Tài liệu Quản lý nhà nước về thi hành tạm giữ, tạm giam từ thực tiễn tỉnh đắk lắk

  • Số trang: 91 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 56 |
  • Lượt tải: 0
dangvantuan

Tham gia: 02/08/2015

Mô tả:

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI NGUYỄN VĂN LINH QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ THI HÀNH TẠM GIỮ, TẠM GIAM TỪ THỰC TIỄN TỈNH ĐẮK LẮK Chuyên ngành : Luật Hiến pháp và luật hành chính Mã số : 8380102 LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC TS. Trần Thị Lâm Thi ĐẮK LẮK, 2020 LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu độc lập của riêng tôi. Các tài liệu, số liệu được sử dụng trong luận văn là trung thực, chính xác, có nguồn gốc rõ ràng. Những kết luận khoa học của luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình khoa học nào khác. Hà Nội, ngày tháng năm 2020 TÁC GIẢ LUẬN VĂN DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT ANTT : An ninh trật tự An ninh BLHS : Bộ luật hình sự CAND : Công an nhân dân DTTS : Dân tộc thiểu số THTGTG : Thi hành tạm giữ,tạm giam TGTG : Tạm giữ, tạm giam QLNN : Quản lý nhà nước ANQG : An ninh quốc gia TTATXH : Trật tự an toàn xã hội TTHS : Tố tụng hình sự KT-XH : Kinh tế - xã hội UBND : Uỷ ban nhân dân XHCN : Xã hội chủ nghĩa MỤC LỤC MỞ ĐẦU ........................................................................................................... 1 1. Tính cấp thiết của đề tài ........................................................................... 1 2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài ................................................ 3 3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn ...................................... 6 3.1. Mục đích nghiên cứu .......................................................................... 6 4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của luận văn ........................................... 6 4.1. Đối tượng nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn quản lý nhà nước về THTGTG ............................................. 6 5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn .................. 6 5.1. Phương pháp luận: ............................................................................. 6 6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn ................................................. 7 7. Kết cấu của luận văn ................................................................................. 7 Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ............... 9 VỀ THI HÀNH TẠM GIỮ, TẠM GIAM ........................................................ 9 1.1. KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM VÀ VAI TRÒ CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ THI HÀNH TẠM GIỮ, TẠM GIAM ........................................ 9 1.2. NỘI DUNG, NGUYÊN TẮC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ THI HÀNH TẠM GIỮ, TẠM GIAM ................................................................ 20 1.3. CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ THI HÀNH TẠM GIỮ, TẠM GIAM ................................................................ 26 Chương 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ THI HÀNH TẠM GIỮ, TẠM GIAM TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH ĐẮK LẮK ................................ 31 2.1. ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN CÓ LIÊN QUAN ĐẾN CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ THI HÀNH TẠM GIỮ, TẠM GIAM...................... 31 2.2. TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ THI HÀNH TẠM GIỮ, TẠM GIAM TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH ĐẮK LẮK .................. 