Tài liệu Nghiên cứu rám má trên phụ nữ có thai và một số biện pháp can thiệp (tt)

  • Số trang: 54 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 87 |
  • Lượt tải: 0
nhattuvisu

Đã đăng 27125 tài liệu

Mô tả:

1 BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI LÊ THÁI VÂN THANH NGHIÊN CỨU RÁM MÁ TRÊN PHỤ NỮ CÓ THAI VÀ MỘT SỐ BIỆN PHÁP CAN THIỆP Chuyên ngành Da Liễu Mã số: 62.72. 01.52 TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ Y HỌC HÀ NỘI - 2015 2 Công trình được hoàn thành tại: TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. TRẦN LAN ANH PGS.TS. NGÔ THỊ KIM PHỤNG Phản biện 1: PGS. TS. PHẠM HOÀNG KHÂM Phản biện 2: GS. TS. TRẦN THỊ PHƯƠNG MAI Phản biện 3: PGS. TS. ĐẶNG VĂN EM Luận án được bảo vệ trước Hội đồng chấm Luận án cấp Trường Họp tại ……………………………………………………………….. ………………………………………………………………………... Vào hồi giờ phút ngày tháng Có thể tìm hiểu luận án tại các thư viện: - Thư viện Quốc gia - Thư viện Trường Đại Học Y Hà Nội - Thư viện thông tin Y học trung ương năm 3 ĐẶT VẤN ĐỀ Rám má (melasma) là một hiện tượng tăng hắc tố (melanin) ở da mặt, rất hay gặp trên phụ nữ, đặc biệt ở phụ nữ mang thai. Rám má không gây nguy hiểm đến tính mạng, tuy nhiên khi rám má lan rộng và tiến triển dai dẳng thì có thể gây ảnh hưởng đến thẩm mỹ, thậm chí đến chất lượng cuộc sống, nhất là ở những người trẻ, hoặc những người có công việc đòi hỏi giao tiếp nhiều. Rám má có cơ chế bệnh sinh phức tạp. Các yếu tố nguyên nhân liên quan đến rám má là yếu tố di truyền, ánh nắng mặt trời (ANMT), nội tiết tố, sử dụng một số thuốc hoặc mỹ phẩm… Trong đó sự thay đổi nội tiết tố là nguyên nhân gây rám má được nói tới nhiều nhất. Hiện tượng tăng các nội tiết tố estrogen và progesterone trong thời kỳ mang thai (mask of pregnancy) được cho là căn nguyên chính gây rám má cho phụ nữ trong giai đoạn đặc biệt này. Tỉ lệ rám má trên phụ nữ mang thai rất thay đổi, có thể chiếm đến 50%–70%. Nghiên cứu tại Iran, Pakistan, nam Brazil và Pháp cho thấy tỉ lệ phụ nữ mang thai bị rám má là 5-46%. Nghiên cứu của Hoàng Văn Minh và cs tại Tp HCM vào năm 2003 thì tỉ lệ này là 8.77%. Rám má xuất hiện trong thời gian mang thai có thể thoái triển sau sanh một cách tự phát, trong đó 70% trường hợp biến mất hoàn toàn trong vòng một năm sau sinh. Tuy nhiên 1/3 trường hợp rám má có thể kéo dài trong nhiều năm sau đó mà không rõ căn nguyên. Nhiều nghiên cứu cho thấy trong suốt thời kỳ thai nghén, đặc biệt là trong 3 tháng cuối, nồng độ estrogen và progesterone tăng cao trong máu đã kích thích các tế bào hắc tố (melanocytes) tăng tổng hợp hắc tố (melamin). Sự gia tăng đáng kể của nội tiết tố kích thích tế bào hắc tố (MSH – Melanocyte Stimulating Hormone) trong 3 tháng giữa đến 3 tháng cuối của thời kỳ mang thai cũng là yếu tố kích thích tăng tổng 4 hợp hắc tố đáng kể. Ngoài ra, các yếu tố khác có liên quan đến sự thay đổi nội tiết tố như dùng thuốc ngừa thai, trị liệu thay thế bằng