Tài liệu Những vấn đề lý luận và thực tiễn về hợp đồng tư vấn pháp luật cho doanh nghiệp tại việt nam

  • Số trang: 83 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 237 |
  • Lượt tải: 0
nhattuvisu

Tham gia: 29/07/2015

Mô tả:

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA LUẬT NGUYỄN THỊ ĐAN PHƯƠNG NH÷NG VÊN §Ò Lý LUËN Vµ THùC TIÔN VÒ HîP §åNG T¦ VÊN PH¸P LUËT CHO DOANH NGHIÖP T¹I VIÖT NAM Chuyên ngành: Luật Kinh tế Mã số: 60 38 01 07 LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC Cán bộ hướng dẫn khoa học: PGS. TS. PHẠM HỮU NGHỊ HÀ NỘI - 2014 LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các kết quả nêu trong luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác. Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực. Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội. Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ luận văn. Tôi xin chân thành cảm ơn! NGƯỜI CAM ĐOAN Nguyễn Thị Đan Phương MỤC LỤC Trang Trang phụ bìa Lời cam đoan Mục lục MỞ ĐẦU ....................................................................................................... 1 Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ HỢP ĐỒNG TƯ VẤN PHÁP LUẬT CHO DOANH NGHIỆP TẠI VIỆT NAM ........... 6 1.1. KHÁI QUÁT VỀ TƯ VẤN PHÁP LUẬT VÀ NHU CẦU TƯ VẤN PHÁP LUẬT CỦA DOANH NGHIỆP .................................................. 6 1.1.1. Khái niệm hoạt động tư vấn pháp luật .................................................. 6 1.1.2. Nhu cầu tư vấn pháp luật của doanh nghiệp ..................................... 13 1.2. KHÁI NIỆM, BẢN CHẤT VÀ ĐẶC ĐIỂM PHÁP LÝ CỦA HỢP ĐỒNG TƯ VẤN PHÁP LUẬT CHO DOANH NGHIỆP ...................... 17 1.2.1. Khái niệm và bản chất của hợp đồng tư vấn pháp luật cho doanh nghiệp .................................................................................. 17 1.2.2. Đặc điểm pháp lý của hợp đồng tư vấn pháp luật cho doanh nghiệp ......... 21 Kết luận chương 1 ...................................................................................... 30 Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ HỢP ĐỒNG TƯ VẤN PHÁP LUẬT CHO DOANH NGHIỆP ............ 31 2.1. NHỮNG QUY ĐỊNH HIỆN HÀNH VỀ HỢP ĐỒNG TƯ VẤN PHÁP LUẬT CHO DOANH NGHIỆP ................................................ 31 2.1.1. Các quy định về điều kiện có hiệu lực của hợp đồng ....................... 31 2.1.2. Các quy định về đối tượng của hợp đồng ......................................... 33 2.1.3. Các quy định về quyền và nghĩa vụ của các bên .............................. 36 2.1.4. Các quy định về thù lao và các chi phí khác..................................... 40 2.1.5. Các quy định khác ........................................................................... 41 2.2. THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG TƯ VẤN PHÁP LUẬT CHO DOANH NGHIỆP TẠI VIỆT NAM ....................... 42 2.2.1. Thực tiễn giao kết hợp đồng tư vấn pháp luật cho doanh nghiệp ........... 42 2.2.2. Thực tiễn thực hiện hợp đồng tư vấn pháp luật cho doanh nghiệp .......... 46 Kết luận chương 2 ...................................................................................... 56 Chương 3: ĐỊNH HƯỚNG VÀ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG TƯ VẤN PHÁP LUẬT CHO DOANH NGHIỆP........................................................................58 3.1. CƠ SỞ ĐỂ XÂY DỰNG ĐỊNH HƯỚNG CHO PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG TƯ VẤN PHÁP LUẬT CHO DOANH NGHIỆP .............. 58 3.2. ĐỊNH HƯỚNG CHO PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG TƯ VẤN PHÁP LUẬT CHO DOANH NGHIỆP ................................................ 58 3.2.1. Xác định và giới hạn một cách đúng đắn các quyền lợi tư ............... 58 3.2.2. Đảm bảo quyền tự do ý chí của các chủ thể tham gia quan hệ hợp đồng ... 59 3.3. MỘT SỐ GIẢI PHÁP VỀ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG TƯ VẤN PHÁP LUẬT CHO DOANH NGHIỆP ...................... 60 3.3.1. Tạo sự thống nhất trong việc áp dụng các quy định về hợp đồng dịch vụ trong Bộ luật Dân sự và Luật Thương mại .......................... 