Tài liệu Mối quan hệ giữa xuất khẩu và tăng trưởng kinh tế ở việt nam từ năm 2007 tới 2013

  • Số trang: 74 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 172 |
  • Lượt tải: 0
nguyetha

Đã đăng 8490 tài liệu

Mô tả:

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG ---------o0o--------- Công trình tham dự Cuộc thi Sinh viên nghiên cứu khoa học Trường Đại học Ngoại thương 2013-2014 Tên công trình: Mối quan hệ giữa xuất khẩu và tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam giai đoạn 2007-2013 Nhóm ngành: KD2 Hà Nội , tháng 04 năm 2014 MỤC LỤC LỜI MỞ ĐẦU ............................................................................................................ 1 NỘI DUNG................................................................................................................. 5 CHƯƠNG I: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ XUẤT KHẨU VÀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ .............................................................................................. 5 1.1. Một số vấn đề lý luận cơ bản về tăng trưởng kinh tế ............................. 5 1.1.1. Khái niệm chung ................................................................................. 5 1.1.2. Các yếu tố tác động tới tăng trưởng kinh tế ....................................... 6 1.2. Một số vấn đề lý luận cơ bản về xuất khẩu ............................................ 8 1.2.1. Khái niệm Xuất khẩu .......................................................................... 8 1.2.2. Các yếu tố tác động tới xuất khẩu .................................................... 10 1.3. Mối quan hệ giữa Xuất khẩu và tăng trưởng kinh tế ........................... 14 1.3.1. Vai trò của xuất khẩu đối với tăng trưởng kinh tế............................ 14 1.3.2. Mối quan hệ nhân quả không rõ ràng giữa xuất khẩu hàng hóa và tăng trưởng 15 1.4. Mô hình kinh tế lượng về mối quan hệ giữa xuất khẩu và tăng trưởng kinh tế ………………………………………………………………………..17 CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG MỐI QUAN HỆ GIỮA XUẤT KHẨU VÀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ TẠI VIỆT NAM NGHIÊN CỨU GIAI ĐOẠN 2007- 201318 2.1. Tình hình tăng trưởng kinh tế Việt nam từ năm 2007 tới 2013 ........... 18 2.2. Thực trạng xuất khẩu của Việt Nam giai đoạn 2007- 2013 ................. 23 2.3. Áp dụng mô hình kinh tế lượng vào mối quan hệ giữa xuất khẩu và tăng trưởng kinh tế tại Việt Nam trong giai đoạn 2007- 2013 ................................ 34 2.3.1. Mô hình giả thuyết............................................................................ 34 2.3.2. Kết quả và kiểm định mô hình ......................................................... 35 CHƯƠNG III. MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM KHAI THÁC NHỮNG TÁC ĐỘNG TÍCH CỰC CỦA XUẤT KHẨU ĐẾN TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VÀ TỪ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ ĐẾN XUẤT KHẨU TẠI VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN TỚI .................................................................................................................................. 45 3.1. Một số mục tiêu và kế hoạch đề ra cho hoạt động xuất khẩu của Việt Nam trong thời gian tới .......................................................................................................... 45 3.1.1. Một số mục tiêu đề ra cho hoạt động xuất khẩu trong thời gian tới .... 45 3.1.2. Một số kế hoạch và định hướng xuất khẩu .......................................... 45 3.1.3. Một số chính sách và định hướng xuất khẩu của Việt Nam trong thời gian tới 49 3.2. Một số giải pháp khai thác lợi thế trong mối quan hệ giữa xuất khẩu và tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam ................................................................................... 53 3.2.1. Một số giải pháp khai thác lợi thế xuất khẩu đến tăng trưởng ............. 53 3.2.2. Khai thác lợi thế của tăng trưởng đến xuất khẩu ................................. 60 KẾT LUẬN .............................................................................................................. 66 TÀI LIỆU THAM KHẢO ........................................................................................ 