Tài liệu Khuynh hướng dân chủ tư sản trong phong trào dân tộc dân chủ ở việt nam những năm 1919-1930

  • Số trang: 28 |
  • Loại file: DOC |
  • Lượt xem: 315 |
  • Lượt tải: 0
dinhthithuyha

Đã đăng 3693 tài liệu

Mô tả:

Đề tài: KHUYNH HƯỚNG DÂN CHỦ TƯ SẢN TRONG PHONG TRÀO DÂN TỘC DÂN CHỦ Ở VIỆT NAM NHỮNG NĂM 1919-1930 A. PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Trong phong trào dân tộc dân chủ ở Việt Nam những năm 1919-1930 có hai khuynh hướng cách mạng song song tồn tại. Đó là khuynh hướng cách mạng dân chủ tư sản và khuynh hướng cách mạng vô sản. Giữa hai khuynh hướng này có sự cạnh tranh với nhau để một trong hai khuynh hướng sẽ trở thành khuynh hướng chủ đạo của phong trào cách mạng Việt Nam những thời kì sau. Đây có lẽ là đặc điểm nổi bật nhất của phong trào dân tộc dân chủ ở Việt Nam những năm 1919-1930. Vì vậy, việc lựa chọn nghiên cứu khuynh hướng dân chủ tư sản sẽ giúp giáo viên, học sinh hiểu rõ thêm về đặc điểm nổi bật này của phong trào dân tộc dân chủ ở Việt Nam những năm 1919-1930. Trong hai khuynh hướng cách mạng ở Việt Nam thời kì 1919-1930, người ta thường nói nhiều đến khuynh hướng cách mạng vô sản. Đó cũng là điều hiển nhiên bởi vì khuynh hướng cách mạng vô sản là khuynh hướng cách mạng đúng đắn nhất, phù hợp nhất với hoàn cảnh và điều kiện lịch sử Việt Nam. Bản thân mỗi giáo viên dạy lịch sử phải hiểu rõ điều đó và định hướng cho học sinh hiểu được điều đó. Tuy nhiên, sẽ thật phiến diện nếu như ta không tìm hiểu kĩ về khuynh hướng cách mạng dân chủ tư sản. Bởi vì: Thông qua việc tìm hiểu về khuynh hướng cách mạng dân chủ tư sản trong thời kì lịch sử 1919-1930 ta sẽ có cái nhìn xuyên suốt về khuynh hướng cách mạng này từ khi nó xuất hiện đến khi nó chấm dứt vai trò lịch sử. Trên cơ sở đó ta thấy được những đóng góp của khuynh hướng cách mạng này đối với phong trào dân tộc dân chủ ở Việt Nam, thấy được những mặt tích cực và hạn chế của nó, đánh giá nó cho khách quan và chính xác. Qua việc tìm hiểu khuynh hướng cách mạng này ta có thể đặt nó trong sự so sánh với khuynh hướng cứu nước phong kiến, khuynh hướng cách mạng 1 vô sản. Ta sẽ thấy được sự tiến bộ hơn hẳn của khuynh hướng cách mạng dân chủ tư sản so với khuynh hướng cứu nước phong kiến. Đồng thời ta cũng nhận thấy nhiều điểm hạn chế của khuynh hướng cách mạng dân chủ tư sản so với khuynh hướng cách mạng vô sản. Có như vậy chúng ta mới thấy được rằng việc cách mạng Việt Nam từ bỏ khuyng hướng phong kiến để đến với khuynh hướng cách mạng dân chủ tư sản là điều hợp lý, là bước phát triển. Đồng thời thấy được rằng chính sự sàng lọc nghiêm khắc của lịch sử đã đưa đến việc khuynh hướng cách mạng vô sản trở thành khuynh hướng chủ đạo của cách mạng Việt Nam từ năm 1930 đến nay chứ không phải là khuynh hướng cách mạng dân chủ tư sản. Qua việc tìm hiểu về khuynh hướng cách mạng dân chủ tư sản ta sẽ hiểu rõ thêm về những đóng góp của các sĩ phu yêu nước tiến bộ, tầng lớp tư sản dân tộc, giai cấp tiểu tư sản trong phong trào dân tộc dân chủ ở Việt Nam những năm 1919-1930. Chúng ta cũng hiểu thêm rằng phong trào yêu nước của các giai cấp và tầng lớp này góp phần thúc đẩy các nhân tố đưa đến sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam sớm chín muồi. Nói như vậy bởi lẽ Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời là sản phẩm của sự kết hợp giữa ba nhân tố là chủ nghĩa Mác-Lênin, phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam trong thời đại mới. Khuynh hướng cách mạng dân chủ tư sản cũng là một nội dung quan trọng của phần lịch sử Việt Nam thời kì 1919-1930. Nếu nghiên cứu kĩ vấn đề này giáo viên sẽ hiểu rõ hơn về một nội dung kiến thức quan trọng được đề cập đến trong chương trình học. Qua đó giáo viến có thể gúp học sinh hiểu rộng hơn, rõ hơn và sâu hơn phần kiến thức khó này. Đó là những lý do khiến tôi chọn viết chuyên đề này và cũng soạn chuyên đề này để dạy cho học sinh trong đội tuyển học sinh giỏi. 2. Mục đích của đề tài Mục đích của đề tài nhằm khai thác rộng và sâu những kiến thức liên quan đến khuynh hướng dân chủ tư sản trong phong trào dân tộc dân chủ ở Việt Nam những năm 1919-1930 qua đó giúp bản thân giáo viên nâng cao hiểu biết về nội dung kiến thức này. Trên cơ sở đó giáo viên chuyển hóa đề tại này thành chuyên đề để dạy cho học sinh trong đội tuyển học sinh giỏi Quốc gia, học sinh giỏi tỉnh. Thậm chí giáo viên có thể chắt lọc từ trong đề tài một số vấn đề để từ đó nêu lên thành câu hỏi, thành tình huống có vấn đề để phục vụ cho việc ôn thi đại học, ôn thi tốt nghiệp THPT cho học sinh. Từ đề tài này có thể lựa chọn ra những đơn vị kiến thức quan trọng để xây dựng thành những đề tài mới, những chuyên đề mới phục vụ cho việc dạy của giáo viên và học của học sinh. Ví dụ như chuyên đề về hoạt động của tư sản dân tộc trong phong trào dân tộc dân chủ ở Việt Nam 1919-1930; hoạt động của tiểu tư sản trong phong trào dân tộc dân chủ ở Việt Nam 19191930; những đặc điểm nổi bật của khuynh hướng cách mạng dân chủ tư sản trong phong trào dân tộc dân chủ ở Việt Nam những năm 1919-1930; những đóng góp của tư sản dân tộc, tiểu tư sản trong phong trào dân tộc dân chủ ở Việt Nam những năm 1919-1930… B. PHẦN NỘI