Tài liệu Luận văn thạc sĩ kinh tế phát triển du lịch tỉnh an giang năm 2020

  • Số trang: 179 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 22 |
  • Lượt tải: 0
hoavinh

Tham gia: 24/04/2016

Mô tả:

BOÄ GIAÙO DUÏC VAØ ÑAØO TAÏO TRÖÔØNG ÑAÏI HOÏC KINH TEÁ TP.HCM W X MAI THÒ AÙNH TUYEÁT PHAÙT TRIEÅN DU LÒCH TÆNH AN GIANG NAÊM 2020 LUAÄN VAÊN THAÏC SÓ KINH TEÁ TP. HOÀ CHÍ MINH NAÊM 2007 2 MỞ ĐẦU 1/. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI: Con người có ba nhu cầu bao gồm nhu cầu sinh tồn, nhu cầu hưởng thụ và nhu cầu phát triển. Ngày nay, cuộc sống đã bắt đầu vượt ra khỏi sự ràng buộc của nhu cầu sinh tồn, hướng đến thỏa mãn nhu cầu hưởng thụ và phát triển, là một bộ phận trong sinh hoạt văn hóa của con người. Nền kinh tế phát triển, thu nhập người dân nâng lên, sức sản xuất của xã hội hiện đại phát triển nhanh chóng, tác động trực tiếp đến nhịp điệu sinh hoạt của xã hội con người ngày càng mau lẹ. Vì vậy mọi người sau thời gian làm việc và học tập khẩn trương, cần phải khôi phục thể lực, thư giãn tinh thần để nâng cao hiệu suất công việc. Do đó hoạt động du lịch ngày càng trở thành một nhu cầu không thể thiếu được trong đời sống xã hội. Với mức đóng góp của ngành du lịch hiện nay, ngành du lịch được đánh giá là một trong những ngành kinh tế mang lại hiệu quả cao của thế giới. Đối với Việt Nam phát triển du lịch là giải pháp tốt nhất trong việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế, giải quyết lao động, tăng thu nhập người dân một cách hiệu quả. Tỉnh An Giang thuộc đồng bằng sông Cửu Long, có cơ sở hạ tầng phát triển, miền đất được nhiều du khách trong và ngoài nước biết đến với nhiều phong cảnh, chùa chiền đậm đà dấu ấn văn hóa và lịch sử cách mạng như: Núi Sam-Chùa Bà Chúa Xứ, Núi Cấm và hệ thống hang động, Thủy Đài Sơn, Anh Vũ Sơn, Sơn viên Cô Tô, Đồi Tức Dụp, Dốc Bà Đắt anh hùng trong chống Mỹ và nhiều di tích lịch sử, kiến trúc nghệ thuật khác. Với những tiềm năng phong phú về lợi thế phát triển du lịch, tỉnh An Giang xác định từng bước đưa ngành du lịch thật sự trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, góp phần tích cực trong việc đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế xã hội của tỉnh, trên cơ sở tận dụng tiềm năng sẳn có kết hợp sự đầu tư đúng mức và sự hỗ trợ, quan tâm của nhà nước để tạo điều kiện tốt nhất cho ngành du lịch phát triển. Thời gian qua, ngành du lịch tỉnh An Giang có những bước phát triển, nhưng so với lợi thế thì mức độ khai thác, phát triển chưa cao. Công tác quản lý còn nhiều bất cập, nội dung chương trình du lịch chưa phong phú, sản 3 phẩm du lịch còn đơn điệu, chất lượng phục vụ chưa cao, nguồn nhân lực phục vụ du lịch còn thấp và khả năng cạnh tranh còn nhiều hạn chế...Các công trình đã nghiên cứu về phát triển du lịch tỉnh An Giang như Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch tỉnh An Giang đến năm 2010 và một số công trình nghiên cứu khác có liên quan đến phát triển du lịch tỉnh An Giang chưa đi sâu vào nghiên cứu một cách hệ thống và xây dựng phương pháp luận về phát triển du lịch, chưa khảo sát, đánh giá một cách đầy đủ về thực trạng du lịch tỉnh An Giang, đặc biệt là chưa định hướng rõ nét phát triển du lịch tỉnh An Giang trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế. Từ thực trạng phát triển ngành du lịch của tỉnh An Giang hiện nay thì việc nghiên cứu đề tài “ Phát triển du lịch tỉnh An Giang đến năm 2020 “ trên cơ sở khảo sát đánh giá và đề ra giải pháp đẩy mạnh phát triển du lịch tỉnh An Giang là điều rất cấp thiết. Nhằm nghiên cứu làm rõ nét những vấn đề lý luận và thực tiển về phát triển du lịch trong bối cảnh toàn cầu hóa và nền kinh tế tri thức. Từ đó xác lập các nguyên tắc, tiêu chuẩn phát triển du lịch phù hợp với bối cảnh phát triển du lịch tỉnh An Giang, định hướng cho ngành du lịch những bước đi hiệu quả nhất, tác động chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh thông qua việc xác định một cách đúng hướng về cách nhìn, cách làm ăn và phải có cách đối phó đối thủ cạnh tranh để tồn tại và phát triển. 2/. MỤC TIÊU VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU: - Mục tiêu nghiên cứu: Nghiên cứu những nội dung cơ bản về du lịch. Phân tích quá trình, thực trạng phát triển ngành du lịch tỉnh An Giang để đề ra các giải pháp góp phần đẩy mạnh phát triển du lịch tỉnh An Giang đến năm 2020. - Đối tượng: Đề tài nghiên cứu hiện trạng và tiềm năng phát triển của ngành du lịch tỉnh An Giang trên cơ sở xác định ngành du lịch là ngành kinh tế tổng hợp, liên ngành để đề xuất những giải pháp chiến lược nhằm phát triển du lịch tỉnh An Giang đến năm 2020. - Phạm vi: + Phạm vi không gian: Được giới hạn trên địa bàn tỉnh An Giang trong mối quan hệ với các vùng lân cận. 4 + Phạm vi thời gian: Luận án nghiên cứu sâu về hoạt động du lịch của tỉnh An Giang giai đoạn 2000-2005 và đề xuất các giải pháp thực hiện giai đoạn 2006-2020. Bên cạnh, do hoạt động du lịch chịu tác động mạnh và không ngừng biến động theo thời gian và xu thế của thời đại. Vì vậy, đề tài sẽ cố gắng không ngừng nắm bắt những vận động phát triển hệ thống du lịch theo hướng hội nhập, toàn cầu hóa và nền kinh tế tri thức để đề xuất các giải pháp phát triển du lịch tỉnh An Giang một cách hiệu quả nhất. 3/. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU: Trong quá trình nghiên cứu, đề tài kết hợp nhiều phương pháp khác nhau làm cơ sở khoa học cho việc thực hiện luận án: Phương pháp duy vật biện chứng, phương pháp khảo sát, phương pháp điều tra, phương pháp thu thập và xử lý thông tin, phương pháp chuyên gia, nghiên cứu tư liệu... Nguồn tài liệu nghiên cứu gồm các thông tin, số liệu, văn bản có liên quan đến phát triển du lịch. Trên cơ sở đó, luận án kế thừa, bổ sung, vận dụng, tổng hợp các kết quả đó để đưa ra nhận định chung có liên quan đến việc phát triển ngành du lịch. 4/. Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỂN CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU: - Luận án làm rõ nét những vấn đề lý luận và thực tiển về phát triển du lịch trong bối cảnh toàn cầu hóa và nền kinh tế tri thức như : những lý luận cơ bản về du lịch, khái niệm, đặc tính của phát triển du lịch, các loại hình du lịch chủ yếu, khái niệm những điều kiện cấu thành các loại hình du lịch ...Từ đó, xác lập các nguyên tắc, tiêu chuẩn phát triển du lịch phù hợp với bối cảnh phát triển du lịch tỉnh An Giang. 5 - Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển ngành du lịch, để đánh giá và sử dụng chúng như một công cụ trong xây dựng các giải pháp phát triển du lịch của tỉnh An Giang. - Tổng hợp những kinh nghiệm một số nước trên thế giới thành công trong phát triển du lịch, liên hệ hoàn cảnh thực tiễn của Việt Nam cụ thể tỉnh An Giang để đề xuất những giải pháp phát triển du lịch một các phù hợp và hiệu quả nhất. Đồng thời, đánh giá tiềm năng và thực trạng của ngành du lịch tỉnh An Giang trong thời gian qua làm cơ sở đề xuất giải pháp và kiến nghị nhằm thúc đẩy ngành du lịch tỉnh An Giang 5/. KẾT CẤU CỦA LUẬN ÁN: Chương 1: Cơ sở lý luận về du lịch và vai trò của chúng đối với phát triển kinh tế - xã hội. Chương 2 : gian qua. Thực trạng phát triển du lịch tỉnh An Giang trong thời Chương 3: Các giải pháp phát triển ngành du lịch tỉnh An Giang đến năm 2020. 6 CHƯƠNG 1 NHỮNG LÝ LUẬN CHUNG VÀ KINH NGHIỆM VỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ DU LỊCH. 1.1. DU LỊCH, PHÁT TRIỂN DU LỊCH: 1.1.1. Khái niệm du lịch: Khái niệm về du lịch có nhiều cách hiểu do được tiếp cận bằng nhiều cách khác nhau. Quan niệm về du lịch theo cách tiếp cận phổ biến cho rằng du lịch là một hiện tượng trước thế kỷ thứ XIX đến tận đầu thế kỷ XX du lịch hầu như vẫn được xem là đặc quyền của tầng lớp giàu có, quý tộc và người ta chỉ xem đây như một hiện tượng cá biệt trong đời sống kinh tế-xã hội. Trong thời kỳ này, du lịch như một hiện tượng xã hội góp phần làm phong phú thêm cuộc sống và nhận thức của con người. Đó là hiện tượng con người rời khỏi nơi cư trú thường xuyên để đến một nơi xa lạ vì nhiều mục đích khác nhau ngoại trừ mục đích tìm kiếm việc làm và ở đó họ phải tiêu tiền mà họ đã kiếm được ở nơi khác. Du lịch là một hệ thống tinh thần và vật chất trong đời sống xã hội, là một loại hiện tượng kinh tế xã hội tổng hợp. Du lịch do ba yếu tố cơ bản là du khách, tài nguyên du lịch và ngành du lịch cấu thành. Lữ hành và du lịch đã có từ lâu, trãi qua quá trình phát triển lâu dài, trong các thời kỳ lịch sử khác nhau, hoạt động lữ hành và du lịch có các hình thức biểu hiện và đặc trưng khác nhau. Lịch sử phát triển du lịch trên thế giới nói chung khái quát thành ba giai đoạn: Lữ hành thời cổ ( trước những năm 40 của thế kỹ XIX), du lịch cận đại ( từ những năm 40 của thế kỹ XIX đến chiến tranh thế giới thứ hai), ba là du lịch hiện đại ( sau chiến tranh thế giới thứ hai). Sau chiến tranh thế giới lần thứ II, ngành du lịch phát triển mạnh và trở thành một trong những ngành có tốc độ phát triển nhanh và ổn định của kinh tế thế giới. 7 Qua nhiều thời kỳ phát triển, khái niệm về du lịch có những thay đổi để phù hợp với sự phát triển của ngành du lịch. Có nhiều định nghĩa, nhưng theo giáo sư Hangiker và Kraff định nghĩa tại Hội nghị lần thứ V của các nhà khoa học trong lĩnh vực du lịch của thế giới thừa nhận là: “ Du lịch là tổng hợp các mối quan hệ, hiện tượng bắt nguồn từ cuộc hành trình và lưu trú tạm thời của cá thể, nơi họ lưu trú không phải là nơi họ ở thường xuyên và là nơi làm việc để kiếm tiền”. Theo Luật du lịch Việt Nam: “ Du lịch là hoạt động của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm thỏa mãn nhu cầu tham quan, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoản thời gian nhất định”. Từ khái niệm trên, cho chúng ta nhận định rằng du lịch không chỉ đơn thuần của một hoạt động mà là tổng hoà nhiều mối quan hệ và hiện tượng nảy sinh từ điều kiện và tác động qua lại giữa các đối tượng là khách du lịch, tài nguyên du lịch và ngành du lịch. Nhu cầu du lịch của người du lịch là yếu tố dẫn đến sự phát sinh của toàn bộ hoạt động du lịch. Đối tượng trực tiếp của hành vi du lịch là di tích, cảnh quan và vật mua sắm. Sự tiếp xúc qua lại và tác động lẫn nhau giữa người du lịch và tài nguyên du lịch thông qua một