36 2.3. Đánh giá chung quản lý nhà nước về thi hành tạm giữ, tạm giam trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk ................................................................................... 55 Chương 3 GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ THI HÀNH TẠM GIỮ, TẠM GIAM TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH ĐẮK LẮK ......................................................................................................................... 66 3.1. NHU CẦU ĐỔI MỚI HOẠT ĐỘNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ THI HÀNH TẠM GIỮ, TẠM GIAM ......................................................... 66 3.2. MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ THI HÀNH TẠM GIỮ, TẠM GIAM TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH ĐẮK LẮK ........................................................................................ 70 KẾT LUẬN ..................................................................................................... 81 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ........................................................ 83 MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Công tác quản lý tạm giữ, tạm giam (TGTG) trong trại tạm giam, nhà tạm giữ là hoạt động của lực lượng cảnh sát quản lý trại tạm giam, nhà tạm giữ tổ chức tiếp nhận, thực hiện giam giữ và tiến hành các biện pháp quản lý người có quyết định giam giữ theo quy định của pháp luật nhằm phục vụ hoạt động điều tra, truy tố, xét xử và đảm bảo thi hành các bản án phạt tù hoặc tử hình; ngoài ra còn giáo dục, cải tạo đối với phạm nhân ở trại tạm giam, nhà tạm giữ. Nhiệm vụ của công tác này được thể hiện ở việc quản lý giam giữ chặt chẽ, phát hiện và thu thập thông tin phục vụ yêu cầu điều tra và xử lý tội phạm, đồng thời thực hiện chế độ chính sách đối với người bị TGTG và phạm nhân. Nguyên tắc quản lý giam, giữ phải đúng luật, tôn trọng, phát huy quyền và lợi ích hợp pháp của người bị TGTG, phạm nhân. Nội dung quản lý TGTG được thể hiện ngay từ khâu tiếp nhận, phân loại, quản lý, dẫn giải, tổ chức giáo dục, lao động và thực hiện chế độ chính sách đối với người bị TGTG, phạm nhân; tuy vậy, phạm nhân ở trại tạm giam, nhà tạm giữ chủ yếu là phục vụ công tác giam giữ, số ít có thể được lao động sản xuất nhưng đơn giản và trong phạm vi hẹp. Tại khoản 2 Điều 20 Hiến pháp năm 2013 quy định việc giam, giữ người do luật định. Trên cơ sở các quy định của Hiến pháp năm 2013, Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam (THTGTG) đã được Quốc hội khóa XIII thông qua ngày 25/11/2015 tại kỳ họp thứ 10 và Chính phủ đã ban hành Nghị định số 120/2017/NĐ-CP ngày 06/11/2017 quy định chi tiết một số điều của Luật THTGTG. Luật THTGTG được ban hành là một bước tiến mới trong quá trình hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam nói chung và pháp luật trong lĩnh vực tô tụng hình sự nói riêng. Luật THTGTG là sự cụ thể hóa các quy định của Hiến pháp về việc hạn chế quyền con người, quyền và nghĩa vụ của công dân trong các trường hợp cần thiết vì lý do an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội. So 1 với những quy định của Quy chế về TGTG thì Luật THTGTG có nhiều nội dung mới. Một trong những nội dung quan trọng là hoạt động quản lý nhà nước (QLNN) về công tác TGTG của các cơ quan chức năng, trong đó có cơ quan công an cấp huyện và cấp tỉnh. Đắk Lắk là một tỉnh miền núi Tây Nguyên, trong thời gian qua, các cơ sở giam giữ trên địa bàn tỉnh đã có nhiều cố gắng, nỗ lực thực hiện tốt chức năng, quản lý THTGTG, không để xảy ra tình huống đột xuất, bất ngờ, các vụ việc người bị tạm giam thông cung, tự sát hoặc thể hiện các hành vi tiêu cực khác; đảm bảo đầy đủ công tác quản lý giam giữ, chế độ cho người bị TGTG; quan tâm chăm sóc sức khỏe, làm tốt công tác giáo dục, phổ biến cho người bị TGTG học tập nội quy cơ sở giam giữ, đảm bảo các quyền và nghĩa vụ có liên quan theo quy định pháp luật; kịp thời thông báo việc sắp hết thời hạn TGTG cho các Cơ quan tiến hành tố tụng để kịp thời xử lý và giải quyết quy định v.v... Công an tỉnh đã chủ động xây dựng, ban hành các Kế hoạch, văn bản mang tính chỉ đạo kịp thời, sát với thực tế trong công tác THTGTG và hỗ trợ tư pháp; quán triệt, triển khai thực hiện nghiêm túc chỉ đạo của Bộ Công an về công tác đảm bảo tuyệt đối an toàn các cơ sở TGTG; cán bộ chiến sỹ tại các cơ sở giam giữ trên địa bàn tỉnh luôn chủ động trong công tác nắm tình hình, làm tốt công tác quản lý TGTG; thường xuyên tuần tra, kiểm tra, đảm bảo 24/24 giờ; công tác trích xuất, dẫn giải can phạm phạm nhân đảm bảo tuyệt đối an toàn theo quy định của pháp luật; không để xảy ra bạo loạn, gây rối, ngộ độc thực phẩm tập thể, dịch bệnh và các tình huống đột xuất trong các cơ sở TGTG. Thực hiện nghiêm các quy trình công tác kiểm tra, kiểm soát buồng giam, giám sát phạm nhân khi gặp người thân, khi chuyển Trại tạm giam, Nhà tạm giữ, nơi lao động của can phạm phạm nhân, kiểm tra đồ dùng sinh hoạt của người bị TGTG. Tuy nhiên, bên cạnh thuận lợi và kết quả đã đạt được việc thực hiện chế độ quản lý THTGTG trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk đã bộc lộ nhiều tồn tại, hạn chế, 2 khó khăn, vướng mắc như: Hệ thống các văn bản pháp luật và các quy phạm pháp luật quy định về những vấn đề có liên quan đến việc quản lý TGTG nhiều điểm bị chồng chéo, không phù hợp với thực tiễn, nhất là về những vấn đề có liên quan đến chế độ, chính sách và quy định quản lý; cơ sở vật chất phục vụ công tác TGTG ở một số đơn vị chật hẹp, xuống cấp nghiêm trọng; các phương tiện kỹ thuật phục vụ công tác kiểm soát TGTG như camera, máy dò kim loại, máy bộ đàm,...tại các đơn vị chưa được trang bị. Tường rào xung quanh nhà tạm giữ, trại tạm giam xuống cấp mục nát, không đủ độ cao quy định gây ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động này. Đội ngũ cán bộ chiến sỹ thực hiện công tác THTGTG nhiều đơn vị còn thiếu, việc đào tạo, bồi dưỡng chuyên ngành quản lý TGTG chưa được nâng cao, chú trọng nên gây khó khăn trong công tác quản lý giam, giữ. Công tác quản giáo, giáo dục và tuyên truyền đối với người bị TGTG là người đồng bào dân tộc thiểu số còn hạn chế. Vì vậy, nhu cầu cấp thiết đặt ra là cần có nghiên cứu sâu, toàn diện về nâng cao hiệu quả QLNN về THTGTG - từ thực tiễn tỉnh Đắk Lắk là có tính cấp thiết. Xuất phát từ những lý do trên, tác giả chọn đề tài: “Quản lý nhà nước về thi hành tạm giữ, tạm giam từ thực tiễn tỉnh Đắk Lắk” làm đề tài luận văn thạc sĩ, chuyên ngành luật Hiến pháp và luật Hành chính. 2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài Liên quan tới đề tài luận văn, đã có nhiều công trình nghiên cứu, các bài báo trên tạp chí chuyên ngành và tại các hội thảo khoa học về QLNN về THTGTG. Có thể kể ra một số công trình tiêu biểu như: - Giáo trình Luật Hành chính Việt Nam của PGS.TS Nguyễn Cửu Việt, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật Hà Nội, năm 2013; 2017; - Sách “Giáo trình Luật tố tụng hình sự Việt Nam, Khoa Luật - Đại học quốc gia Hà Nội, của Nguyễn Ngọc Chí (chủ biên) (2014), Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội. 3 - Sách bình luận khoa học Luật thi hành tạm giữ, tạm giam của GS,TS Phạm Ngọc Anh, Cục trưởng cục pháp chế và cải cách hành chính, tư pháp – Bộ công An làm chủ biên, NXB Tư pháp, Năm 2018, Hà Nội - Sách hỏi - đáp pháp luật “Về thi hành tạm giữ, tạm giam” của TS Nguyễn Xuân Minh chủ biên, NXB Công an nhân dân, Hà Nội, năm 2017. - Sách chuyên khảo “Pháp luật thi hành án hình sự Việt Nam - Những vấn đề lý luận và thực tiễn” của GS.TS. Võ Khánh Vinh và PGS.TS. Nguyễn Mạnh Kháng, NXB tư pháp, năm 2006, Hà Nội. - Sách Bình luận khoa học Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự, Luật thi hành