DUNG 1. Điều kiện lịch sử tác động đến khuynh hướng cách mạng dân chủ tư sản ở Việt Nam những năm 1919-1930 Ngay từ đầu thế kỉ XX, luồng tư tưởng dân chủ tư sản đã ào ạt tràn vào nước ta. Ngay lập tức, các sĩ phu yêu nước tiến bộ mà tiêu biểu là Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh đã chấp nhận nó, tiếp thu nó rồi bắt tay vào hoạt động cứu nước. Cuộc vận động cứu nước theo khuynh hướng cách mạng dân chủ tư sản diễn ra mạnh mẽ trong hai mươi năm đầu thế kỉ XX. Tuy nhiên, trải qua hai mươi năm đấu tranh miệt mài, cuộc vận động cứu nước đó không đạt được kết quả như mong muốn là là cho đất nước được độc lập, tự do, dân trí được mở mang, đời sống nhân dân được ấm no, hạnh phúc, và càng không đưa đến sự xác lập của thể chế quân chủ lập hiến hay cộng hòa ở nước ta. Thất bại đó là điều đáng tiếc nhưng nó lại giúp cho các lực lượng theo khuynh hướng cách mạng dân chủ tư sản nhìn nhận rõ hơn về khuynh hướng cách mạng này, rút ra những bài học kinh nghệm quý giá để có thể xác định những cách thức đấu tranh phù hợp hơn trong những năm 19191930. Để bù đắp những thiệt hại do Chiến tranh thế giới thứ nhất gây ra, trong những năm 1919-1929, thực dân Pháp đã tiến hành chương trình khai thác thuộc địa lần thứ hai ở Đông Dương , chủ yếu là ở Việt Nam. Qua cuộc khai thác thuộc địa này, nền kinh tế của tư bản Pháp tiếp tục được mở rộng và bao trùm lên nền kinh tế phong kiến Việt Nam. Trong quá trình đầu tư vốn và mở rộng khai thác thuộc địa, thực dân Pháp cũng có đầu tư kĩ thuật và nhân lực, song rất hạn chế. Cơ cấu kinh tế Việt Nam có sự chuyển biến ít nhiều, song vẫn chỉ mang tính chất cục bộ. Về cơ bản, kinh tế Việt Nam vẫn là một nền kinh tế nông nghiệp nghèo nàn, lạc hậu và ngày càng bị lệ thuộc vào nền kinh tế Pháp. Do tác động của chính sách khai thác thuộc địa trên quy mô lớn và chính sách thống trị của thực dân Pháp, cơ cấu giai cấp của xã hội Việt Nam có những chuyển biến mới. Trong xã hội Việt Nam, bên cạnh những giai cấp cũ đã xuất hiện thêm các giai cấp mới. Trong mỗi giai cấp lại có thể có nhiều tầng lớp khác nhau. Mỗi giai cấp, mỗi tầng lớp do có đời sống kinh tế và địa vị xã hội khác nhau nên có thái độ chính trị và khả năng cách mạng không giống nhau. Có hai giai cấp, tầng lớp được coi là lực lượng chính tham gia phong trào dân tộc dân chủ theo khuynh hướng cách mạng dân chủ tư sản là giai cấp tiểu tư sản và tầng lớp tư sản dân tộc ở Việt Nam. Giai cấp tiểu tư sản bao gồm những người buôn bán nhỏ, chủ xưởng nhỏ, thợ thủ công, học sinh, sinh viên, công chức, trí thức… Sau chiến tranh giai cấp này có sự phát triển nhanh về số lượng. Họ có ý thức dân tộc dân chủ, chống thực dân Pháp và tay sai. Đặc biệt, bộ phận trí thức, học sinh, sinh viên rất nhạy cảm với thời cuộc và tha thiết canh tân đất nước nên hăng hái tham gia các cuộc đấu tranh vì độc lập, tự do của dân tộc. Giai cấp tư sản ra đời sau Chiến tranh thế giới thứ nhất và phân hóa thành hai bộ phận là tư sản mại bản và tư sản dân tộc. Tư sản mại bản là những chủ tư bản lớn, mở xí nghiệp để gia công và nhận thầu cho đế quốc, lập các hiệu buôn bán lớn… Tư sản dân tộc đã đi vào con đườn phát triể kinh tế dân tộc. Địa vị kinh tế của tư sản Việt Nam rất nhỏ bé, tổng số vốn kinh doanh chỉ bằng khoảng 5% số vốn của tư bản nước ngoài đầu tư vào nước ta lúc bấy giờ. Tư sản dân tộc Việt Nam là lực lượng có khuynh hướng dân tộc và dân chủ. Sau Chiến tranh thế giới thứ nhất, những sĩ phu yêu nước lão thành như Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh vẫn còn sục sôi nhiệt tình cách mạng. Về cơ bản họ vẫn kiên trì đi theo con đường cứu nước mà chính họ đã vạch ra từ đầu thế kỉ XX. Giờ đây, tuy hoạt động của họ không còn đóng vai trò nòng cốt trong khuynh hướng cách mạng dân chủ tư sản nữa nhưng họ vẫn là những biểu tượng lớn của khuynh hướng cách mạng này và của cả phong trào dân tộc dân chủ ở Việt Nam. Trong và sau chiến tranh thế giới thứ nhất, ngày càng có nhiều người Việt Nam ra nước ngoài hơn. Một bộ phận trong số đó sẽ có điều kiện tiếp xúc và tiếp thu luồng tư tưởng dân chủ tư sản. Hơn nữa, sau Chiến tranh thế giới thứ nhất, việc thực dân Pháp đẩy mạnh thực hiện các chính sách về văn hóa, giáo dục vô tình làm cho hệ tư tưởng dân chủ tư sản có điều kiện tràn vào nước ta thêm nữa. Tuy nhiên, chúng ta cũng phải hiểu rằng, hệ tư tưởng dân chủ tư sản lúc đó không còn là hệ tư tưởng mới nhất, tiên tiến nhất, cách mạng nhất nữa. Vả lại, hệ tư tưởng đó khi vào Việt Nam lại bị bóp méo phần nào nên đã bị giảm bớt tính ưu việt đi nhiều. 