cơ chế thị trường để tiến hành vận động mới có thể thực hiện, vì thế ngành du lịch làm trung gian môi giới giữa hai đối tượng ấy, làm hình thành thị trường du lịch, làm hài hòa và thực hiện quan hệ giữa sự tiêu dùng của người du lịch và khai thác có hiệu quả tài nguyên du lịch. Bên cạnh, du lịch là một hoạt động của con người không phải nơi cư trú thường xuyên, nhằm mục đích thỏa mãn nhu cầu tham quan, giải trí, nghĩ dưỡng trong một thời gian nhất định. Đồng thời, từ khái niệm về du lịch cho ta thấy rõ hơn du lịch là tổng hợp các mối quan hệ giữa khách du lịch, tài nguyên du lịch và ngành quản lý du lịch, có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, sự phát triển hoặc ngược lại của chủ thể này sẽ tác động trực tiếp đến các chủ thể còn lại. Chính vì thế, ngành du lịch cần phải có những giải pháp đồng bộ tác động lên các chủ thể này mới đảm bảo đưa hoạt động ngành du lịch phát triển một cách bền vững. 8 1.1.2. Khái niệm về khách du lịch : Việc xác định ai là du khách ( khách du lịch) có nhiều quan điểm khác nhau, để phân biệt giữa khách du lịch, khách tham quan và lữ khách dựa vào 3 tiêu thức: Mục đích, thời gian, không gian chuyến đi. Theo nhà kinh tế học người Anh, ông Ogilvie cho rằng: “ khách du lịch là tất cả những người thỏa mãn 2 điều kiện: rời khỏi nơi ở thường xuyên trong khoảng thời gian dưới một năm và chi tiêu tiền bạc tại nơi họ đến thăm mà không kiếm tiền ở đó”. Khái niệm này chưa hoàn chỉnh vì nó chưa làm rõ được mục đích của người đi du lịch và qua đó để phân biệt được với những người cũng rời khỏi nơi cư trú của mình nhưng lại không phải là khách du lịch. Nhà xã hội học Cohen quan niệm: “ Khách du lịch là một người đi tự nguyện, mang tính nhất thời, với mong muốn được giải trí từ những điều mới lạ và sự thay đổi thu nhận được từ một chuyến đi tương đối xa và không thường xuyên”. Năm 1937 Ủy Ban Thống kê Liên Hiệp quốc đưa ra khái niệm về du khách quốc tế như sau: “ Du khách quốc tế là những người thăm viếng một quốc gia ngoài quốc gia cư trú thường xuyên của mình trong thời gian ít nhất là 24 giờ”. Tuy nhiên, trong thực tế lượng khách tham quan giải trí trong thời gian ít hơn 24 giờ ngày càng nhiều và không thể không tính đến tiêu dùng của họ trong thống kê du lịch, do đó đã nãy sinh ra khái niệm về khách tham quan. Khách tham quan là những người đi thăm và giải trí trong khoảng thời gian dưới 24 giờ. Từ những khái niệm trên, cho ta nhận định rằng khách du lịch (du khách) là những người đi vì lý do giải trí, lý do sức khỏe, gia đình…, những người đi tham gia các hội nghị, hội thảo của các tổ chức, các đại hội thể thao…hoặc những người đi với mục đích kinh doanh công vụ (tìm hiểu thị trường, ký kết hợp đồng…). Những người không được xem là khách du lịch quốc tế là những người đi sang nước khác để hành nghề, những người tham gia vào các hoạt động kinh doanh ở nước đến (có thu nhập ở nước đến), những người nhập cư, các học sinh sinh viên đến để học tập, những cư dân vùng biên giới, những người cư trú ở một quốc gia và đi làm ở quốc gia khác, những người đi xuyên qua một quốc gia và không dừng lại cho dù cuộc hành trình kéo dài trên 24 giờ. 9 Như vậy, với khái niệm này về mặt thời gian khách du lịch quốc tế là những người có thời gian thăm viếng (lưu lại) nước đến ít nhất là 24 giờ. Sở dĩ như vậy vì các du khách phải lưu lại qua đêm và phải chi tiêu một khoản tiền nhất định cho việc lưu trú. * Phân loại về du khách : Từ ngữ “du khách” xuất hiện sớm nhất trong từ điển Oxford bằng tiếng Anh xuất bản năm 1811, có ý nghĩa là “ du khách từ ngoài tới với mục đích tham quan du ngoạn”. Du khách là chủ thể của hoạt động du lịch, chiếm vị trí quan trọng trong hoạt động du lịch là đối tượng chủ yếu và xuất phát điểm cơ bản của khai thác kinh doanh, phục vụ của ngành du lịch, đồng thời đây là nơi chủ yếu để ngành du lịch thu được lợi ích kinh tế, lợi ích xã hội và lợi ích văn hóa và là điều kiện cơ bản và tiền đề để phát triển. Căn cứ vào phạm vi khu vực, mục đích du lịch, độ tuổi khách du lịch, mức chi tiêu của khách du lịch, mục đích đi du lịch, hình thức, phương tiện, nguồn chi tiêu của khách du lịch. Từ đó, du khách được chia làm các loại như: Phân theo phạm vi gồm du khách quốc tế, du khách trong nước; Phân theo mục đích du lịch gồm du khách tiêu khiển, du khách đi công tác, du khách gia đình và việc riêng; Phân chia theo tuổi tác gồm du khách cao tuổi, du khách trung niên, du khách thanh thiếu niên; Phân chia theo mức chi tiêu gồm du khách hạng sang, du khách kinh tế; Phân chia theo nội dung hoạt động gồm du khách tham quan, du khách nghỉ phép, du khách hội nghị, du khách điều dưỡng, du khách thể thao, du khách thám hiểm, du khách giao lưu văn hóa, du khách tôn giáo ; Phân chia theo hình thức tổ chức gồm du khách tập thể, du khách cá nhân, du khách bao trọn gói; Phân chia theo phương tiện giao thông được sử dụng gồm du khách hàng không, du khách đường sắt, du khách ô tô, du khách đường thủy; Phân chia theo nguồn chi phí gồm du khách tự túc, du khách được tổ chức cấp kinh phí, du khách được thưởng. Từ việc phân loại du khách trên, có ý nghĩa