67 DANH MỤC CÁC CHỮ VIÊT TẮT TỪ VIẾT TẮT TIẾNG ANH TIẾNG VIỆT WTO World Trade Organization Tổ chức thương mại thế giới WB World Bank Ngân hàng thế giới Asia-Pacific Economuc Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á- Cooperation Thái Bình Dương APEC VITAS Vietnam Textile and Apparel Association Trans-Pacific Strategic TPP Economuc Partnership Agreement Hiệp hội dệt may Việt Nam Hiệp định hợp tác Kinh tế chuyến lược xuyên Thái Bình Dương FTA Free Trade Area Hiệp định thương mại tự do EU European Union Liên minh Châu Âu Association of Southeast Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Asian Nations Á ASEAN ODM Original Equipment Manufacturer Nhà sản xuất thiết bị nguyên thủy New Industrilize Countries Các nước Công nghiệp mới HongKhong and Shanghai Tập đoàn Ngân hàng Thương mại Banking Corporation Hồng Kông và Thượng Hải ADB Asian Development Bank Ngân hàng phát triển Châu Á GDP Gross Domestic Product Tổng sản phẩm trong nước GNI Gross National Income Tổng sản phẩm quốc dân NIEs HSBC NSNN Ngân sách nhà nước KNXK Kim ngạch xuất khẩu DANH MỤC BẢNG Bảng 2.3.1: Tổng sản phẩm trong nước và tổng kim ngạch xuất khẩu....................35 DANH MỤC HÌNH Biểu đồ 2.1: Tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm trong nước GDP giai đoạn 2007- 2013 .................................................................................................................................. 18 Biểu đồ 2.2: Kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam từ năm 2007- 2013 .................... 23 Biểu đồ 2.3.2.1: Đồ thị phần dư theo y^ ................................................................... 37 Biểu đồ 2.3.2.2:. Đồ thị phần dư theo biến giải thích export ................................... 37 Biểu đồ 2.3.2.3: Đồ thị phần dư theo thời gian ........................................................ 40 Biểu đồ 2.3.2.4: Đồ thị phần dư theo phần dư trễ 1 giai đoạn ................................. 41 Biểu đồ 2.3.2.4: Đồ thị của nhiễu ............................................................................. 43 Biểu đồ 2.3.2.5: Đồ thị tổng sản phẩm trong nước theo tổng kim ngạch xuất khẩu 43 1 LỜI MỞ ĐẦU 1. Sự cần thiết và ý nghĩa của đề tài Xuất khẩu hàng hóa có ý nghĩa quan trọng và ngày càng đóng góp to lớn cho sự tăng trưởng kinh tế của các quốc gia, tác động tích cực đến cán cân thanh toán quốc tế, sự ổn định kinh tếvĩ mô và tăng trưởng kinh tế của quốc gia. Hàng hóa xuất khẩu có khối lượng lớn, chất lượng cao còn làm tăng vị thế kinh tế quốc gia trong quan hệ kinh tế quốc tế. Với chiến lược kinh tế mở, các quốc gia đều thực thi những biện pháp tác động thúc đẩy xuất khẩu hàng hóa, nhằm phát huy lợi thế quốc gia trên trường quốc tế, trong đó các biện pháp tài chính thường được vận dụng và khai thác triệt để theo chiều hướng tạo thuận lợi cho xuất khẩu hàng hóa. Sau 5 năm là thành viên chính thức của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) và đang tiếp tục đàm phán tiến tới ký kết Hiệp định thương mại tự do với các nước lớn, môi trường thương mại đang và sẽ có nhiều cơ hội cùng những thách thức mới đối với hàng xuất khẩu của Việt Nam. Những năm vừa qua, Việt Nam cũng đã có nhiều cố gắng cho mục tiêu tăng kim ngạch xuất khẩu, hướng tới 100 tỷ USD/năm. Tuy nhiên, trong khi xuất khẩu tăng liên tục là một điểm sáng của nền kinh tế thì tốc độ tăng trưởng trung bình của Việt Nam bắt đầu suy giảm nhanh và liên tục từ giai đoạn cuối 2007- 2013. Để tìm được những lí giải thỏa đáng về mối quan hệ giữa xuất khẩu và tăng trưởng kinh tế, cũng như đề xuất những giải pháp thực tế để phù hợp với môi trường kinh tế quốc tế mới và điều kiện kinh tế trong nước hiện nay, việc tìm hiểu chuyên sâu và nghiên cứu vấn đề “ Mối quan hệ giữa xuất khẩu và tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam giai đoạn 2007-2013” là rất cần thiết và có ý nghĩa. 