progesterone, rối loạn chức năng buồng trứng hoặc tuyến giáp, u buồng trứng… cũng được đề cập đến như là yếu tố sinh bệnh học của hiện tượng rối loạn hắc tố này. Cho đến nay, điều trị rám má vẫn còn nhiều hạn chế. Để điều trị rám má có hiệu quả cần sự kết hợp của 3 yếu tố chống nắng - tẩy rám - loại bỏ yếu tố nguyên nhân. Các biện pháp điều trị rám má được nghiên cứu và ứng dụng nhiều trên đối tượng không mang thai bao gồm phương pháp tẩy rám cổ điển bằng bôi hydroquinone, vitamin A acid (retinoids), uống các vitamin… hay hiện đại hơn như laser, ánh sáng trị liệu, tế bào gốc… đã mang lại một số kết quả khả quan. Tuy nhiên không phải tất cả các biện pháp này đều áp dụng được trên phụ nữ mang thai. Với đối tượng này, các phương pháp điều trị đòi hỏi mang tính hiệu quả, đồng thời đảm bảo an toàn cho bà mẹ và thai nhi. Vì vậy các phương pháp thường được chọn lựa chủ yếu là chống nắng cơ học (mang khẩu trang đúng cách), kem bôi chống nắng, thuốc bôi azelaic acid, vitamin C, thảo dược. Trên thế giới đã có một số nghiên cứu về đặc điểm lâm sàng, các yếu tố khởi phát hoặc những yếu tố làm nặng tình trạng rám má ở phụ nữ mang thai. Tuy nhiên các nghiên cứu xem xét sự thay đổi nội tiết tố trong thai kỳ có liên quan đến rám má thì rất ít. Đặc biệt chỉ có một nghiên cứu can thiệp phòng ngừa sự phát triển rám má trên phụ nữ mang thai bằng kem chống nắng phổ rộng được thực hiện tại Ma-rốc. Hầu như không có các nghiên cứu can thiệp để tẩy rám má ở phụ nữ mang thai. Ở Việt Nam chưa có nghiên cứu nào liên quan đến rám má trên phụ nữ mang thai, cũng như các biện pháp can thiệp rám má trên 5 đối tượng này. Vì thế chúng tôi thực hiện đề tài “Nghiên cứu rám má trên phụ nữ có thai và một số biện pháp can thiệp” nhằm: 1. Khảo sát đặc điểm lâm sàng và các yếu tố liên quan đến rám má trên phụ nữ có thai tại tại Bệnh viện Đại Học Y Dược, cơ sở 4, từ 02/201103/2013. 2. Xác định nồng độ nội tiết tố estradiol (E), progesterone (P) và mối liên quan với lâm sàng rám má ở phụ nữ mang thai. 3. Đánh giá hiệu quả một số biện pháp can thiệp trên rám má ở phụ nữ mang thai. NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN ÁN - Là nghiên cứu đầu tiên và tương đối lớn về rám má (bao gồm các đặc điểm lâm sàng, định lượng nội tiết tố và một số biện pháp can thiệp) trên phụ nữ mang thai tại thành phố Hồ Chí Minh. - Bước đầu khảo sát về thay đổi nồng độ nội tiết tố estrogen và progesterone trên phụ nữ mang thai có và không rám má để giúp tìm hiểu về bệnh sinh rám má trên phụ nữ mang thai. - Tìm hiểu một số biện pháp can thiệp, nhằm cải thiện tình trạng rám má, nhưng vẫn đảm bảo an toàn cho phụ nữ mang thai. CẤU TRÚC LUẬN ÁN Luận án dày 123 trang không kể phụ lục và tài liệu tham khảo, gồm 4 chương, 19 bảng, 10 biểu đồ, 4 sơ đồ, 7 hình ảnh minh họa, 134 tài liệu tham khảo (tiếng Việt 6, tiếng Anh 125, tiếng Pháp 3) và phụ lục. Bố cục luận án gồm: đặt vấn đề 2 trang, tổng quan 29 trang, đối