rất quan trọng sẽ giúp cho các nhà hoạch định chiến lược phát triển du lịch, các doanh nghiệp kinh doanh du lịch xác định rõ chủ thể du lịch là đối tượng nào để có sự phối hợp nhịp nhàng, khai thác có hiệu quả, phù hợp của khách thể du lịch, môi giới du lịch, 10 tạo điều kiện thuận lợi cho việc thu hút khách du lịch và tác động cho hoạt động du lịch có hiệu quả. 1.1.3. Phân loại du lịch : Hiện nay chưa có tiêu chuẩn thống nhất để phân loại du lịch, ngành du lịch thế giới đang phát triển nhanh, số người tham gia hoạt động du lịch ngày càng đông. Mỗi người đều căn cứ vào điều kiện kinh tế, thời gian nhàn rỗi và mục đích du lịch của mình để xác định hình thức du lịch khác nhau. Cùng với sự phát triển không ngừng của du lịch, phạm vi hoạt động ngày càng có xu thế phát triển, nội dung hoạt động ngày càng mở rộng và các loại hình du lịch cũng dần dần tăng lên. Các loại hình du lịch có thể phân chia như sau: - Phân loại theo mục đích du lịch: Theo sự phân loại về mục đích thăm viếng của du khách ở Hội nghị du lịch quốc tế La Mã của Liên Hiệp Quốc, du lịch được chia ra: du lịch nghỉ phép, du lịch thương mại, du lịch điều trị dưỡng bệnh, du lịch du học, du lịch hội nghị, du lịch thăm viếng người thân, du lịch tôn giáo, du lịch thể dục thể thao và các du lịch khác. - Phân chia theo phạm vi khu vực: Căn cứ vào phạm vi khu vực có thể chia du lịch thành: du lịch trong nước và du lịch quốc tế. Du lịch trong nước là chỉ du lịch do cư dân trong nước rời khỏi nơi cư trú của mình tới một nơi khác trong nước để du lịch. Du lịch quốc tế là chỉ cư dân của một nước vượt đường biên giới quốc gia tới một hoặc vài nước khác để tiến hành du lịch. - Phân chia theo nội dung du lịch: ƒ Du lịch công vụ: Khách nước ngoài nhận lời mời đến thăm viếng, đàm phán ngoại giao... được xếp một hoặc vài hoạt động du lịch. Loại du lịch này tuy chiếm tỉ trọng không lớn trong lợi ích kinh tế của ngành du lịch quốc tế, nhưng cùng với sự tăng lên của sự giao lưu quốc tế, số người có nhu cầu sẽ tăng lên, do đó cần xem đây là một hình thức du lịch quan trọng. ƒ Du lịch thương mại: Thương nhân nước ngoài đến một nước để tìm hiểu thị trường, kết giao với các nhân sĩ, đàm phán mậu dịch, trong đó có ăn ở khách sạn, mời tiệc, xã giao, du ngoạn đã trở thành bộ phận hợp thành quan trọng của hoạt động du lịch ngày nay. 11 ƒ Du lịch du ngoạn: Đến nơi khác để thưởng ngoạn phong cảnh thiên nhiên và phong thổ nhân tình, thông qua lữ hành đạt được sự hưởng thụ cái đẹp, được vui vẻ, nghỉ ngơi. Đó là hình thức du lịch chủ yếu nhất hiện nay. ƒ Du lịch thăm viếng người thân: Nước ngoài còn gọi là du lịch tìm cội nguồn. Những năm gần đây, số người du lịch tìm cội nguồn và thăm viếng người thân ngày càng tăng, trở thành hình thức du lịch đặc biệt. ƒ Du lịch văn hóa : Những người tiến hành du lịch văn hóa phần lớn là những người có học. Họ đến một nơi khác để tìm hiểu văn vật cổ tích, văn hóa nghệ thuật, kiến trúc dân tộc, khoa học kỹ thuật giáo dục với mục đích khảo sát văn hóa và giao lưu văn hóa. ƒ Du lịch hội nghị: Một số nơi tận dụng dịp tiếp đãi hội nghị gắn hội nghị và du lịch với nhau tức là vừa hội nghị vừa du lịch. Đặc điểm của loại du lịch này là địa vị của du khách cao, thời gian lưu lại dài, khả năng mua sắm mạnh. Hình thức du lịch này đang phát triển mạnh trên thế giới, trở thành một bộ phận chiếm tỉ trọng lớn của thị trường du lịch quốc tế. ƒ Du lịch tôn giáo: Đây là hình thức du lịch cổ xưa tiếp tục đến nay, chủ yếu là kết quả của sự tồn tại và ảnh hưởng của tôn giáo phản ảnh trên tư tưởng con người. Ở Trung Quốc và một số nước Đông Nam Á có lịch sử lâu đời và hình thức kiến trúc phong phú đa dạng đã thu hút các tín đồ tôn giáo tín ngưỡng khác nhau và đã thu hút nhiều du khách đến tham quan du ngoạn. Việc phân loại du lịch trên có ý nghĩa rất quan trọng, sẽ giúp cho ta khai thác lợi thế, tiềm năng du lịch, xác định được thế mạnh của cơ sở kinh doanh du lịch, từ đó có thể xác định được cơ cấu khách hàng, mục tiêu của điểm du lịch, tạo điều kiện đưa hoạt động ngành du lịch ngày càng phát triển tốt nhất. 1.1.4. Sản phẩm du lịch: 1.1.4.1. Khái niệm: Khái niệm về sản phẩm du lịch cần được xác định một cách rõ ràng, đặc biệt là trong những lĩnh vực du lịch. Một sản phẩm du lịch là một tổng thể những yếu tố có thể thấy được hoặc không thấy được, nhưng lại làm thỏa mãn cho những khách hàng nhất định. 12 Những đặc tính địa lý ( bãi biển, núi rừng, sông suối, khí hậu, không gian thiên nhiên…) cũng như hạ tầng cơ sở ( khách sạn, nhà hàng, đường bay…) bản thân chúng không phải là một sản phẩm du lịch, nhưng chúng trở thành sản phẩm du lịch trong những tình trạng nào đó. Kotler và Turner đã định nghĩa về sản phẩm du lịch một cách rộng rãi như sau: “ Một sản phẩm là tất cả những gì có thể cung cấp cho sự chiếm hữu, sự sử dụng hoặc sự tiêu thụ của một thị trường: điều đó bao gồm những vật thể, những khoa học, những nhân vật, những nơi chốn, những tổ chức và những ý tưởng”. Thường người ta phân biệt ba mức độ trong khái niệm của sản phẩm du lịch: - Sản phẩm du lịch chính: Là nhu cầu cần thỏa mãn chính hoặc là phần lợi ích