2. Tình hình nghiên cứu Trong bối cảnh nền kinh tế thế giới và Việt Nam có nhiều mối liên kết, không ngừng tác động qua lại lẫn nhau thì hoạt động thương mại quốc tế đóng vai trò chiến lược trong việc tăng cường sức mạnh kinh tế của mỗi quốc gia. Trước thực tiễn đó, việc nghiên cứu sự ảnh hưởng lẫn nhau giữa xuất khẩu và tăng trưởng kinh tế là hết sức cần thiết và có ý 2 nghĩa chiến lược nhằm tận dụng được các cơ hội và hạn chế các thách thức khi Việt Nam hội nhập kinh tế quốc tế. Hiện nay, đã có một số công trình nghiên cứu liên quan đến mối quan hệ giữa xuất khẩu và tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam như: - Bài “Ngoại thương, tăng trưởng và giảm nghèo”, viện nghiên cứu và phát triểnFETP, - Th.S Nguyễn Quang Hiệp, “Thành tựu và vai trò của xuất khẩu đối với tăng trưởng kinh tế ở VIệt Nam và Lào”, tạp chí Phát triển và hội nhập UEF. Các nghiên cứu trên đã đề cập đến một số vấn đề lý luận có liên quan đến hai vấn đề ngoại thương và tăng trưởng. Tuy nhiên, các bài nghiên cứu trên chủ yếu đi nghiên cứu vấn đề trong giai đoạn trước khủng hoảng năm 2007, đồng thời mới chỉ dừng lại ở việc liệt kê các vai trò của xuất khẩu tại Việt Nam, chưa nêu được mối quan hệ cụ thể của xuất khẩu và tăng trưởng kinh tế trong tình hình kinh tế mới khi mà ảnh hưởng suy thoái từ các nước phát triển đang bao trùm toàn cầu. Bài nghiên cứu khoa học sẽ tiếp tục kế thừa có chọn lọc những kết quả nghiên cứu đi trước và tập trung vào xây dựng mô hình kinh tế, lý giải sự mâu thuẫn giữa xuất khẩu và tình hình tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam giai đoạn 2007- 2013. 3. Mục đích nghiên cứu Mục đích nghiên cứu của đề tài là hệ thống hóa những kiến thức lý luận về mối quan hệ giữa xuất khẩu và tăng trưởng kinh tế bằng mô hình kinh tế lượng; tìm hiểu những vấn đề thực tiễn trong nước và quốc tế để rút ra những kết luận chung về nguyên nhân, cơ hội, thách thức, những thành công, hạn chế của mối quan hệ này. Trên cơ sở đó đề xuất hoàn thiện các chính sách quản lý của Việt Nam trong thời gian tới nhằm thúc đẩy xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bền vững. Để thực hiện mục đích nghiên cứu này, đề tài đặt ra một số nhiệm vụ nghiên cứu sau: - Làm rõ khái niệm, cơ sở lý luận về mối quan hệ giữa xuất khẩu và tăng trưởng kinh tế; - Tìm hiểu thực trạng vấn đề tại Việt Nam trong giai đoạn 2007- 2013; 3 - Sử dụng mô hình kinh tế lượng để rút ra mối quan hệ về mối quan hệ giữa xuất khẩu và tăng trưởng kinh tế tại Việt Nam trong giai đoạn nghiên cứu; - Áp dụng mô hình trên vào thực tiễn và đánh giá tình hình thực hiện các mục tiêu chiến lược của đất nước; - Đề xuất một số giải pháp nhằm khai thác lợi thế từ mối quan hệ này. 4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu * Đối tượng nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu những vấn đề liên quan đến hoạt động xuất khẩu hàng hóa; mối liên hệ với tăng trưởng kinh tế; những cơ hội và thách thức mới trong tiến trình Việt Nam hội nhập kinh tế quốc tế. * Phạm vi nghiên cứu: - Về không gian: Đề tài nghiên cứu về hoạt động và mối liên hệ giữa xuất khẩu và tăng trưởng kinh tế tại Việt Nam - Về nội dung: Đề tài chỉ nghiên cứu tăng trưởng kinh tế và các hoạt động xuất khẩu hàng hóa hữu hình, không đề cập đến dịch vụ, vốn, sức lao động. - Về thời gian nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu các hoạt động và tình hình phát triển kinh tế thực tiễn hàng năm trong giai đoạn từ 2007- 2013. 5. Phương pháp nghiên cứu - Phương pháp nghiên cứu tổng hợp Kế thừa, tổng hợp những kết quả nghiên cứu từ các công trình khoa học đã công bố có liên quan đến các nội dung về xuất khẩu và tăng trưởng kinh tế ở trong và ngoài nước. - Phương pháp phân tích, thống kê, mô tả, so sánh, dự báo,… - Phương pháp kinh tế lượng: Từ các số liệu thực tế nghiên cứu được xây dựng mô hình kinh tế lượng thể hiện mối quan hệ giữa hai biến là xuất khẩu và tăng trưởng kinh tế để rút ra các kết luận về biến độc lập và biến phụ thuộc cũng như đề xuất giải pháp cụ thể. 6. Kết cấu của đề tài 4 Ngoài Lời mở đầu và Kết luận, nội dung đề tài nghiên cứu kết cấu làm 3 chương: - Chương I: Một số vấn đề lý luận cơ bản về xuất khẩu và tăng trưởng kinh tế. - Chương II: Thực trạng mối quan hệ giữa xuất khẩu và tăng trưởng kinh tế tại Việt Nam nghiên cứu trong giai đoạn 2007- 2013. - Chương III: Một số giải pháp nhằm khai thác những tác động tích cực của xuất khẩu đến tăng trưởng kinh tế và từ tăng trưởng kinh tế đến xuất khẩu tại Việt Nam trong thời gian. 5 NỘI DUNG CHƯƠNG I: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ XUẤT KHẨU VÀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ 1.1. Một số vấn đề lý luận cơ bản về tăng trưởng kinh tế 1.1.1. Khái niệm chung Tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng về lượng kết quả đầu ra của nền kinh tế trng một thời kì (thường là năm) nhất định so với kì gốc (năm gốc). Sự gia tăng đó được thể hiện cả ở quy mô và tốc độ. Quy mô tăng trưởng phản ánh sự gia tăng tuyệt đối, trong khi đó tốc độ tăng trưởng thể hiện sự so sánh tương đối giữa các thời kì (năm). Có thể sử dụng các thước đo sau để phản ánh quy mô và tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế: Tổng sản phẩm trong nước (GDP- Gross domestic product) là tổng giá trị của tất cả hàng hóa và dịch vụ cuối cùng được sản xuất ra bởi các yếu tố sản xuất trong lãnh thổ kinh tế của quốc gia trong từng thời kì nhất định (thường tính cho 1 năm). Về nguyên tắc, Tổng sản phẩm trong nước được tính theo 3 phương pháp: Phương pháp sản xuất (còn gọi là phương pháp giá trị gia tăng).Theo phương pháp này, GDP được xác định bằng cách tổng hợp giá trị gia tăng của mọi doanh nghiệp (hoặc ngành) cộng với thuế nhập khảu hàng hóa, dịch vụ từ nước ngoài. Phương pháp thu nhập ( từ thu nhập tạo ra trong quá trình sản xuất hàng hóa chứ khong phải là giá trị của bản thân hàng hóa) Phương pháp chi tiêu về sản phẩm dịch vụ cuối cùng GDP = C + I + G + (X-M) Trong đó: C là khoản chi tiêu của cá hộ gia đình về hàng hóa dịch vụ I là tổn đấu tư của khu vực tư nhân (không tính các khoản đầu tư tài chính nuwh cổ phiếu, trái phiều, tiền gửi tiết kiệm) 6 G là chi tiêu của CHính phủ (không tính các khoản thanh toán chuyển giao như chi cho các dịch vụ an sinh xã hôi, phúc lợi và trợ cấp thất nghiệp) X-M là xuất khẩu ròng (giá trị kim ngạch xuất khẩu trừ đi kim ngạch nhập khẩu) Tổng sản phẩm quốc dân (GNI- Gross National Income) đo lượng toàn bộ thu nhập hay giá trị sản xuất mà các công dân của một quốc gia tạo ra trong một thời kì nhất định, không kể trong hay ngoài phạm vi lãnh thổ quốc gia. Quy mô và tốc độ tăng trưởng kinh tế có thể tính trên phạm vi toàn bộ nền kinh tế, cũng có thể tính theo GDP ( GNI) bình quân đầu người. Quy mô và tốc độ tăng trưởng GDP (GNI) bình quân đầu người không chỉ phụ thuộc vào quy mô và tốc độ tăng trưởng GDP (GNI) của nền kinh tế, mà còn phụ thộc vào quy mô và tốc độ gia tăng dân số của quốc gia. 1.1.2. Các yếu tố tác động tới tăng trưởng kinh tế Các đầu ra của nền kinh tế là kết quả tác động qua lại của tổng mức cung và tổng mức cầu của nền kinh tế. Vì vậy, để xem xét các nhân tố tác động đến tăng trưởng kinh tế (tăng trưởng GDP thực tế) cần phải xem xét các nhân tố tác động đến tổng cung và các nhân tố tác động đến tổng cầu của nền kinh tế. a,Các nhân tố thuộc tổng cầu Tổng mức cầu của nền kinh tế đề cập đến khối lượng mà người tiêu dùng, các doanh nghiệp và Chính phủ sẽ sử dụng: GDP=C+I+G+X-M. Do đó, sự biến đổi của các bộ phận trên sẽ gây nên sự biến đổi của tổng cầu và từ đó tác động đến tăng trưởng kinh tế.Trong bài này, sẽ đi phân tích tác động của xuất khẩu ròng (X-M) đến tăng trưởng kinh tế thông qua sự biến đổi của tổng cầu trong nền kinh tế. Sự biến đổi của tổng cầu có thể theo hai xu hướng: suy giảm hay gia tăng tổng cầu. Theo hai hướng đó, tác động của sự thay đổi tổng cầu đến tăng trưởng kinh tế cũng khác nhau: Nếu tổng cầu sụt giảm sẽ gây ra hạn chế tăng trưởng và lãng phí các yếu tố nguồn lực vì một bộ phận không được huy động vào hoạt động kinh tế. Nếu tổng cầu gia tăng sẽ tác động đến hoạt động của nền kinh tế như sau: 7 - Nếu nền kinh tế đang hoạt động dưới mức sản lượng tiềm năng, thì sự gia tăng của tổng cầu sẽ giúp tăng them khả năng tận dụng sản lượng tiềm năng, nhờ đó mà thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. - Nếu nền kinh tế hoạt động đã đạt được hoặc vượt mức sản lượng tiềm năng thì sự gia tăng của tổng cầu không làm gia tăng mức giá. b, Các nhân tố thuộc tổng cung Tổng mức cung đề cập đến khối lượng sản phẩm và dịch vụ mà các ngành kinh doanh sản xuất và bán ra trong điều kiện giá cả, khả năng sản xuất và chi phí sản xuất nhất định.Như vậy tổng cung liên quan chặt chẽ đến sản lượng tiềm năng. Xét theo quan điểm dài hạn, sự gia tăng sản lượng tiềm năng của nền kinh tế có tác động quyết định đến tăng trưởng kinh tế. Các nhân tố tác động đến sản lượng tiềm năng và do đó quyết định đến tổng mức cung chính là các yếu tố đầu vào của sản xuất. Thông thường, các yếu tố sản xuất chủ yếu thường được kể đến là: Vốn (K), lao động (L), tài nguyên thiên nhiên (R) và công nghệ (T). Cũng vì thế, hàm sản xuất phản ánh mối quan hệ hàm số giữa kết quả đầu ra của nền kinh tế (Y) với các yếu tố sản xuất đầu vào được biểu thị khái quát dưới dạng sau: Y=F(K,L,R,T) Các mô hình tăng trưởng