2. Những hoạt động tiêu biểu đại diện cho khuynh hướng cách mạng dân chủ tư sản ở Việt Nam những năm 1919-1930 2.1. Hoạt động của Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh và một số người Việt Nam sống tại Pháp sau Chiến tranh thế giới thứ nhất - Hoạt động của Phan Bội Châu Năm 1913, Phan Bội Châu bị bọn quan phiệt Trung Quốc bắt giam. Đến cuốc năm 1917 mới được trả tự do. Từ sự thất bại và thờ cuộ sau Chiến tranh thế giới thứ nhất, Phan Bội Châu tuy vẫn nặng long yêu nước song đã không thể tiếp tục tìm được phương thức cứu nước đúng đắn. Phan Bội Châu đã khước từ lời dụ dỗ, mua chuộc của viên Toàn quyền Pháp Anbe Xarô. Giữa lúc đó, ảnh hưởng của Cách mạng tháng Mười và sự ra đời của nước Nga Xô viết đã đến với ông như một luồng ánh sang mới. Phan Bội Châu có cảm tình với cuộc cách mạng này. Tuy nhiên, trong khi chưa thể thay đổi được tổ chức, thay đổi phương thức đấu tranh thích hợp với chuyển biến mới của đất nước và thời đại thì Phan Bội Châu bị thực dân Pháp bắt tại Thượng Hải đưa về nước, kết án tù rồi đưa về an trí tại Huế. Từ đó trở đi, trong hoàn cảnh một người tù bị giam lỏng, Phan Bội Châu không thể tiến theo nhịp bước đấu tranh mới của dân tộc. - Hoạt động của Phan Châu Trinh Sau khi ra khỏi nhà tù Côn Đảo, Phan Châu Trinh sang Pháp (1911) tiếp tục hoạt động. Ông có quan hệ với Nguyễn Ái Quốc trong những năm tháng hoạt động ở Pháp. Vào đầu năm 1922, Phan Châu Trinh đến Mácxây. Nhân dịp vua Khải Định sang dự cuộc triển lãm để khuếch trương “công lao khai hóa” của Pháp, Phan Châu Trinh đã viết Thất điều thư vạc ra 7 tội đáng chém của Khải Định. Phan Châu Trinh còn tổ chức diễn thuyết lên án chế độ quân chủ và quan trường Việt Nam; tiếp tục hô háo “Khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh”… Tháng 6-1925, Phan Châu Trinh về nước. Mặc dù sức khỏe đã yếu, ông vẫn tiếp tục hoạt động, đả phá chế độ quân chủ, đề cao dân quyền. Nhiều tang lớp nhân dân, nhất là thanh niên rất mến mộ và hưởng ứng hoạt động của Phan Châu Trinh - Hoạt động của một số người Việt Nam sống tại Pháp Sau Chiến tranh thế giới thứ nhất, nhiều Việt kiều tại Pháp đã tham gia hoạt động như chuyển tài liệu, sách báo tiến bộ về nước. Nhiều trí thức và lao động Việt Nam ở Pháp đã tập hợp lại trog các tổ chức yêu nước. Năm 1925, Hội nghững người lao động trí óc Đông Dương ra đời. Một số thanh niên, sinh viên yêu nước xuất than trong các gia đình địa chủ, tư sản lập ra Đảng Việt Nam độc lập, xuất bản báo Tái sinh. 2.2. Hoạt động yêu nước của tư sản và tiểu tư sản trong những năm 19191925 - Các hoạt động cạnh tranh với tư sản nước ngoài trên lĩnh vực kinh tế Ra đời trong cuộc khai thác thuộc địa lần thứ hai của Pháp, giai cấp tư sản Việt Nam vốn nhỏ yếu về kinh tế và thường xuyên bị tư sản nước ngoài cạnh tranh, chèn ép. Tuy nhiên sau Chiến tranh thế giới thứ nhất, giai cấp tư sản đã mạnh dạn đương đầu với tư sản người Hoa và tư sản Pháp. Ngay sau Chiến tranh thế giới thứ nhất, tại các thành phố lớn như Sài Gòn, Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định,... với khẩu hiệu “Người An Nam mua bán với người An Nam”, tư sản Việt Nam đã vận động tẩy chay hàng hoá của tư sản Hoa kiều. Thậm chí một số nơi còn xảy ra các vụ xô xát, đập phá một số cửa hàng, cửa hiệu của người Hoa. Việc làm này tuy có lợi cho tư sản Pháp, giúp tư sản Pháp diệt trừ một đối thủ cạnh tranh với chúng, nhưng phong trào càng tiến triển, Pháp càng lo sợ cho trật tự an ninh của chúng. Do đó chúng đã tiến hành các vụ bắt bớ làm cho phong trào lắng dần. Năm 1923, một số tư sản và địa chủ lớn ở Nam Kì (đại biểu là Bùi Quang Chiêu, Nguyễn Phan Long…) đã lập ra Đảng Lập hiến. Cơ quan ngôn luận của Đảng lập hiến là hai tờ Diễn đàn Đông Dương và tờ Tiếng dội An Nam. Khi được thực dân Pháp nhượng bộ cho ít quyền lợi (như cho tham gia Hội đồng Quản hạt Nam kì), họ lại thỏa hiệp với chúng. Cũng trong năm 1923, với sự trưởng thành của mình, giai cấp tư sản Việt Nam bắt đầu chống chính sách độc quyền về kinh tế của Pháp. Mở đầu là cuộc đấu tranh chống Hội đồng thuộc địa Nam Kì trao cho một công ti tư bản Pháp độc quyền cảng Sài Gòn trong 20 năm. Tháng 5-1923, tại Hội đồng quản hạt, các dân biểu thuộc phe luật sư Mônanh (Monin) và các đại biểu thuộc Đảng lập hiến như: Bùi Quang Chiêu, Nguyễn Phan Long, Lê Quang Liêm, Trương Văn Bền, Nguyễn Tấn Được, Nguyễn Văn Thinh, Trần Văn Đôn, Lưu Văn Lang đều bỏ phiếu phản đối. Cuộc đấu tranh lan rộng ra ngoài, Đảng Lập hiến không những đã dựa vào nhân dân, đặc biệt là thanh niên Sài Gòn, mà còn liên minh với tập đoàn tư bản Hoa kiều ở Chợ Lớn và được tập đoàn này cung cấp tiền bạc cho Đảng lập hiến và luật sư Mônanh hoạt động chống tư bản Pháp. - Đấu tranh trên lĩnh vực tư tưởng văn hóa Năm 1925, nhân lúc Varen (Varenne) sang nhận chức Toàn quyền Đông Dương, 600 đại biểu nhân dân đã đến tận Phủ Toàn quyền trao tận tay Varen một tập Dân nguyện viết bằng tiếng Pháp nhằm đòi quyền tự do dân chủ. Cũng năm 1925, Bùi Quang Chiêu sang Pháp. Trong chuyến đi này Bùi Quang Chiêu đã giao thiệp với một số chính khách của các đảng phái và viết một số bài báo, đọc một số bài diễn văn yêu cầu chính phủ Pháp ban hành quyền tự do, dân chủ cho thuộc địa Đông Dương - một yêu sách lúc bấy giờ rất được công luận chú ý. Việc làm này có ảnh hưởng tốt, được báo Việt Nam hồn xuất bản ở Pháp cổ vũ, hoan nghênh. Do đó uy tín của Bùi Quang Chiêu và Đảng lập hiến càng được đề cao trong giới tư sản, trí thức và thanh niên công chức ở miền Nam. Nhưng tối 24 - 3 - 1926, trong cuộc mít tinh tại đường Băng Cốc (Sài Gòn), mọi người háo hức chờ tiếng nói của Bùi Quang Chiêu “người vừa được cái vinh dự 60 nghìn người đón tiếp như một vị anh hùng cứu quốc” truyền cho họ một tinh thần dân tộc hay ít ra một lời hứa hẹn đấu tranh cho tự do dân chủ thì ông ta lại “dội nước đá vào