tạm giữ, tạm giam của TS Trần Văn Biên và nhóm cộng sự biên soạn, NXB Hồng Đức, hà nội 2018. - Luận án tiến sĩ: “Các biện pháp ngăn chặn bắt, TGTG trong tố tụng hình sự Việt Nam, thực trạng, nguyên nhân và giải pháp” của Nguyễn Văn Điệp, Đại học Luật Hà Nội, năm 2005 - Phạm Thanh Bình - Nguyễn Văn Nguyên (1993), Những điều cần biết về bắt người, tạm giữ, tạm giam đúng pháp luật, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội. - Nguyễn Đức Hạnh (2015), Nguyên tắc bình đẳng trong luật tố tụng hình sự Việt Nam: Những vấn đề lý luận và thực tiễn, Luận án Tiến sĩ Luật học, Học viện KHXH Việt Nam, Hà Nội.(xem lại nội dung cuốn này có liên quan trực tiếp đến đề tài luận văn không, nếu không thì bỏ ra vì không liên quan) - Nguyễn Phạm Tố Phong (2013) Kiểm sát việc tạm giữ, tạm giam trong tố tụng hình sự Việt Nam, Luận văn thạc sĩ, Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh. - "Kiểm sát việc TGTG trong tố tụng hình sự Việt Nam" Luận văn thạc sĩ của Nguyễn Phạm Tố Phong, Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh, năm 2013. 4 - “Những nội dung mới trong Bộ luật tố tụng hình sự 2015”, Sách chuyên khảo, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, 2016 do PGS.TS Nguyễn Hòa Bình làm Chủ biên. - Trần Duy Bình (2017) “Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định của Bộ luật tố tụng hình sự về biện pháp ngăn chặn tạm giữ”, (15/07/2019). - Trần Văn Độ (2012) “Hoàn thiện các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự về biện pháp tạm giam” (15/7/2019). - Võ Vương Bình (2018), “Kiểm sát việc áp dụng biện pháp tạm giữ, tạm giam theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn quận Bình Tân, thành phố Hồ Chí Minh”, luận văn thạc sĩ luật, chuyên ngành luật hình sự và luật tố tụng hình sự. Ngoài ra, còn có các bài viết liên quan đến đề tài của nhiều tác giả đăng trên các tạp chí như: những điểm mới về chế độ tạm giữ, tạm giam được quy định trong luật thi hành tạm giữ, tạm giam năm 2015 của tác giả Ngô Đức Việt, Trường Đại học CSND, Tạp chí KHGD CSND số tháng 9/2018; bài viết “Một số vấn về tạm giam bị can, bị cáo trong trường hợp bị bệnh nặng” của tác giả Hồ Quân - Tòa án quân sự Khu vực 1 Quân khu 4, tạp chí Tòa án nhân dân, số 21/2019. Bài viết “Làm tốt công tác quản lý, thi hành tạm giữ, tạm giam và thi hành án hình sự” của tác giả Đức Vũ, đăng Tạp chí Công an nhân dân, số 5, 2018. Bài viết “Tiếp tục nâng cao hiệu lực quản lý Nhà nước về công tác thi hành án hình sự” của tác giả Xuân Thống đăng trên trang Công an Nghệ An, 12/2017. Những kết quả nghiên cứu nói trên là cơ sở quan trọng để tác giả có thể kế thừa khi triển khai nghiên cứu đề tài luận văn này. Do giới hạn phạm vi và mục tiêu nghiên cứu khác nhau nên các công trình đã công bố chưa nghiên cứu trực tiếp về hoạt động QLNN về THTGTG trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk. Vì vậy, việc tác giả lựa chọn đề tài trên làm luận văn thạc sĩ là không trùng lặp với các đề tài, công trình khoa học đã công bố. 5 3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn 3.1. Mục đích nghiên cứu Luận văn đưa ra các giải pháp nhằm góp phần nâng cao hiệu quả QLNN về THTGTG trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk trong thời gian tới. 3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu Để thực hiện các mục đích nghiên cứu trên. Luận văn có nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể sau: - Nghiên cứu làm sáng tỏ những vấn đề lý luận QLNN về THTGTG. - Phân tích, đánh giá thực trạng QLNN về THTGTG trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk từ 2014-2018; - Đề xuất các phương hướng, giải pháp nâng cao hiệu tổ chức QLNN về THTGTG trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk trong thời gian tới. 4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của luận văn 4.1. Đối tượng nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn quản lý nhà nước về THTGTG 4.2. Phạm vi nghiên cứu: + Về nội dung: Luận văn nghiên cứu hoạt động QLNN về TGTG trong Công an nhân dân, không nghiên cứu hoạt động QLNN về TGTG trong quân đội nhân dân. Biện pháp TGTG được nghiên cứu ở đây là biện pháp ngăn chặn được áp dụng trong hoạt động tố tụng hình sự. + Về không gian, địa bàn khảo sát là địa bàn tỉnh Đắk Lắk. + Về thời gian, từ năm 2014 đến năm 2018. 