kinh tế tân cổ điển và mô hình tăng trưởng kinh tế hiện đại cố gắng lượng hóa sự đống góp của các yếu tố sản xuất vafoq úa trình tăng trưởng kinh tế. Từ các nhân tố ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế, về lý thuyết cũng như thực tiễn, người ta luôn nghiên cứu tìm ra mô hình tăng trưởng kinh tế phù hợp với từng giai đoạn phát triển của lịch sử. Ở giai đoạn đầu của sự phát triển mô hình tăng trưởng chủ yếu theo chiều rộng (dựa vào khai thác lợi thế của các nguồn lực sãn có như tài nguyên thiên nhiên, lao động). Cùng với sự phát triển của lịch sử, các nguồn lực ngày càng trở nên khan hiếm, các quốc gia đã dần chuyển từ mô hình tăng trưởng theo chiều rộng sang mô hình tăng trưởng kết 8 hợp giữa chiều rộng và chiều sâu. Đến trình độ phát triển cao của nền kinh tế xã hội, mô hình tăng trưởng chủ yếu phát triển theo chiều sâu. Đối với Việt Nam, mô hình tăng trưởng kinh tế hiện nay chủ yếu phát triển theo chiều rộng (khai thác và xuất khẩu tài nguyên thô, đầu tư dàn trải theo chiều rộng cho khu vực kinh tế nhà nước). 1.2. Một số vấn đề lý luận cơ bản về xuất khẩu 1.2.1. Khái niệm Xuất khẩu a, Khái niệm Xuất khẩu hàng hoá là việc bán hàng hoá của quốc gia này cho một quốc gia khác trên cơ sở thanh toán bằng tiền tệ.Hàng hoá được vận chuyển qua biên giới quốc gia, tiền tệ ở đây có thể là ngoại tệ đối với một hoặc cả hai quốc gia.Hoạt động xuất khẩu là hình thức cơ bản của hoạt động ngoại thương đã xuất hiện từ lâu đời và ngày càng phát triển. Hoạt động xuất khẩu khác với hoạt động buôn bán trong nước. Nếu như trong buôn bán nội địa, hàng hóa chỉ được vận chuyển trong phạm vi một quốc gia, đồng tiền thanh toán là đồng nội tệ của quốc gia đó và các bên chủ thể có chung quốc tịch thì trong hoạt động xuất khẩu, hàng hoá được vận chuyển qua biên giới quốc gia, đồng tiền thanh toán là ngoại tệ đối với một hoặc cả hai bên và các bên chủ thể phải có quốc tịch ở hai nước khác nhau. Hoạt động xuất khẩu, diễn ra trên mọi lĩnh vực, trong mọi điều kiện kinh tế, từ xuất khẩu hàng hoá tiêu dùng cho đến dịch vụ, tư liệu sản xuất, máy móc thiết bị và kỹ thuật công nghệ cao. Tất cả các hoạt động đó đều nhằm mang lại lợi ích kinh tế cho các quốc gia tham gia. Hoạt động xuất khẩu là một trong những hình thức biểu hiện của hoạt động kinh doanh thương mại quốc tế.Nó được biểu hiện thông qua trao đổi hàng hoá dịch vụ của một nước này cho nước khác và dùng tiền tệ làm phương tiện trao đổi.Đằng sau việc trao đổi này là mối quan hệ xã hội phản ánh sự phụ thuộc lẫn nhau về kinh tế giữa những người sản xuất hàng hoá riêng biệt của các quốc gia.Với ý nghĩa đó, hoạt động xuất khẩu đóng vai trò trong việc khai thác tiềm năng của đất nước. 9 Sự cần thiết của hoạt động xuất khẩu Hoạt động xuất khẩu rất cần thiết vì nó mở rộng khả năng tiêu dùng của nước nhập khẩu và khai thác được lợi thế so sánh của nước xuất khẩu.Thực tế cho thấy, một quốc gia cũng như một cá nhân không thể sống riêng rẽ, biệt lập với bên ngoài mà vẫn tồn tại và phát triển được.Thương mại quốc tế cho phép đa dạng hoá các mặt hàng tiêu dùng với chất lượng và số lượng cao hơn so với ranh giới của khả năng sản xuất trong nước, khi thực hiện chế độ tự cung tự cấp, không buôn bán với nước ngoài.Vì vậy, sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các quốc gia ngày càng tăng. Tuy nhiên, xét một cách cụ thể hơn thì nguyên nhân cơ bản và sâu xa của việc trao đổi mua bán đó là xuất phát từ sự đa dạng về điều kiện tự nhiên nên một nước có thể chuyên môn sản xuất một số mặt hàng có lợi thế hơn và xuất khẩu để đổi lấy hàng nhập khẩu từ nước khác nhằm mục đích lợi nhuận. Nhưng sự khác nhau về điều kiện sản xuất chỉ là một trong những lý do để thúc đẩy các nước mở rộng quan hệ trao đổi buôn bán với nhau. Quan trọng hơn cả là hai bên cùng có lợi do có sự khác nhau về sở thích và lượng cầu đối với hàng hoá. Chính vì vậy, nước ta mặc dù với xuất phát điểm thấp và chi phí sản xuất hầu như lớn hơn tất cả các mặt hàng của các cường quốc kinh tế, chúng ta vẫn có thể duy trì quan hệ thương mại với các nước đó. Trong những năm qua, vấn đề phát triển ngoại thương nói chung và hoạt động xuất khẩu nói riêng luôn là mục tiêu chiến lược để phát triển kinh tế được Đảng và Nhà nước ta luôn coi trọng và đặt lên hàng đầu. b, Các hình thức của thương mại quốc tế Thương mại quốc tế về hàng hóa Thương mại quốc tế về hàng hóa là hình