người nghe” bằng mấy câu dõng dạc tuyên bố: “Tôi nguyện hy sinh cho Chủ nghĩa Pháp -Việt đề huề”(!). Trần Huy Liệu đã viết: trước 4 giờ chiều, trong cuộc đón Bùi Quang Chiêu, thanh niên là những người đi đầu ủng hộ Bùi Quang Chiêu. Ba giờ sau, nghĩa là 7 giờ tối thanh niên đã ra mặt chống đối Bùi Quang Chiêu, chống chủ nghĩa Pháp -Việt đề huề. Lợi dụng những điều kiện có lợi cho hoạt động văn hóa, nhiều trí thức thanh niên tiến bộ lúc bấy giờ đã tham gia một số tờ báo tiếng Pháp như tờ: La Tribune Indigene (Diễn đàn của người bản xứ) của Nguyễn Phú Khai và Bùi Quang Chiêu, La Cloche Félée (Tiếng chuông rè) của Nguyễn An Ninh, L’Annam và báo Le Nhà quê của Phan Văn Trường, Jeune Annam, của Đảng Thanh niên do Lâm Hiệp Châu làm chủ nhiệm, L’ Union Indochinoise của Vũ Đình Dị, L’echo annamitte của Nguyễn Phan Long... Báo chí đã đề cập tới một số vấn đề cụ thể đang diễn ra hàng ngày như công kích chính quyền thực dân, bọn tay sai của Pháp ở Nam kì, công kích chế độ thuộc địa và bọn quan lại tham nhũng, chống áp bức ở thuộc địa, đòi mở rộng dân chủ... Tờ La Cloche Félée (Tiếng chuông rè) do Nguyễn An Ninh làm chủ bút, với lời lẽ kịch liệt “không phải chỉ đả kích mấy tên trùm sỏ trong tập đoàn thống trị mà còn chống với cả chế độ thuộc địa nói chung”, “những người đọc La Gloche Félée hồi ấy phần lớn là những người có tư tưởng chống đối chính phủ, không sợ mật thám trù”. Tờ báo đó sau được Phan Văn Trường đổi tên là tờ L’ Annam và có khuynh hướng cộng sản rõ rệt. Ngoài những tờ báo của người Việt, La Voix Libre (Tiếng nói tự do) của Ganốt-xky (Ganobsky) với những bài ngắn gọn, tờ báo tập trung đả kích tập đoàn thông trị của Pháp ở Nam Kì từ Thống đốc cho tới Chủ tịch và các nghị sĩ Hội đồng quản hạt Nam Kì, “Ga-nốt-xky đã trở thành một người Pháp chống thực dân Pháp vào hạng nhất”. Luật sư Mônanh (Monin) với tờ L’Indochine (báo ra hàng ngày), phải đương đầu với cả tập đoàn thống trị Pháp. Tại các toà án, Mônanh đã trở thành một nhà hùng biện bênh vực cho chính nghĩa. Ông là một nhà báo có tài, diễn thuyết giỏi, đã từng chiến đấu trên nhiều địa hạt: toà án, nghị trường, báo giới. Ông luôn đứng về phía những người bị áp bức chống lại bọn phản động thuộc địa. Tuy chưa có một xu hướng chính trị thống nhất, nhưng những hoạt động văn hóa của tầng lớp tiểu tư sản trí thức đã phát triển rầm rộ, quy mô khá rộng lớn. Họ không chỉ lớn tiếng trong làng báo mà còn biên soạn, dịch thuật và xuất bản khá nhiều sách: “Gắn những hoạt động văn hóa vào những vấn đề nóng hổi đang diễn ra trước mắt cũng là một đặc điểm nổi bật cuả họ. Từ đó họ đả kích thực dân, cổ động lòng yêu nước”. Họ không những góp phần đấu tranh đòi tự do dân chủ mà bằng hoạt động văn hóa họ đã tập hợp lực luợng tạo nên những Nam đồng thư xã, Cường học thư xã, Đảng thanh niên ở Nam Kì, Hội Phục Việt ở Trung Kì. Các tổ chức chính trị này ra sức tuyên truyền, tổ chức các hoạt động yêu nước đáp ứng được yêu cầu của cuộc đấu tranh đòi thả cụ Phan Bội Châu và biểu dương lực lượng trong phong trào tang lễ nhà yêu nước Phan Châu Trinh. - Phong trào đấu tranh đòi ân xá Phan Bội Châu (1925) và lễ tang Phan Châu Trinh (1926) Năm 1925, sau lần Phan Bội Châu lớn tiếng bênh vực cho hành động của Phạm Hồng Thái trong việc ném tạc đạn vào Toàn quyền Méclanh (Merlin) và việc cụ Phan “răn đe” chính quyền thực dân: sẽ “quyết không để cho chính phủ Pháp một ngày ngồi nằm yên ổn. Việc ám sát Méc-lanh lần này chẳng qua là một sự cảnh cáo của đảng chúng tôi mà thôi”, rồi khẳng định: “Thắng lợi cuối cùng thế tất thuộc về đảng chúng tôi”; thì thực dân Pháp đã sang tận Trung Quốc bủa vây, rình mò để bắt cóc cụ Phan Bội Châu, nhằm chấm dứt vai trò của một thủ lĩnh cách mạng, suốt hơn một phần tư thế kỉ, đã kiên cưòng đấu tranh, lăn lộn hoạt động vì sự nghiệp giải phóng dân tộc của nhân dân ta. Nghe tin một người Việt Nam yêu nước hoạt động ở Trung Quốc bị Pháp bắt giải về Hà Nội, ông nghè Ngô Đức Kế cùng với các học trò thân tín đã bí mật điều tra. Qua một đoạn thơ do Bùi Bằng Đoàn (phiên dịch) chép được của bị can: “Sống không trừ được lo thiên hạ, chết không rửa được thù ý trung, mối hận dẳng dai, Sông cả núi Hồng muôn thuở đó. Trò chơi trước đã sắp đến lúc tàn, Sân múa sau chính đường sắp dựng, thúc người sôi sục, gió Âu, mưa Á tám phương dồn”; cụ Ngô Đức Kế khẳng định người bị bắt mang tên Trần Văn Đức chính là Phan Bội Châu. Cụ Ngô Đức Kế và các bạn của cụ cho rằng nếu không có phản ứng gì thì chính phủ Pháp sẽ tìm cách thủ tiêu cụ Phan. Sau đó các báo chí và các nhân viên Hoả Lò cũng lần lượt tung ra ngoài cái tin cụ Phan Bội Châu bị bắt. Nhiều nhân vật và đoàn thể đánh điện cho các nhà chức trách Pháp đòi thả Phan Bội Châu. Varen-vừa mới được bổ nhiệm chức Toàn quyền Đông Dương đã được các sinh viên Trường Cao đẳng tổ chức đón tiếp với ba khẩu hiệu: “Người đảng viên xã hội Varen muôn năm”, “Tha cho Phan Bội Châu”, “Đả đảo chính sách thuộc địa bằng roi vọt”. Hội Phục Việt đã kịp thời in truyền đơn phân phát ở Hà Nội và nhiều tỉnh khác. Ngoài việc vạch tội ác của thực dân Pháp, truyền đơn kịch liệt phản đối việc bắt nhà ái quốc Phan Bội Châu. Theo Tôn Quang Phiệt - một yếu nhân của Hội Phục