60 3.3.2. Nghiên cứu kiến tạo Tập hợp án lệ để khắc phục những khó khăn khi giải quyết tranh chấp về hợp đồng dịch vụ ................................. 62 3.3.3. Bổ sung các quy định về hợp đồng tư vấn pháp luật trong Luật Luật sư ............................................................................................. 65 Kết luận chương 3 ...................................................................................... 72 KẾT LUẬN ................................................................................................. 73 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................... 75 MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài Doanh nghiệp là thành phần quan trọng trong hoạt động của nền kinh tế, góp phần vào sự phát triển kinh tế của nước nhà. Tuy nhiên, ý thức pháp luật của một số nhà doanh nghiệp chưa cao dẫn đến việc các doanh nghiệp thực hiện không đúng các quy định pháp luật của Nhà nước hoặc thậm chí cố tình thực hiện những hành vi sai phạm vì lợi ích của mình, nhiều trường hợp gây thiệt hại nghiêm trọng cho Nhà nước và xã hội. Một biện pháp quan trọng góp phần tác động đến ý thức pháp luật của các nhà doanh nghiệp, làm cho họ hiểu rõ và thực hiện đúng các quy định của pháp luật trong hoạt động kinh tế là hoạt động tư vấn pháp luật từ phía những người có chuyên môn là luật sư, tổ chức hành nghề luật sư. Những năm qua, bằng hoạt động nghề nghiệp của mình, đội ngũ luật sư đã có những đóng góp tích cực cho công tác tư pháp nói chung, bảo đảm cho hoạt động xét xử được khách quan, công khai, minh bạch. Hoạt động của luật sư, đặc biệt là việc tư vấn pháp luật cho các doanh nghiệp trong đầu tư, kinh doanh, thương mại cũng góp phần quan trọng trong việc thúc đẩy phát triển các quan hệ kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Do đó, việc nghiên cứu cơ sở lý luận của hợp đồng tư vấn pháp luật cũng như xem xét, khảo cứu thực trạng các quy định pháp luật, thực tiễn áp dụng hợp đồng tư vấn pháp luật là một điều hết sức cần thiết, không chỉ để giúp các doanh nghiệp có cơ hội hiểu hơn về loại hình hợp đồng dịch vụ này mà còn giúp cơ quan nhà nước và các tổ chức hữu quan nghiên cứu để hoàn thiện pháp luật và tổ chức thực hiện pháp luật về hợp đồng tư vấn pháp luật. Đó chính là lý do tác giả lựa chọn chủ đề: “Những vấn đề lý luận và thực tiễn về Hợp đồng tư vấn pháp luật cho doanh nghiệp tại Việt Nam” làm đề tài cho luận văn thạc sỹ luật học. 1 2. Tình hình nghiên cứu đề tài Tính đến thời điểm hiện nay, ở nước ta, chưa có công trình khoa học nghiên cứu có tính hệ thống về hợp đồng tư vấn pháp luật cho doanh nghiệp. Mặc dù vậy, có một số công trình khoa học sau nghiên cứu những đề tài tương tự về hợp đồng dịch vụ pháp lý: - Luận văn thạc sĩ luật học năm 2006 của tác giả Vũ Quỳnh Anh về “Hợp đồng dịch vụ pháp lý trong hành nghề luật sư – Một số vấn đề lý luận và thực tiễn” đưa ra những khái niệm cơ bản về hợp đồng dịch vụ pháp lý, phân biệt hợp đồng dịch vụ pháp lý với các loại hợp đồng dịch vụ khác. - Luận văn thạc sĩ luật học năm 2011 của tác giả Nguyễn Như Chính về “Pháp luật về dịch vụ thương mại pháp lý – những vấn đề lý luận và thực tiễn”, xác định phạm vi và nội dung của các dịch vụ thương mại pháp lý ở Việt Nam. - Luận án tiến sĩ luật học năm 2013 của tác giả Hoàng Thị Vịnh về “Hợp đồng dịch vụ pháp lý ở Việt Nam” xây dựng được hệ thống lý luận về dịch vụ pháp lý, tạo cái nhìn tổng quan về hợp đồng dịch vụ pháp lý, tổng hợp được thực trạng các loại hợp đồng dịch vụ pháp lý ở Việt Nam. - Bài viết “Từng bước xây dụng quan niệm về dịch vụ pháp lý phù hợp tiến trình hội nhập quốc tế” của TS. Phan Trung Hoài trên Tạp chí Nhà nước và Pháp luật số 2, năm 2007, nêu ra quan điểm phạm vi của dịch vụ pháp lý chỉ bao gồm dịch vụ pháp lý của luật sư; mặt khác, quan niệm về phạm vi hành nghề của luật sư mở rộng nhiều hơn so với quy định hiện hành. - Bài viết “Dịch vụ pháp lý và nhu cầu trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam” của TS. Nguyễn Văn Tuân trên Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số chuyên đề Pháp luật về Doanh nghiệp, khẳng định dịch vụ pháp lý là hoạt động rất đặc thù so với các loại dịch vụ thông thường khác; quan điểm về phạm vi dịch vụ pháp lý ở Việt Nam bao gồm dịch vụ pháp lý của luật sư và dịch vụ pháp lý của các tổ chức, đoàn thể xã hội và nhu cầu dịch vụ pháp lý ngày càng tăng trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam. 2 - Giáo trình “Kỹ năng tư vấn pháp luật”, giáo trình “Kỹ năng giải quyết vụ án hình sự” và giáo trình “Kỹ năng giải quyết các vụ án dân sự” của Học viện Tư pháp, NXB. Công an nhân dân xuất bản năm 2010, xác định phạm vi lĩnh vực và kỹ năng hành nghề, kỹ năng tư vấn pháp luật của luật sư. 3. Mục đích của việc nghiên cứu đề tài Luận văn có mục đích tổng quát là làm sáng tỏ những vấn đề lý luận cơ bản và thực tiễn pháp luật Việt Nam về hợp đồng tư vấn pháp luật cho doanh nghiệp tại Việt Nam để đưa ra một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về hợp đồng tư vấn pháp luật cho doanh nghiệp. Để hoàn thành những mục tiêu trên, đề tài luận văn có những nhiệm vụ sau:  Tìm hiểu khái niệm và đặc điểm của hoạt động tư vấn pháp luật, nhu cầu của hoạt động tư vấn pháp luật hiện nay;  Đưa ra khái niệm, bản chất và các đặc điểm pháp lý của hợp đồng tư vấn pháp luật cho doanh nghiệp;  Tìm hiểu, phân tích và đánh giá thực trạng các quy định pháp luật hiện hành về hợp đồng tư vấn pháp luật cho doanh nghiệp;  Phân tích thực trạng áp dụng pháp luật trong việc giao kết và thực hiện hợp đồng tư vấn pháp luật cho doanh nghiệp;  Xác định rõ định hướng để hoàn thiện pháp luật về hợp đồng tư vấn pháp luật;  Đưa ra một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về hợp đồng tư vấn pháp luật cho doanh nghiệp. 4. Những đóng góp của đề tài Các kết quả nghiên cứu của đề tài luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho các cơ sở đào tạo ngành luật học về hợp đồng nói chung và hợp đồng tư vấn pháp luật cho doanh nghiệp nói riêng. Các kết quả nghiên cứu của đề tài luận văn còn có thể được sử dụng 3 để tham khảo đối với các cơ quan nhà nước và các tổ chức hữu quan khi nghiên cứu để hoàn thiện pháp luật và tổ chức thực hiện pháp luật về hợp đồng tư vấn pháp luật. 5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu của luận văn là những văn bản pháp luật về hợp đồng tư vấn pháp luật cho doanh nghiệp và thực tiễn của hợp đồng tư vấn pháp luật cho doanh nghiệp tại Việt Nam. Để giải quyết mục tiêu nghiên cứu, đề tài luận văn nghiên cứu những đối tượng cụ thể sau: lý luận chung về hợp đồng, hợp đồng dân sự, hợp đồng dịch vụ thương mại; các văn bản quy phạm pháp luật như Bộ luật Dân sự, Luật Thương mại, Luật Luật sư và các văn bản thi hành; thực tiễn việc giao kết và thực hiện hợp đồng tư vấn pháp luật cho doanh nghiệp. Phạm vi nghiên cứu của luận văn: - Luận văn giới hạn phạm vi nghiên cứu hợp đồng tư vấn pháp luật cho doanh nghiệp có tính thương mại. Luận văn không nghiên cứu hoạt động tư vấn pháp luật hay hợp đồng tư vấn pháp luật cho doanh nghiệp được thực hiện không nhằm mục đích lợi nhuận. - Phạm vi nghiên cứu thực tiễn thực hiện hợp đồng tư vấn pháp luật cho doanh nghiệp được giới hạn trong các vấn đề về thù lao và cách tính phí của luật sư, tiêu chuẩn xác định chất lượng công việc và nghiệm thu công việc. - Phạm vi nghiên cứu về thời gian được giới hạn trong vòng 10 năm trở lại đây. - Phạm vi thực tiễn giao kết và thực hiện hợp đồng tư vấn pháp luật cho doanh nghiệp chỉ trong giới hạn lãnh thổ Việt Nam. 6. Phương pháp luận và các phương pháp nghiên cứu Cơ sở phương pháp luận của luận văn là quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lê Nin, tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật; đường lối, chủ trương của Đảng và Nhà nước ta về đổi mới và hoàn thiện hệ thống pháp luật, 4 cải cách tư pháp; lý thuyết về quan hệ pháp luật, lý thuyết về hợp đồng dân sự, lý thuyết về hợp đồng dịch vụ thương mại, lý thuyết về tự do hợp đồng. Ngoài ra, trong chừng mực nhất định, luận văn còn áp dụng thuyết về thông tin bất cân xứng, thuyết về phòng ngừa rủi ro và phân chia rủi ro. Trong quá trình nghiên cứu luận văn đã sử dụng một số phương pháp như phương pháp phân tích tổng hợp để làm rõ những nội dung chủ yếu trong chương 1, phương pháp quan sát và khảo cứu thực tiễn áp dụng cho chương 2. 7. Kết cấu của Luận văn Ngoài mở đầu, kết luận và danh mục các tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn có 3 chương. Chương 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về hợp đồng tư vấn pháp luật cho doanh nghiệp tại Việt Nam. Chương 2: Thực trạng pháp luật Việt Nam về hợp đồng tư vấn pháp luật cho doanh nghiệp. Chương 3: Định hướng và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về hợp đồng tư vấn pháp luật cho doanh nghiệp. 5 Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ HỢP ĐỒNG TƯ VẤN PHÁP LUẬT CHO DOANH NGHIỆP TẠI VIỆT NAM 1.1. KHÁI QUÁT VỀ TƯ VẤN PHÁP LUẬT VÀ NHU CẦU TƯ VẤN PHÁP LUẬT CỦA DOANH NGHIỆP 1.1.1. Khái niệm hoạt động tư vấn pháp luật Trong phạm vi nghiên cứu đề tài này tư vấn được tiếp cận với tư cách là một dịch vụ, với nhiều lĩnh vực chuyên môn, như cách tiếp cận trong đề tài luận văn này. 1.1.1.1. Hoạt động tư vấn pháp luật Hiện nay còn có nhiều cách tiếp cận và định nghĩa khác nhau về tư vấn pháp luật. Tuy nhiên, từ góc độ lý luận và thực tiễn, tư vấn pháp luật được hiểu là việc giải đáp pháp luật, hướng dẫn cá nhân, tổ chức trong nước và nước ngoài xử sự đúng pháp luật; cung cấp dịch vụ pháp lý giúp cho các cá nhân, tổ chức thực hiện và bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Tư vấn pháp luật là một trong những dịch vụ pháp lý đóng vai trò quan trọng và không thể thiếu trong nền kinh tế thị trường. Hoạt động tư vấn pháp luật không chỉ bao gồm việc chuyển tải nội dung của một điều luật, một văn bản pháp luật, hoặc cung cấp thông tin về những quy định pháp luật có liên quan mà còn là việc đưa ra giải đáp pháp lý, giải pháp pháp lý cho một tình huống cụ thể, định hướng cho hành xử đúng và hoặc không trái pháp luật, nhằm giúp cá nhân, tổ chức trong nước và quốc tế thực hiện và bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ. Tư vấn pháp luật là một hoạt động sử dụng trí tuệ của những chuyên gia trong lĩnh vực pháp luật là hoạt động mang tính chất lao động trí óc bằng việc sử dụng chất xám, đòi hỏi người tư vấn phải có kỹ năng và sự hiểu biết pháp luật một cách sâu rộng 6 cũng như phải có đạo đức hành nghề, phải có lương tâm và trách nhiệm. Đây là cách hiểu phổ biến nhất về “tư vấn pháp luật” và thuật ngữ này thường được sử dụng với ý nghĩa đó trong các văn bản pháp luật ở nước ta hiện nay. Cách hiểu này đã phần nào phản ảnh được bản chất của hoạt động tư vấn. Khác với việc tham gia tranh tụng với tư cách là người bào chữa hoặc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, người tư vấn không trực tiếp tham gia vào quá trình tố tụng mà chỉ sử dụng kiến thức pháp lý của mình tư vấn trực tiếp bằng lời nói cho khách hàng hoặc tư vấn bằng văn bản thể hiện bằng thư tư vấn. Ở nước ta hiện nay không có sự phân biệt luật sư tranh tụng và luật sư tư vấn, nên một luật sư có thể thực hiện dịch vụ pháp lý cho khách hàng xuyên suốt quá trình từ tư vấn đến tranh tụng. Theo tiêu chí hình thức, tư vấn được chia thành tư vấn trực tiếp bằng văn bản và tư vấn bằng thư tư vấn; theo lĩnh vực, tư vấn pháp luật được chia theo ngành luật, mối quan hệ pháp luật như tư vấn doanh nghiệp, hợp đồng... Hoạt động tư vấn pháp luật có thể chia thành hai dạng: thứ nhất là hoạt động hành nghề của luật sư dưới tư cách cá nhân hoặc làm việc trong tổ chức hành nghề luật sư (dạng hoạt động này là hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận, dù có thể có hoạt động miễn phí, phi lợi nhuận cho một số đối tượng) và thứ hai là hoạt động tư vấn pháp luật khác (sẽ được nói rõ hơn trong phần 1.1.3.2). * Hoạt động hành nghề của luật sư Luật Luật sư 2006 đã xác định hoạt động tư vấn pháp luật là một trong những dịch vụ pháp lý cơ bản của luật sư, theo quy định tại Điều 4: “Dịch vụ pháp lý của luật sư bao gồm tham gia tố tụng, tư vấn pháp luật, đại diện ngoài tố tụng cho khách hàng và các dịch vụ pháp lý khác” [38, Điều 4]. Việc tư vấn pháp luật cũng nằm trong phạm vi hành nghề của luật sư quy định tại Khoản 3 Điều 22, cho phép luật sư hành nghề được thực hiện tư vấn pháp luật. 7 Tuy nhiên, khái niệm cụ thể cho hoạt động tư vấn pháp luật của luật sư chỉ được nêu ra đầy đủ như sau: “Tư vấn pháp luật là việc luật sư hướng dẫn, đưa ra ý kiến, giúp khách hàng soạn thảo các giấy tờ liên quan đến việc thực hiện quyền, nghĩa vụ của họ” [38, Điều 28]. Tư vấn pháp luật được coi là “việc giải đáp pháp luật, hướng dẫn ứng xử đúng pháp luật, cung cấp dịch vụ pháp lý nhằm giúp khách hàng thực hiện và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của họ” [21, tr.10]. Hoạt động tư vấn của luật sư là hoạt động đòi hỏi trí óc cẩn thận, nghiên cứu tình huống và các vấn đề pháp lý có liên quan một cách sâu sắc và cả kinh nghiệm hoạt động lâu năm trong lĩnh vực pháp lý. Nói chung, để giải đáp thắc mắc về pháp luật cho khách hàng, luật sư thường phải làm được hai việc. Thứ nhất, luật sư cần cung cấp các thông tin pháp lý có liên quan đến tình huống của khách hàng, nói cách khác là pháp luật quy định như thế nào về trường hợp cụ thể mà khách hàng đề nghị luật sư tư vấn hay điều mong muốn của khách hàng có hợp pháp không, có thể thực hiện được không, trình tự thủ tục pháp lý được thực hiện như thế nào… Thứ hai, luật sư phải đưa ra được chính kiến của mình bằng việc đưa ra các chỉ dẫn và lời khuyên cho khách hàng. Trong đó, luật sư chỉ cho khách hàng thấy được những ưu điểm, nhược điểm của mình, đưa ra các phương án giải quyết, đánh giá mức độ rủi ro, cách thức phòng tránh và ngăn ngừa rủi ro để khuyên khách hàng nên hành động hay không nên hành động. Tóm lại, với hoạt động tư vấn của mình, luật sư đóng vai trò định hướng cho khách hàng chính bằng việc chỉ dẫn cách thức hành động cụ thể. Hoạt động tư vấn pháp luật của luật sư không phải là hoạt động tuyên truyền pháp luật, tuy vậy, thông qua quá trình tư vấn pháp luật của mình, luật sư cũng góp phần tuyên truyền, phổ biến, giải thích pháp luật nhằm nâng cao nhận thức và ý thức pháp luật cho các đối tượng trong cộng đồng xã hội. Hoạt 8 động tư vấn pháp luật là cầu nối giữa người xây dựng pháp luật, áp dụng pháp luật, thực thi pháp luật và các công dân, tổ chức – đối tượng của việc áp dụng pháp luật. Mặt khác, các luật sư cũng phát hiện được những lỗ hổng của pháp luật, từ đó, có những kiến nghị kịp thời để sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện hệ thống pháp luật cho phù hợp với thực tiễn đời sống kinh tế xã hội cũng như nguyện vọng của người dân. * Hoạt động tư vấn pháp luật của các chủ thể khác Hoạt động tư vấn pháp luật cho các đối tượng trong xã hội còn có một số dạng sau đây. - Hoạt động tư vấn pháp luật của luật sư hành nghề dưới tư cách cá nhân làm việc theo hợp đồng lao động trong các tổ chức Những năm gần đây, một số doanh nghiệp lớn có điều kiện đã xây dựng phòng pháp chế hoặc ban pháp chế để giải quyết trực tiếp những vấn đề pháp lý trong hoạt động của tổ chức. Luật sư làm việc tại các phòng (ban) pháp chế này là những luật sư hành nghề với tư cách cá nhân, họ làm nhiệm vụ thực hiện các công việc mang tính pháp lý cho doanh nghiệp, trong đó có nhiệm vụ tư vấn pháp luật. Việc một số luật sư hành nghề làm việc tại phòng (ban) pháp chế này cũng bao gồm hoạt động tư vấn pháp luật. Tuy nhiên, mối quan hệ giữa luật sư và doanh nghiệp ở đây có sự phụ thuộc về tổ chức. Hoạt động tư vấn của các luật sư hành nghề với tư cách cá nhân này được thực hiện theo hợp đồng lao động ký kết giữa luật sư với doanh nghiệp chứ không phải bằng hợp đồng tư vấn pháp luật trong phạm vi nghiên cứu của đề tài. - Hoạt động tư vấn pháp luật của Trung tâm tư vấn pháp luật Từ trước khi vai trò của người hành nghề chuyên nghiệp là luật sư được xác định rõ ràng thì các luật gia và cán bộ hiểu biết pháp luật trong các tổ chức đoàn thể xã hội đã từng bước thực hiện công việc giải thích pháp luật, tư vấn giải quyết các vướng mắc về mặt pháp lý, làm trung gian hòa giải trong 9 các vụ tranh chấp dân sự… Mặt khác, họ còn làm tình nguyện viên về công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục cho nhân dân. Theo quy định tại Nghị đinh số 65/2003/NĐ-CP ngày 11/6/2003 của Chính phủ về tổ chức hoạt động tư vấn pháp luật và Nghị định 77/2008/NĐ-CP ngày 16/7/2008 về tư vấn pháp luật (thay thế Nghị định số 65), Thông tư số 01/2010/TT-BTP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Nghị định 77 về tư vấn pháp luật thì: các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, cơ sở nghiên cứu chuyên ngành luật (gọi chung là tổ chức chủ quản) được quyền thành lập các Trung tâm tư vấn pháp luật để thực hiện tư vấn miễn phí cho thành viên, hội viên, đoàn viên của tổ chức chủ quản. Hoạt động tư vấn của Trung tâm tư vấn pháp luật được chia thành hai hình thức là tư vấn pháp luật miễn phí và tư vấn pháp luật có thù lao.  Tư vấn pháp luật miễn phí được thực hiện với những đối tượng là thành viên, hội viên, đoàn viên của tổ chức chủ quản, ngoài ra còn có người nghèo và các đối tượng được hưởng chính sách ưu đãi của pháp luật mà Nhà nước khuyến khích Trung tâm tư vấn miễn phí.  Tư vấn pháp luật có thù lao được thực hiện với đối tượng là cá nhân, tổ chức khác có yêu cầu tư vấn pháp luật - thù lao này do tổ chức chủ quản quy định và phải có niêm yết tại trụ sở Trung tâm, được dùng để bù đắp chi phí cho các hoạt động của Trung tâm. Việc thu thù lao được thực hiện trên cơ sở hợp đồng dịch vụ pháp luật được lập thành văn bản, trừ những việc tư vấn đơn giản được thực hiện thông qua phiếu yêu cầu của khách hàng. Tuy nhiên, hoạt động tư vấn pháp luật quy định tại Nghị định 77 này được khẳng định là hoạt động mang tính chất xã hội, không nhằm mục đích thu lợi nhuận. Điều này được quy định cụ thể tại ngay Điều 1 của Nghị định. Trung tâm tư vấn pháp luật có thể thực hiện việc tư vấn pháp luật có 10 thù lao nhưng chỉ là để bù đắp chi phí hoạt động cho hoạt động của trung tâm. Cơ cấu tổ chức và quy chế hoạt động của trung tâm tư vấn pháp luật do tổ chức chủ quản quyết định. Đây là điểm hạn chế và khác biệt so với hoạt động tư vấn pháp luật của luật sư, do các luật sư hoạt động tư vấn pháp luật với mục đích cơ bản là thu lợi nhuận và được tự chủ nhiều hơn trong hoạt động của mình. Ngoài ra, người được thực hiện hoạt động tư vấn pháp luật tại các trung tâm không đòi hỏi yêu cầu phải có Chứng chỉ hành nghề luật sư, đó có thể là tư vấn viên có bằng cử nhân luật hoặc có thể là luật sư làm việc với trung tâm theo hợp đồng lao động. Tóm lại, hoạt động tư vấn pháp luật tại các trung tâm tư vấn pháp luật thiếu tính chuyên nghiệp so với hoạt động tư vấn pháp luật của luật sư. Như vậy, phần này đã lí giải rõ hơn phạm vi nghiên cứu của đề tài xoay quanh hoạt động tư vấn pháp luật của luật sư là hoạt động mang tính thương mại, vì mục đích lợi nhuận, chứ không nghiên cứu hoạt động tư vấn pháp luật dưới các dạng khác. 1.1.1.2. Đặc điểm của hoạt động tư vấn pháp luật Hoạt động tư vấn pháp luật có một số đặc điểm sau đây: - Nội dung tư vấn là những vấn đề liên quan đến pháp luật. Luật sư là người có chuyên môn trong lĩnh vực pháp luật, với sự hiểu biết các quy định pháp luật của Nhà nước, còn doanh nghiệp khách hàng lại là người cần áp dụng các quy định pháp luật của Nhà nước vào hoạt động của mình một cách thường xuyên. Vì vậy, những vụ việc doanh nghiệp đặt ra với yêu cầu luật sư cần giải quyết vụ việc này đều là những vụ việc liên quan đến các hiểu biết pháp luật, cần có kiến thức và kinh nghiệm áp dụng các quy định pháp luật của luật sư. - Tư vấn pháp luật là hoạt động trí óc có chuyên môn cao. Đây là hoạt động trí óc yêu cầu chuyên môn cao của luật sư, xuất phát 11 từ trí tuệ, hoạt động của chất xám mà luật sư cung cấp cho khách hàng của mình theo thỏa thuận những thông tin, giải pháp thích hợp để giải quyết vấn đề của khách hàng. Luật sư cần phải đầu tư thời gian nghiên cứu vụ việc, sau đó, kết hợp với thông tin, kiến thức, kinh nghiệm sẵn có của mình để đưa ra các giải pháp giải quyết vấn đề cho doanh nghiệp khách hàng lựa chọn. Luật sư phải nhìn rõ những ưu và khuyết điểm của các giải pháp, giúp doanh nghiệp hiểu rõ giải pháp mình lựa chọn sẽ có những kết quả gì. Thêm vào đó, hoạt động tư vấn pháp luật không chỉ liên quan đến hiểu biết và kỹ năng về một lĩnh vực chuyên môn nào đó, nó còn phụ thuộc vào những hiểu biết và một số kỹ năng khác như kỹ năng cập nhập thông tin, kỹ năng phát hiện thông tin, kỹ năng lựa chọn thông tin và kỹ năng truyền đạt, chuyển giao thông tin cho khách hàng. - Hoạt động tư vấn pháp luật là quá trình chia sẻ thông tin giữa các bên. Đối với những vụ việc đơn giản, doanh nghiệp có thể chỉ cần hỏi luật sư một lần là có giải pháp giải quyết vấn đề. Tuy vậy, nhiều vụ việc trong kinh doanh mang tính phức tạp cao, doanh nghiệp phải thường xuyên chia sẻ các thông tin mới, tình hình mới của vụ việc cho luật sư; ngược lại, không chỉ khi có những thay đổi về pháp luật, luật sư luôn cần có sự trao đổi thông tin với khách hàng. Vì vậy, luật sư và khách hàng cần có mối quan hệ trao đổi, chia sẻ thông tin một cách liên tục, thường xuyên. - Đối tượng của hoạt động tư vấn pháp luật luôn cụ thể và xác định, sản phẩm có tính khả thi và có hiệu quả. Khi tìm đến luật sư, doanh nghiệp luôn có những nhu cầu xác định rõ ràng để được luật sư tư vấn dù đó là vụ việc cụ thể hay không. doanh nghiệp mong muốn luật sư có thể chỉ ra cho mình cách giải quyết trong các trường hợp nhất định đó. Vì vậy, sản phẩm mà luật sư đưa lại cho doanh nghiệp thì doanh nghiệp phải áp dụng được và áp dụng một cách có hiệu quả. 12 - Yếu tố cơ bản được cung cấp trong hoạt động tư vấn là thông tin tri thức, giải pháp để giải quyết vấn đề. Điều mà luật sư đưa lại cho doanh nghiệp, là lý do doanh nghiệp phải gặp luật sư chính là những thông tin, tri thức và giải pháp mà luật sư có thể đưa ra được còn doanh nghiệp thì không thể tự mình đưa ra được. Đây là yếu tố cơ bản tạo mối quan hệ giữa hai bên. - Kết quả của hoạt động tư vấn pháp luật có tính chất kép đối với người sử dụng. Kết quả của hoạt động tư vấn pháp luật không chỉ trực tiếp giúp giải quyết vấn đề mà doanh nghiệp đặt ra; đồng thời, nó còn gián tiếp nâng cao năng lực cho doanh nghiệp sau khi tiếp cận với các kiến thức, thông tin từ luật sư. Về lâu dài, điều này sẽ nâng cao ý thức pháp luật, khả năng áp dụng, thực hiện pháp luật của doanh nghiệp. - Hiệu quả của sản phẩm có phụ thuộc vào bên thứ ba. Luật sư giúp doanh nghiệp giải quyết vấn đề, hay đúng ra, là giải quyết những vấn đề của doanh nghiệp với bên thứ ba. Vì vậy, hiệu quả của giải pháp mà luật sư đưa ra không chỉ phụ thuộc vào doanh nghiệp mà còn có thể ảnh hưởng bởi một số đối tượng khác. 1.1.2. Nhu cầu tư vấn pháp luật của doanh nghiệp Trong thời buổi hiện nay, nền kinh tế mở cửa, hội nhập, mang định hướng thị trường đã tạo ra rất nhiều cơ hội cho các chủ thể tham gia các hoạt động sản xuất, kinh doanh thu lợi nhuận. Đặc biệt hơn, môi trường luật pháp trong nước cũng đem đến nhiều thuận lợi cho các chủ thể dễ dàng, chủ động hơn trong hoạt động sản xuất, kinh doanh. Một trong số đó phải kể đến những quy định pháp luật về việc đăng ký doanh nghiệp. Trong những năm vừa qua, trên địa bàn cả nước đã có nhiều hơn những trường hợp thành lập mới doanh nghiệp mà chủ yếu là các doanh nghiệp nhỏ và vừa, phản ánh sự phù hợp với khả năng, nhu cầu thành lập doanh nghiệp của các thương nhân. 13 Đối với đa số những doanh nghiệp khi mới thành lập đều gặp phải rất nhiều những khó khăn trong việc nắm bắt, hiểu và áp dụng các quy định của pháp luật đối với các vấn đề cơ bản như quản trị doanh nghiệp, xây dựng chính sách điều hành nội bộ doanh nghiệp… Các doanh nghiệp khi thành lập tại những địa phương có điều kiện kinh tế - xã hội kém phát triển cũng gặp phải những trở ngại trong hoạt động sản xuất, kinh doanh do môi trường kinh doanh tại địa phương đó kém phát triển, khả năng cạnh tranh thấp và quan trọng hơn cả là khả năng thực hiện các quy định pháp luật bị hạn chế. Các doanh nghiệp này ít có cơ hội được tiếp cận các thông tin, chủ trương, chính sách của Nhà nước, các quy định pháp luật và đồng thời khi gặp những vướng mắc trong pháp luật thì họ không biết tìm cách giải quyết như thế nào, đây cũng là một trong những lý do khiến cho các doanh nghiệp sau khi được thành lập rất khó duy trì được hoạt động lâu dài. Bản thân những doanh nghiệp đã hoạt động được một thời gian cũng có thể gặp phải những khó khăn nhất định về mặt pháp lý như đối với sự sửa đổi, thay thế mới những quy định của pháp luật, doanh nghiệp thiếu chiến lược thích nghi với những sự sửa đổi, thay thế đó trong thời kỳ hoạt động của mình; bản thân doanh nghiệp cũng chưa có phương hướng và biện pháp giải quyết hiệu quả các tranh chấp với các đối tác cho phù hợp với các quy định của pháp luật; hay doanh nghiệp cũng có thể bị rơi vào tình trạng không nắm bắt kịp thời và đầy đủ các thông tin pháp lý về thị trường đầu tư trong nước cũng như nước ngoài. Có rất nhiều phương pháp để có thể giúp doanh nghiệp khắc phục những tình trạng trên như xây dựng các cổng thông tin có cập nhật liên tục về các quy định của pháp luật ứng với chuyên môn doanh nghiệp, tổ chức các chương trình nhằm phổ biến, bồi dưỡng hiểu biết, kiến thức về pháp luật kinh doanh, thương mại cho các doanh nghiệp… Tuy nhiên, bên cạnh đó, phương pháp sử dụng dịch vụ tư vấn pháp luật cho doanh nghiệp từ phía các luật sư 14 hay tổ chức hành nghề luật sư tỏ ra phù hợp hơn cả đối với khả năng cũng như tình hình cụ thể của từng doanh nghiệp. Đây cũng là xu hướng chung khi mà các doanh nghiệp luôn mong muốn có một đối tác tin cậy có thể theo sát, hỗ trợ doanh nghiệp trong các thủ tục giấy tờ, hồ sơ ngay từ khi mới thành lập hay khi thực hiện các nghĩa vụ với Nhà nước; hỗ trợ doanh nghiệp thực hiện các quy định của pháp luật trong tổ chức, quản lý nội bộ doanh nghiệp, tài chính doanh nghiệp, lao động trong doanh nghiệp hay tư vấn cho doanh nghiệp trong các hoạt động đặc thù về kinh doanh, thương mại như tư vấn hợp đồng, tư vấn đầu tư và đặc biệt là hoạch định, tư vấn kịp thời cho doanh nghiệp các phương án trong trường hợp xảy ra tranh chấp giữa doanh nghiệp với bên đối tác khác. Thực tế cũng cho thấy rằng, tuy hiện nay một bộ phận các doanh nghiệp có lập riêng phòng (ban) pháp chế để chủ động thực hiện các quy định pháp luật. Những nhân viên trong phòng (ban) pháp chế này có thể là các cử nhân ngành luật học, thậm chí có những doanh nghiệp thuê cả luật sư làm tư vấn cho hoạt động của họ dưới hình thức hợp đồng lao động (trường hợp này chưa phổ biến nhiều). Tuy nhiên, biện pháp này cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro như bản thân doanh nghiệp có thể hiểu chưa đúng quy định pháp luật dẫn đến áp dụng không đúng. Đồng thời, việc tự tìm hiểu, thực hiện các quy định pháp luật đòi hỏi doanh nghiệp phải có năng lực chuyên môn cao trong hiểu biết pháp luật. Điều này không phải doanh nghiệp nào cũng đáp ứng được. Do đó, ngày càng nhiều các doanh nghiệp sử dụng một biện pháp khác đơn giản nhưng đảm bảo hiệu quả hơn đó là giao kết và thực hiện hợp đồng tư vấn pháp luật cho doanh nghiệp với riêng các luật sư, các tổ chức hành nghề luật sư để hỗ trợ tốt nhất cho hoạt động sản xuất, kinh doanh của mình. Xuất phát từ nhu cầu thực tế của việc phát triển nền kinh tế xã hội, ngày càng nhiều những tổ chức hành nghề luật sư được thành lập, ngày càng 15 nhiều hơn những luật sư được cấp phép hành nghề và điều này tạo ra sự cạnh tranh ngày một mạnh mẽ trong việc cung cấp dịch vụ pháp lý cho các doanh nghiệp mà cụ thể ở đây là dịch vụ tư vấn pháp luật cho doanh nghiệp. Hoạt động tư vấn pháp luật được thực hiện dưới hai hình thức sau:  Tư vấn trực tiếp bằng lời nói, nghĩa là luật sư phải trả lời các yêu cầu của khách hàng dưới hình thức lời nói (thông qua giao tiếp trực tiếp), được áp dụng đối với các vụ việc có tính chất đơn giản. Trong trường hợp này, doanh nghiệp sẽ đến gặp luật sư trực tiếp để trình bày vụ việc của họ; luật sư sẽ xem xét vụ việc của doanh nghiệp và tìm ra giải pháp để bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho doanh nghiệp. Hình thức này có ưu điểm là nhanh chóng và hiệu quả với các vụ việc đơn giản.  Tư vấn bằng văn bản, nghĩa là luật sư trả lời các yêu cầu của doanh nghiệp dưới hình thức văn bản (có thể thông qua giao tiếp trực tiếp nhưng doanh nghiệp đề nghị luật sư trả lời bằng văn bản, hoặc thông qua đơn, thư, chuyển fax… doanh nghiệp nêu rõ các yêu cầu cho luật sư và được luật sư hồi đáp). Trong trường hợp này, luật sư có cơ hội nghiên cứu hồ sơ vụ việc một cách kỹ càng và chính xác hơn, từ đó, đưa ra những giải pháp hữu hiệu cho doanh nghiệp. Hình thức này sẽ đòi hòi các luật sư phải làm việc cẩn thận hơn, chu đáo hơn; văn bản luật sư đưa ra phải có độ chính xác cao, có căn cứ pháp lý và đúng pháp luật. Hình thức tư vấn bằng văn bản tuy mất nhiều thời gian hơn tư vấn bằng lời nói nhưng cũng dễ làm, đạt hiệu quả cao và độ chính xác cao. Hoạt động tư vấn pháp luật như đã trình bày phần trên cần được các bên (luật sư, tổ chức hành nghề luật sư và doanh nghiệp, theo phạm vi nghiên cứu của đề tài) thực hiện dưới hình thức pháp lý nhất định. Đó chính là hợp đồng tư vấn pháp luật cho doanh nghiệp. 16
- Xem thêm -