tượng và phương pháp nghiên cứu 20 trang, kết quả 29 trang, bàn luận 39 trang, kết luận 2 trang, kiến nghị 1 trang, đóng góp của đề tài 1 trang và 2 bài báo có nội dung liên quan với luận án đã được công bố. 6 CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1. Rám má Rám má là tình trạng tăng hắc tố mắc phải, thường gặp trên vùng da tiếp xúc với ánh nắng. Bệnh tiến triển mạn tính với nhiều đợt tái phát thường xuyên và khó điều trị. 1.1.1. Phân loại rám má - Dựa trên lâm sàng, rám má gồm thể trung tâm mặt (63%), thể cánh bướm (21%), và thể hàm dưới (16%) - Dựa trên mô học và soi đèn Wood’s, rám má gồm dạng thượng bì (7090%), dạng trung bì, và dạng hỗn hợp (24%) 1.1.2. Các yếu tố liên quan rám má Có rất nhiều yếu tố liên quan đến rám má, bao gồm: di truyền; tiếp xúc tử ngoại; thay đổi nồng độ nội tiết tố (estrogen, progesterone, MSH, ACTH, LH, FSH) như trong mang thai; trị liệu nội tiết tố; bệnh nội tiết; mỹ phẩm; một số thuốc; tâm lý... Trong đó di truyền, nội tiết tố và ANMT đóng vai trò quan trọng nhất. 1.1.3. Lâm sàng và chẩn đoán Dát màu nâu/xám/xanh, kích thước thay đổi, giới hạn rõ, không đều hoặc lốm đốm, phân bố đối xứng, ưu thế ở những nơi tiếp xúc ánh sáng như trán, thái dương, má, giữa mặt, miệng, cằm, thường không kèm triệu chứng chủ quan (không đỏ, không bong vảy, không teo da, không ngứa). Chẩn đoán chủ yếu dựa vào lâm sàng. 1.2. Rám má ở phụ nữ mang thai 1.2.1. Thay đổi nội tiết tố liên quan đến rám má ở thai phụ Các nội tiết tố được cho là có liên quan đến sinh tổng hợp hắc tố da là estrogen, progesterone, ACTH, MSH. Nồng độ estrogen, progesterone và MSH tăng vọt từ tuần thứ 7 đến tuần thứ 12, sau đó tăng cao dần trong suốt thai kỳ cho đến sau tuần thứ 30. 7 1.2.2. Sinh bệnh học tăng hắc tố da trong thai kỳ Tăng hắc tố da trong thai kỳ là do sự gia tăng của nội tiết tố rau thai, tuyến yên và buồng trứng. Tế bào hắc tố được ủ với nội tiết tố tuyến yên (1,25-dihydroxyvitamin D3, α-MSH, β-MSH, ACTH, FSH, LH) hoặc nội tiết tố buồng trứng (β-estradiol, progesterone) sẽ phình to, mọc đuôi gai, tăng hoạt tính men tyrosinase và Tyrp-1. Trong thai kỳ tế bào hắc tố tăng nhạy cảm khi nồng độ estro-progesterone gia tăng. 1.3. Các biện pháp dự phòng và điều trị rám má có thể dùng được ở thai phụ 1.3.1. Chống nắng cơ học: tránh nắng, nhất là từ 9 giờ sáng đến 16 giờ chiều; đội mũ rộng vành; mang khẩu trang-găng-tất bằng chất liệu vải sợi dầy, khít và có màu sậm khi ra nắng. 1.3.2. Kem chống nắng Kem chống nắng bao gồm chất chống nắng vô cơ (titanium dioxide, oxide kẽm) và chất chống nắng hữu cơ (chống UVB-PABA, cinnamates, salicylates, octocrylene, ensulizole…; chống UVAbenzophenones, avobenzone…). Chất chống nắng vô cơ khúc xạ và phát tán tia khả kiến, tia tử ngoại (UVR), tia hồng ngoại. Chất chống nắng hữu cơ hấp thu UVR và chuyển nó thành năng lượng nhiệt. Các chế phẩm chống nắng có phổ hấp thu rộng với SPF > 30 và UVA-PF > ** là thích hợp nhất