5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn 5.1. Phương pháp luận: Luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận của phép duy vật biện chứng và duy vật lịch sử chủ nghĩa Mác- Lênin; tư tưởng Hồ Chí Minh; các quan điểm, đường lối của Đảng, pháp luật, chính sách của Nhà nước về QLNN, về phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm . 6 5.2. Phương pháp nghiên cứu cụ thể: Để giải quyết mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài, tác giả sử dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học cụ thể, bao gồm: + Phương pháp phân tích, tổng hợp: được sử dụng để phân tích các công trình khoa học nhằm làm rõ các vấn đề lý luận về QLNN về THTGTG, từ đó tổng hợp, rút ra những kết luận khoa học về vấn đề này. Phương pháp này cũng được sử dụng để phân tích làm rõ thực trạng công tác QLNN về THTGTG trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk; tổng hợp, đánh giá rút ra những thành công, hạn chế, nguyên nhân của những hạn chế trong những năm qua. + Phương pháp thống kê, so sánh: được sử dụng để thống kê, so sánh về công tác QLNN về THTGTG trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk. 6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn - Về lý luận: Kết quả nghiên cứu sẽ góp phần bổ sung, làm rõ những vấn đề lý luận và quy định pháp luật về QLNN về THTGTG. - Về thực tiễn: Những kiến nghị, đề xuất của luận văn là tài liệu tham khảo hữu ích cho Công an tỉnh Đắk Lắk nhằm góp phần nâng cao hiệu quả công tác QLNN về thi hành TGTG trên địa bàn tỉnh. Luận văn là nguồn tài liệu tham khảo cho công tác nghiên cứu, giảng dạy về vấn đề này. 7. Kết cấu của luận văn Ngoài mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn được kết cấu thành 3 chương. Chương 1. Một số vấn đề lý luận quản lý nhà nước về thi hành tạm giữ, tạm giam 7 Chương 2. Thực trạng quản lý nhà nước về thi hành tạm giữ, tạm giam trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk Chương 3. Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về thi hành tạm giữ, tạm giam trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk 8 Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ THI HÀNH TẠM GIỮ, TẠM GIAM 1.1. Khái niệm, đặc điểm và vai trò của quản lý nhà nước về thi hành tạm giữ, tạm giam 1.1.1. Khái niệm quản lý nhà nước về thi hành tạm giữ, tạm giam 1.1.1.1. Khái niệm tạm giữ, tạm giam Tạm giữ, tạm giam là biện pháp ngăn chặn được áp dụng trong hoạt động tố tụng hình sự, do cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng áp dụng đối với người bị bắt trong trường hợp khẩn cấp, phạm tội quả tang, người phạm tội tự thú, đầu thú hoặc đối với người bị bắt theo quyết định truy nã và đối với bị can, bị cáo nhằm cách ly họ ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để ngăn chặn họ tiếp tục phạm tội, ngăn chặn hành vi trốn tránh việc điều tra, truy tố, xét xử, cản trở việc xác định sự thật của vụ án hoặc để đảm bảo thi hành án. Theo Từ điển luật học năm 2006, khái niệm tạm giữ được định nghĩa như sau: Tạm giữ là biện pháp ngăn chặn áp dụng đối với người bị bắt trong trường hợp khẩn cấp hoặc phạm tội quả tang để cách ly họ với xã hội trong thời gian cần thiết cần ngăn chặn người đó tiếp tục phạm tội, cản trở điều tra và xác định sự liên quan của người này đối với việc phạm tội [35, trang 76]. Theo quy định