thức thương mại trong đó diễn ra việc mua bán trao đổi các sản phẩm, hàng hóa thể hiện dưới dạng vật chất hữu hình. Ví dụ: trao đổi hàng nông sản (gạo, cà phê, sữa..) nguyên liệu, nhiên liệu, thiết bị máy móc… là những lĩnh vực quan trọng trong thương mại quốc tế về hàng hóa. Thương mại quốc tế về dịch vụ: 10 Thương mại quốc tế về dịch vụ là hình thức thương mại trong đó diễn ra việc mua bán, trao đồi các sản phẩm vô hình, phi vật chất được thể hiện thông qua các hoạt động của con người. Một đặc điểm nổi bật của thương mại quốc tế hiện nay là vai trò ngày càng tăng của hoạt động thương mại dịch vụ, với những lĩnh vực đa dạng như: viễn thông, ngân hàng, tài chính, vận tải, bảo hiểm, du lịch, khách sạn, giải trí… Thương mại quốc tế liên quan đến đầu tư: Sự trao đổi hàng hóa, dịch vụ gắn liền với hoạt động đẩu tư quốc tế. Hình thức này ngày càng phổ biến với sự tăng trưởng mạnh mẽ của dòng vốn đầu tư quốc tế và đặc biệt là sự phát triển của các công ty xuyên quốc gia hiện nay. Thương mại quốc tế liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ Hoạt động thương mại này có đối tượng là các sản phẩm trí tuệ. Ví dụ: quyền tác giả, tác phẩm, sáng chế, bí quyết công nghệ… 1.2.2. Các yếu tố tác động tới xuất khẩu Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động Xuất Khẩu Công cụ, chính sách vĩ mô của Nhà Nước Công cụ, chính sách vĩ mô của nhà nước là nhân tố quan trọng mà các doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khâủ phải nắm rõ và tuân theo vô điều kiện bởi nó thể hiện ý chí của đảng và nhà nước công cụ, chính sách vĩ mô của nhà nước bảo vệ lợi ích chung của mọi tầng lớp trong xã hội. Hoạt động xuất khẩu tiến hành giữa các chủ thể giữa các quốc gia khác nhau. Bởi vậy nó chịu sự tác động của các chính sách chế độ luật pháp ở quốc gia mình và đồng thời cũng phải tuân theo những quy định của luật pháp quốc tế chung. Đối với nước ta chính sách ngoại thường có nhiệm vụ tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức kinh doanh tham gia sâu vào sự phân công lao động quốc tế, mở mang hoạt động xuất khẩu và bảo vệ thị trường nội địa nhằm đạt được những mục tiêu và yêu cầu về kinh tế, chính trị xã hội hoạt động kinh tế đối ngoại. Thuế quan 11 Thuế quan xuất khẩu là một loại thuế đánh vào mỗi đơn vị hàng hoá xuất khẩu. Thuế quan là một công cụ lâu đời nhất của chính sách thương mại quốc tế và là một phương tiện truyền thống để tăng nguồn thu cho ngân sách Nhà Nước (NSNN). Thuế quan xuất khẩu làm cho giá cả hàng hoá quốc tế cao hơn giá cả trong nước. Tuy nhiên tác động của xuất khẩu nhiều khi lại đưa đến bất lợi cho khả năng xuất khẩu, Do quy mô xuất khẩu của một nước thường là nhỏ so với dung lượng của thị trường thế giới cho nên thuế quan xuất khẩu sẽ làm hạ thấp giá cả trong nước của hàng hoá có thể xuất khẩu xuống so với mức giá quốc tế, điều đó sẽ làm cho dung lượng hàng xuất khẩu giảm đi và sản xuất trong nước sẽ thay đổi bất lợi cho mặt hàng này. Trong một số trường hợp việc đánh thuế xuất khẩu không làm cho khối lượng hàng xuất khẩu giảm đi nhiều và vẫn có lợi cho nước xuất khẩu, nếu như họ có thể tác động đáng kể đến mức giá quốc tế.Một mức thuế suất cao và duy trì quá lâu có thể làm lợi cho các địch thủ cạnh tranh. Như vậy, thuế xuất khẩu nói riêng và thuế xuất nhập khẩu nói chung đều làm giảm “lượng cầu quá mức” đối với hàng hoá có thể nhập khẩu và giảm “lượng cung quá mức” đối với hàng hoá xuất khẩu. Các công cụ phi thuế quan Công cụ quota ( Hạn ngạch xuất khẩu) : Hình thức này áp dụng như một công cụ chủ yếu trong hàng rào phi thuế quan và ngày càng có vai trò quan trọng trong xuất khẩu hàng hoá, hạn ngạch xuất khẩu hàng hoá được quyết định theo mặt hàng, theo từng quốc gia, theo từng thời gian nhất định. Những quy định về tiêu chuẩn kỹ thuật: Nó bao gồm quy định vệ sinh, đo lường, an toàn lao động, bao bì đóng gói, đăc biệt là quy định về vệ sinh an toàn thực phẩm, vệ sinh phòng dịch đối với thực vật tươi sống, tiêu chuẩn và bảo vệ môi trường sinh thái và các máy móc, dây truyền thiết bị cộng nghệ. Trợ cấp xuất khẩu: Chính phủ có thể áp dụng các biện pháp tự cấp trực tiếp hoặc cho vay với lãi xuất thấp đối với các nhà xuất khẩu trong nước, bên cạnh đó chính phủ còn có thể thực hiện một khoản cho vay ưu đãi với các bạn hàng nước ngoài để có thể có các điều kiện mua các sản phẩm do nước mình sản xuất ra và để xuất khẩu ra bên ngoài. 