cho việc sử dụng hàng ngày. 1.3.3. Thuốc bôi tẩy rám AZELAIC ACID (AzA) AzA tác dụng chống tăng sinh và gây độc tế bào có chọn lọc trên các tế bào hắc tố tăng hoạt hóa. AzA ức chế có thể hồi phục các men DNA polymerase, tyrosinase và các men hô hấp của ty lạp thể. Phân loại nguy cơ thuốc trong thai kỳ theo FDA: B. ASCORBIC ACID 8 L-ascorbic-2-phosphate là một dẫn xuất vitamin C tương đối ổn định, có tác dụng làm giảm gốc tự do. Ascorbic acid là phương thức điều trị hỗ trợ trong rám má. Tuy nhiên hoạt chất này dễ bị ô-xy hóa và các chế phẩm có chứa hoạt chất này thường rất đắt tiền. Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1. Đối tượng nghiên cứu 2.1.1. Đối tượng Phụ nữ mang thai có hoặc không bị rám má trong thai kỳ đến khám tại Bệnh viện Đại Học Y Dược, cơ sở 4, từ 02/2011- 03/2013. 2.1.2. Tiêu chuẩn chẩn đoán Chẩn đoán rám má dựa vào lâm sàng 2.1.3. Tiêu chuẩn chọn bệnh nhân - Nghiên cứu lâm sàng, yếu tố liên quan rám má: thai phụ bị rám má trong thời gian mang thai, có ý định giữ thai, đồng ý tham gia - Xác định nồng độ nội tiết tố và mối liên quan lâm sàng rám má: + Thai phụ có tuổi thai 12-16 tuần thỏa mãn tiêu chuẩn mục tiêu 1 + Thai phụ có tuổi thai 12-16 tuần nhưng không bị rám má trong thời gian mang thai (nhóm chứng) - Nghiên cứu hiệu quả điều trị: thai phụ có tuổi thai 12-16 tuần thỏa mãn tiêu chuẩn mục tiêu 1, không có các bệnh lí tim, gan, thận, phổi nặng, HIV/AIDS, và không có chống chỉ định dùng thuốc 2.1.4. Tiêu chuẩn loại trừ Bị tăng hắc tố trên da mặt do các nguyên nhân khác (di truyền, nội tiết, chuyển hóa, dinh dưỡng, nhiễm độc, bệnh ác tính) hoặc do tăng hắc tố sau viêm. Đối với nhóm can thiệp, thêm các tiêu chuẩn loại trừ sau: - Không tái khám hoặc không tuân thủ theo các biện pháp can thiệp 9 - Đã sử dụng các thuốc bôi có chứa hydroquinone, tretinoin, steroids hoặc các thuốc uống có chứa đồng vận của vitamin A (isotretinoin, acitretin), steroids trong vòng 6 tháng trước nghiên cứu - Tiền sử có dùng lột da bằng hóa chất, vi bào da, laser trị liệu trong vòng 9 tháng trước nghiên cứu - Dị ứng với một trong các thành phần của thuốc bôi được sử dụng trong nghiên cứu 2.2. Phương pháp nghiên cứu 2.2.1. Thiết kế nghiên cứu - Mục tiêu 1: nghiên cứu mô tả cắt ngang - Mục tiêu 2: nghiên cứu bệnh chứng - Mục tiêu 3: nghiên cứu can thiệp có đối chứng kết hợp theo dõi dọc (tiến cứu) theo thời gian 2.2.2. Cỡ mẫu - Mục tiêu 1 Công thức ước lượng một tỉ lệ: - Z: trị số từ phân phối bình thường; α (sai lầm loại 1) - p: tỉ lệ ước tính - d: sai số của ước lượng Các nghiên cứu trước đây cho thấy tỉ lệ các rối loạn tăng hắc tố trong thai kỳ như rám má, sạm da đường giữa bụng, thâm quầng vú, thâm các nếp lớn dao động từ 5% đến 87,5% (tùy nghiên cứu) nên trong nghiên cứu này chọn p = 0,5 để đảm bảo có cỡ mẫu lớn nhất. Với kỳ vọng d khoảng 4% và α là 5% thì cỡ mẫu ít nhất cần có cho nghiên cứu là 601. - Mục tiêu 2 Công thức ước tính cỡ mẫu cho