của sản phẩm này khác với các sản phẩm cạnh tranh khác, chẳng hạn một chỗ nghĩ mát, một điểm thể thao, một chuyến du hành đường thủy. - Sản phẩm du lịch hình thức: Sản phẩm du lịch hình thức tương ứng với sản phẩm du lịch mà nó có mặt lúc mua hoặc chọn lựa. Nó là sản phẩm cốt yếu được cụ thể hóa những yếu tố hoặc những dịch vụ rõ ràng như khách sạn, nhà hàng, trang thiết bị. Nó không còn là một sản phẩm ở trong khái niệm mà là một thành phẩm có thương mại hóa và có ích hoặc được du khách tiêu thụ. Chẳng hạn, nếu sản phẩm chủ yếu là một chỗ nghĩ mát, thì sản phẩm du lịch là toàn bộ những khách sạn và dịch vụ thương mại ở trong khu nghĩ mát cũng như những đặc tính kỹ thuật liên quan đến việc nghĩ mát. - Sản phẩm du lịch mở rộng: Sản phẩm du lịch mở rộng là toàn bộ những yếu tố liên quan đến người tiêu dùng, tức là du khách là tổng thể do các yếu tố nhìn thấy cũng như không nhìn thấy cung cấp cho người du lịch, đặc biệt là những lợi ích tâm lý như là cảm giác lạ, được xem là thành phần ưu tú, thượng lưu… - Sản phẩm du lịch mở rộng là một sản phẩm hoàn toàn thích hợp cho khách hàng cuối cùng. Đó là hình ảnh hay cá tính của sản phẩm mà du khách cảm nhận. Hình ảnh đó bao gồm những yếu tố như kiến trúc, khí hậu, cảnh quan…và những yếu tố tâm lý như bầu không khí, mỹ quan, cách sống, định chế xã hội của khách hàng. 13 Việc hiểu rõ khái niệm sản phẩm du lịch là khởi điểm của việc nghiên cứu vấn đề kinh tế du lịch. Trong hoạt động kinh tế du lịch, du khách bỏ ra một thời gian và sức lực nhất định, chi tiêu một khoản tiền nhất định để mua của người kinh doanh du lịch không phải vật cụ thể mà là sự thỏa mãn và hưởng thụ nhiều hơn về tinh thần, là quá trình du lịch hoàn chỉnh một lần, trong đó bao gồm nhiều loại dịch vụ do đích tới cung cấp. Quá trình du lịch một lần như vậy tức là một sản phẩm du lịch, trong đó một hạng mục dịch vụ du lịch như một giường ở phòng khách sạn, một bữa cơm trưa thịnh soạn được gọi là sản phẩm du lịch. Có thể thấy sản phẩm du lịch là do nhiều hạng mục sản phẩm du lịch hợp thành là sản phẩm vô hình mang đặc trưng hoàn chỉnh. Theo chúng tôi, sản phẩm du lịch là một khái niệm tổng thể. Trong thực tế kinh doanh, một loại sản phẩm du lịch thường do xí nghiệp và bộ phận du lịch trực thuộc một số ngành nghề nhưng độc lập với nhau cung cấp, các xí nghiệp và bộ phận này căn cứ vào tính chất của mình tự tổ chức dịch vụ đã định xoay quanh thị trường mục tiêu riêng. Mặt khác, nhu cầu của du khách là hoàn chỉnh, nơi du lịch chỉ thỏa mãn một số nhu cầu của họ về ở, ăn, đi lại, du ngoạn, vui chơi giải trí, mua sắm…Nói cách khác, đối với quần thể du khách, nơi đích tới du lịch chỉ có thể kết hợp một cách hữu cơ các sản phẩm du lịch đơn lẻ mới có thể tạo ra sản phẩm du lịch phù hợp với nhu cầu du khách. Sự ra đời của Công ty du lịch và sự xuất hiện của du lịch trọn gói đã thích ứng với yêu cầu khách quan này, họ kết hợp toàn bộ sản phẩm du lịch đơn lẻ thành sản phẩm du lịch thỏa mãn các nhu cầu của du khách trong quá trình du lịch. Do đó, bất kể đối với cơ quan quản lý du lịch hay xí nghiệp du lịch, hiểu được khái niệm du lịch một cách thiết thực và xây dựng ý thức sản phẩm du lịch hoàn chỉnh đều hết sức cần thiết. Xét về nhu cầu, khi du khách tiến hành quyết định nơi đích tới du lịch thì vấn đề họ quan tâm là sản phẩm du lịch hoàn chỉnh chứ không phải sản phẩm du lịch đơn lẻ, sự đánh giá của du khách đối với chất lượng sản phẩm du lịch cũng xuất phát từ điểm này. Vì thế thực sự hiểu được khái niệm này sẽ có lợi cho việc phát triển lành mạnh của ngành du lịch, có lợi cho sự tăng cường ý thức hợp tác của người kinh doanh du lịch, cùng nâng cao chất lượng sản phẩm du lịch, tạo ra hình tượng du lịch hoàn chỉnh tốt đẹp. 1.1.4.2. Cơ cấu của sản phẩm du lịch: Sản phẩm du lịch là loại sản phẩm đặc biệt do nhiều loại yếu tố hợp thành. Từ phía nơi đích tới du lịch , để thoả mãn các loại nhu cầu tiêu thụ của 14 du khách trong hoạt động du lịch, sản phẩm đơn lẻ do người kinh doanh du lịch cung cấp cho thị trường du lịch chủ yếu bao gồm: nhà ở, giao thông du lịch, cung cấp ăn uống, du ngoạn tham quan, hạng mục vui chơi giải trí, dịch vụ mua sắm, tuyến du lịch, sắp xếp chương trình và các dịch vụ chuyên môn khác. Nội dung cơ cấu của sản phẩm du lịch rất phong phú, liên quan tới rất nhiều ngành nghề, nhưng xét về ý nghĩa, các bộ phận hợp thành đều có thể chia ra: vật hấp dẫn du lịch và dịch vụ du lịch … Vật hấp dẫn du lịch: là vật đối tượng du lịch có sức thu hút hiện thực mà người kinh doanh du lịch giới thiệu cho du khách, là nhân tố quyết định để hấp dẫn du khách. Nó bao gồm tất cả mọi hiện tượng, sự vật, sự kiện tự nhiên và xã hội tạo thành sức hấp dẫn đối với du khách, có thể mang lại nhiều hiệu quả và lợi ích kinh tế và xã hội cho người kinh doanh du lịch . Cơ sở du lịch: Là điều kiện vật chất để phát triển ngành du lịch. Để triển khai hoạt động kinh tế du lịch cần xây dựng rất nhiều cơ quan lữ hành du ngoạn, dựa vào điều kiện vật chất nhất định, trực tiếp hoặc gián tiếp cung cấp dịch vụ cho du khách. Các cơ quan lữ hành du ngoạn này cùng với vật chuyển tải vật chất