Việt hồi đó thì ở Nhà lưu trú Thanh niên Việt Nam tại Hà Nội một số sinh viên đã tiếp Toàn quyền Varen và đã đọc một bài diễn văn mà mật thám Pháp gọi là “nảy lửa”. Khi Toà Đề hình Đông Dương tuyên án mức án khổ sai chung thân đối với Phan Bội Châu thì dư luận rất phẫn nộ. Rất nhiều cá nhân, đoàn thể, trường học, các nhà báo đánh điện cho Toàn quyền Đông Dương đòi thả Phan Bội Châu. Cuối cùng, ngày 25-12-1925, trước áp lực đấu tranh của quần chúng, Toàn quyền Varen kí lệnh “ân xá” Phan Bội Châu và đưa về giam lỏng ở Huế dưới sự kiểm soát chặt chẽ của bọn mật thám. Sự thắng lợi của phong trào đấu tranh đòi ân xá Phan Bội Châu - phong trào đấu tranh công khai đầu tiên, đã làm nức lòng nhân dân cả nước và cổ vũ mạnh mẽ cho cuộc đấu tranh cứu nước trong giai đoạn mới. - Phong trào tổ chức tang lễ Phan Châu Trinh Theo Giáo sư Trần Văn Giàu thì “tư tưởng dân chủ tư sản đối với Việt Nam hồi những năm đầu thế kỉ XX còn là một điều mới mẻ, tiến bộ thì sau Chiến tranh thế giới thứ nhất đã mất tính chất mới mẻ, tiến bộ rồi”, nhưng “Phan Châu Trinh vẫn theo chủ trương nhờ vào Pháp bảo hộ mà tiến lên, nên ở mãi trong cái phạm trù tư sản dân chủ cũ kĩ” và điều này được khẳng định lại trong hai bài diễn văn Đạo đức và luân lí Đông Tây, Quan trị chủ nghĩa và Dân trị chủ nghĩa của cụ Phan Châu Trinh ở Sài Gòn cuối 1925. Mặc dầu vậy, những người yêu nước lúc bấy giờ vẫn rất mến mộ người chí sĩ suốt đời đã dốc hết sức lực để nghĩ suy cho một hình thức vận động cứu nước; nhân dân vẫn quý trọng một Tây Hồ đã đấu tranh không mệt mỏi nhằm xoá bỏ nền quân chủ hủ bại ở Việt Nam. Cho nên, ngày 24-3-1926, khi nghe tin Cụ mất, các báo chí tiếng Pháp cũng như tiếng Việt, trừ 2 tờ L Impartial và Trung Lập của Đờ -sơ-vơ-rô-chi-e, còn lại đều hết lời ca ngợi nhà yêu nưóc nhiệt thành này. Tờ Đông Pháp thời báo lúc ấy đăng rất nhiều thơ ca, câu đối của các tầng lớp nhân dân gửi điếu nhà chí sĩ. Ban tổ chức tang lễ cụ Phan Châu Trinh đã gửi lời hiệu triệu đi khắp cả nước kêu gọi làm lễ truy điệu nhà chí sĩ ái quốc, coi như một quốc tang. Nối tiếp khí thế của cuộc vận động đòi thả cụ Phan Bội Châu, nên bản hiệu triệu trên đã được mọi nơi hưởng ứng nhiệt liệt. Học sinh các trường Trung học đòi nghỉ học để để tang nhà chí sĩ. Không chỉ ở chùa Đồng Nhân (Hà Nội), chùa Dư Hàng (Hải Phòng), chùa Cả (Nam Định) và nhiều nơi khác trên cả ba miền Bắc, Trung, Nam mà lòng tiếc thương Cụ còn vượt ra ngoài biên giới đến cả Phnômpênh (Campuchia) và Viên Chăn (Lào); tổng cộng có tới hàng chục vạn người tham gia lễ truy điệu. Riêng tại Sài Gòn 14 vạn người đã có mặt trong cuộc tiễn đưa cụ Phan Châu Trinh (từ Sài Gòn lên Tân Sơn Nhất) về nơi an nghỉ cuối cùng. Trong cuộc vận động đám tang này, Đảng Thanh niên là động lực chính. Nhưng họ không ngờ rằng, bọn chính khách trong đám tư sản mại bản và địa chủ đã lợi dụng phong trào để thực hiện ý đồ chính trị tuyên truyền cho cái chủ nghĩa Pháp-Việt đề huề của chúng. Tuy vậy, theo Trần Huy Liệu, “đám tang cụ Phan Châu Trinh đã gây được một ảnh hưỏng rất sâu rộng cho phong trào ái quốc và dân chủ hồi ấy và nếu bắt đầu từ cuộc đấu tranh chống độc quyền hải cảng Sài Gòn năm 1923, qua những cuộc đưa Dân nguyện cho Toàn quyền Varen (Varene), đòi thả cụ Phan Bội Châu, biểu tình đón Bùi Quang Chiêu thì đây là độ cao chót của phong trào”. 2.3. Tâm tâm xã và Phục Việt ra đời, một bước chuyển biến mới của phong trào yêu nước và cách mạng giải phóng dân tộc Sự bế tắc của Phan Bội Châu trên con đường cứu nước, như chính cụ tự bạch “trăm lần thất bại mà không một lần thành công” đã làm xuất hiện thêm hai tổ chức yêu nước mới. Đó là Tâm tâm xã (1923) và Phục Việt (7-1925). Hai tổ chức này đều chuyển hoá nhanh chóng theo khuynh hướng cách mạng vô sản. - Tâm tâm xã hay là Tân Việt Thanh niên đoàn là do một nhóm 7 người trí thức Việt Nam xuất dương sang Trung Quốc lập ra. Đó là những thanh niên yêu nước trẻ tuổi: Lê Văn Phan (tức Lê Hồng Sơn), Hồ Bá Cự (tức Hồ Tùng Mậu), Nguyễn Giản Khanh (con nuôi của cụ Nguyễn Thiện Thuật thủ lĩnh cuộc khởi nghĩa Bãi Sậy), Đặng Xuân Hồng, Trương Quốc Huy, Lê Cầu (tức Tống Giao Cầu), Nguyễn Công Viễn (tức Lâm Đức Thụ), Đầu năm 1924, Tâm tâm xã còn kết nạp thêm Lê Hồng Phong và Phạm Hồng Thái,... Tổ chức này gồm những thanh niên trưởng thành sau Chiến tranh Thế giới lần thứ nhất (1914-1918) và đã từng chịu ảnh hưởng của các sĩ phu yêu nước đầu thế kỉ XX. Nhưng lúc đó, Việt Nam Quang phục hội do cụ Phan Bội Châu đứng đầu đã bị tan rã sau những thất bại liên tiếp ở trong và ngoài nước. Nhờ vậy họ nhận thấy đường lối của tổ chức này có nhiều hạn chế và sai lầm nên bàn nhau và quyết định đi tìm một đường lối cách mạng đúng đắn. Tôn chỉ của Tâm tâm xã là: “Liên hiệp những người có trí lực trong toàn dân Việt Nam không phân biệt ranh giới đảng phái, miễn là có quyết tâm hi sinh tất cả tư ý và quyền lợi cá nhân, đem hết sức mình tiến hành mọi việc để khôi phục quyền làm người của người Việt Nam”. Điều lệ của Tâm tâm xã còn đề cập tới việc rút kinh nghiệm về những bài học thất bại xưa để tìm kiếm một phương pháp cách mạng đúng đắn. Trong giai đoạn liên minh để giành độc lập, để tránh sự bàn cãi gay gắt “tranh chấp lẫn