của Điều 117 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015, tạm giữ là biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự do cơ quan và người có thẩm quyền tiến hành tố tụng áp dụng đối với người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt trong trường hợp phạm tội quả tang, người phạm tội tự thú, đầu thú hoặc người bị bắt theo quyết định truy nã. Mục đích của tạm giữ là để ngăn chặn hành vi trốn tránh pháp luật, cản trở hoạt động điều tra, tạo điều kiện cho Cơ quan điều tra thu thập chứng cứ, 9 đánh giá tính chất, mức độ hành vi trái pháp luật của người bị tạm giữ để quyết định khởi tố hình sự, tiếp tục áp dụng các biện pháp ngăn chặn thích hợp hoặc trả lại tự do cho người bị tạm giữ. Đối tượng bị áp dụng biện pháp tạm giữ bao gồm: người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt trong trường hợp phạm tội quả tang, người phạm tội tự thú, đầu thú hoặc người bị bắt theo quyết định truy nã. Người bị tạm giữ khi bị áp dụng biện pháp này sẽ bị tước bỏ hoặc hạn chế một phần các quyền cơ bản của công dân được Hiến pháp và pháp luật xác lập và bảo vệ. Do vậy, chỉ người có thẩm quyền tiến hành tố tụng mới được áp dụng biện pháp này khi có những căn cứ và mục đích áp dụng cụ thể, rõ ràng. Biện pháp này cũng phải được áp dụng theo đúng những quy định của pháp luật tố tụng hình sự về trình tự, thủ tục. Theo từ điển luật học: Tạm giam là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc, ảnh hưởng trực tiếp đến quyền tự do thân thể của công dân. Đây là biện pháp ngăn chặn, cách ly bị can, bị cáo trong thời gian nhất định nhằm ngăn chặn các hành vi trốn tránh pháp luật, cản trở điều tra, truy tố, xét xử hoặc có thể tiếp tục phạm tội mới của bị can, bị cáo, đảm bảo cho việc điều tra, truy tố, xét xử được thuận lợi [353, tr. 77]. Theo quy định tại Điều 119 Bộ luật tố tụng hình sự 2015, tạm giam là biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự do Cơ quan và người có thẩm quyền áp dụng đối với bị can, bị cáo để cách ly bị can, bị cáo trong các trường hợp do pháp luật quy định nhằm đảm bảo cho công tác điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án hình sự được thuận lợi. Mục đích của tạm giam là nhằm ngăn chặn tội phạm và hành vi trốn tránh pháp luật của người phạm tội, để bảo đảm cho việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc thi hành án được tiến hành đúng đắn. Tạm giam là biện pháp có tính chất lựa chọn “có thể áp dụng” tức là không bắt buộc áp dụng đồng loạt cho mọi bị can, bị cáo khi đã có đủ căn cứ, điều kiện để áp dụng tạm giam. 10 Đối tượng bị tạm giam chỉ có thể là bị can, bị cáo, nhưng không phải mọi bị can, bị cáo đều bị tạm giam, mà chỉ những bị can, bị cáo có một trong các điều kiện sau thì mới có thể bị tạm giam: Một là, bị can, bị cáo về tội đặc biệt nghiêm trọng, tội rất nghiêm trọng Hai là, bị can, bị cáo về tội nghiêm trọng, tội ít nghiêm trọng mà BLHS quy định hình phạt từ trên 02 năm khi có căn cứ xác định người đó thuộc một trong các trường hợp: đã bị áp dụng biện pháp ngăn chặn khác nhưng vi phạm; không có nơi cư trú rõ ràng hoặc không xác định được lý lịch của bị can; bỏ trốn và bị bắt theo quyết định truy nã hoặc có dấu hiệu bỏ trốn; tiếp tục phạm tội hoặc có dấu hiệu tiếp tục phạm tội; có hành vi mua chuộc, cưỡng ép, xúi giục người khác khai báo gian dối, cung cấp tài liệu sai sự thật; tiêu hủy, giả mạo chứng cứ, tài liệu, đồ vật của vụ án, tẩu tán tài sản liên quan đến vụ án; đe dọa, không chế, trả thù người làm chứng, bị hại, người tố giác tội phạm và người thân thích của những người này. Ba là, bị can, bị cáo về tội ít nghiêm trọng mà BLHS quy định hình phạt tù đến 02 năm nếu họ tiếp tục phạm tội hoặc bỏ trốn và bị bắt theo quyết định truy nã. Cũng giống như biện pháp tạm giữ, khi áp dụng biện pháp tạm giam, người bị tạm giam sẽ bị tước bỏ hoặc hạn chế một phần các quyền cơ bản của công dân. Do vậy, chỉ người có thẩm quyền tiến hành tố tụng mới được áp dụng biện pháp này khi có những căn cứ và mục đích áp dụng cụ thể, rõ ràng. Biện pháp này cũng phải được áp dụng theo đúng những quy định của pháp luật tố tụng hình sự về trình tự, thủ tục, thời hạn tạm giam. 1.1.1.2. Quản lý nhà nước trong thi hành tạm giữ, tạm giam: * Khái niệm quản lý nhà nước 11 Hoạt động quản lý xuất hiện từ rất lâu và bao gồm nhiều loại, trong đó có quản lý xã hội là một dạng quản lý đặc biệt. Trên thế giới hiện nay, cách hiểu về quản lý có tính thống nhất tương đối. Khoa học về quản lý định nghĩa: “Quản lý là sự tác động liên tục, có tổ chức, có định hướng của chủ thể quản lý lên khách thể quản lý trên các mặt chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội… thông qua hệ thống pháp luật, chính sách, các nguyên tắc, các quy định và bằng các biện pháp cụ thể, nhằm tạo ra môi trường và điều kiện cho sự phát triển của đối tượng quản lý”. Như vậy, hiểu một cách đơn giản nhất, quản lý chính là sự tác động của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý thông qua các công cụ quản lý nhằm đạt mục tiêu đề ra. Với cách hiểu trên, quản lý bao gồm các yếu tố sau: - Chủ thế quản lý: là tác nhân tạo ra các tác động quản lý. Chủ thể có thể là cá nhân hoặc tổ chức. Chủ thể quản lý tác động lên đối tượng quản lý bằng các công cụ, hình thức và phương pháp thích hợp, cần thiết và dựa trên cơ sở những nguyên tắc nhất định. - Đối tượng quản lý: Tiếp nhận sự tác động của chủ thể quản lý. - Khách thể quản lý: là mục đích mà hoạt động quản lý hướng tới. Bất kỳ hoạt động quản lý nào cũng là những hoạt động tác động, điều chỉnh hành vi của đối tượng quản lý để hướng tới việc xác lập, duy trì trật tự quản lý do Nhà nước đặt ra. Đây là căn cứ để chủ thể quản lý thực hiện các tác động quản lý cũng như lựa chọn các hình thức, phương pháp quản lý thích hợp. Quản lý nhà nước (QLNN) là một dạng của quản lý xã hội đặc biệt, mang tính quyền lực nhà nước và sử dụng pháp luật, chính sách để điều chỉnh hành vi cá nhân, tổ chức trên tất cả các mặt của đời sống xã hội do các cơ quan trong bộ máy nhà nước thực hiện, nhằm phục vụ nhân dân, duy trì ổn định và phát triển của xã hội. Quản lý nhà nước xuất hiện cùng với sự xuất hiện của nhà nước, gắn với chức năng, vai trò của nhà nước trong xã hội có giai cấp. Hiện nay, khái niệm quản lý nhà nước được hiểu theo hai nghĩa: 12 Theo nghĩa rộng: Là dạng quản lý xã hội của nhà nước, sử dụng quyền lực nhà nước để điều chỉnh các quan hệ xã hội và các hành vi hoạt động của con người do tất cả các cơ quan nhà nước (Lập pháp, Hành pháp, Tư pháp) tiến hành để thực hiện các chức năng nhà nước đối với xã hội. + Nghĩa hẹp: Là dạng quản lý xã hội mang tính quyền lực nhà nước với chức năng chấp hành pháp luật và tổ chức thực hiện pháp luật của các cơ quan trong hệ thống hành pháp (Chính phủ và Ủy ban nhân dân các cấp). Quản lý nhà nước được đề cập trong luận văn này là khái niệm QLNN hiểu theo nghĩa hẹp tức là QLNN mang tính chấp hành và điều hành trên cơ sở pháp luật của cơ quan quản lý hành chính nhà nước trong lĩnh vực hành pháp. * Khái niệm quản lý nhà nước về thi hành tạm giữ, tạm giam. Nhà nước thực hiện chức năng quản lý đối với mọi lĩnh vực, mọi hoạt động trong xã hội. Không có lĩnh vực, hoạt động nào không chịu sự quản lý của nhà nước. Quản lý nhà nước đối với các lĩnh vực của đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội là một nhu cầu khách quan, giúp cho Nhà nước thực hiện các chức năng và quyền lực của mình. Thi hành TGTG là hoạt động tố tụng hình sự mang tính quyền lực nhà nước của các chủ thể có thẩm quyền theo quy định của pháp luật để phục vụ cho hoạt động điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án, góp phần đấu tranh phòng, chống tội phạm, bảo vệ vững chắc ANQG, bảo đảm TTATXH Thi hành TGTG có vai trò quan trọng trong hoạt động TTHS. Nó đòi hỏi rất cao ở sự đúng đắn, tính thượng tôn pháp luật, đảm bảo bản chất ưu việt của Đảng, nhà nước ta, vừa phải đấu tranh kiên quyết, xử lý nghiêm minh các loại tội phạm, vừa phải đảm bảo các quyền của công dân. Tính chất, đặc điểm, vai trò của hoạt động thi hành TGTG đặt ra yêu cầu tất yếu phải có sự quản lý chặt chẽ, tập trung, thống nhất, có hiệu lực, hiệu quả đối với hoạt động này. Như vậy, QLNN đối với hoạt động thi hành TGTG là cần thiết, mang tính tất yếu khách quan và là một nội dung quan trọng trong QLNN 13 nhằm đáp ứng mục tiêu xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN. Quản lý nhà nước về THTGTG bản chất là hoạt động quản lý nhà nước, phải do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện đối với công tác thi hành TGTG. Quản lý nhà nước về thi hành TGTG là hoạt động mang tính quyền lực nhà nước của các chủ thể có thẩm quyền, sử dụng quyền lực nhà nước để tác động, điều chỉnh hoạt động thi hành TGTG. Từ những phân tích trên có thể hiểu: Quản lý nhà nước về thi hành tạm giữ, tạm giam là quá trình chủ thể có thẩm quyền sử dụng quyền lực nhà nước theo quy định của pháp luật để tác động có tổ chức, định hướng, điều chỉnh hoạt động thi hành TGTG, đảm bảo cho hoạt động thi hành TGTG tuân thủ pháp luật, thống nhất, hiệu quả. Theo quy định của Luật Thi hành TGTG, hệ thống tổ chức cơ quan quản lý TGTG bao gồm Cơ quan quản lý TGTG trong công an nhân dân và Cơ quan quản lý TGTG trong quân đội nhân dân. Tương ứng với hai hệ thống Cơ quan quản lý TGTG này là các hoạt động QLNN về THTGTG của lực lượng công an nhân dân và quân đội nhân dân. Trong phạm vi luận văn này chỉ giới hạn nghiên cứu hoạt động QLNN về thi hành TGTG do cơ quan quản lý TGTG trong lực lượng Công an nhân dân thực hiện. Phân tích nội hàm khái niệm QLNN về thi hành TGTG thấy: Chủ thể quản lý nước về thi hành TGTG bao gồm: Cơ quan quản lý thi hành án hình sự và hỗ trợ tư pháp thuộc Bộ Công an thực hiện quản lý TGTG trong phạm vi cả nước; Cơ quan thi hành án hình sự Công an tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thực hiện quản lý TGTG trong địa bàn tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và Cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc Trung ương thực hiện quản lý TGTG trong địa bàn huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc Trung ương. 14 Đối tượng quản lý (với ý nghĩa là đối tượng chịu sự tác động của chủ thể quản lý) là các cá nhân, tổ chức được giao thẩm quyền thi hành TGTG trong công an nhân dân. Theo quy định của Luật Thi hành TGTG, hệ thống tổ chức cơ quan thi hành TGTG trong Công an nhân dân bao gồm: trại tạm giam thuộc Bộ Công an; trại tạm giam Công an cấp tỉnh; nhà tạm giữ Công an cấp huyện. Các cá nhân có thẩm quyền thi hành TGTG trong Công an nhân dân bao gồm: Trưởng, phó trưởng nhà tạm giữ, cán bộ, chiến sĩ làm nhiệm vụ quản giáo, trinh sát, bảo vệ, hỗ trợ tư pháp…; Giám thị, Phó giám thị, Trưởng phân trại, Phó trưởng phân trại, Đội trưởng, Phó đội trưởng, cán bộ, chiến sĩ trại tạm giam… Khách thể của hoạt động QLNN về thi hành TGTG không phải là quản lý những hoạt động tạm giữ, tạm giam cụ thể mà là việc quản lý về thể chế, tổ chức, biên chế, hành chính và các điều kiện đảm bảo cho công tác thi hành TGTG được tiến hành thuận lợi, đúng pháp luật, hiệu quả. Hay nói cách khác, QLNN về thi hành TGTG nhằm mục đích đảm bảo cho hoạt động thi hành TGTG tuân thủ pháp luật, thống nhất, hiệu quả. Đó chính là trật tự pháp luật trong lĩnh vực thi hành TGTG. Khác với các lĩnh vực QLNN khác, trật tự quản lý trong hoạt động THTGTG hướng tới và phục vụ trực tiếp cho hoạt động điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự (thuộc lĩnh vực tư pháp). 15
- Xem thêm -