nghiên cứu bệnh chứng: 10 - Z: trị số từ phân phối bình thường tương ứng với α (sai lầm loại 1) hoặc β (sai lầm loại 2) - p1 là tỉ lệ có phơi nhiễm trong nhóm không bệnh - OR là tỉ số số chênh về bệnh giữa nhóm phơi nhiễm so với nhóm không phơi nhiễm - r: tỉ số cỡ mẫu giữa nhóm không bệnh và nhóm bệnh α là 5%, β là 20% tương ứng với sức mạnh thống kê là 80%; p1 là tỉ lệ tăng E hoặc P trong nhóm không có rám má, p1 = 0,25 (nghiên cứu trước); OR là tỉ số số chênh về rám má ở nhóm có nội tiết tố tăng cao so với nhóm bình thường, với kỳ vọng OR = 2,75; và tỉ số cỡ mẫu là như nhau (r = 1), thì cỡ mẫu cần cho mỗi nhóm là 78. - Mục tiêu 3 Công thức ước tính tỉ lệ cải thiện rám má sau can thiệp dựa vào phép kiểm Chi bình phương McNemar: ; πA là tỉ lệ cải thiện rám má trong thai kỳ khi không có can thiệp (0%); πB là tỉ lệ cải thiện rám má sau can thiệp (với kỳ vọng tỉ lệ cải thiện tình trạng rám má là 38% dựa vào nghiên cứu của Lakhdar H và 11 cs); α = 0,05; β = 0,20 thì cỡ mẫu ít nhất cần thiết cho mỗi nhóm can thiệp trong nghiên cứu là 19. 2.2.3. Vật liệu nghiên cứu Kem chống nắng UVEBLOCK® 30: Thành phần là ethylhexyl methoxycinnamate, salicylate, octocrylene, titanium dioxide… Tác dụng chống UVB và UVA. Cách đóng gói là ống kem 40ml, do Alpol Cosmetique-Pháp sản xuất, và được cung cấp bởi Cty Dược Phẩm Sao Khuê. Kem tẩy rám ANZELA®: Thành phần là AzA 200mg, methylparahydroxybenzoate 0.5mg, propylparahydroxybenzoate 0.5mg (trong 1g kem). Tác dụng trị mụn trứng cá, trị tăng hắc tố da. Cách đóng gói là ống kem 10g, do Chung Gei Phẩm Co. Ltd sản xuất, và được cung cấp bởi Công Ty TNHH Dược Phẩm Ngọc Châu. Khẩu trang SUBY®: Cấu tạo 2 lớp dầy-chặt bằng vải cotton màu sậm, kích thước đủ dài và rộng. Nơi sản xuất và cung cấp: 191/ 5, đường Bãi Sậy, phường 4, quận 6, thành phố. Hồ Chí Minh.Nghiên cứu viên cung cấp cho thai phụ. Đèn Wood’s: Cấu tạo gồm hộp đèn chứa một bóng đèn hình vòng tròn có năng lượng 18w, phát ra chùm tia sáng có bước sóng 325nm. Xuất xứ từ Trung Quốc. Thiết bị đo màu (colorimeter) IMS Smart probe 400®: Cấu tạo máy gồm bộ cảm nhận có 6 tế bào quang học silicon, đèn tungsten chứa khí. Kích thước: 59 x 158 x 85 mm, trọng lượng: 360g. Diện tích vùng đo 0.95 cm2. Dạng biểu hiện kết quả: L*a*b* (L: 20-100). 2.2.4. Các bước tiến hành Hỏi bệnh thu thập thông tin 12 - Đặc điểm của đối tượng, thói quen chống nắng và dùng mỹ phẩm, thời gian khởi phát rám má Khám bệnh - Xác định rám má, thể lâm sàng, loại rám má, các rối loạn hắc tố trong thai kỳ - Đánh giá mức độ tăng hắc tố của tổn thương bằng theo chủ quan của thầy thuốc, theo chỉ số MASI, và theo máy colorimeter - Các xét nghiệm về tim, phổi, chức năng gan chỉ được thực hiện khi có dấu hiệu gợi ý và cần thiết - Ghi chép kết quả vào bảng thu thập số liệu, chụp hình Định lượng nồng độ nội tiết tố E, P Xét nghiệm dựa trên nguyên lý cạnh tranh, theo phương pháp ECLIA (Electrochemiluminescence Immunoassay - miễn dịch điện hóa phát quang). Đánh giá hiệu quả của một số biện pháp can thiệp - Bệnh nhân được phân thành 3 nhóm can thiệp theo thứ tự bôi AzA (gọi là nhóm AzA), bôi kem chống nắng (gọi là nhóm Uve), mang khẩu trang (gọi là nhóm KT) và được tư vấn dùng các biện pháp can thiệp đúng cách. Theo dõi 5/ 6 lần (lần 0, 1, 2, 3, 4/5) từ lúc bắt đầu can thiệp (T0) và mỗi tháng đến khi sinh (T1, T2, T3, T4/5) - Đánh giá các biện pháp can thiệp: mức độ tăng hắc tố, tác dụng phụ - Hỏi và tư vấn cách áp dụng các biện pháp can thiệp của thai phụ - Ghi chép kết quả vào bảng thu thập số liệu, chụp hình 2.3. Địa điểm và thời gian nghiên cứu - Nghiên cứu lâm sàng: tại Bệnh viện Đại Học Y Dược, cơ sở 4, từ 02/2011- 03/2013 - Xét nghiệm: định lượng E và P tại Bệnh viện Đại Học Y Dược, cơ sở 4, từ 02/2011- 08/2012 13 2.4. Xử lí số liệu: Số liệu được xử lý bằng phần mềm EpiData 3.1 và Stata 12. - Thống kê mô tả: dùng tần số và tỉ lệ phần trăm. Một số biến số định lượng sẽ được mô tả bằng giá trị trung bình và độ lệch chuẩn. - Thống kê phân tích: Với mục tiêu 1 và 2, kiểm định Chi bình phương, tỉ số số chênh (OR) để xác định mối liên quan giữa các yếu tố với phân nhóm MASI ở ngưỡng ý nghĩa là 0,05. Các yếu tố có liên quan được đưa vào mô hình đa biến bằng phương pháp hồi qui logistic. Với mục tiêu 3, thêm kiểm định Chi bình phương McNemar, phân tích theo dõi dọc, hệ số ước lượng của mô hình và khoảng tin cậy 95%. 2.5. Đạo đức nghiên cứu Đây là nghiên cứu quan sát và can thiệp không xâm lấn, thông tin được mã hóa. Bệnh nhân có quyền từ chối không tham gia nghiên cứu. Đề cương nghiên cứu đã được Hội đồng chấm đề cương NCS của Trường Đại Học Y Hà Nội và Phòng Nghiên Cứu Khoa Học của Bệnh viện Đại Học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh xét duyệt và thông qua. Các vật liệu dùng trong nghiên cứu không có tác hại trên đối tượng tham gia nghiên cứu đã được ghi nhận trong y văn. Phiếu thu thập dữ liệu, các file hồ sơ được lưu trữ cẩn thận. 2.6. Hạn chế của đề tài - Là nghiên cứu tại bệnh viện nên kết quả nghiên cứu chưa đại diện cho cộng đồng. - Nhiều phương pháp điều trị rám má thông thường không được áp dụng do nghiên cứu thực hiện trên thai phụ. - Chưa thực hiện được định lượng AzA ở thai phụ trong nghiên cứu. 14 CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 3.1. Đặc điểm lâm sàng và các yếu tố liên quan đến rám má: 622 thai phụ rám má (88% MASI nhẹ/ vừa, 12% MASI nặng/ rất nặng) 3.1.1. Đặc điểm lâm sàng có liên quan với nhóm MASI Bảng 3.1: Đặc điểm lâm sàng có liên quan với nhóm MASI Yếu tố Tần số (%) Tàn nhang Có 246 (39,5) Không 376 (60,5) Sạm da đường giữa bụng Có 371 (59,6) Không 251 (40,4) Sạm da quanh rốn Có 341 (54,8) Không 281 (45,2) MASI Nặng/ rất Nhẹ/ vừa nặng n (%) n (%) p OR (KTC 95%) 18 (7,3) 58 (15,4) 228 (92,7) 318 (84,6) 0,003 0,43 (0,25 - 0,75) 1 58 (15,6) 18 (7,2) 313 (84,4) 233 (92,8) 0,002 2,40 (1,38 - 4,18) 1 53 (15,5) 23 (8,2) 288 (84,5) 258 (91,8) 0,005 2,06 (1,23 - 3,46) 1 3.1.2. Yếu tố liên quan rám má có liên quan với nhóm MASI Bảng 3.2: Yếu tố liên quan rám má có liên quan với nhóm MASI Yếu tố Tần số (%) MASI Nặng/ rất Nhẹ/ vừa nặng n (%) n (%) Tuổi <30 tuổi 235 (37,8) 13 (5,6) ≥ 30 tuổi 387 (62,2) 63 (16,2) Tuổi thai ≤ 12 tuần 96 (15,4) 9 (9,4) 13 – 24 tuần 188 (30,2) 12 (6,4) ≥ 25 tuần 338 (54,4) 55 (16,3) Số lần sinh Chưa 241 (38,8) 20 (8,3) Sinh 1 lần 321 (51,6) 43 (13,4) Sinh ≥2 lần 60 (9,6) 13 (21,7) Tiền sử rám má lần mang thai trước Có 204 (32,8) 36 (17,6) Không 418 (67,2) 40 (9,6) Tiếp xúc ANMT từ 9–16 giờ Không 59 (9,5) 2 (3,4) 15 – 30 phút 195 (31,4) 17 (8,7) 30 phút – 1 giờ 122 (19,6) 16 (13,1) > 1 giờ 246 (39,5) 41 (16,7) p OR (KTC 95%) <0,001 1 3,30 (1,77 - 6,13) 87 (90,6) 176 (93,6) 283 (83,7) 0,003 1¥ 0,66 (0,27 - 1,62) 1,88 (0,89 - 3,96) 221 (91,7) 278 (86,6) 47 (78,3) 0,012 1 1,71 (0,98 - 2,99) 3,06 (1,42 - 6,57) 168 (82,4) 378 (90,4) 0,004 2,02 (1,25 - 3,29) 1 221 (94,4) 325 (83,8) 57 (96,6) 178 (91,3) 106 (86,9) 205 (83,3) ¢ 0,009 1 2,72 (0,61 - 12,14) 4,30 (0,96 - 19,37) 5,70 (1,34 - 24,28) 15 3.1.3. Đặc điểm lâm sàng và yếu tố liên quan rám má không có liên quan với nhóm MASI Rám má trong 3 tháng đầu thai kỳ chiếm 58,7%; 99,8% là thể cánh bướm; 76,7% rám má hỗn hợp; 90,2% sạm da quầng vú. Có 24,8% có CKKN không đều; chỉ 27,3% đã từng dùng thuốc tránh thai; 37,9% có tiền sử gia đình rám má; 92,4% không mang hoặc mang khẩu trang không đúng cách; 77,3% không có thói quen dùng kem chống nắng; 34,4% thường xuyên dùng mỹ phẩm. 3.1.4. Phân tích đa biến với những yếu tố có liên quan nhóm MASI Bảng 3.3: Phân tích đa biến với những yếu tố có liên quan Yếu tố Tàn nhang Có Không Nhóm tuổi < 30 tuổi OR KTC 95% 0,39 0,22 – 0,70 p 0,002 1 1 ≥ 30 tuổi 2,84 Tiếp xúc ANMT (9 – 16 giờ) Không 1 0,002 1,45 – 5,55 15-30 phút 3,19 0,70 – 14,64 0,135 30-60 phút 4,60 0,99 – 21,37 0,052 > 60 phút 6,21 1,42 – 27,16 0,015 3.2. Khảo sát nồng độ nội tiết tố E, P và mối liên quan đến lâm sàng rám má ở phụ nữ mang thai 3.2.1. So sánh nồng độ E và P ở phụ nữ mang thai có và không bị rám má (n = 165) Bảng 3.4: So sánh nồng độ E và P Rám má Yếu tố p OR (KTC 95%) 3096,3 (+1014,5) 0,741 1,05 (0,79 – 1,40)* 27 (31,8) 0,543 1,22 (0,64 - 2,33) Có n (%) Không n (%) Estradiol [TB ± ĐLC] 3151,3 (+1130,3) Tăng cao 29 (36,3) 16 Tăng Progesterone [TB ± ĐLC] Tăng cao 51 (63,7) 58 (68,2) 42,5 (+12,5) 41,6 (+10,4) 25 (31,3) 22 (25,9) 1 0,630 1,07 (0,82 – 1,40)** 1,30 (0,66 - 2,56) 0,445 Tăng 55 (68,8) 63 (74,1) 1 * Sự khác biệt khi hơn kém nhau 1000 đơn vị; ** Sự khác biệt khi hơn kém nhau 10 đơn vị Nhận xét: Nồng độ E và P không khác biệt giữa 2 nhóm (p > 0,05). 