nhau” tạm thời “chưa bàn tới chính thể"; “còn đối với bọn quân thù và tay sai của chúng làm cản trở cho công việc của chúng ta thì phải lo hết cách để khử trừ”; “đối với tư ý và quyền lợi cá nhân phải quyết tâm hi sinh để đảm bảo tư cách làm người”. Mục đích là: “Hợp sức mọi người, lấy ý kiến tập thể, dũng cảm tiến lên để đem lại cho mọi người cái nhân quyền đã bị cướp mất và mưu cầu hạnh phúc cho quốc dân” . Đem so sánh mục đích, tôn chỉ của Tâm tâm xã với Việt Nam Quang phục hội thì hai tổ chức đều giống nhau ở chủ trương giành độc lập. Nhưng Tâm tâm xã đi xa hơn, họ hướng tới việc giải phóng giai cấp, giải phóng con người; mang đậm màu sắc Chủ nghĩa Tam dân của Tôn Trung Sơn, nó tiếp tục nâng chủ nghĩa yêu nước Việt Nam lên một tầm cao mới rất thuận lợi cho bước chuyển hoá theo khuynh hướng cách mạng vô sản. Tâm tâm xã là một tổ chức mới được sinh ra từ trong tổ chức cũ. Do đó nó phải dựa vào cái nôi của tổ chức cũ, dựa vào uy danh của các nhà cách mạng tiền bối để tuyên truyền vận động gây dựng tổ chức. Tuy vụ mưu sát Méclanh (M.Merlin)- Toàn quyền Đông Dương không thành nhưng tiếng lựu đạn của Phạm Hồng Thái đã làm chấn động dư luận trong và ngoài nước, cổ vũ tinh thần và củng cố niềm tin cho đồng bào ta sau những tổn thất cuối phong trào do Phan Bội Châu lãnh đạo. Chỉ sau hai năm ra đời, Tâm tâm xã đã có được vận hội lớn. Đó là cuộc hội ngộ lịch sử giữa những người đứng đầu Tâm tâm xã với Nguyễn Ái Quốc - lãnh tụ kiểu mới của phong trào giải phóng dân tộc, người đã hiệu chỉnh và rọi sáng con đường cách mạng Việt Nam trong giai đoạn mới, đã thuyết phục lôi cuốn hầu hết các thành viên của Tâm tâm Xã đi theo con đường cách mạng vô sản, Con đường của chủ nghĩa Mác – Lênin. Chính Nguyễn Ái Quốc lựa chọn một số thanh niên tích cực trong Tâm tâm xã để tổ chức thành nhóm Cộng sản Đoàn (2-1925). Đến tháng 6-1925, trên cở sở hạt nhân là nhón Cộng sản Đoàn, Nguyễn Ái Quốc đã thành lập Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên. - Phục Việt (7-1925): Chế độ lao tù hà khắc của thực dân Pháp không làm suy giảm được tinh thần yêu nước của các sĩ phu Việt Nam đầu thế kỉ XX. Bị cầm tù, nhưng các sĩ phu vẫn tiếp tục nuôi chí cứu nước, chờ ngày được tự do để đem phần sức lực cuối cùng của mình cống hiến cho độc lập dân tộc. Tư tưởng phục Việt mà các cụ thường nhắc nhở nhau hàng ngày ở Côn Đảo đành phải đợi lúc mãn hạn tù mới có điều kiện tổ chức thực hiện. Nhưng khi ấy phong trào cứu nước đang hết sức khó khăn, nhiều nhân vật cốt cán của phong trào, nhiều đồng bào ta bị thực clân Pháp truy lùng bắt bớ chém giết rất dã man. Cho nên nhiệm vụ đầu tiên và cũng là nhiệm vụ cấp bách nhất của các tù chính trị vừa được thả là phải chắp nối liên lạc gây dựng lại tổ chức để vận động và chỉ đạo phong trào. Lê Văn Huân và Nguyễn Đình Kiền là hai trong nhiều sĩ phu đã kiên trì tìm hiểu phát hiện những thanh niên hăng hái nhiệt tình hoạt động chống Pháp. Nghĩa khí của các nhà “âm mưu lão thành ấy” đã cuốn hút các thầy giáo trẻ như Trần Phú, Trần Đình Thanh, Trần Văn Tăng, Hà Huy Tập và một số thanh niên học sinh vừa mới được tập hợp trong Việt Nam nghĩa đoàn như Tôn Quang Phiệt, Đặng Thai Mai, Phạm Thiều... ở trường Cao đẳng Sư phạm Hà Nội. Tất cả những người này đều thông nhất một tinh thần Phục Việt. Sự xuất hiện của Phục Việt (7-1925) gần như là một sự trùng hợp trong lịch sử: trước đó chỉ mấy ngày, trên cơ sở những thanh niên thuộc phong trào Phan Bội Châu, một tổ chức cách mạng mới theo khuynh hướng cách mạng vô sản đã được Nguyễn Ái Quốc sáng lập ở Quảng Châu (Trung Quốc) là Hội Việt Nam thanh niên cách mạng. Chính vì vậy, sau chuyến ra nước ngoài đầu tiên mà Phục Việt giao cho Lê Duy Điếm thực hiện đã mang về cho tổ chức này những quan điểm mới về giải phóng dân tộc. Đồng thời Phục Việt cũng trở thành nơi đầu tiên cung cấp thanh niên cho Trường huấn luyện chính trị Quảng Châu của Hội Việt Nam cách mạng thanh niên, tạo nguồn cán bộ cho phong trào cộng sản Việt Nam trong nhiều năm sau. 2.4. Việt Nam Quốc dân đảng (1927-1930) Sự xuất hiện Việt Nam Quốc dân đảng là một trong những hiện tượng phát triển của chủ nghĩa dân tộc cách mạng, là sự vượt lên trên sự bế tắc của chủ nghĩa yêu nước ôn hoà trong điều kiện lịch sử mới. Chủ nghĩa dân tộc cách mạng đã xuất hiện hồi đầu thế kỉ XX bằng Duy Tân hội, Việt Nam quang phục hội và nhiều tổ chức yêu nước khác. Đến những năm 1922-1930, chủ nghĩa dân tộc cách mạng được biểu hiện phong phú bằng các đảng chính trị, các hội văn hoá, các cơ quan ngôn luận, có khi bằng đoàn thể đượm màu sắc tôn giáo. Theo GS.Trần Văn Giàu, vào năm 1925, luồng “chủ nghĩa yêu nước ôn hoà” mà Phan Bội Châu và Phan Châu Trinh là hai chính khách tiêu biểu, được công khai quảng bá trong quảng đại quần chúng nhân dân Bắc, Trung, Nam và lớp trẻ hơn các chí sĩ ấy nhưng đầy máu nóng như Nguyễn An Ninh, Trần Huy Liệu cũng chưa vượt qua các mức yêu nước ôn hoà. Những suy tư của Nguyễn Thái Học muốn hợp tác với Chính phủ Pháp để làm cho dân tộc Việt Nam tiến bộ theo kịp người Pháp như người Pháp đã từng hứa hẹn trong chiến tranh; những người biểu tình đòi ân xá cho Phan Bội Châu (1925), những cuộc tập hợp lớn hơn chục vạn người để làm đám tang cho Phan Châu Trinh và việc Chính phủ Pháp phái Varen (nguyên đảng viên Đảng xã hội) sang làm Toàn quyền Đông Dương càng gây ảo mộng làm cho chủ nghĩa yêu nước ôn hoà và chủ nghĩa cải lương càng thêm thịnh đạt. Nhưng chính thực dân Pháp đã nhanh chóng dập tắt ảo vọng “đề huề”, “ỷ Pháp cầu tiến bộ”, chính sách đầu tư khai thác thuộc địa của Pháp vào Việt Nam không những không cải thiện được tình hình mà còn làm cho đời sống nhân dân ngày càng tồi tệ hơn. Các sự kiện: Bùi Quang Chiêu trở mặt bị nhân dân đả đảo, Nguyên An Ninh bị Pháp bắt, Ngô Đức Kế lột mặt nạ văn hoá phản dân tộc của Phạm Quỳnh; xung đột giữa Viện trưởng dân biểu Huỳnh Thúc Kháng với Khâm sứ Trung Kì Gia-bui-ơ (Jabouille); thái độ quyết liệt của Phan Bội Châu “trồng cây nên gậy để đánh què” bọn thực dân Pháp xâm lược; những ước nguyện của Phạm Tất Đắc “Muốn đem máu đỏ nhuộm màu giang sơn”; Lời kêu gọi của Việt Nam hồn tới “những ai xót giống thương nòi, đồng tâm vác súng ta đòi giang sơn”, và những lời sục sôi tâm huyết của Nguyễn An Ninh: “Tay dơ lấy nước mà rửa; nước dơ lấy máu mà rửa” không chỉ “được quần chúng hoan hô như sấm dậy”; mà còn “làm cho hàng vạn thanh niên thấy càng rõ hợp tác với Pháp để cầu tiến bộ chỉ là một ảo mộng lớn” . Trong bốì cảnh ấy, vào cuối những năm 20, một số thư xã tiến bộ và yêu nước như Nam đồng thư xã (Hà Nội), Giác quần thư xã (Hà Nội), Cường học thư xã (Sài Gòn), Tồn Việt thư xã (Sài Gòn) công khai hoạt động góp phần chuẩn bị tư tương, nhen nhóm lực lượng cho sự thành lập đảng dân tộc cách mạng. Nam đồng thư xã của thầy giáo Phạm Tuấn Tài ra sức tuyên truyền chủ nghĩa yêu nước, chủ nghĩa dân tộc cách mạng, chủ nghĩa Tam dân. Những quyển sách như Trưng nữ vương, Gương Thiếu niên. Gương thành bại mà Nam đồng thư xá xuất bản nêu gương các anh hùng cứu quốc và rút một số kinh nghiệm được thua của các cuộc vận động cách mạng trong nước và ngoài nước; chính vì vậy mà Nam đồng thư xã nhanh chóng trở thành một trung tâm thu hút nhiều học sinh, sinh viên yêu nước, trong đó có Nguyền Thái Học, Phó Đức Chính, Hồ Văn Mịch, Trúc Khê (Ngô Văn Triệu), Nhượng Tống (Hoàng Phạm Trân). Trên cơ sở đó, ngày 25-12-1927, Việt Nam Quốc dân đảng đã ra đời. Đầu năm 1928, Việt Nam quốc dân đảng hợp nhất với nhóm Việt Nam dân quốc của Nguyễn Khắc Khu ở Bắc Ninh, Bắc Giang và nhóm Hoàng VănTùng ở Thanh Hoá. Về cơ cấu tổ chức, Việt Nam Quốc dân đảng có 4 cấp: Tổng bộ, Kì Bộ, Tỉnh bộ và Chi bộ. Số đảng viên trong chi bộ không quá 19 người. Nhưng Việt Nam Quốc dân đảng chưa bao giờ trở thành hệ thống trong nước. Đứng đầu Chi bộ là Chi bộ trưởng. Chi bộ có thể hình thành trong phạm vi các đơn vị hành chính một xóm, một làng, một tổng, một huyện, một khu phố hay một thành phố. Trên thực tế, Việt Nam Quốc dân đảng đã xây dựng và phát triển cơ sở ở Vĩnh Yên, Phú Thọ, Sơn Tây (Hà Tây). Cuối năm 1928 đầu năm 1929, phát triển thêm nhiều cơ sở ở Hải Dương, Hưng Yên, Hải Phòng, Hà Nội và Thái Bình. Theo tài liệu dò xét được của mật thám Pháp thì riêng Bắc Kì Việt Nam Quốc dân đảng đã lập được 120 Chi bộ với khoảng 1.500 đảng viên, trong đó có 120 người là cai đội lính khố đỏ. Ở Trung Kì, Việt Nam Quốc dân đảng hầu như không phát triển được lực lượng vì ở các tỉnh Trung Kì cơ sở hội Việt Nam cách mạng thanh niên và Tân Việt cách mạng đảng khá mạnh. Ở Nam Kì Việt Nam Quốc dân đảng xây dựng được một số chi bộ ở Sài Gòn, Chợ Lớn, Mĩ Tho. Thành phần xã hội của đảng viên trong Việt Nam Quốc dân đảng chủ yếu gồm trí thức, giáo viên, công chức, học sinh, những người làm nghề tự do, một số tư sản ở thành thị, những kì hào, địa chủ, phú nông ở nông thôn và một số binh lính Việt Nam trong quân đội Pháp. Việt Nam Quốc dân đảng hầu như không kết nạp công nhân và nông dân lao động. Ban lãnh đạo tổng bộ Việt Nam Quốc dân đảng gồm một số nhân vật có uy tín như Nguyễn Thái Học (Chủ tịch đảng), Nguyễn Thế Nghiệp (Phó Chủ tịch), các uỷ viên gồm có Nhượng Tống, Tưởng Dân Bảo và Nguyễn Hữu Đạt. Cơ quan Tổng Bộ có các ban: Ban tuyên truyền huấn luyện (Phó Đức Chính phụ trách), Ban ngoại giao (Nhượng Tống), Ban trinh sát (Hoàng Văn Tùng), Ban Kinh tài (Hồ Văn Mịch và Nguyễn Ngọc Sơn), Tổ chức ám sát (Đoàn Trần Nghiệp). Vụ ám sát tên trùm mộ phu Ba-danh (Bazin) tuy có làm nức lòng các tầng lớp nhân dân, nhưng sau đó đã bị thực dân Pháp đàn áp dữ dội. Sau 5 tháng săn lùng liên tục, đến tháng 7 năm 1929, Pháp đã bắt được 225 đảng viên đưa ra xét xử và giam cầm trong các nhà tù. Hầu hết các cơ sở của Việt Nam Quốc dân đảng ở Hà Nội, Thái Bình, Hưng Yên, Bắc Ninh bị mật thám Pháp phá vỡ. Trước tình hình nguy ngập ấy, Ban lãnh đạo Tổng bộ đi đến quyết định phát động khởi nghĩa với tinh thần “Không thành công cũng thành nhân”. Do thiếu chặt chẽ trong tổ chức, thiếu thống nhất trong lãnh đạo, kế hoạch khởi nghĩa hoãn đi hoãn lại nhiều lần, lại bị thực dân Pháp điên cuồng khủng bố nên khởi nghĩa nổ ra không đều. Tại các vùng Lâm Thao, Hưng Hoá, Sơn Tây, Phả Lại, Vĩnh Bảo, Kiến An, Phủ Dực khởi nghĩa nổ ra đều không thành công; chỉ có cuộc khởi nghĩa Yên Bái (đêm 9-2-1930), nơi khởi sự cho phong trào đã chiếm được Trại lính cơ số 5 và Trại lính cơ số 6. Nhưng không làm chủ được tình hình, không lôi kéo được toàn bộ lính khố xanh, nên sáng hôm sau, thực dân Pháp tập trung lực lượng phản công và cuộc khởi nghĩa nhanh chóng bị dập tắt. Nghiên cứu quá trình ra đời, đặc điểm, nội dung hoạt động và kết cục của Việt Nam Quốc dân đảng trong lịch sử, Giáo sư Sử học Trần Văn Giàu đã đưa ra 4 kết luận, có thể tóm tắt như sau: Một là, Việt Nam Quốc dân đảng là một đảng không có chủ nghĩa xác định: “Đảng viên thì nói nhiều tới chủ nghĩa Tam dân mà chương trình điều lệ thì không nói, chương trình điều lệ thì có lần nói về chủ nghĩa xã hội dân chủ mà cái đó là gì thì không thấy cắt nghĩa, lần khác nói “Tự do, bình đẳng, bác ái” thì cũng không ra chủ nghĩa nào hết”. Hai là, Việt Nam Quốc dân đảng không chú trọng đến tuyên truyền huấn luyện, không quan tâm đến lí luận tư tưởng. Mặc dù có đề ra nhiệm vụ “chính đảng cương, minh đảng nghĩa”, nhưng chưa kịp tiến hành thì khởi nghĩa Yên Bái đã nổ ra, các lãnh tụ của Đảng “chỉ còn kịp bưng toàn bộ chủ nghĩa Tạm dân vào Đảng” (Trần Huy Liệu); không có tài liệu tuyên truyền (Chỉ có một tờ Hồn cách mạng và chỉ ra được một số duy nhất, không có tài liệu huấn luyện; mãi đến khi các đảng viên Việt Nam Quốc dân đảng bị Pháp giam vào tù ngục mới thảo luận về chủ nghĩa, về tư tưởng. Việc làm này quá muộn và không có kết quả, càng tranh luận càng mất đoàn kết, càng chia rẽ sâu sắc. Ba là, mặc dù có phê phán tư tưởng phiêu lưu mạo hiểm, ám sát cá nhân, không biết đến sức mạnh của quần chúng nhân dân, mang nặng tư tưởng “Sát thân thành nhân” của Việt Nam Quốc dân đảng, người đương thời vẫn nhiệt liệt biểu dương tinh thần chiền đấu, chủ nghĩa yêu nước của các chiến sĩ đã đứng dậy chiến đấu ở Yên Bái, Lâm Thao, Vĩnh Bảo và những nơi khác hồi đầu tháng 2-1930. Có điều là phải nhìn thấy bài học kinh nghiệm: khi lịch sử đặt ra yêu cầu “Con em trong nước phải giám hi sinh vì nước, vì danh dự của dân tộc”, thì “các nhà lãnh đạo phong trào nhất thiết phải tránh chủ nghĩa mạo hiểm, cân nhắc lợi hại, dự đoán thành bại, tránh cho con thuyền cách mạng được càng nhiều ghềnh thác càng hay”.. Bốn là, Chủ nghĩa dân tộc của những nhà lãnh đạo Việt Nam Quốc dân đảng từ khởi nghĩa Yên Bái trở về trước không có chủ trương chống cộng sản. Tuy là một đảng không có chủ nghĩa xác định, nhưng Việt Nam Quốc dân đảng thừa nhận “Cách mạng vô sản Nga, cùng với cách mạng Trung Quốc đã gây một ảnh hưởng lớn trên toàn thế giới”, thúc đẩy “thời đại các dân tộc bị áp bức nổi dậy làm cách mạng”; và mặc dù, trên thực tế chưa làm được, nhưng trong hai bản điều lệ năm 1928 và năm 1929 đều xác định rõ một trong ba nhiệm vụ cơ bản của Việt Nam Quốc dân đảng là giúp các dân tộc khác đấu tranh tự giải phóng. Trước và Sau khởi nghĩa Yên Bái không chỉ có nhân dân Việt Nam mà cả Đảng cộng sản Pháp, Tổng công hội thống nhất và báo Nhân đạo cũng bền bỉ đấu tranh chống khủng bố của đế quốc Pháp. Không ít đảng viên của Việt Nam Quốc dân đảng đã được những người cộng sản Việt Nam cảm hoá hướng theo ngọn cờ cứu nước của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc. Theo GS. Trần Văn Giàu, “Những bước thoái hoá về tư tưởng của Việt Nam Quốc dân đảng sẽ bắt đầu sau khi khởi nghĩa Yên Bái thất bại, số đông đảng viên vào tù lâu dài mà hi vọng thì tan dần, số ít đảng viên chạy sang Vân Nam tìm cách dựa vào Quốc dân đảng Trung Quốc đã trở thành phản động”. 3. Sự chuyển hoá của các cá nhân, tổ chức yêu nước từ khuynh hướng cách mạng dân chủ tư sản sang theo khuynh hướng cách mạng vô sản Như trên đã trình bày, sau khi phong trào cần Vương hoàn toàn thất bại (1896), các sĩ phu yêu nước - trí thức đương thời lại trăn trở tìm kiếm các phương lược cứu nước mới. Nhiều giải pháp đã được lịch sử kiểm chứng và lựa chọn một cách nghiêm khắc thông qua hoạt động của các tổ chức yêu nước do họ lập ra và không ngừng tự cải tổ. Suốt cuộc đời hoạt động yêu nước của mình, Phan Bội Châu không phải chỉ có “trăm lần thất bại mà không một lần thành công” mà còn có cả niềm kiêu hãnh chân chính về cuộc đời cách mạng của những người yêu nước đầu thế kỉ XX và tin tưởng sắt đá vào công việc làm của mình. Cụ Phan viết: “... Xưa nay những công cuộc thay cũ đổi mới, gạn đục khơi trong, mấy khi không thất bại mà thành công được! Ngay như nước Pháp xây dựng nên nước dân chủ cộng hoà cũng phải trải qua ba bốn lần mới thành. Đó là một chứng cớ rõ rệt. Chúng ta nên trông bánh xe đã đổ trước, thay đổi con đường thất bại, tìm kiếm con đường thành công, kiếm cái sống trong trăm ngàn cái chết, tìm bài thuốc hay sau khi đã bị đứt tay nhiều lần, việc làm cẩn mật cho khỏi vỡ lở, đồng tâm đồng đức thì nợ máu mới rửa được”. Dù là ở trên đất Việt Nam, trên đất Nhật, hay Trung Hoa, Thái Lan, rồi Pháp, Anh, Mỹ,... hay các nước thuộc lục địa khác thì các chí sĩ lúc bấy giờ cũng đều kiên trì hoạt động vì nền độc lập của nước nhà. Trước khi xuất hiện phong trào cộng sản, các hoạt động mang màu sắc duy tân của phong trào do Phan Bội Châu và một số sĩ phu yêu nước khởi xướng đã có sức lôi cuốn mạnh mẽ đông đảo các tầng lớp nhân dân. Đặc biệt là phong trào đó đã không ngừng vươn tới những giá trị đích thực của cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc. