Tài liệu Nghiên cứu phong cách nguyên hồng qua các lớp từ trong truyện ngắn của nhà văn

  • Số trang: 101 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 1328 |
  • Lượt tải: 0
dangvantuan

Tham gia: 02/08/2015

Mô tả:

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN ---------------------------------------------------- LÊ THANH HƯƠNG NGHIÊN CỨU PHONG CÁCH NGUYÊN HỒNG QUA CÁC LỚP TỪ TRONG TRUYỆN NGẮN CỦA NHÀ VĂN LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÀNH NGÔN NGỮ HỌC Hà Nội - 2013 1 ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN ---------------------------------------------------- LÊ THANH HƯƠNG NGHIÊN CỨU PHONG CÁCH NGUYÊN HỒNG QUA CÁC LỚP TỪ TRONG TRUYỆN NGẮN CỦA NHÀ VĂN Chuyên ngành: Ngôn ngữ học Mã số: 602201 TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÀNH NGÔN NGỮ HỌC Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS. Phạm Tất Thắng Hà Nội - 2013 2 MỞ ĐẦU .................................................................................................................... 1 1. Lý do chọn đề tài ............................................................................................ 1 2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài ................................................. 1 3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu .................................................................. 2 4. Phương pháp nghiên cứu ................................................................................ 2 5. Bố cục của luận văn........................................................................................ 2 Chương 1 .................................................................................................................... 3 CƠ SỞ LÍ THUYẾT CỦA ĐỀ TÀI ......................................................................... 3 1.1. Khái quát về từ .................................................................................................. 3 1.2. Các lớp từ vựng tiếng Việt................................................................................. 4 1.2.1. Các lớp từ vựng tiếng Việt về mặt nguồn gốc.......................................... 5 1.2.2. Các lớp từ vựng tiếng Việt về mặt phạm vi sử dụng.............................. 12 1.2.3. Các lớp từ vựng tiếng Việt về mặt mức độ sử dụng............................... 20 1.3. Phong cách văn học giai đoạn 1930 - 1945 ..................................................... 25 1.3.1. Khái niệm phong cách và phong cách ngôn ngữ nghệ thuật .................. 23 1.3.2. Phong cách văn học giai đoạn 1930 - 1945 ............................................ 28 1.4. Khái quát về thể loại truyện ngắn trong tác phẩm văn học ......................... 29 1.4.1. Khái niệm truyện ngắn ........................................................................... 29 1.4.2. Đặc trưng của truyện ngắn hiện đại........................................................ 29 1.5. Khái quát về cuộc đời và sự nghiệp của nhà văn Nguyên Hồng................. 31 Chương 2 .................................................................................................................. 34 CÁC LỚP TỪ TRONG TRUYỆN NGẮN CỦA NHÀ VĂN NGUYÊN HỒNG ................................................................................................................................... 34 2.1. Đặt vấn đề ......................................................................................................... 34 2.2. Từ gốc Hán trong truyện ngắn của Nguyên Hồng ........................................ 35 2.2.1. Từ gốc Hán đơn âm tiết .......................................................................... 35 2.2.2. Từ gốc Hán song âm tiết ........................................................................ 39 3 2.3. Từ gốc Ấn - Âu trong truyện ngắn của Nguyên Hồng .................................. 48 2.4. Từ lịch sử trong truyện ngắn của Nguyên Hồng ........................................... 51 2.5. Tiếng lóng trong truyện ngắn của Nguyên Hồng .......................................... 54 2.6. So sánh sự khác biệt về sử dụng các lớp từ trong truyện ngắn của Nguyên Hồng giai đoạn trước và sau năm 1942 ................................................................. 58 Chương 3 ................................................................................................................. 