Tài liệu Nhịp văn xuôi trong ký nguyễn tuân

  • Số trang: 148 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 44 |
  • Lượt tải: 0
bangnguyen-hoai

Đã đăng 3509 tài liệu

Mô tả:

1 ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM –––––––––––––––––– NGUYỄN THANH NGA NHỊP VĂN XUÔI TRONG KÝ NGUYỄN TUÂN LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC THÁI NGUYÊN, NĂM 2010 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 2 ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM –––––––––––––––––– NGUYỄN THANH NGA NHỊP VĂN XUÔI TRONG KÝ NGUYỄN TUÂN CHUYÊN NGÀNH: NGÔN NGỮ HỌC MÃ SỐ: 60 22 01 LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC Giáo viên hƣớng dẫn: TS. HOÀNG CAO CƢƠNG THÁI NGUYÊN, NĂM 2010 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 3 LỜI CẢM ƠN Sau một thời gian học tập và nghiên cứu, tôi đã hoàn thành luận văn thạc sỹ Ngôn ngữ học với đề tài: “Nhịp văn xuôi trong ký Nguyễn Tuân”. Để thực hiện được luận văn, ngoài sự nỗ lực, cố gắng của bản thân tôi đã được sự dạy bảo, động viên giúp đỡ của các thầy cô giáo, bạn bè đồng nghiệp và gia đình. Tôi xin bày tỏ sự kính trọng và lòng biết ơn sâu sắc đến TS. Hoàng Cao Cương người đã tận tình hướng dẫn chỉ bảo tôi trong quá trình thực hiện đề tài. Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, khoa Sau đại học, Ban chủ nhiệm khoa Ngữ văn, các thầy cô giáo trường đại học Sư phạm Thái Nguyên đã tạo đều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu. Tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới gia đình và người thân, xin cảm ơn anh em bạn bè và đồng nghiệp đã động viên giúp đỡ tôi thực hiện thành công luận văn này. Thái Nguyên, ngày 20 tháng 08 năm 2010 Tác giả luận văn Nguyễn Thanh Nga Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 4 MỤC LỤC MỞ ĐẦU ....................................................................................................... 1 1. Lí do chọn đề tài ..................................................................................... 1 2. Lịch sử vấn đề ........................................................................................ 2 3. Mục đích nghiên cứu .............................................................................. 3 3.1. Mục đích nghiên cứu ....................................................................... 3 3.2. Đối tượng nghiên cứu ...................................................................... 3 4. Nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu ........................................................... 3 4.1. Nhiệm vụ nghiên cứu ....................................................................... 3 4.2. Phạm vi nghiên cứu ......................................................................... 4 5. Phương pháp nghiên cứu ........................................................................ 4 6. Đóng góp của luận văn ........................................................................... 4 7. Cấu trúc luận văn .................................................................................... 4 Chƣơng 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN ....................................................................... 5 1.1. Nguyễn Tuân và thể ký ........................................................................ 5 1.2. Giới thiệu một số thuật ngữ có liên quan trực tiếp tới đề tài ............... 10 1.2.1. Ký ............................................................................................... 10 1.2.2. Nhịp điệu .................................................................................... 16 1.2.2.1. Nhịp điệu là gì?............................................................... 16 1.2.2.2. Nhịp văn xuôi và nhịp trong văn xuôi Việt Nam .............. 18 1.2.2.3. Nhịp điệu với nhạc tính và hình tượng trong văn xuôi ..... 26 1.2.3. Một số phương thức chính thường gặp trong văn xuôi có nhịp ... 30 1.2.3.1. Lặp Ngữ âm.................................................................... 31 1.2.3.2. Lặp Từ vựng ................................................................... 32 1.2.3.3. Lặp Cú pháp................................................................... 34 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 5 1.2.3.4. Phép Đối ........................................................................ 