3.2.2. Mối liên quan giữa E, P với mức độ rám má (n = 80) Bảng 3.5: Liên quan giữa E, P với mức độ rám má Giá trị L Yếu tố p OR (KTC 95%) 2905,1 (+1129,9) 0,095 1,41 (0,94 – 2,11)** 20 (69) 9 (31) 0,118 2,14 (0,82 – 5,58) 26 (51) 25 (49) 44,2 (+12,4) 40,2 (+12,3) 0,158 1,30 (0,90 – 1,88)*** 8 (32) 0,200 1,91 (0,71 – 5,14) Cao n (%) Thấp n (%) 3333,2 (+1107,7) Phân nhóm Estradiol Tăng cao Tăng Estradiol [TB ± ĐLC] Progesterone [TB ± ĐLC] Phân nhóm Progesterone Tăng cao 17 (68) Tăng 29 (52,7) 1 26 (47,3) 1 * Phân nhóm L dựa vào giá trị L trung bình (56,5) của 80 ca rám má; **Sự khác biệt khi hơn kém nhau 1000 đơn vị; *** Sự khác biệt khi hơn kém nhau 10 đơn vị. Nhận xét: Nồng độ E, P không liên quan mức độ rám má (p > 0,05). 3.3. Đánh giá các biện pháp can thiệp rám má ở thai phụ Có 57 thai phụ thuộc nhóm bôi AzA (41%), 40 (28%) thai phụ thuộc nhóm bôi Uve và 44 thai phụ thuộc nhóm mang KT (31%). Có sự tương đồng giữa các nhóm can thiệp, ngoại trừ phân loại rám má khác nhau giữa hai nhóm mang KT và bôi Uve (p < 0,05). 3.3.1. Đánh giá hiệu quả dựa trên chủ quan của thầy thuốc 17 Biểu đồ 3.1: Sự thay đổi đánh giá chủ quan qua các lần theo dõi Nhận xét: Trong nhóm AzA hoặc nhóm Uve, tỉ lệ cải thiện tăng dần. Trong nhóm KT, rám má nặng hơn. Có sự khác biệt giữa nhóm AzA và nhóm KT (p < 0,001), giữa nhóm Uve và nhóm KT (p < 0,001). 3.3.2. Đánh giá hiệu quả dựa trên chỉ số MASI Biểu đồ 3.2: Sự thay đổi điểm MASI qua các lần theo dõi 18 Biểu đồ 3.3: Sự thay đổi phân nhóm MASI qua các lần theo dõi Nhận xét: không có trường hợp nào thuộc MASI rất nặng. Sau 5 lần theo dõi, ở 2 nhóm can thiệp bôi thì chỉ số MASI hầu như không đổi, ở nhóm KT thì điểm MASI và phân nhóm MASI nặng hơn (p < 0,05) từ lần 3 (so với lần 0). Có sự khác biệt về điểm MASI giữa các nhóm can thiệp, cụ thể là khác biệt giữa nhóm AzA và nhóm KT (p < 0,001), sự khác biệt bắt đầu thể hiện từ sau 4 tháng can thiệp (p = 0,01) và khác biệt giữa nhóm Uve và nhóm KT sau 5 tháng can thiệp (p < 0,05). 19 3.3.3. Đánh giá hiệu quả dựa trên giá trị L Biểu đồ 3.4: Sự thay đổi giá trị L qua các lần theo dõi Biểu đồ 3.5: Sự thay đổi phân nhóm L qua các lần theo dõi 20 Nhận xét: Sau 5 lần theo dõi, ở 2 nhóm can thiệp bôi thì chỉ số L hầu như không đổi, trong khi đó ở nhóm KT thì giá trị L giảm (p < 0,05) từ lần 2 (so với lần 0), cũng như phân nhóm giá trị L cao giảm (p < 0,05) ở lần 5 (so với lần 0). So sánh kết quả đánh giá dựa trên giá trị L giữa các phương pháp sau 5 lần theo dõi cho thấy không có sự khác biệt về giá trị L cũng như phân nhóm giá trị L trên các nhóm can thiệp (p > 0,05). 3. 3. 4. Đánh giá tác dụng phụ của các biện pháp can thiệp Biểu đồ 3.6: Sự thay đổi tỉ lệ tác dụng phụ qua các lần theo dõi Nhận xét: Ở cả 2 nhóm can thiệp bôi, từ lần 3 không có sự khác biệt về tỉ lệ tác dụng phụ so với lần 0. Ở nhóm AzA, tác dụng phụ phổ biến nhất là ngứa 31,6%, kế đến là đỏ da 29,8%, châm chích và khô da cùng chiếm tỉ lệ tương đương (17,5%). Tác dụng bỏng rát chỉ xuất hiện trong 4 trường hợp. Ở nhóm Uve, số trường hợp có tác dụng phụ thấp hơn hẳn, với tỉ lệ tác dụng phụ cao nhất là ngứa và đỏ da (hồng ban) cùng chiếm 10% (4 ca).
- Xem thêm -