng ở Việt Nam được phân loại theo điều 10 hoặc điều 11 được chia thành 5 nhóm, đó là: Nhóm 1: Nợ đủ tiêu chuẩn; Nhóm 2: Nợ cần chú ý; Nhóm 3: Nợ dưới tiêu chuẩn; Nhóm 4: Nợ nghi ngờ; Nhóm 5: Nợ có khả năng mất vốn. Thứ ba: Tỷ lệ dự phòng RRTD đã trích lập Dự phòng rủi ro (DPRR) là khoản tiền đã trích lập để dự phòng cho những tổn thất có thể xẩy ra do khách hàng hoặc đối tác của tổ chức tín dụng không thực hiện nghĩa vụ như đã cam kết. Nếu ngân hàng trích lập quá nhiều dự phòng rủi ro sẽ tăng chi phí hoạt động do đó lợi nhuận của ngân hàng sẽ bị suy giảm. Tỷ lệ này càng cao chứng tỏ RRTD của ngân hàng càng lớn. DPRR đã trích lập + Tỷ lệ DPRR = ------------------------- x 100% Tổng dư nợ Theo quy định tại Thông tư 02/2013/TT-NHNN ngày 21/01/2013, tỷ lệ trích lập dự phòng cụ thể đối với các nhóm nợ như sau: Nhóm 1: 0%; Nhóm 2: 5%; Nhóm 3: 20%; Nhóm 4: 50%; Nhóm 5: 100%. Số tiền dự phòng cụ thể được tính theo công thức sau: 15
- Xem thêm -