38 1.2.3.5. Cấu trúc Sóng đôi .......................................................... 39 1.2.3.6. Câu đơn Đặc biệt ........................................................... 40 1.2.3.7. Trường cú ...................................................................... 42 Chƣơng 2. NGUYỄN TUÂN TẠO NHỊP CHO KÝ ................................. 45 2.1. Nhận xét chung .................................................................................. 45 2.2. Ví dụ minh họa .................................................................................. 48 2.2.1. Lặp Ngữ âm ................................................................................ 48 2.2.2. Lặp Từ vựng ............................................................................... 49 2.2.3. Lặp Cú pháp ............................................................................... 49 2.2.4. Phép đối ..................................................................................... 50 2.2.5. Cấu trúc sóng đôi........................................................................ 50 2.2.6. Câu đơn Đặc biệt ........................................................................ 51 2.2.7. Trường cú ................................................................................... 51 2.3. Nhận xét bước đầu về cách tạo nhịp của Nguyễn Tuân trong ký ........ 52 2.4. Tiểu kết ............................................................................................. 57 Chƣơng 3. TÌM HIỂU VAI TRÒ CỦA NHỊP ĐIỆU TRONG KÝ NGUYỄN TUÂN ...................................................................... 58 3.1. Tăng cường tiết nhịp nhằm gây ấn tượng nhạc điệu ........................... 58 3.2. Tăng cường tiết nhịp nhằm liên kết chặt văn bản ............................... 63 3.3. Tăng cường tiết nhịp nhằm nhấn mạnh chủ đề ................................... 71 3.4. Tiểu kết ............................................................................................. 77 KẾT LUẬN ................................................................................................. 78 DANH MỤC TÁC GIẢ, TÁC PHẨM ....................................................... 80 TÀI LIỆU THAM KHẢO.......................................................................... 81 PHỤ LỤC.................................................................................................... 84 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 1 MỞ ĐẦU 1. Lí do chọn đề tài 1.1. Maiacốpxki từng nói Nhịp điệu là sức mạnh chủ yếu, là năng lượng chủ yếu của câu thơ. Tuy nhiên, nhịp điệu không là đặc quyền chỉ của thơ. Trong văn xuôi cũng tồn tại nhịp điệu. Nhịp trong văn xuôi không gò bó quá như trong thơ mà tương đối tự do. Văn xuôi có nhịp điệu thường gặp, đặc biệt trong "văn xuôi có chất thơ " (prose poetique). Chưa ai xác định được ranh giới giữa văn xuôi có nhịp điệu và văn xuôi thông thường nên chỉ có thể hiểu nhịp điệu là sự phân bố chỗ ngắt giọng, âm thanh bằng trắc, điểm dừng có vai trò thẩm mỹ, tuy rằng nó độc lập với các vần, luật thơ. Việc nghiên cứu về nhịp điệu của văn xuôi tuy khó khăn hơn, song lại là công việc rất nên được quan tâm, bởi vì thực tiễn văn chương cho thấy nhiều áng văn xuôi khi đưa được nhịp điệu vào thì sức lan tỏa trở nên rộng lớn hơn, biểu cảm mạnh hơn. Những bài ký của Nguyễn Tuân, Thép Mới, Nguyễn Trung Thành, Hoàng Phủ Ngọc Tường, v.v… Chính là những mẫu mực ngày nay cho cách dùng văn chương có nhịp điệu. 1.2. Nguyễn Tuân là một trong chín nhà văn được chọn học trong chương trình phổ thông với tư cách là tác gia tiêu biểu của nền văn học Việt Nam hiện đại. Ông là một trong số không nhiều nhà văn đã tạo được cho mình một phong cách sáng tạo nghệ thuật độc đáo và có nhiều cống hiến cho văn chương Việt Nam thế kỉ XX. Nguyễn Tuân để lại một sự nghiệp văn học đồ sộ với những trang viết độc đáo và tài hoa. Ông xứng đáng được coi là một nghệ sĩ lớn. Năm 1996, ông được Nhà nước tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật (đợt 1). Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 2 Văn nghiệp của Nguyễn Tuân trải qua hai giai đoạn trước và sau cách mạng. Với thể loại ký, Nguyễn Tuân đã tìm được cho mình một hướng đi riêng, mà cho đến nay chưa ai vượt được. Ông được tôn vinh là nhà tùy bút số một Việt Nam. Ông để lại được dấu ấn và tên tuổi của mình chính nhờ thể loại này. 1.3. Nguyễn Tuân là nhà văn luôn có ý thức khám phá và cống hiến tài năng của mình cho văn chương. Ông đã từng thử sức ngòi bút của mình qua nhiều thể loại: thơ, truyện ngắn, tiểu thuyết…. nhưng tuỳ bút là thể loại mà ông thành công nhất. Từ trước tới nay đã có nhiều công trình khảo sát, nghiên cứu về sáng tác của Nguyễn Tuân ở nhiều góc độ khác nhau. Song, để tìm hiểu và nghiên cứu chuyên sâu vào nhịp điệu văn xuôi trong ký Nguyễn Tuân, làm rõ hơn phong cách Nguyễn Tuân thì chưa có công trình nào thực hiện một cách hệ thống. Bên cạnh đó, với tinh thần đổi mới phương pháp và quan điểm dạy học môn Ngữ văn trong nhà trường phổ thông là chú ý tích hợp các phương diện nghệ thuật liên quan đến tác phẩm văn học, chúng tôi đã chọn nhịp điệu trong thể ký của Nguyễn Tuân để nghiên cứu. 2. Lịch sử vấn đề Nhịp và nhạc điệu trong tác phẩm văn chương trong thơ ca truyền thống thường được bàn thông qua các nguyên tắc về niêm, luật trong thi ca. Nhịp và nhạc điệu trong văn xuôi ít được bàn luận hơn, do chỗ các sáng tác trong truyền thống đa phần là thi ca hoặc bị thi ca hóa (lối văn bát cổ). Đây là đặc trưng của thi pháp trung đại (Trần Đình Sử, Phan Ngọc). Trong thời cận và hiện đại, khi văn xuôi thực sự có chỗ đứng trên văn đàn, nhịp và nhạc điệu tồn tại như một thực tế tự nhiên, nhưng vẫn chưa được các nhà lí luận quan tâm bởi các lí do sau đây: - Ranh giới giữa thơ và văn, giữa văn vần và thơ trong thực tế chưa hẳn đã rõ ràng. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 3 - Khi bàn về thơ, người ta chú ý nhiều đến số lượng chữ trong dòng, cách gieo vần, nhưng chưa chú ý thoả đáng đến cắt nhịp và vai trò của nhịp. - Đặc trưng loại hình ngôn ngữ, tiếng Việt là ngôn ngữ đơn lập, ảnh hưởng nhiều đến tri nhận thi ca: hầu như mỗi tiếng, do đặc điểm ngữ nghĩa có tính độc lập tương đối, đều có thể được tách ra để tạo thành chân, thành nhịp tương đương với hai đơn vị cơ bản của nhạc điệu phổ quát. - Tài liệu lí luận về nhịp trong văn xuôi chưa nhiều. 3. Mục đích nghiên cứu 3.1. Mục đích nghiên cứu Mục đích của công trình là tìm hiểu đặc trưng và hiệu quả của nhịp điệu trong ký Nguyễn Tuân. Qua đó, mong muốn bước đầu khắc họa được thần thái của ký Nguyễn Tuân và phong cách nghệ thuật của ông. Đề tài giúp cho việc hiểu tác phẩm ký của Nguyễn Tuân chân xác hơn và giúp cho việc giảng dạy, học tập về Nguyễn Tuân ở các bậc học có kết quả tốt hơn. 3.2. Đối tượng nghiên cứu Đối tượng của công trình này là nhịp điệu trong các tác phẩm ký sau 1945 của Nguyễn Tuân. 4. Nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu 4.1. Nhiệm vụ nghiên cứu Để đạt được mục đích nghiên cứu, luận văn đề ra những nhiệm vụ sau: Giới thiệu được những nét cơ bản về Nguyễn Tuân và thể ký. Nêu được cơ sở lí thuyết có liên quan đến đề tài, cụ thể là liên quan đến nhịp điệu và các phương thức tạo nhịp văn xuôi. Khảo sát tư liệu để tìm ra các phương thức tạo nhịp văn xuôi của ký Nguyễn Tuân. So sánh với vài tác giả ký nổi tiếng khác để thấy được nét riêng của nhịp văn xuôi trong ký Nguyễn Tuân. Chỉ ra được các tác dụng văn chương của nhịp trong ký Nguyễn Tuân. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 4 4.2. Phạm vi nghiên cứu Luận văn giới hạn trong khảo sát nhịp và tính nhạc trong 13 bài ký sau 1945 của Nguyễn Tuân, khoảng 200 trang tác phẩm. Đương nhiên để khắc họa sâu đặc tính nhịp và nhạc điệu của ông, luận văn có tiến hành so sánh ông với các tác giả ký quen thuộc khác (sau 1945) như Thép Mới, Nguyễn Trung Thành, Hoàng Phủ Ngọc Tường… 5. Phƣơng pháp nghiên cứu - Phương pháp hệ thống, phân loại - Phương pháp so sánh, đối chiếu - Phương pháp phân tích diễn ngôn - Phương pháp ứng dụng của thi pháp học 6. Đóng góp của luận văn - Đề tài luận văn là sự tiếp nối những công trình khoa học nghiên cứu về tác giả Nguyễn Tuân. Tuy nhiên, trong quá trình nghiên cứu chúng tôi cố gắng tìm ra điểm mới khi đi sâu vào mảng nhịp văn xuôi của ký Nguyễn Tuân - một lĩnh vực còn chưa được quan tâm một cách đầy đủ và hệ thống. - Đề tài Nhịp văn xuôi trong ký Nguyễn Tuân góp phần làm rõ hơn phong cách và đặc điểm thể loại ký của Nguyễn Tuân nói chung và các bài ký của ông mà luận văn đã chọn nghiên cứu nói riêng. 