12 Điều kiện tự nhiên Điều kiện tự nhiên bao gồm: vị trí địa lý, khí hậu … cũng tác động đến hoạt động xuất khẩu, đặc biệt với những hoạt động xuất khẩu sử dụng tài nguyên thiên nhiên làm nguyên liệu chính như hàng thủ công mỹ nghệ: Xuất khẩu đồ gốm chịu ảnh hưởng của thời tiết, mưa ảnh hưởng đến nung gốm và vận chuyển gốm, vv … Tác động của tỷ giá hối đoái với hoạt động xuất nhập khẩu Tỷ giá hối đoái, thông qua việc phản ánh tương quan giá trị của đồng tiền các nước khác nhau mà tỷ giá hối đoái có được vai trò nhất định đối với quá trình ngang giá và cùng một loạt các nhân tố khác nó tác động tới tương quan giá cả xuất khẩu với nhập khẩu, tới khả năng nhập khẩu của các công ty. Trong trường hợp tỷ giá hối đoái giảm xuống, có nghĩa là đồng bản tệ có giá trị thấp hơn so với đồng ngoại tệ, nếu như không có các yếu tố khác ảnh hưởng thì nó sẽ tác động tới xuất khẩu. Trong trường hợp tỷ giá hối đoái tăng lên có nghĩa là đồng bản tệ có giá trị tăng lên so với đồng ngoại tệ, nếu như không có các nhân tố ảnh hưởng thì sẽ khuyến khích nhập khẩu vì hàng nhập khẩu trở nên rẻ hơn so với giá cả chung trong nước. Nhưng đồng thời tỷ giá tăng lên sẽ gây nhiều bất lợi cho xuất khẩu vì hàng xuất khẩu trở nên đắt, khó bán ra nước ngoài. Ảnh hưởng của hệ thống giao thông vận tải, thông tin liên lạc Việc thực hiện xuất khẩu gắn liền với công việc vận chuyển hệ thống thông tin liên lạc, nhờ có thông tin liên lạc mà các thoả thuận có thể tiến hành nhanh chóng, kịp thời. Thực tế cho thấy rằng ảnh hưởng của hệ thông thông tin cho Fax, telex đã đơn giản hoá công việc của hoạt động xuất khẩu rất nhiều, giảm đi hàng loạt các chi phí, nâng cao kịp thời nhanh gọn và việc hiện đại hoá các phương tiện vận chuyển, bốc dỡ, bảo quản góp phần đem quá trình thực hiện xuất khẩu được nhanh chóng và an toàn. Nước ta có vị trí thuận lợi về giao thông là trung tâm vận hành đường biển trong khu vực Đông Nam á, rất thuận tiện cho hoạt động ngoại thương, tuy nhiên phương tiện đường xá, cơ sở vật chất còn rất lạc hậu. Khắc phục, đổi mới hệ thống giao thông vận tải đang là vấn đề cấp bách được đặt ra. 13 Ảnh hưởng của hệ thống tài chính ngân hàng Hệ thống tài chính ngân hàng giúp cho việc quản lý, cung cấp vốn, đảm trách việc thanh toán một cách thuận tiện, nhanh chóng, chính xác và an toàn cho doanh nghiệp điều này rất quan trọng đối với doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực xuất khẩu. Hiện nay, hệ thống tài chính ngân hàng đã phát triển hết sức lớn mạnh, can thiệp đến tất cả các doanh nghiệp trong nền kinh tế, làm cho hoạt động xuất khẩu hết sức thuận lợi. Môi trường kinh doanh của doanh nghiệp Môi trường kinh doanh của doanh nghiệp là tập lợp những điều kiện, những yếu tố bên trong hoặc bên ngoài ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Các yếu tố thuộc môi trường kinh doanh là các yếu tố khách quan mà doanh nghiệp không thể kiểm soát được. Nghiên cứu các yếu tố này không nhằm để điều khiển nó theo ý muốn của doanh nghiệp mà nhằm tạo ra khả năng thích ứng một cách tốt nhất với xu hướng vận động của nó. Mỗi một doanh nghiệp hoạt động trong cơ chế thị trường đều có một môi trường kinh doanh nhất định. Môi trường kinh doanh tác động liên tục đến hoạt động của doanh nghiệp theo những xu hướng khác nhau vừa tạo ra cơ hội, vừa hạn chế khả năng thực hiện mục tiêu kinh doanh của doanh nghiệp. ảnh hưởng của môi trường kinh doanh có thể ở các tầng (thứ bậc) khác nhau vĩ mô/vi mô, mạnh/yếu, trực tiếp/giám tiếp … Nhưng về mặt nguyên tắc cần phản ánh được sự tác động của nó trong chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp. Sự ổn định hay bất ổn về chính trị xã hội … là những nhân tố ảnh hưởng lớn đến kết quả kinh doanh của doanh nghiệp, hệ thống chính trị và các quan điểm chính trị xã hội suy cho cùng tác động trực tiếp tới phạm vi lĩnh vực, mặt hàng … của đối tác kinh doanh. Trong những năm của thập kỷ 90 tình hình chính trị xã hội của nhiều quốc gia trên thế giới đã có nhiều biến động lớn theo chiều hướng bất lợi đối với quan hệ song phương và đa phương với các quốc gia và công ty trên thế giới, chỉ trên cơ sở nắm vững các nhân tố của môi trường kinh doanh, doanh nghiệp mới đề ra mục tiêu và chiến lược kinh doanh đúng đắn. Trong chiến lược và kế hoạch kinh doanh đều phải xác định đối tác và những lực lượng nào ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. 