67 ĐẶC ĐIỂM PHONG CÁCH NGÔN NGỮ NGHỆ THUẬT THỂ HIỆN QUA CÁC LỚP TỪ TRONG TRUYỆN NGẮN CỦA NHÀ VĂN NGUYÊN HỒNG ................................................................................................................................... 67 3.1. Đặt vấn đề ......................................................................................................... 67 3.2. Nghệ thuật sử dụng các lớp từ trong truyện ngắn của Nguyên Hồng ........ 68 3.2.1. Lớp từ gốc Hán ....................................................................................... 68 3.2.2. Lớp từ gốc Ấn - Âu ................................................................................ 69 3.2.3. Từ lịch sử ................................................................................................ 71 3.2.4. Tiếng lóng ............................................................................................... 72 3.3. Hình tượng nhân vật qua nghệ thuật điệp từ ................................................ 74 3.3.1. Những con người cùng khổ .................................................................... 75 3.3.2. Những người đàn bà dân nghèo ............................................................. 78 3.3.3. Những trẻ em con nhà nghèo ................................................................. 81 3.4. Hình tượng nhân vật qua chất liệu thành ngữ .............................................. 83 3.4.1. Tỉ lệ sử dụng lặp lại của thành ngữ 4 âm tiết ......................................... 85 3.4.2. Thành ngữ được sử dụng trong các truyện ngắn .................................... 87 3.4.3. Những kết cấu gần giống thành ngữ....................................................... 89 KẾT LUẬN .............................................................................................................. 92 TÀI LIỆU THAM KHẢO ...................................................................................... 95 4 MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Ngôn ngữ không những là phương tiện giao tiếp mà còn là công cụ để tư duy. Vì thế, ngôn ngữ không chỉ phục vụ cho những mục đích giao tiếp thông thường hàng ngày, mà còn là phương tiện thể hiện những tư tưởng nghệ thuật trong cuộc sống của con người. Trong các tác phẩm văn học - nghệ thuật, ngôn ngữ thành tiếng không chỉ khắc họa hình tượng nhân vật mà còn góp phần quan trọng vào việc làm sáng tỏ phong cách tác giả và tác phẩm. Trong nền văn học Việt Nam hiện đại, Nguyên Hồng là một trong các nhà văn có quá trình sáng tác liên tục và đã để lại khối lượng tác phẩm khá đồ sộ, gồm nhiều thể loại khác nhau như: truyện ngắn, tiểu thuyết, hồi ký, bút ký và thơ. Nhiều tác phẩm của ông đã rất thành công và góp phần vào những thành tựu rực rỡ cho nền văn học Việt Nam hiện đại. Một trong những lĩnh vực sáng tác có nhiều thành công của Nguyên Hồng là truyện ngắn. Khác với các thể loại văn xuôi khác, truyện ngắn là một thể loại khó, đòi hỏi sự cô đọng. Trong truyện ngắn, người viết không thể lan man, dàn trải những quan sát, suy ngẫm trong miêu tả tình huống, khắc họa tính cách nhân vật mà phải hết sức cô đọng. Ở những người viết truyện ngắn có nghề, người đọc thường thấy việc chọn lọc những chi tiết trong sáng tác của họ rất đắt, đặc biệt là lối dùng câu chữ khá chuẩn mực. Vì thế, để góp phần khẳng định phong cách nghệ thuật của Nguyên Hồng, chúng tôi tiến hành khảo sát, nghiên cứu các lớp từ vựng tiếng Việt trong tác phẩm của ông và hi vọng sẽ góp thêm một tiếng nói nhỏ bé đối với nhà văn Nguyên Hồng – một trong những cây bút xuất sắc trong giới văn học nghệ thuật Việt Nam. 2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài Để thực hiện đề tài "Nghiên cứu phong cách Nguyên Hồng qua các lớp từ trong truyện ngắn của nhà văn", mục đích chủ yếu của luận văn này là khảo sát và miêu tả các lớp từ vựng trong truyện ngắn của ông để phục vụ cho việc tìm hiểu phong cách ngôn ngữ nghệ thuật của nhà văn Nguyên Hồng. Cụ thể như sau: 5 - Khái quát một số vấn đề lí luận để làm cơ sở lí thuyết cho việc nghiên cứu nội dung của đề tài luận văn. - Miêu tả và phân tích các lớp từ vựng tiếng Việt trong truyện ngắn của Nguyên Hồng. - Phân tích các lớp từ được sử dụng trong truyện ngắn của Nguyên Hồng để làm nổi bật phong cách ngôn ngữ nghệ thuật của nhà văn. 3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu của luận văn là một số lớp từ vựng được sử dụng nhiều và thành cộng ở trong các truyện ngắn của Nguyên Hồng như: lớp từ gốc Hán, lớp từ gốc Ấn - Âu, từ lịch sử và tiếng lóng. Những lớp từ này được chúng tôi khảo sát trong tuyển tập truyện ngắn của nhà văn Nguyên Hồng được in trong cuốn Nguyên Hồng toàn tập, Nxb Văn học, 2008, do Phan Cự Đệ sưu tầm và giới thiệu. 4. Phương pháp nghiên cứu Phương pháp nghiên cứu chủ yếu của luận văn là phương pháp miêu tả và phân tích từ vựng ngữ nghĩa các lớp từ vựng tiếng Việt thông qua các thủ pháp thống kê kết hợp với các biểu đồ và bảng biểu. Ngoài ra, để làm rõ các đặc điểm sáng tạo trong việc sử dụng các lớp từ của nhà văn, luận văn đã tiến hành phân tích ngữ cảnh các lớp từ đó để thấy được những đặc điểm phong cách nghệ thuật của nhà văn Nguyên Hồng. 5. Bố cục của luận văn Ngoài phần Mở đầu và phần Kết luận, luận văn gồm 3 chương sau: Chương 1: Cơ sở lí thuyết của đề tài Chương 2. Các lớp từ trong truyện ngắn của nhà văn Nguyên Hồng Chương 3. Đặc điểm phong cách nghệ thuật thể hiện qua việc sử dụng các lớp từ trong truyện ngắn của nhà văn Nguyên Hồng 6 Chương 1 CƠ SỞ LÍ THUYẾT CỦA ĐỀ TÀI 1.1. Khái quát về từ Mong muốn của các nhà ngôn ngữ học là đưa ra một định nghĩa chung, khái quát, đầy đủ về từ cho tất cả mọi ngôn ngữ, tiếc thay, cho đến nay vẫn chưa đạt được và có lẽ sẽ không thể đạt được. Chúng ta đồng tình với L.Serba khi ông cho rằng từ trong các ngôn ngữ khác nhau, sẽ khác nhau …, và không thể có được một khái niệm về từ nói chung. Tuy thế, để có cơ sở tiện lợi cho việc nghiên cứu, người ta vẫn thường chấp nhận một khái niệm nào đó về từ tuy không có sức bao quát toàn thể nhưng cũng chỉ để lọt ra ngoài phạm vi của nó một số lượng không nhiều các trường hợp ngoại lệ. [3 ; 135] Theo GS Nguyễn Thiện Giáp: Từ trong hệ thống từ vựng tiếng Việt có những đặc trưng sau: + Chúng đều là những cấu trúc vừa có tính hoàn chỉnh, không thể xen thêm một đơn vị nào vào giữa, vừa có tính độc lập, có thể tách rời khỏi những đơn vị khác một cách dễ dàng. Về mặt ngữ âm, chúng đều là những âm tiết cấu tạo theo đúng nguyên tắc ngữ âm của tiếng Việt hiện đại. Về mặt chính tả, chúng được viết liền thành một khối theo đúng quy tắc chính tả hiện hành. + Chúng đều biểu thị những sự vật, hiện tượng và những quan hệ của thực tại. Có những đơn vị vừa có chức năng định danh, lại vừa có chức năng dẫn xuất, vừa có chức năng biểu niệm như: nhà, cây, đi, cười, đẹp,… Có những đơn vị vừa có chức năng dẫn xuất và chức năng biểu niệm mà không có chức năng định danh như: và, với, tuy, nhưng,… Lại có những đơn vị chỉ dẫn xuất tình thái, cảm xúc nào đó trong thực tại chứ không có chức năng định danh như: à, ôi, ối, ái,… Những đơn vị như: tôi, nó, đấy, đó, nọ, kia,… tự thân không biểu thị khái niệm, cũng không dẫn xuất, định danh cái gì cả, những chúng vẫn có ý nghĩa và ý nghĩa đó chỉ bộc lộ trong những hoàn cảnh nhất định. 7 + Các đơn vị như vừa nêu trên đều tham gia cấu tạo câu nói. Tùy theo tính chất, ý nghĩa của mình, chúng có thể đảm nhận những chức năng ngữ pháp khác nhau ở trong câu. Những đơn vị như: bàn, nhà, đi, đẹp, tốt,… có thể làm chủ ngữ, vị ngữ, bổ ngữ,…Những đơn vị như: của, để, vì, bởi, nên, và, với, mà, thì,… làm chức năng liên kết các từ, nhóm từ hay mệnh đề trong câu. Còn những đơn vị như: à, hả, ái, ối, ôi, ơi,… thì đem lại cho câu nói tính tình thái nào đó. Những đặc trưng của cả mặt phương tiện vật chất lẫn mặt chức năng, ý nghĩa trên đây đã làm cho những đơn vị đang xét trở thành một loại đơn vị thực tại, hiển nhiên nhất đối với mỗi người nói tiếng Việt, tức là trở thành từ của tiếng Việt. Từ trong hệ thống từ vựng tiếng Việt có những đặc điểm sau: + Từ tiếng Việt là đơn vị nhỏ nhất có nghĩa, mỗi từ là một âm tiết, nếu phân tích từ thành những bộ phận nhỏ hơn nữa thì chỉ có thể thu được những âm vô nghĩa. + Từ tiếng Việt có thể có biến thể ngữ âm (ví dụ: lời và nhời, trăng và giăng, nhăn và dăn) nhưng không có biến thể hình thái học. Dù đứng trong câu hay đứng lẻ một mình, bao giờ chúng cũng giữ nguyên một hình thức. + Ý nghĩa từ vựng và ý nghĩa ngữ pháp gắn bó chặt chẽ với nhau ở trong từ tiếng Việt. Vì vậy, ý nghĩa của từ tiếng Việt thường có tính chất trừu tượng, khái quát. Chỉ khi kết hợp với các từ khác, ý nghĩa của nó mới được cụ thể hóa. [19 ; 67] Theo Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến, từ trong tiếng Việt có thể được phát biểu như sau: Từ là đơn vị nhỏ nhất có nghĩa, có kết cấu vỏ ngữ âm bền vững, hoàn chỉnh, có chức năng gọi tên, được vận dụng độc lập, tái hiện tự do trong lời nói để tạo câu.[3 ; 141] 1.2. Các lớp từ vựng tiếng Việt Do tiếng Việt vốn có một khối lượng từ ngữ khá đồ sộ nên cần phải sắp xếp từ vựng thành một hệ thống cụ thể để tạo điều kiện cho việc học tập và nghiên cứu tiếng Việt, đồng thời giúp cho tiếng Việt hoàn thiện và phát triển. Hệ thống đó chính là các lớp từ. Lớp từ vựng tiếng Việt được hiểu là một tập hợp các đơn vị gồm nhiều đặc điểm giống nhau về nguồn gốc, phạm vi sử dụng, mức độ sử dụng và về mặt phong 8 cách học. Nhìn chung, các lớp từ vựng tiếng Việt có thể được trình bày theo mô hình sau: Các từ thuần Việt Các từ ngữ gốc Hán Về mặt nguồn gốc Các từ ngữ gốc Ấn - Âu Từ vựng toàn dân Từ địa phương Tiếng lóng Về mặt phạm vi sử dụng Lớp từ vựng Từ ngữ nghề nghiệp tiếng Việt Thuật ngữ Từ vựng tích cực và từ vựng tiêu cực Về mặt mức độ sử dụng Từ ngữ cổ và từ ngữ lịch sử Từ ngữ mới và ý nghĩa mới Từ vựng trung hòa Về mặt phong cách học Từ vựng hội thoại Từ vựng sách vở 1.2.1. Các lớp từ vựng tiếng Việt xét về mặt nguồn gốc 1.2.1.1. Các từ thuần Việt và giải thuyết về nguồn gốc tiếng Việt Theo Nguyễn Thiện Giáp: Ngoài những từ có thể xác định chắc chắn là tiếng Việt tiếp nhận của tiếng Hán và các ngôn ngữ Ấn - Âu, tất cả các từ còn lại thường được gọi là các từ thuần Việt. Những từ được gọi là thuần Việt thường trùng với bộ phận từ vựng gốc của tiếng Việt, chúng biểu thị những sự vật, hiện tượng cơ bản nhất, chắc chắn phải tồn tại từ rất lâu. Các nhà ngôn ngữ học đã đưa ra nhiều giải thuyết khác nhau về nguồn gốc của tiếng Việt. Có ba khuynh hướng chính như sau: - Cho tiếng Việt bắt nguồn từ các ngôn ngữ Môn - Khơme (Nam Á). - Cho tiếng Việt bắt nguồn từ các ngôn ngữ Tày - Thái. - Cho tiếng Việt sinh ra do sự hỗn hợp của ngôn ngữ Nam Á và Tày - Thái. [19 ; 236] Theo Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến: Lớp từ thuần Việt là các từ gốc Nam Phương, bao gồm cả Nam Á và Tày Thái. Những kết quả 9 nghiên cứu gần đây chp thấy rằng nhiều bộ phận, nhiều nhóm của lớp từ thuần Việt có những tương ứng, những quan hệ hết sức phức tạp với nhiều ngôn ngữ hoặc nhóm ngôn ngữ trong vùng: - Tương ứng Việt - Mường: vợ, chồng, ông, ăn, uống, cười, bơi, nằm, khát, trốn, gáy, mỏ, môm, rá, chum, nồi, vại, váy, cơm, cây, củ, rạ, mây, cau, cỏ, gà, trứng,… - Tương ứng Việt - Tày Thái: đường, rẫy, bắt, bóc, buộc, ngắt, gọt, đẵn, bánh, vắng, mo, ngọn, méo, vải, mưa, đồng, móc, nụ, gà, chuột,… - Tương ứng với các ngôn ngữ nhóm Việt - Mường đồng thời với nhóm Bru - Vân Kiều: trời, trăng, đêm, bụng, ruột, kéo, bốc, ngáy, khạc, củi, hột, rắn, khô,… - Tương ứng với nhóm ngôn ngữ Môn - Khmer ở Tây Nguyên Việt Nam: trời, mây, mưa, sấm, sét, bàn, chân, đầu gối, da, óc, thịt, mỡ, bố, mẹ, mày, nó, nuốt, cắn, nói, kêu, còi, mặc, nhắm, bếp, chổi, đọi,… - Tương ứng với nhóm Việt - Mường và các ngôn ngữ Môn - Khmer khác: sao, gió, sông, đất, nước, lửa, đá, người, tóc, mặt, mắt, mũi răng, lưỡi, cổ, lưng, tay, chân, máu, xương, cằm, đít, con, cháu,… - Tương ứng với nhóm Việt Mường và Tày Thái: bão, bể, bát,dao, gạo, ngà voi, than, phân, cày, đen, gạo, giặt,… - Tương ứng Việt - Inddooneexxia: bố,ba, bu, mẹ, bác, ông, cụ, đất, trâu, sông, cái, cây, núi, đồng, mất, nghe, đèn, đêm, trắng, tuổi, ăn, cướp, bướm, sáng, rất, nấu, này, là, rằng, ngày,… [3 ; 218] 1.2.1.2. Các từ ngữ gốc Hán a. Quá trình tiếp xúc giữa tiếng Việt và tiếng Hán trong lịch sử Tiếng Việt và tiếng Hán đều là những ngôn ngữ có lịch sử lâu đời. Sự tiếp xúc giữa hai ngôn ngữ này bắt đầu khi phong kiến nhà hán của Trung Quốc xâm chiếm nước ta, biến nước ta thành những quận, huyện của chúng. Trong quá trình tiếp xúc giữa hai ngôn ngữ, tiếng Việt đã tiếp nhận một khối lượng từ ngữ rất lớn của tiếng Hán để làm giàu thêm kho từ ngữ của mình. Hiện tượng tiếp nhận này diễn ra không giống nhau trong các thời kì, Nếu hiện tượng tiếp nhận từ ngữ Hán của tiếng Việt ở giai đoạn đầu chỉ có tính chất lẻ tẻ, rời rạc, chủ yếu bằng con đường khẩu ngữ qua sự tiếp xúc trực tiếp của người Việt với người 10 Hán thì đến đời Đường, tiếng Việt đã tiếp nhận các từ ngữ Hán một cách có hệ thống bằng con đường sách vở. Tuy nhiên, chỉ được phép coi là từ Việt gốc Hán những từ Hán nào thực sự nhập vào hệ thống từ vựng tiếng Việt, chịu sự chi phối của các quy luật ngữ âm, ngữ nghĩa và ngữ pháp của tiếng Việt. Như vậy, từ gốc Hán trong tiếng Việt sẽ gồm hai bộ phận chính: + Các từ ngữ gốc Hán đọc theo âm Hán - Việt, gọi tắt là các từ Hán - Việt. + Các từ ngữ gốc Hán không đọc theo âm Hán - Việt. b. Các từ ngữ gốc Hán đọc theo âm Hán - Việt (các từ Hán - Việt) Các từ ngữ tiếp nhận của tiếng Hán đọc theo âm Hán - Việt là bộ phận chủ yếu trong các từ ngoại lai của tiếng Việt. Nó bao gồm: (1). Những từ ngữ Hán - Việt được tiếp nhận từ đời Đường và các triều đại tiếp theo cho đến ngày nay. Do có quan hệ trực tiếp hoặc gián tiếp một cách lâu dài với tiếng Hán nên tiếng Việt đã tiếp nhận có hệ thống một khối lượng to lớn các từ ngữ của tiếng Hán thuộc đủ mọi lĩnh vực hoạt động. Ví dụ: chính trị có: hoàng thượng, chế độ, triều đình, giám sát, áp chế, bá chủ, dân chủ, xã hội, cách mạng,… Kinh tế có: công nghiệp, nông nghiệp, thương mại, nội thương, ngoại thương, xuất khẩu, nhập khẩu, năng suất, thặng dư, lợi nhuận,… Y học có: viêm nhiệt, thương hàn, chướng khí, thương tích, bệnh nhân, bệnh viện,… … Đối với các từ tiếp nhận kiểu này cần phân biệt hai loại nhỏ: - Những từ tiếng Việt trực tiếp nhận của tiếng Hán Loại này chiếm tuyệt đại đa số các từ Hán - Việt. Nghĩa của các từ Hán Việt loại này có quan hệ với nghĩa gốc của các từ Hán tương ứng. Ví dụ: anh là chúa của loài hoa, hùng là chúa của loài thú, cho nên anh hùng cũng có nghĩa là người hào kiệt xuất chúng. - Những từ tiếng Việt tiếp nhận của các ngôn ngữ khác thông qua tiếng Hán. Ví dụ: câu lạc bộ do tiếng Hán dịch âm từ Anh club mà thành, Mạc Tư Khoa là do tiếng Hán dịch âm từ Nga Mockva mà thành,… 11 (2). Những từ ngữ Hán - Việt được cấu tạo ở Việt Nam. Nhiều từ Hán - Việt được tiếp nhận vào Việt Nam từ lâu, chúng đã trở thành một bộ phận hữu cơ của từ vựng tiếng Việt. Người Việt đã sử dụng những từ gốc Hán đó làm chất liệu để cấu tạo nên những đơn vị từ vựng mới theo cách của Việt Nam, cho nên chúng ta không thể tìm thấy một từ ngữ nào tương ứng trong tiếng Hán hiện nay. Cần phân biệt 2 loại nhỏ: Thứ nhất: Những đơn vị do các yếu tố gốc Hán tạo thành. Hãy so sánh: Từ tiếng Việt Từ gốc Hán An tri Câu cấm Đại đội Liên Náo động Tao động Thiếu tá Thiếu hiệu Tiểu đoàn doanh Thứ hai: Những đơn vị do các yếu tố gốc Hán và thuần Việt tạo thành. Ví dụ: binh lính, cướp đoạt, đói khổ, kẻ địch, súng trường, tàu hỏa, tàu thủy,… Thực ra, tính ngoại lai của các đơn vị từ vựng được cấu tạo ở Việt Nam là có mức độ. Chúng chỉ có tính ngoại lai ở chất liệu cấu tạo còn cách cấu tạo là của Việt Nam. Đối với những từ loại thứ hai (yếu tố Hán - Việt kết hợp với yếu tố thuần Việt) thì tính ngoại lai lại càng ít hơn nữa. c. Các từ ngữ gốc Hán không đọc theo âm Hán - Việt Ngoài các từ ngữ Hán - Việt đã nói ở trên, trong tiếng Việt còn có một số từ gốc Hán nhưng không đọc theo âm Hán - Việt. Những từ này chiếm một số lượng ít, lẻ tẻ, không làm thành hệ thống như các từ Hán - Việt. Những từ gốc Hán không đọc theo âm Hán - Việt có thể gồm: - Những từ vào Việt Nam trước đời Đường - Những từ Hán cổ. Từ đời Hán đến đời Đường, ngữ âm của tiếng Hán đã phát triển và biến đổi khá nhiều. Những từ Hán được tiếng Việt tiếp nhận vào trước đời Đường sẽ có cách đọc theo âm Hán cổ chứ không đọc theo cách đọc Hán - Việt. Đến đời Đường, những từ đó lại được tiếp nhận vào tiếng Việt một lần nữa, nhưng đọc theo cách phát âm đời Đường, tức là 12 đọc theo cách đọc Hán - Việt. Do đó, ở Việt Nam tồn tại những cặp từ ngoại lai cùng gốc, nhưng có cách đọc khác nhau. Ví dụ: Hán cổ Hán - Việt Bia bi Bụa Phụ Buồm phàm Buồn Phiền Buồng phòng - Những từ Hán Việt được Việt hóa Các từ Hán - Việt khi nhập vào hệ thống từ vựng tiếng Việt đã chịu sự tác động của quy luật biến đổi ngữ âm của tiếng Việt. Vì vậy, có một số từ đã thay đổi diện mạo của mình, không giống với dạng ngữ âm Hán - Việt ban đầu nữa. Dạng ngữ âm Hán - Việt của từ có khi vẫn tồn tại trong tiếng Việt, tạo nên những cặp từ song song tồn tại. Hãy so sánh: Hán - Việt H-V Việt hóa ấn In Bảo Báu Bích Biếc Bổ Vá Bổn Vốn d. Từ Việt gốc Hán và từ Hán đọc theo âm Hán - Việt Như trên đã nói, người ta có thể dùng cách đọc Hán - Việt để đọc bất cứ chữ Hán nào. Vì vậy, không phải bất cứ từ nào đọc theo âm Hán - Việt cũng là từ gốc Hán trong tiếng Việt. Ngược lại không phải bất kì từ gốc Hán nào cũng phát âm theo cách đọc Hán - Việt. Hai khái niệm này bắt chéo lẫn nhau, chứ không trùng nhau. Có thể hình dung mối quan hệ của chúng như sau: a I - Từ gốc Hán trong tiếng Việt I b II - Từ Hán đọc theo âm Hán Việt c 13 II Vòng tròn thứ nhất (I) biểu thị các từ gốc Hán, vòng tròn thứ hai (II) biểu thị những từ Hán đọc theo âm Hán - Việt. Bộ phận giao nhau của hai vòng tròn biểu thị các từ gốc Hán trong tiếng Việt được đọc theo âm Hán - Việt. Phần còn lại của vòng tròn thứ nhất gồm: những từ gốc Hán cổ (a), những từ Hán - Việt được Việt hóa về ngữ âm (b), những từ gốc Hán tiếp nhận qua khẩu ngữ địa phương nào đó (c). Phần còn lại của vòng tròn thứ hai biểu thị những từ Hán được đọc theo âm Hán - Việt nhưng chưa được mượn vào Việt Nam. Những từ gốc Hán trong tiếng Việt được đọc theo âm Hán - Việt và những từ Hán đọc theo âm Hán - Việt phân biệt nhau ở chỗ những từ gốc Hán trong tiếng Việt là một bộ phận của từ vựng tiếng Việt, nó chịu sự chi phối của các quy luật hoạt động của tiếng Việt, còn những từ Hán đọc theo âm Hán - Việt là những từ của tiếng Hán, chứ không phải tiếng Việt. 1.2.1.3. Các từ ngữ gốc Ấn - Âu a. Sự tiếp xúc của tiếng Việt với các ngôn ngữ Ấn - Âu Cuối thế kỉ XIX, thực dân Pháp hoàn thành việc xâm chiếm nước ta thành một thuộc địa của chúng. Từ đó trở đi, Việt Nam đã chịu ảnh hưởng của Pháp ngày càng nhiều về tất cả các mặt chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội,... Địa vị của tiếng Pháp ở Việt Nam rất được đề cao. Chẳng những tiếng Pháp được dùng trong công văn, giấy tờ của nhà nước mà còn được dùng làm phương tiện giảng dạy ở trường học. Do đó, những từ ngữ của Pháp đã thâm nhập vào tiếng Việt ngày càng nhiều. Tỉ lệ của từ tiếng Việt tiếp nhận của tiếng Pháp đứng hàng thứ hai sau tiếng Hán. Ví dụ: - Tên món ăn: bít tết, kem, pho mát, rượu vang, xúc xích,... - Tên quần áo vải vóc: ba đơ suy, bốt, gi lê, len, may ô, sơ mi, vét tông,... - Tên thuốc: can xi, ca phê in, kí ninh, vi ta min,... - Thuật ngữ quân sự: ách suy đăng, ca nông, cẩm, com măng đô, đoan, lô cốt,... Đồng thời gián tiếp thông qua tiếng Pháp, một số từ ngữ của tiếng Anh cũng du nhập vào tiếng Việt. 14 Cách mạng xã hội chủ nghĩa Tháng Mười vĩ đại đã có ảnh hưởng lớn đối với xã hội Việt Nam. Nhiều từ Nga như bônssêvích, xô viết đã được tiếp nhận vào tiếng Việt. Sau khi cách mạng tháng Tám 1945 thành công, nước ta mở rộng quan hệ ngoại giao với Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa khác, cho nên tỉ lệ các từ tiếng Việt tiếp nhận của tiếng Nga cũng tăng thêm. b. Quá trình Việt hóa các từ ngoại lai gốc Ấn - Âu Theo quy luật chung, tất cả các từ ngoại lai trong tiếng Việt đều có sự biến đổi về ngữ âm sao cho phù hợp với hệ thống ngữ âm của tiếng Việt. Mức độ Việt hóa các từ ngoại lai gốc Ấn - Âu không giống nhau. Những từ tiếp nhận bằng con đường khẩu ngữ thường được Việt hóa nhiều hơn các từ tiếp nhận bằng con đường sách vở. Đặc điểm của tiếng Việt là mỗi từ một âm tiết có thanh điệu nhất định, trong từ, không có phụ âm kép, không có âm câm. Nhiều từ Ấn - Âu, vốn là đa âm tiết, không có thanh điệu, có phụ âm kép hoặc âm câm khi vào tiếng Việt đã biến đổi đi cho giống với diện mạo của từ tiếng Việt. Ví dụ: êquipe - kíp créme - kem cric - kích dame - đầm drap - dạ gram - gam post - bốt Những từ tiếp nhận bằng con đường sách vở thường gần với nguyên mẫu hơn. Trong khi phiên âm các thuật ngữ Ấn - Âu người ta vẫn phản ánh tính đa tiết của nó mặc dù đã phân tiết hóa các thuật ngữ đó, đã biến dạng âm tiết Ấn - Âu cho phù hợp với mô hình cấu tạo âm tiết của tiếng Việt. Sự biến đổi ngữ âm thể hiện ở những mặt sau đây: - Thêm thanh điệu: café - cà phê carotte - cà rốt fromage - pho mát 15 - Khi có phụ âm kép thì bỏ bớt một phụ âm: glacé - lát xê frein - phanh gramme - gam - Bỏ cả các âm câm không cần thiết đối với tiếng Việt: coupe - cúp creme - kem equipe - kíp - Thay đổi một số âm: p b : paté - ba tê r k : carton - các tông s l t : caisse - két n : balcon - ban công Trong những trường hợp cần thiết, trên sách báo người ta chỉ chuyển tự các từ mượn, thậm chí có khi ghi luôn bằng chữ tiếng nước ngoài. Hiện tượng chuyển tự thường thấy trong các trường hợp dịch các tên riêng, tên người, tên thành phố, sông hồ, núi non,... của nước ngoài. Ví dụ: Gorki, Puskin, Moskva,... [19 ; 236] 1.2.2. Các lớp từ vựng tiếng Việt về mặt phạm vi sử dụng 1.2.2.1. Từ vựng toàn dân Theo Nguyễn Thiện Giáp: Từ vựng toàn dân là những từ toàn dân hiểu và sử dụng. Nó là vốn từ chung cho tất cả những người nói tiếng Việt, thuộc các địa phương khác nhau, các tầng lớp xã hội khác nhau. Đây chính là lớp từ vựng cơ bản, lớp từ vựng quan trọng nhất trong mỗi ngôn ngữ. Có thể nói từ vựng toàn dân là hạt nhân từ vựng, làm cơ sở cho sự thống nhất ngôn ngữ, không có nó, ngôn ngữ không thể có được và do đó cũng không có sự trao đổi giao tiếp giữa mọi người. Về mặt nội dung, từ vựng toàn dân biểu thị những sự vật, hiện tượng hay khái niệm quan trọng và cần thiết nhất trong đời sống. Chẳng hạn, những từ chỉ hiện tượng thiên nhiên: mưa, nắng, núi, sông,… ; những từ chỉ bộ phận cơ thể con người: đầu, mắt, mũi, chân, tay,… ; những từ chỉ các sự vật, hiện tượng gắn liền với đời sống: cày, cuốc, kim, chỉ,… 16 Về mặt nguồn gốc, vốn từ toàn dân của tiếng Việt có thể bao gồm các từ có quan hệ với các tiếng Môn - Khơme như: sông, núi, bắn, lớp,… Từ vựng toàn dân là bộ phận nòng cốt của từ vựng văn học. Nó là vốn từ cần thiết nhất để diễn đạt tư tưởng trong tiếng Việt. Từ vựng toàn dân cũng là cơ sở để cấu tạo các từ mới, làm giàu cho từ vựng tiếng Việt nói chung. Nói chung, tuyệt đa số các từ thuộc lớp từ vựng toàn dân là những từ trung hòa về phong cách, tức là chúng có thể được dùng trong các phong cách chức năng khác nhau. [19 ; 255] Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến cho rằng: Trừ những từ ngữ thuộc các lớp từ được sử dụng hạn chế về mặt lãnh thổ (từ địa phương) hoặc về mặt "phương ngữ xã hội" (thuật ngữ, tiếng lóng, từ nghề nghiệp), số còn lại được gọi là lớp từ vựng chung hoặc từ vựng toàn dân. Ngay tên gọi của lớp từ này cũng đã ngụ ý rằng nó gồm những từ ngữ mà toàn dân, mọi người, mọi nơi, mọi lúc đều có thể sử dụng một cách rộng rãi. Lớp từ này có khối lượng từ ngữ lớn nhất, và trong từ vựng của ngôn ngữ nào cũng vậy, nó đóng vai trò làm nền tảng. Nó cũng là cơ sở để thống nhất từ vựng và thống nhất ngôn ngữ dân tộc, đồng thời là tài sản chung để mọi thành viên trong dân tộc, trong xã hội sử dụng làm công cụ giao tiếp chung; bởi vì nó gọi tên cho tất cả những sự vật, hiện tượng, thuộc tính, quá trình,… thiết yếu nhất trong sự tồn tại của đời sống con người. Trong tương quan với từ địa phương, từ nghề nghiệp, thuật ngữ và cả tiếng lóng, lớp từ chung vừa làm chỗ dựa cho chúng, lại vừa được chúng bổ sung cho. Trong trường hợp cần thiết, vẫn có những từ ngữ trong các lớp từ được sử dụng hạn chế đó, được chấp nhận và tiếp thu vào vốn từ vựng chung (dĩ nhiên, không phải là tất cả mọi từ). Đó là sự tác động qua lại hai chiều, là biểu hiện của tính thống nhất trong cái đa dạng của từ vựng. [3 ; 226] 1.2.2.2. Từ địa phương Nguyễn Văn Tu viết: Trong tác phẩm "Chủ nghĩa Mac và vấn đề ngôn ngữ học", Xta - lin đã đề cập đến vấn đề ngôn ngữ dân tộc và tiếng địa phương. Theo 17 đồng chí, mỗi ngôn ngữ trong quá trình phát triển vẫn là công cụ duy nhất của mọi thành viên của xã hội. Quá trình phát triển của ngôn ngữ nói chung hay của một ngôn ngữ cụ thể nào đó đều lâu dài và phức tạp. Trong quá trình đó, ngôn ngữ thị tộc phát triển lên ngôn ngữ bộ lạc rồi bộ tộc và cuối cùng lên ngôn ngữ dân tộc. Ngôn ngữ bộ tộc xuất hiện vào thời kì tiền chủ nghĩa tư bản. Rồi một mặt hình thành ngôn ngữ của toàn dân, mặt khác tính chất đặc thù của bộ phận lãnh thổ trong một bộ tộc phát triển thành tiếng địa phương mới. Tiếng địa phương không có tính giai cấp. Nó phục vụ mọi giai cấp ở một địa phương nhất định. Một trong những tiếng địa phương sẽ làm sở sở cho ngôn ngữ dân tộc hình thành. Mặc dù tiếng Việt về cơ bản thống nhất nhưng theo sự khác nhau về thanh điệu, về từ vựng có thể có 4 nhóm: - Tiếng địa phương miền Bắc: Bắc bộ + Thanh Hóa - Tiếng địa phương Trung bộ, Nghệ An và Thừa Thiên - Tiếng địa phương miền Nam Trung bộ: Quảng Nam, Phú Yên - Tiếng địa phương Nam bộ từ Bình Thuận trở vào. Theo Nguyễn Văn Tu, tác dụng của tiếng Việt đến các tiếng địa phương biểu hiện nhiều nhất trong từ vựng. Tất cả những từ mới biểu thị các khái niệm chính trị, kinh tế, văn hóa đều được các địa phương dùng. Các tiếng địa phương đều tiếp thu các danh từ trừu tượng của tiếng phổ thông. Trong quá trình sát nhập vào ngôn ngữ dân tộc, tiếng địa phương làm giầu thêm từ vựng của tiếng phổ thông. [47 ; 127] Theo Nguyễn Thiện Giáp: Từ địa phương là những từ được dùng hạn chế ở một hoặc một vài địa phương. Nói chung, từ địa phương là bộ phận từ vựng của ngôn ngữ nói hàng ngày của bộ phận nào đó của dân tộc, chứ không phải là từ vựng của ngôn ngữ văn học. Khi dùng vào sách báo nghệ thuật, các từ địa phương thường mang sắc thái tu từ: diễn tả lại đặc điểm của địa phương, đặc điểm của nhân vật,… Có thể thấy một số kiểu từ địa phương như sau: - Từ địa phương không có sự đối lập với từ vựng toàn dân: Đó là những từ ngữ biểu thị những sự vật, hiện tượng, những hoạt động, cách sống đặc biệt chỉ có ở địa phương nào đó chứ không phổ biến đối với toàn dân, do đó không có từ song 18 song trong ngôn ngữ văn học toàn dân. Các nhà ngôn ngữ học loại này là từ địa phương dân tộc học. Ví dụ: chôm chôm, măng cụt, sầu riêng,... - Từ địa phương có sự đối lập với từ vựng toàn dân: Kiểu từ vựng địa phương này có thể chia ra hai loại nhỏ căn cứ vào hai mặt ngữ âm và ngữ nghĩa của chúng. + Từ ngữ địa phương đối lập về mặt ý nghĩa: Những từ ngữ này về mặt ngữ âm giống với từ ngữ tương ứng trong ngôn ngữ văn học toàn dân, nhưng ý nghĩa khác nhau. Ví dụ: cậu: Em trai của mẹ (trong ngôn ngữ toàn dân) nhưng là Anh trai của mẹ (trong phương ngữ Hải Hưng) + Từ ngữ địa phương có sự đối lập về ngữ âm: Kiểu này có thể chia ra làm hai loại nhỏ, căn cứ vào mức độ khác biệt về ngữ âm so với từ ngữ toàn dân tương ứng: (1). Các từ ngữ địa phương có hình thức ngữ âm khác hoàn toàn với các từ ngữ tương ứng trong ngôn ngữ toàn dân. Ví dụ: cua (toàn dân) - rốc ( Hải Hưng) dạm (Thanh Hóa) - dam (Nghệ Tĩnh). (2). Các từ ngữ địa phương có hình thức ngữ âm khác bộ phận với các từ ngữ tương ứng trong ngôn ngữ toàn dân. Ví dụ: đu đủ (toàn dân) - thù đủ (Thanh Hóa) thu đủ (Nghệ Tĩnh). Giữa từ vựng toàn dân và từ vựng địa phương có quan hệ qua lại lẫn nhau. Ranh giới giữa hai lớp này sinh động, thay đổi phụ thuộc vào vấn đề sử dụng của chúng. Ví dụ: Đã một thời các từ chốc "đầu", cấu "gạo",... là các từ toàn dân. Với thời gian, những từ này chỉ được giữ lại ở một vùng nào đó và trở thành các từ địa phương. Ngược lại, các từ địa phương như cây đước, đặng, ngó, sầu riêng, tắc kè,... đã trở thành từ vựng toàn dân sau quá trình mở rộng phạm vi sử dụng của mình. [19 ; 257] 1.2.2.3. Tiếng lóng Theo Nguyễn Thiện Giáp, Tiếng lóng là những từ ngữ được dùng hạn chế về mặt xã hội, tức là những từ ngữ không phải toàn dân sử dụng mà chỉ một tầng lớp xã hội nào đó sử dụng mà thôi. Thông thường, tiếng lóng được hiểu là những từ ngữ riêng của bọn ăn cắp. Cách quan niệm như vậy là hẹp hòi và không đúng. Nói chung, mỗi tầng lớp xã hội 19 có chung một hoàn cảnh, một lối sống, có thể tạo ra một số từ ngữ riêng chỉ dùng trong nội bộ tầng lớp mình, những từ ngữ như vậy đều có thể coi là tiếng lóng. Cũng là hiện tượng ngôn ngữ, song dường như tiếng lóng chỉ là một hiện tượng kí sinh vào tiếng Việt. Số phận của tiếng lóng gắn liền với cái môi trường, cái hoàn cảnh và bản thân những tầng lớp xã hội đã sản sinh ra nó. Vì vậy, hơn lĩnh vực nào khác, tiếng lóng thay đổi thường xuyên, không ngừng. Sự thay đổi này tùy thuộc vào hai nhân tố: (1). Sự thay đổi của bản thân cái môi trường, hoàn cảnh xã hội và những tầng lớp sản sinh ra nó. (2). Bản chất của tiếng lóng là muốn bí mật, muốn che giấu với mục đích nào đó, trong phạm vi của giới mình, cho nên khi cái bí mật đã bị phát hiện thì cơ sở tồn tại của tiếng lóng cũng bị mất. Ví dụ: tiếng lóng của bọn phe phẩy: bắt mồi (tìm hàng), dính (mua), phảy (bán), luộc (bán), tách bõ (chia phần); tiếng lóng của bộ đội: đi R (đi phép), đi xe dép (đi bộ), lái F (có vợ), đi âm tần đi cao tần (tranh thủ),... [19 ; 261] Theo Nguyễn Văn Khang, có thể nêu ra một nhận định chung là, từ ngữ lóng tiếng Việt, tức là từ các vật liệu có sẵn và bằng các phương thức tạo từ vốn có để tạo nên những từ ngữ lóng. Những từ lóng thường thấy nhất là những từ lóng sử dụng ngay các đơn vị từ vựng vốn có của tiếng Việt và cấp cho chúng thêm một nghĩa mới: nghĩa lóng. Có thể coi đây là hình thức tạo từ lóng cơ bản nhất, phổ biến nhất của tiếng Việt. [27 ; 26] Theo Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến: Tiếng lóng là một bộ phận từ ngữ do những nhóm, những lớp người trong xã hội dùng để gọi tên những sự vật, hiện tượng, hành động ... vốn đã có tên gọi trong vốn từ vựng chung, nhằm giữ bí mật trong nội bộ nhóm mình. Ở nước ta, trong bối cảnh xã hội mà chúng ta đang sống, trừ một nhóm rất ít người buôn bán gian lận, làm ăn bất chính hoặc trộm cắp lưu manh, có vốn tiếng lóng khá phong phú để góp phần che giấu hành vi của họ, hoặc tỏ ra cho có vẻ "anh chị", "thời thượng" còn thì các tầng lớp xã hội khác rất ít tiếng lóng (mà tiếng lóng của họ lại chỉ để vui đùa là chủ yếu). 20
- Xem thêm -