của nó gọi chung là cơ sở du lịch. Cơ sở du lịch có thể chia thành hai loại: cơ sở cơ bản du lịch trực tiếp phục vụ du khách và cơ sở hạ tầng du lịch tuy không trực tiếp cung cấp dịch vụ cho du khách nhưng cung cấp dịch vụ cho các bộ phận du lịch trong hoạt động kinh doanh du lịch. Từ đó cho thấy rằng, dịch vụ du lịch là hạt nhân của sản phẩm du lịch, sự thực hiện nhu cầu chi tiêu du lịch của du khách không tách rời các dịch vụ mà người kinh doanh du lịch cung cấp. Sản phẩm du lịch mà người kinh doanh du lịch cung cấp cho du khách ngoài sản phẩm vật chất hữu hình như ăn uống, phần nhiều thể hiện bằng các loại dịch vụ, tuy về tính chất có sự khác biệt, nhưng về bản chất đều lấy sản phẩm vật chất hữu hình, vật tự nhiên và hiện tượng xã hội vật thể chuyên chở để cung cấp dịch vụ nhằm thoả mãn nhu cầu du lịch của du khách. Dịch vụ du lịch là một khái niệm hoàn chỉnh, là do các dịch vụ đơn lẻ kết hợp làm thành, phải duy trì sự phối hợp tạo ra sự đánh giá tốt của du khách về sản phầm du lịch hoàn chỉnh. 1.1.4.3. Đặc điểm của sản phẩm du lịch: Sản phẩm du lịch là một loại sản phẩm đặc biệt, sản phẩm du lịch chủ yếu có các đặc điểm: 15 - Tính tổng hợp của sản phẩm du lịch : Được quyết định bởi tính xã hội của hoạt động du lịch và tính phức tạp của nhu cầu du lịch. Hoạt động du lịch là hoạt động trên nhiều mặt, bao gồm các hoạt động xã hội, kinh tế, văn hóa, chính trị, giao lưu dân gian và giao lưu quốc tế, ngoài ra nhu cầu của du khách trong hoạt động du lịch cũng nhiều mặt, vừa bao gồm nhu cầu đời sống vật chất cơ bản vừa bao gồm nhu cầu cuộc sống tinh thần ở cấp cao hơn. Tính chất của hoạt động du lịch và đặc điểm khách quan trong nhu cầu của du khách đòi hỏi sản phẩm du lịch phải có tính tổng hợp tương ứng trước thị trường du lịch. Tính tổng hợp của sản phẩm du lịch biểu hiện trước hết là sản phẩm du lịch kết hợp các loại dịch vụ du lịch liên quan cung cấp, nhằm thỏa mãn các nhu cầu của du khách. Nó vừa bao gồm sản phẩm lao động và vật tự nhiên. Đồng thời, tính tổng hợp của sản phẩm du lịch còn biểu hiện ở chỗ việc sản xuất và kinh doanh sản phẩm du lịch liên quan đến nhiều ngành nghề và bộ phận. Trong đó, vừa có giao thông du lịch và liên quan đến các bộ phận và ngành nghề khác ngoài bộ phận du lịch, trong đó vừa có bộ phận sản xuất tư liệu vật chất như kiến trúc, công nghiệp nhẹ, sản xuất nông sản phẩm, vừa bao gồm một số bộ phận phi sản xuất vật chất như văn hóa, giáo dục, khoa học kỹ thuật… - Tính không thể dự trữ: Là loại sản phẩm dịch vụ, sản phẩm du lịch có tính chất không thể dự trữ như sản phẩm vật chất nói chung. Do sản phẩm du lịch không tồn tại trong quá trình sản xuất độc lập, kết quả sản xuất lại không biểu hiện bằng hiện vật cụ thể, giá trị của nó được chuyển dịch từng bước trong quá trình mỗi lần tiêu thụ sản phẩm. Sau khi du khách mua sản phẩm du lịch, xí nghiệp du lịch liền trao quyền sử dụng sản phẩm liên quan trong thời gian quy định. Nếu sản phẩm du lịch chưa thể bán kịp thời thì không thể thực hiện giá trị của nó tổn thất gây nên sẽ không thể bù đắp dược. - Tính không thể chuyển dịch: Sản phẩm du lịch là hàng hóa có tính tổng hợp do du khách tiêu thụ ở nơi đích tới du lịch. Trước hết do nội dung hạt nhân của hoạt động du lịch biểu hiện thành hoạt động tham quan du ngoạn của du khách ở đích du lịch, nên du khách chỉ có thể tiến hành tiêu thụ ở nơi sản xuất sản phẩm du lịch chứ không thể như sản phẩm vật chất nói chung có thể chuyển khỏi nơi sản xuất đi tiêu thụ ở nơi khác. Sản phẩm vật chất được chuyển đến người tiêu thụ bằng phương tiện giao thông còn sản phẩm du lịch 16 lại thông qua phương tiện giao thông để chở người tiêu thụ tới. Trong quá trình trao đổi sản phẩm du lịch không xãy ra việc chuyển dịch quyền sở hữu sản phẩm, du khách chỉ có quyền sử dụng tạm thời đối với sản phẩm du lịch trong thời gian và địa điểm nhất định chứ không có quyền sở hữu sản phẩm. - Tính đồng thời của việc sản xuất và tiêu thụ: Khác với sản phẩm nói chung, việc sản xuất sản phẩm du lịch và lấy du khách tới đích du lịch làm tiền đề. Chỉ khi du khách đến nơi sản xuất thì việc xây dựng sản phẩm du lịch mới xảy ra, cũng chỉ khi du khách tiếp nhận dịch vụ du lịch thì chi phí du lịch mới bắt đầu, hoạt động dịch vụ du lịch yêu cầu cả hai bên người sản xuất và người tiêu thụ cùng tham gia để hoàn thành. Trong ý nghĩa này, việc sản xuất và tiêu thụ sản phẩm du lịch là xãy ra trong cùng một lúc và cùng chổ. - Tính dễ dao động: Quá trình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm du lịch chịu ảnh hưởng và hạn chế của nhiều nhân tố, trong đó dù chỉ thiếu một điều kiện cũng sẽ ảnh hưởng tới toàn bộ quá trình trao đổi sản phẩm du lịch, ảnh hưởng tới việc thực hiện giá trị sẩn phẩm du lịch, từ đó khiến việc sản xuất và tiêu thụ sản phẩm du lịch thể hiện đặc điểm dễ dao động. Như thế, sản phẩm du lịch bao gồm các dịch vụ du lịch, các hàng hóa và tiện nghi cung ứng cho du khách, nó được tạo nên bởi sự kết hợp các yếu tố tự nhiên, cơ sở vật chất kỹ thuật và lao động du lịch tại một vùng, một địa phương nào đó. Do vậy, sản phẩm du lịch bao gồm những yếu tố hữu hình ( hàng hóa) và những yếu tố vô hình ( dịch vụ) để cung cấp cho du khách hay nó bao gồm các hàng hóa, các dịch vụ và tiện nghi phục vụ khách du lịch. Sản phẩm du lịch = Tài nguyên du lịch + các dịch vụ và hàng hóa du lịch. Từ phân tích trên, theo chúng tôi có nhận định như sau : - Do tính tổng hợp của sản phẩm du lịch, nơi đích tới du lịch tiến hành quy hoạch toàn diện, sắp xếp điều chỉnh nhịp nhàng việc sản xuất và kinh doanh sản phẩm du lịch là rất cần thiết. Mặc dù trong điều kiện kinh tế lấy điều tiết thị trường làm chính nhưng vẫn không thể bỏ qua tác dụng thực hiện quản lý toàn diện của ngành du lịch. Mỗi người kinh doanh du lịch đều phải nhận thức được rằng chất lượng mỗi bộ phận của sản phẩm du lịch là cơ sở của hình ảnh hoàn chỉnh của nơi du lịch. - Đặc trưng tính không thể dự trữ của sản phẩm du lịch cho thấy trong sản xuất sản phẩm du lịch và thực hiện giá trị phải lấy việc mua thực tế của du khách làm tiền đề, “Khách hàng là thượng đế”. Đồng thời phải tuân thủ quy 17 hoạch nhu cầu du lịch, tăng cường quan niệm kinh tế hàng hóa, vạch ra sách lược kinh doanh đúng đắn, giải quyết tốt các quan hệ thị trường, cạnh tranh và kiếm lãi. - Do tính không thể chuyển dịch của sản phẩm du lịch, việc lưu thông sản phẩm du lịch chỉ có thể biểu hiện qua việc thông tin về sản phẩm, nhờ thế dẫn đến sự lưu động của du khách, hiệu suất và tốc độ thông tin về sản phẩm du lịch sẽ trực tiếp ảnh hưởng đến lượng nhu cầu du lịch lớn hay nhỏ, Vì thế công tác tuyên truyền và giới thiệu du lịch có ý nghĩa rất lớn, cần tận dụng phương pháp khoa học và phương pháp hiện đại để đưa thông tin về sản phẩm du lịch đến tay từng du khách tiềm năng, nâng cao hiệu quả và lợi ích của kinh tế du lịch. - Tính đồng thời của việc sản xuất và tiêu thụ sản phẩm du lịch khíến xí nghiệp du lịch không thể kiểm nghiệm chất lượng sản phẩm du lịch trước khi du khách quyết định mua và tiêu thụ sản phẩm du lịch, điều đó đề ra yêu cầu cao hơn đối với người sản xuất sản phẩm du lịch. Mặc dù tuyên truyền và thúc đẩy tiêu thụ sản phẩm du lịch là nhân tố quan trọng của kinh doanh du lịch thành công, nhưng công tác hạt nhân của kinh doanh du lịch vẫn là chất lượng sản phẩm du lịch. Người kinh doanh du lịch phải tăng cường quản lý chất lượng sản phẩm du lịch, không ngừng nâng cao trình độ quản lý kinh doanh và năng suất hiệu quả dịch vụ, giữ vững sự thống nhất giữa hiệu quả xã hội và hiệu quả kinh tế. - Do tính dễ dao động của sản phẩm du lịch về sản phẩm và tiêu thụ, đích tới du lịch phải tuân thủ quy luật phát triển theo tỷ tệ, làm tốt quy hoạch du lịch, xử lý đúng đắn quan hệ tỷ lệ giữa các bộ phận, giữa các yếu tố. Bộ phận kinh doanh du lịch cần lấy sự thay đổi nhu cầu của thị trường du lịch làm căn cứ, xác định sách lược kinh doanh, tiêu thụ linh hoạt, thúc đẩy việc thực hiện giá trị sản phẩm du lịch. Trong các nhân tố ảnh hưởng đặc điểm của chính sản phẩm du lịch tạo nên. Bên cạnh, cũng chịu ảnh hưởng của môi trường bên ngoài mà không thể kiểm soát được tức hạn chế của nhân tố tạo nên. Trước hết, sản phẩm du lịch là một loại sản phẩm mang tính tổng hợp, giữa các bộ phận kết hợp thành sản phẩm du lịch có mối quan hệ tỷ lệ nhất định, sự tăng giảm của bất kỳ bộ phận nào cũng đều ảnh hưởng đến sự vận hành thuận lợi của hoạt động kinh tế du lịch, việc sản xuất sản phẩm du lịch có quan hệ mật thiết với các ngành nghề 18 liên quan, sự phát triển của ngành du lịch còn lệ thuộc vào sự phối hợp nhịp nhàng lẫn nhau giữa ngành du lịch với các ngành nghề khác. Hơn nữa, việc sản xuất và tiêu thụ sản phẩm du lịch tất yếu liên quan tới các nhân tố nhiều mặt về chính trị, kinh tế, xã hội, thiên nhiên của nơi đích tới du lịch và nơi nguồn khách như cơ cấu nhân khẩu, trình độ phát triển của kinh tế quốc dân, quan hệ quốc tế, chính sách của chính phủ, chiến tranh, hối suất, quan hệ mậu dịch. Đây là các nhân tố mà ngành du lịch không kiểm soát được. 1.1.4.4. Sản phẩm đơn lẻ và sản phẩm tổng hợp: Bất kỳ sản phẩm du lịch nào cũng nhằm thỏa mãn nhu cầu của khách du lịch. Sản phẩm du lịch có thể là sản phẩm đơn lẻ, có thể là sản phẩm tổng hợp, do một đơn vị cung ứng trọn gói hay do nhiều đơn vị kinh doanh cùng tham gia cung ứng. Sản phẩm đơn lẻ: Là sản phẩm do các nhà cung ứng đưa ra nhằm thỏa mãn một nhu cầu cụ thể của khách. Ví dụ một khách sạn có dịch vụ cho khách du lịch thuê xe tự lái. Các nhà cung ứng có thể là khách sạn, có thể là nhà hàng, có thể là hãng vận chuyển...Chẳng hạn như một sản phẩm cụ thể của khách sạn Đông Xuyên-TP Long Xuyên khách du lịch có thể chỉ sử dụng bữa ăn trưa hoặc cho thuê phòng ngủ qua đêm, sản phẩm của công viên nước ...Tuy nhiên người du lịch không chỉ thỏa mãn bởi một dịch vụ mà trong chuyến đi du lịch của họ phải được thỏa mãn nhiều nhu cầu do những sản phẩm đó tạo nên. Hay nói cách khác là họ đòi hỏi phải có các sản phẩm tổng hợp. Sản phẩm trọn gói : Là sản phẩm phải thỏa mãn đồng thời một nhóm nhu cầu mong muốn của khách du lịch. Chẳng hạn chương trình ( tour) du lịch trọn gói bao gồm nhiều dịch vụ đơn lẻ như dịch vụ vận chuyển, dịch vụ lưu trú, dịch vụ ăn uống, dịch vụ vui chơi giải trí...Sản phẩm tổng hợp cũng có thể do một khách sạn cung ứng. Ví dụ khách đặt bữa tiệc tại khách sạn ngoài dịch vụ chính là bữa tiệc, khách có thể có nhu cầu được phục vụ các dịch vụ khác như vận chuyển, trang trí phòng tiệc, ca nhạc...Các dịch vụ trên tạo ra sản phẩm tổng hợp thỏa mãn nhu cầu của khách vào khách sạn. Theo chúng tôi, các dịch vụ trung gian là các dịch vụ phối hợp các dịch vụ đơn lẻ thành dịch vụ tổng hợp và thương mại hóa chúng. Sản phẩm du lịch gồm nhiều loại hàng hóa và dịch vụ khác nhau, do các doanh nghiệp khác nhau đảm nhận. Để có một chuyến du lịch hoàn hảo cần có sự phối hợp này. Dịch vụ thu gom sắp xếp các dịch vụ riêng lẻ thành một sản phẩm du lịch hoàn chỉnh. Tức là xây dựng các chương trình du lịch từng phần hay trọn gói. 19 1.1.5. Thị trường du lịch: 1.1.5.1. Khái niệm và chủng loại thị trường du lịch: Thị trường du lịch là phạm trù của kinh tế hàng hóa, nói về thực chất, nó là tổng thể các hành vi và quan hệ kinh tế của mọi người phát sinh trong quá trình trao đổi. Kinh tế du lịch là bộ phận hợp thành quan trọng của nền kinh tế quốc dân, trong quá trình vận hành kinh doanh du lịch, thị trường du lịch phát huy tác dụng. Sự hình thành thị trường du lịch là có quá trình, nó là sản phẩm của hàng hóa, xã hội hóa hoạt động du lịch khi kinh tế xã hội phát triển đến trình độ nhất định. Do sức sản xuất và trình độ khoa học được nâng cao, mặt khác dưới sự thúc đẩy của nhiều động cơ về mậu dịch, giao lưu, xã hội, văn hóa, hình thành nhu cầu xã hội to lớn. Sự phát triển của kinh tế hàng hóa tạo điều kiện tất yếu cho việc thỏa mãn nhu cầu du lịch, tức thông qua hình thức giao lưu hàng hóa mà cung cấp các loại dịch vụ du lịch cho xã hội. Vì thế, thị trường du lịch theo nghĩa hẹp là thị trường nguồn khách, tức trong thời gian nhất định, ở khu vực nào đó tồn tại người mua hiện thực và tiềm tàng có khả năng mua hàng hóa du lịch. Theo nghĩa rộng, thị trường du lịch là tổng thể các hành vi và quan hệ kinh tế thể hiện ra trong quá trình trao đổi sản phẩm du lịch. Mâu thuẩn cơ bản của thị trường du lịch là mâu thuẩn giữa nhu cầu và cung cấp sản phẩm du lịch. Chức năng cơ bản của thị trường du lịch là làm cầu nối liên kết cung cấp du lịch với nhu cầu du lịch. Để phân tích nghiên cứu toàn diện xu hướng phát triển của thị trường du lịch thế giới, cần nắm vững quy luật biến đổi của thị trường du lịch, căn cứ nhu cầu để khai thác đúng hướng sản phẩm du lịch. Căn cứ vào sự khác nhau của nhu cầu mà chia thị trường du lịch thành các loại khác nhau như sau: - Các khu vực lớn trong thị trường du lịch: Căn cứ vào điều kiện về các mặt kinh tế, văn hóa, tiếp đón du lịch, vị trí địa lý của các địa phương... Tổ chức Du lịch tế giới chia thị trường du lịch thế giới thành sáu khu vực lớn: Thị trường du lịch Châu Âu, thị trường du lịch Châu Mỹ, thị trường du lịch khu vực Đông Á- Thái Bình Dương, thị trường du lịch Nam-Á, thị trường du lịch Trung Đông và thị trường du lịch Châu Phi. Đây là phương pháp phân chia thị trường du lịch quan trọng truyền thống, 20 thông qua sự thống kê hàng năm theo khẩu độ của Tổ chức Du lịch thế giới mọi người có thể hiểu được cục diện cơ bản và động thái phát triển của toàn bộ thị trường du lịch thế giới. - Phân chia thị trường du lịch trong nước và thị trường du lịch quốc tế theo lãnh thổ quốc gia: Du lịch trong nước là sự lưu động của nhân dân nước đó trong lãnh thổ nước mình, tạo thành một bộ phận của thị trường tiêu thụ và thị trường dịch vụ trong nước, ảnh hưởng đến sự lưu thông và thu hồi tiền tệ trong nước, còn du lịch quốc tế thì ảnh hưởng đến thu chi ngoại tệ của một quốc gia. Thị trường du lịch trong nước và thị trường du lịch quốc tế chế ước và ảnh hưởng lẫn nhau, trở thành thể thống nhất liên hệ chặt chẽ với nhau. - Phân chia theo nội dung và hình thức của sản phẩm du lịch: Có các thị trường du lịch như thị trường du lịch tham quan phong cảnh, thị trường du lịch nghỉ phép, thị trường du lịch hội nghị, thị trường du lịch dịch vụ, thị trường du lịch văn hóa, thị trường du lịch tôn giáo, thị trường du lịch du học, thị trường du lịch thể thao...Các đơn vị du lịch khai thác nhằm vào việc cung cấp sản phẩm du lịch khác nhau để thỏa mãn nhu cầu của các thị trường khác nhau. - Phân chia theo hình thức tổ chức của hoạt động du lịch: Gồm có thị trường du lịch đoàn thể và thị trường du lịch khách lẻ. Du lịch bao gói đoàn thể là hình thức tổ chức du lịch truyền thống là kết quả của việc phổ cập, phát triển hoạt động du khách, loại hình du lịch này sẽ phát triển ổn định ở thời gian tới, đồng thời do con người ngày càng theo đuổi cuộc sống tự do, cá nhân hóa, nên những năm gần đây thị trường du lịch khách lẻ phát triển với tốc độ nhanh. Ngoài ra, còn có thể từ các góc độ khác nhau để chia thị trường du lịch như chia theo nước, theo tuổi, theo mùa vụ du lịch, chia theo khoảng cách du lịch... 1.1.5.2. Đặc điểm của thị trường du lịch: Thị trường du lịch có các đặc điểm chủ yếu như sau : - Sản phẩm của thị trường du lịch phần lớn là dịch vụ mang tính phi vật chất nên việc thực hiện chúng khác với thực hiện hàng hóa mang tính cụ thể.
- Xem thêm -