7. Cấu trúc luận văn Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Phụ lục và Thư mục tham khảo, luận văn gồm ba chương: Chương 1: Cơ sở lí luận Chương 2: Nguyễn Tuân tạo nhịp cho ký Chương 3: Tìm hiểu vai trò của nhịp điệu trong ký Nguyễn Tuân Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 5 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN 1.1. Nguyễn Tuân và thể ký Nguyễn Tuân (10 tháng 7 năm 1910 - 28 tháng 7 năm 1987) là một nhà văn nổi tiếng của Việt Nam. Sách giáo khoa hiện hành xếp ông vào một trong 9 tác gia của văn học Việt Nam hiện đại. Ông quê ở xã Nhân Mục (tên nôm là Mọc), thôn Thượng Đình, nay thuộc phường Nhân Chính, quận Thanh Xuân, Hà Nội. Ông sinh trưởng trong một gia đình nhà Nho khi Hán học đã tàn. Nguyễn Tuân học đến cuối bậc Thành chung (tương đương với cấp Trung học cơ sở hiện nay) thì bị đuổi vì tham gia một cuộc bãi khóa phản đối mấy giáo viên Pháp nói xấu người Việt (1929). Sau đó ít lâu ông lại bị tù vì "xê dịch" qua biên giới không có giấy phép. Ở tù ra, ông bắt đầu viết báo, viết văn. Nguyễn Tuân cầm bút từ khoảng đầu những năm 1930, nhưng nổi tiếng từ năm 1938 với các tác phẩm tùy bút, bút ký có phong cách độc đáo như Vang bóng một thời, Một chuyến đi... Năm 1941, Nguyễn Tuân lại bị bắt giam một lần nữa vì giao du với những người hoạt động chính trị. Năm 1945, Cách mạng tháng Tám thành công, Nguyễn Tuân nhiệt tình tham gia cách mạng và kháng chiến, trở thành một cây bút tiêu biểu của nền văn học mới. Từ 1948 đến 1958, ông giữ chức tổng thư ký Hội Văn nghệ Việt Nam. Các tác phẩm chính sau cách mạng của Nguyễn Tuân là tập bút ký Sông Đà (1960), một số tập ký chống Mỹ (1965-1975) và nhiều bài tuỳ bút về cảnh sắc và hương vị đất nước. Nguyễn Tuân yêu Việt Nam với những giá trị văn hóa cổ truyền của dân tộc. Ông yêu tha thiết tiếng Việt, những kiệt tác văn chương của Nguyễn Du, Đoàn Thị Điểm, Tú Xương, Tản Đà..., những nhạc điệu hoặc ca từ của các lối hát ca trù hoặc dân dã mà thiết tha, những nét đẹp rất riêng của Việt Nam. Ở Nguyễn Tuân, ý thức cá nhân phát triển rất cao. Ông viết văn trước hết để Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 6 khẳng định cá tính độc đáo của mình, tự gán cho mình một chứng bệnh gọi là "chủ nghĩa xê dịch". Lối sống tự do phóng túng của ông không phù hợp với chế độ thuộc địa (hai lần bị tù). Nguyễn Tuân là con người rất mực tài hoa. Tuy chỉ viết văn nhưng ông còn am hiểu nhiều môn nghệ thuật khác: hội hoạ, điêu khắc, sân khấu, điện ảnh... Ông còn là một diễn viên kịch nói và là một diễn viên điện ảnh đầu tiên ở Việt Nam.Ông thường vận dụng con mắt của nhiều ngành nghệ thuật khác nhau để mài sắc khả năng quan sát, diễn tả của nghệ thuật văn chương. Nguyễn Tuân là một nhà văn biết quý trọng thật sự nghề nghiệp của mình. Đối với ông, nghệ thuật là một hình thái lao động nghiêm túc, thậm chí "khổ hạnh" và ông đã lấy chính cuộc đời cầm bút hơn nửa thế kỷ của mình để chứng minh cho quan niệm ấy. Nguyễn Tuân không phải là nhà văn thành công ngay từ những tác phẩm đầu tay. Ông đã thử bút qua nhiều thể loại: Thơ, bút ký, truyện ngắn hiện thực trào phúng. Nhưng mãi đến đầu năm 1938, ông mới nhận ra sở trường của mình và thành công xuất sắc với các tác phẩm: Một chuyến đi, Vang bóng một thời, Thiếu quê hƣơng, Chiếc lƣ đồng mắt cua. Tác phẩm Nguyễn Tuân trước Cách mạng tháng Tám chủ yếu xoay quanh ba đề tài: "chủ nghĩa xê dịch", vẻ đẹp "vang bóng một thời", và "đời sống truỵ lạc". Nguyễn Tuân đã tìm đến lí thuyết "chủ nghĩa xê dịch" này trong tâm trạng bất mãn và bất lực trước thời cuộc. Nhưng viết về "chủ nghĩa xê dịch", Nguyễn Tuân lại có dịp bày tỏ tấm lòng gắn bó tha thiết của ông đối với cảnh sắc và phong vị của đất nước mà ông đã ghi lại được bằng một ngòi bút đầy trìu mến và tài hoa. Không tin tưởng ở hiện tại và tương lai, Nguyễn Tuân đi tìm vẻ đẹp của quá khứ còn "vang bóng một thời". Ông mô tả vẻ đẹp riêng của thời xa xưa với những phong tục đẹp, những thú tiêu dao hưởng lạc lành mạnh và tao nhã. Tất cả được thể hiện thông qua những con người thuộc lớp người nhà Nho tài Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 7 hoa bất đắc chí, tuy đã thua cuộc nhưng vẫn không chịu quy thuận về với xã hội thực dân (như Huấn Cao - Chữ ngƣời tử tù). Nguyễn Tuân cũng hay viết về đề tài đời sống truỵ lạc. Ở những tác phẩm này, người ta thường thấy có một nhân vật "tôi" hoang mang bế tắc. Trong tình trạng khủng hoảng tinh thần ấy, vẫn chợt lóe lên từ cuộc đời nhem nhuốc, phàm tục những khát khao về một thế giới tinh khiết, thanh cao (Chiếc lƣ đồng mắt cua). Từ sau Cách mạng tháng Tám 1945, ông chân thành đem ngòi bút phục vụ cuộc chiến đấu của dân tộc. Nhưng Nguyễn Tuân luôn luôn có ý thức phục vụ trên cương vị của một nhà văn, đồng thời vẫn muốn phát huy cá tính và phong cách độc đáo của mình. Ông đã đóng góp cho nền văn học mới nhiều trang viết sắc sảo và đầy nghệ thuật ca ngợi quê hương đất nước, ca ngợi nhân dân lao động trong chiến đấu và sản xuất. Phong cách nghệ thuật của Nguyễn Tuân quả là độc đáo và sâu sắc. Trước Cách mạng tháng Tám, phong cách này có thể thâu tóm trong một chữ "Ngông". Mỗi trang viết của Nguyễn Tuân đều muốn chứng tỏ tài hoa uyên bác. Và mọi sự vật được miêu tả dẫu chỉ là cái ăn, cái uống, vẫn được quan sát một cách tinh tường từ phương diện văn hoá của nó. Sau Cách mạng, ông không đối lập giữa quá khứ, hiện tại và tương lai. Văn Nguyễn Tuân, bao giờ cũng vậy, vừa đĩnh đạc cổ kính, vừa trẻ trung hiện đại. Do cá tính và phong cách riêng, Nguyễn Tuân tìm đến thể tài tuỳ bút như một tất yếu. Cả cuộc đời cầm bút, Nguyễn Tuân trung thành với lối chơi ấy. Tuỳ bút là sở trường của Nguyễn Tuân và tài năng ấy cũng được ông phát huy cao độ thể văn này. Chỉ có thể văn xuôi tự do phóng túng này mới giúp nhà văn mặc sức phô bày những cảm xúc, suy nghĩ, tâm trạng, những tài hoa và sự uyên bác của mình một cách tự nhiên thoải mái. Tên tuổi của Nguyễn Tuân gắn liền với thể loại tuỳ bút. Trên cơ sở thống kê sự nghiệp sáng tác của nhà văn chúng tôi thấy: Tiểu thuyết, truyện ngắn, phóng sự tổng cộng khoảng Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 8 1153 trang, trong khi đó tuỳ bút chiếm khoảng 3118 trang. Nguyễn Tuân dù viết gì cũng hướng đến tuỳ bút, nói như Trương Chính thì: "Truyện ngắn, truyện dài, phóng sự của ông tất cả đều là những thiên tuỳ bút trá hình" [25,tr.54]. Tuỳ bút Nguyễn Tuân mang đậm chất ký, nghĩa là ghi chép sự thật và thông tin thời sự chính xác, "một thứ tuỳ bút pha du ký" [25,tr.120]. Pôlêvôi đã nói: "Một bài ký sự hay quả thật là một bài có đủ mọi đặc trưng của thể loại báo chí thuần tuý, nó hết sức cụ thể, có thể tái hiện được sự thật chân chính. Những nhân vật tạo nên phải là những con người có thật trong cuộc sống hiện thực, những sự việc mô tả phải dính chặt với địa điểm đúng như người ta thường nói: Ký sự có địa chỉ chính xác của nó" [26,tr.426]. Điều này thật có lí khi thể loại ký ở nước ngoài còn được gọi là "văn học báo cáo", "văn học tư liệu - nghệ thuật". Từ việc bám sát người thật việc thật, những bài ký đều nhằm mục đích phục vụ kịp thời cho những nhu cầu hiểu biết thực tế của người đọc. Bởi vậy, có thể thấy một đặc điểm trong những bài ký của Nguyễn Tuân là thường xuyên liệt kê, thống kê, đếm và kể số lượng một cách chính xác, để khẳng định tính xác thực của đối tượng phản ánh. Nguyễn Tuân đưa vào các bài ký của mình những địa danh, những sự vật, những con người "có địa chỉ", những số liệu chính xác, tỉ mỉ, những sự kiện có thật trong cuộc sống. Nguyễn Tuân viết ký như một tất yếu, song đó không chỉ là những trang ghi chép lại những điều mắt thấy tai nghe của một con người "đi để viết", mà nó còn là nơi để tác giả bộc lộ cảm xúc, suy tư… về con người và cuộc sống. Nói cách khác, bên cạnh việc phản ánh hiện thực, tác giả ký còn bộc lộ cảm xúc, suy nghĩ chủ quan của mình một cách tự do. Và ở ký Nguyễn Tuân, những suy nghĩ, cảm xúc chủ quan của tác giả là nguyên nhân khiến cho tác phẩm đậm chất trữ tình. Trong tuỳ bút Hà Nội ta đánh Mỹ giỏi, ngoài những báo cáo về các trận chiến đấu cụ thể của Hà Nội thắng Mỹ, là Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 9 những xúc cảm của nhà văn về thiên nhiên, cảnh trí, truyền thống của đất Hà Nội, về tâm hồn, tính cách của người Hà Nội. Đọc những bài ký Nguyễn Tuân, gặp những câu văn giàu hình ảnh và chất trữ tình như thế, ta thấy nhà văn đã tái hiện không chỉ là nhịp sống mà còn là nhịp điệu tâm hồn của chính tác giả. Phải thừa nhận rằng, để viết được những câu văn như thế, Nguyễn Tuân phải là người có khiếu quan sát, trí tưởng tượng và óc liên tưởng thẩm mỹ phong phú độc đáo. Bởi nếu như chỉ miêu tả theo lối kể đơn thuần chắc chắn sẽ không thể tạo nên những lời văn vừa giàu chất thơ, lại vừa đa dạng về hình ảnh như thế. Mạch văn trong ký Nguyễn Tuân tuôn chảy theo dòng cảm xúc hết sức thoải mái, chuyện này chồng chéo lên chuyện kia không theo một trình tự nào và cũng không bị hạn chế bởi không gian, thời gian. Khi thì lướt rất nhanh, chỉ điểm một vài nét chấm phá, khi thì dừng lại rất lâu ở một cảnh, một sự việc rồi xoay dọc, xoay ngang, quan sát tỉ mỉ nhu muốn người đọc cũng ấn tượng sâu về nó. Có những lúc tác giả huy động hết tất cả mọi giác quan của mình để miêu tả kết hợp giữa mát nhìn, tai nghe, mũi ngửi, trí óc liên tưởng…Và chính những đặc điểm này đã thực sự làm cho ký Nguyễn Tuân có được những nét riêng biệt mà người đọc không thể nhầm lẫn. Nhận xét về phong cách Nguyễn Tuân, Phan Cự Đệ đã đưa ra những đánh giá xác đáng: "Những trang ký của Nguyễn Tuân chứng tỏ anh là một nhà văn từng trải, lịch lãm, một cây bút thích la cà, tọc mạch, một con người tỉ mỉ, kĩ tính, đã nghiên cứu cái gì thì tìm hiểu đến từng chi tiết, con số" [25,tr.115]. Nguyễn Tuân là một nghệ sĩ tài hoa, cùng vốn kiến thức uyên bác, sự am hiểu sâu sắc nền văn hoá dân tộc cũng như văn hoá nhân loại và thái độ lao động nghệ thuật nghiêm túc, là những yếu tố tạo nên thành công của Nguyễn Tuân ở thể loại ký. Có thể nói, những trang ký của Nguyễn Tuân luôn Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 10 có sức cuốn hút mãnh liệt đối với người đọc bởi tính xác thực, tính thời sự và chất trữ tình của nó. Nguyễn Tuân đã làm cho thể loại văn xuôi này thăng hoa và ngược lại, ký cũng làm nên một Nguyễn Tuân có vị trí không ai có thể thay thế được trong nền văn học Việt Nam thế kỉ XX. 1.2. Giới thiệu một số thuật ngữ có liên quan trực tiếp tới đề tài 1.2.1. Ký Có rất nhiều quan niệm khác nhau về ký (reportage, essai). Có người căn cứ vào phương thức biểu hiện và chất liệu kết cấu để chia ký thành ba loại: ký tự sự, ký trữ tình và ký chính luận. Lại có người căn cứ vào bút pháp và đối tượng được phản ánh để chia ký thành hàng chục thể loại: bút ký, hồi ký,du ký, phóng sự, tuỳ bút, tản văn, tạp văn, tiểu phẩm... Từ điển thuật ngữ văn học (Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi đồng chủ biên) định nghĩa ký là: "Một loại hình văn học trung gian, nằm giữa báo chí và văn học, gồm nhiều thể, chủ yếu là văn xuôi tự sự như bút ký, hồi ký, du ký, phóng sự, ký sự, nhật ký, tuỳ bút,... " [10, tr.162]. Ranh giới của việc phân chia các thể ký nêu trên chỉ có tính chất tương đối, các thể ký luôn luôn chuyển hoá xâm nhập lẫn nhau. Nói cách khác, không có ranh giới rạch ròi giữa các thể ký mà chúng biến hoá tuỳ theo ý định sáng tác và đặc điểm, bút pháp của nhà văn. Trong sáng tác, các nhà văn có thể không quan tâm đến đặc trưng của từng thể loại mà chủ yếu là vận dụng các khả năng, phương tiện của văn học để nhằm thể hiện một cách tốt nhất mục đích của mình. Có người cho rằng đặc trưng của ký là tính chủ quan, chủ quan trong ghi chép người thật, việc thật,được nhiều người sử dụng trong sáng tác văn học và làm báo(ký văn học và ký báo chí). Không nên xem những tác phẩm ký là kết quả của sự xâm nhập báo chí vào văn học. Trước khi có hoạt động báo chí, trong lịch sử văn học từ nghìn xưa đã có những tác phẩm ký, như Sử ký của Tư Mã Thiên cách đây mấy nghìn năm vừa là tác phẩm sử học vừa có Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 11 thể coi là ký. Tuy vậy, không thể không thừa nhận báo chí có nhiều tác động đến văn học, tính chất chính luận thời sự và chiến đấu của báo chí cũng đã thâm nhập vào văn học nhất là đối với loại thể ký của nó. Trong khuôn khổ luận văn này, chúng tôi chỉ bàn về ký văn học. Việc xác định một khái niệm đúng đắn về ký khó khăn một phần vì trong ký có nhiều loại khác nhau, vả lại, cũng vì cách gọi tên tác phẩm của mình của một số nhà văn. Chẳng hạn, Tây sƣơng ký của Vương Thục Phủ thực chất là một vở kịch, Tây du ký của Ngô Thừa Ân là một tiểu thuyết, Nhật ký ngƣời điên của Lỗ Tấn là một truyện ngắn, Nhật ký ở rừng của Nam Cao là một truyện ngắn... Trong 150 thuật ngữ văn học, Lại Nguyên Ân đưa ra định nghĩa ký là "Tên gọi chung cho một nhóm thể tài nằm ở phần giao nhau giữa văn học và ngoài văn học(báo chí, chính luận, ghi chép tư liệu các loại...) chủ yếu là văn xuôi tự sự, gồm các thể như bút ký, hồi ký, du ký, phóng sự, ký sự, nhật ký... "[2,tr.176]. Tuy nhiên, khi xem xét ký trong hệ thống trữ tình - tự sự - kịch ta thấy: Hệ thống này hoàn toàn đúng cho văn chương thẩm mĩ mà không bao gồm hết các loại, vốn không phải là văn chương thẩm mĩ nhưng vẫn có giá trị nghệ thuật cao. Đó là văn chính luận. Không thể xếp văn chính luận vào ký như quan niệm từ trước đến nay vì văn chính luận chủ yếu không phải nhằm thông tin sự thật mà thông tin lí lẽ. Có thể sắp xếp bút ký chính luận vào văn chính luận. Như vậy, ký sẽ không bao gồm tuỳ bút và bút ký chính luận. Nhưng khi xem xét ký trong hệ thống Thơ - tiểu thuyết - kịch - ký thì ký lại buộc phải bao hàm các loại văn xuôi còn lại. Và nếu chấp nhận hệ thống trữ tình - tự sự - kịch thì ký hay tuỳ bút cần phải được xếp vào loại trữ tình. Bởi vì trong tuỳ bút có nhiều chi tiết trữ tình chủ quan, sự việc chỉ là cái cớ để tác giả bộc lộ tâm trạng, là cái đinh để tác giả treo lên bức tranh tình cảm của mình... Như vậy, ký chỉ còn liên quan đến loại văn tự sự. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 12 Từ điển tiếng Việt (Hoàng Phê chủ biên) định nghĩa ký là "thể văn tự sự viết về người thật việc thật, có tính chất thời sự, trung thành với hiện thực đến mức cao nhất " [23,tr.664]. Định nghĩa này cho phép ta hình dung rõ hơn về thể ký bởi nó nêu lên đặc trưng của ký. Tính xác thực là đặc trưng quan trọng nhất của ký. Xét về bản chất và gốc gác, ký không nhằm thông tin thẩm mĩ mà là thông tin sự thật nhưng không vì thế mà ký thiếu tính nghệ thuật. Sở dĩ ký có tính nghệ thuật bởi vì trước hết ngay trong hiện thực cũng đã bao hàm cái thẩm mĩ đồng thời chính nhiệt tình khao khát mong biết được sự thật cũng góp phần tạo nên những quan hệ thẩm mĩ. Do đặc điểm "viết về người thật việc thật" nên ký phải "trung thành với hiện thực đến mức cao nhất". Tuy nhiên, đã là một tác phẩm nghệ thuật, không thể không nói đến hư cấu. Tác giả ký không bao giờ chỉ dừng lại ở chỗ trình bày sự thật, bởi vì những lí do sau: Một là, hiện thực chỉ là xuất phát điểm, là cái cớ để thông qua đó nhà văn trình bày quan niệm thẩm mĩ của mình. Hai là, về bút pháp, văn học thường sử dụng những phương thức của văn học nói chung để tạo ra một giọng điệu phong phú, sinh động. Ba là, trong thể ký văn học, cái Tôi bao giờ cũng là cái tôi thẩm mĩ, người nghệ sĩ tái tạo hiện thực trên cơ sở những cảm xúc thẩm mĩ, trình bày những quan điểm thẩm mĩ của mình qua tác phẩm. Chính bởi vậy, bên cạnh những thủ pháp nghệ thuật khác, thủ pháp hư cấu vẫn thường được nhà văn sử dụng. Nói cách khác, nhà văn có thể sử dụng những hình thức không xác định để trình bày cái xác định. Hư cấu nghệ thuật được sử dụng trong ký còn bởi một thực tế: tác giả không thể đồng thời chứng kiến tát cả các khía cạnh của sự việc đang xảy ra. Muốn có được một bức tranh toàn cảnh của sự việc, nhà văn có thể nghe từ nhiều nguồn khác nhau rồi thông qua đó sử dụng sự hồi tưởng hay trí tưởng tượng để tái tạo hiện thực. Nhưng không phải người viết ký tưởng tượng và hư cấu thế nào cũng được. Về nguyên tắc, những thành phần xác Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 13 định của người thật việc thật (tên tuổi, ngoại hình, địa chỉ, nguồn gốc…) người viết phải phấn đấu thể hiện xác thực đến mức tối đa. Nhà văn có thể tưởng tượng hư cấu rộng rãi hơn với những thành phần không xác định (như nội tâm nhân vật, cảm xúc, thiên nhiên, nhân vật phụ…) cũng như việc sắp xếp, tổ chức hệ thống tác phẩm. Tóm lại, trong tác phẩm ký văn học, nhà văn có thể hư cấu nhưng nhìn chung có phần hạn chế và thường ở những thành phần không xác định. Sáng tác văn học dạng thể ký thường thịnh hành ở các giai đoạn văn học sử ứng với thời kỳ xã hội có khủng hoảng của các quan hệ cũ, nảy sinh một nếp sống mới, làm tăng cường chú ý đến sự miêu tả các thói tục. Có thể thấy những ví dụ sinh động trong nền văn học thế giới biểu hiện rõ rệt điều này: văn học Nga giữa thế kỷ 19 khi sự hỗn loạn xã hội với chế độ nông nô sụp đổ, quý tộc suy đồi, tầng lớp hạ lưu bị bần cùng hóa, ký trở thành một trong những thể loại chủ đạo của văn học; hoặc nước Anh đầu thế kỷ 18 khi các tạp chí châm biếm đăng những bài phác họa chân dung và cảnh sinh hoạt, đã trở thành ngọn nguồn cho sự nở rộ thể ký. Trong văn học Việt Nam, ký là một thể loại nhạy bén, linh hoạt, luôn bám sát dòng chảy hiện thực vốn có nhiều biến động của đất nước suốt mấy chục năm chiến tranh. Ngay trong văn xuôi trung đại, ký là một thể loại mang yếu tố trữ tình rõ nét hơn cả. Đồng thời với việc ghi chép trung thực những biến cố lịch sử, tái hiện chân thực bức tranh đời sống, miêu tả sinh động cảnh sắc thiên nhiên, bao giờ các tác giả cũng ít nhiều bộc lộ quan điểm đánh giá, những suy ngẫm chủ quan và những rung động nảy sinh từ chính trái tim mình. Người đọc có thể thấy được tính chất, mức độ của yếu tố trữ tình xuất hiện trong ký trung đại qua một số tác phẩm tiêu biểu: Thanh Hƣ động ký của Nguyễn Phi Khanh (1384), Thƣợng kinh ký sự của Lê Hữu Trác (1783), Vũ trung tuỳ bút của Phạm Đình Hổ (khoảng cuối thế kỉ XVIII),… Sau Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 14 những tác phẩm ký bằng chữ Hán, vào những năm cuối thế kỉ XIX đã xuất hiện tác phẩm ký bằng chữ quốc ngữ mà trong đó yếu tố chủ quan của người viết dần được bộc lộ đậm nét. Tiêu biểu hơn cả là Chuyến đi Bắc Kì năm Ất Hợi 1876 của Trương Vĩnh Ký. Trong khoảng hai thập niên đầu thế kỉ XX, khi nhiều tờ báo bằng chữ quốc ngữ lần lượt ra đời như: Gia Định báo - 1865, Đại Việt công báo - 1905, Đông Dương tạp chí - 1913, Nam Phong tạp chí - 1917, An Nam tạp chí 1922,... thể loại ký đã có điều kiện phát triển với phương tiện sáng tác và bút pháp mới. Có thể kể một số tác phẩm tiêu biểu như: Hƣơng Sơn hành trình ký (1914) của Nguyễn Văn Vĩnh, Mƣời ngày ở Huế (1918) và Một tháng ở Nam Kỳ (1919) của Phạm Quỳnh. Tuy có bước thay đổi đáng kể về chữ viết nhưng giọng biền ngẫu, bản ngã cá tính còn dè dặt, miêu tả cụ thể nhưng vẫn thiên về ngoại cảnh hơn là về tình cảm nội tâm. Đây chính là bước khởi đầu về thời kì chuyển tiếp từ ký trung đại sang ký hiện đại. Từ 1930 - 1945, các thể ký văn học đã được khẳng định với những tác phẩm phóng sự về nông thôn của Ngô Tất Tố, về đời sống của phu nghèo thành thị mọi tệ nạn trộm cắp, cờ bạc…của Vũ Trọng Phụng, Tam Lang, về Hà Nội ba sáu phố phƣờng của Thạch Lam và đặc biệt là qua phong cách tuỳ bút tài hoa, độc đáo của Nguyễn Tuân. Trong các thể của loại hình ký, có thể nói gây nhiều chú ý hơn cả là những bài tuỳ bút. Về thể loại này, hai nhà văn Thạch Lam và Nguyễn Tuân được coi là hai "khai quốc công thần" với vai trò tiên phong, chủ lực. Và tác phẩm tuỳ bút đầu tiên có lẽ là bài Chơi thành Cổ Loa (1938) của Nguyễn Tuân. Đây là một bài tuỳ bút rất ngắn.Trong khuôn khổ 4 trang sách in (từ trang 131 đến trang 134 - Nguyễn Tuân toàn tập, tập 1), tác giả miêu tả cảnh rêu phong hoang phế của thành Cổ Loa, bộc lộ những hoài niệm về những tấn bi kịch trong truyền thuyết và ngậm ngùi, xót xa trước sức tàn phá của thời gian. Giọng điệu câu văn biến hoá rất linh hoạt: "Đường Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 15 lối đã thuộc, dấu tích đã nhớ, ta chỉ còn đem cặp mắt thu cái tàn đô của Cổ Loa, rồi đứng trước nếp thành cổ, nhớ lại người xưa, đem con tim khối óc mà cảm khái cuộc đời đổi thay!". Như vậy, đến năm 1945, thể ký đã cơ bản hoàn tất quá trình thai nghén và sinh thành thể loại tuỳ bút. Cùng với thơ mới, truyện ngắn, phóng sự, bút ký, tiểu thuyết, tuỳ bút là thể loại đóng góp đáng kể để làm nên một thời đại văn chương với nhiều thành tựu rực rỡ. Tác giả Lê Dục Tú đã có nhận định: "Phóng sự và tuỳ bút là hai tiểu loại ký tiêu biểu làm nên những thành tựu nổi bật của ký giai đoạn 1930 - 1945" [6, tr.408]. Từ 1945 - 1975, trong văn học Việt Nam, ký giữ một vai trò đặc biệt quan trọng. Nhiều tác phẩm ký có giá trị lần lượt xuất hiện, góp phần tạo nên bộ mặt đa dạng của đời sống văn học. Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, thể ký thực sự là mũi nhọn xông xáo khắp các chiến trường khói lửa, các nẻo đường mưa tuôn nắng dội, len lỏi vào những ngóc ngách tận cùng của đời sống: Ký sự - Trần Đăng, Ký sự Cao Lạng - Nguyễn Huy Tưởng, Tuỳ bút kháng chiến - Nguyễn Tuân, Bất khuất - Nguyễn Đức Thuận, Sống nhƣ anh - Trần Đình Vân, Ngƣời mẹ cầm súng - Nguyễn Thi, Những ngày nổi giận - Chế Lan Viên, Ký chống Mỹ - Nguyễn Tuân, Đƣờng lớn - Bùi Hiển, Rất nhiều ánh lửa - Hoàng Phủ Ngọc Tường…. "Những tác phẩm ấy đã phản ánh kịp thời, nhiều mặt của hiện thực đời sống bộn bề, phong phú, xứng đáng là "bộ đội tiền tiêu" của văn học nghệ thuật" [10,tr.163]. Từ sau 1975, ngoài các nhà văn đã khẳng định tên tuổi ở giai đoạn trước vẫn còn đều đặn sáng tác (Nguyễn Tuân, Tô Hoài, Nguyên Ngọc…), những cây bút có tác phẩm ký tiêu biểu ở thời kì này là: Võ Văn Trực, Băng Sơn, Nguyễn Ngọc Tư… Trong thời đại công nghệ thông tin hiện nay, ký càng có cơ hội phát triển mạnh mẽ hơn nữa, đáp ứng nhu cầu hiểu biết ngày càng sâu và rộng của độc giả. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
- Xem thêm -