14 1.3. Mối quan hệ giữa Xuất khẩu và tăng trưởng kinh tế Mối quan hệ giữa xuất khẩu và tăng trưởng kinh tế đã được phân tích trong nhiều nghiên cứu thực nghiệm gần đây. Tuy nhiên, bằng chứng cho thấy mối quan hệ này khá đa dạng. Trong khi một số nghiên cứu cho thấy sự tồn tại mối quan hệ nhân quả giữa xuất khẩu và tăng trưởng kinh tế, một số nghiên cứu khác lại cho rằng không tồn tại mối quan hệ tỷ lệ thuận giữa hai yếu tố này. Vì vậy, bằng việc chỉ ra vai trò của Xuất khẩu đối với tăng trưởng kinh tế trên lý thuyết, nhóm nghiên cứu tiến hành phần thực nghiệm bên dưới để tìm câu trả lời thỏa đáng về mối liên hệ này trong phạm vi nghiên cứu. 1.3.1.Vai trò của xuất khẩu đối với tăng trưởng kinh tế Trong mô hình phát triển kinh tế, thương mại quốc tế (X - M) cũng là một nhân tố như các tác nhân: Người tiêu dùng (C), người sản xuất (I) và Chính phủ (G) trong việc tạo ra giá trị sản lượng. Y = C + I + G + (X - M) Vì vậy, thương mại quốc tế nói chung, hay xuất khẩu nói riêng, đóng vai trò trực tiếp tác động mạnh mẽ tới việc tăng trưởng kinh tế của quốc gia.Xuất khẩu liên quan đến thu ngoại tệ còn nhập khẩu liên quan đến chi ngoại tệ. Vì vậy, hoạt động xuất nhập khẩu tác động đến quỹ tiền tệ của đất nước từ đó tác động đến tổng cầu của toàn nền kinh tế.Nếu xuất khẩu thuần dương thì tổng cầu sẽ tăng, còn xuất khẩu thuần âm tổng cầu sẽ giảm. Tổng cầu tăng làm nền kinh tế tăng, thương mại quốc tế phát triển, thị trường được mở rộng, cho phép tăng chuyên môn hóa sản xuất, tiếp nhận công nghệ mới, khuyến khích phát minh sáng chế nâng cao năng suất lao động dẫn tới tăng tổng sản phẩm quốc dân. Đồng thời cho phép các quốc gai mở rộng sản xuất trên cơ sở chuyên môn hóa một cách sâu sắc.Từ đó ngoại thương tạo điều kiện cho các quốc gia mở rộng đường giới hạn khả năng sản xuất dịch chuyển ra xa hơn so với đường giới hạn khả năng sản xuất cũ. Như vậy, với tư cách là một khâu của quá trình tái sản xuất xã hội, thương mại quốc tế có thể có các chức năng sau: Thứ nhất, tạo vốn cho quá trình mở rộng đầu tư trong nước. 15 Thứ hai, chuyển hóa giá trị sử dụng làm thay đổi cơ cấu vật chất của tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân được sản xuất trong nước và thích ứng chúng với nhu cầu tiêu dùng và tích lũy, thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tích cực. Xu hướng có tính quy luật chung của chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế là chuyển dịch theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Muốn chuyển một nền kinh tế nông nghiệp sang nền kinh tế công nghiệp đều phải trải qua các bước: Chuyển từ nền kinh tế nông nghiệp sang kinh tế công- nông nghiệp để từ đó chuyển sang nền kinh tế công nghiệp phát triển. Nội dung cụ thể của xu thế này thể hiện ở tỷ trọng nông nghiệp có xu hướng ngày càng giảm đi trong khi đó tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ ngày càng tăng trong tổng GDP, giai đoạn đầu tốc độ tăng của công nghiệp sẽ cao hơn dịch vụ, nhưng giai đoạn sau,, khi nền kinh tế đã phát triển cao, thì dịch vụ sẽ tăng nhanh hơn. Trong sự vận động chung, ngoại thương với các hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ có vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng của nó tác động đến toàn bộ quá trình tái sản xuất hàng hóa, từ sản xuất, lưu thông, phân phối đến tiêu dùng. Đặc biệt đối với các ngành sản xuất vật chất cơ bản như công nghiệp, nông nghiệp… ngoại thương đã tác động trực tiếp đến cả đầu vào và đẩu ra của quá trình tái sản xuất, do đó đã góp phần thúc đẩy nhanh sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Ngoại thương cũng tạo ra các “ mối liên hệ ngược”, “ mối liên hệ gián tiếp”, giữa các ngành, tạo ra khả năng xây dựng cơ cấu kinh tế năng động. Thứ ba, góp phần nâng cao hiệu quả của nền kinh tế bằng việc tạo môi trường thuận lợi cho sản xuất, kinh doanh. Là một lĩnh vực kinh tế đảm nhận lưu thông hàng hóa giữa trong nước và ngoài nước, chức năng cơ bản của ngoại thương là: tổ chức chủ yếu quá trính lưu thông hàng hóa với bên ngoài, thông qua mua bán để nối liền một cách hữu cơ theo kế hoạch giữa thị trường trong và ngoài nước, thỏa mãn nhu cầu sản xuất của xã hội về hàng hóa theo số lượng, chất lượng, mặt hàng, địa điểm và thời gian phù hợp với chi phí thấp nhất. 1.3.2. Mối quan hệ nhân quả không rõ ràng giữa xuất khẩu hàng hóa và tăng
- Xem thêm -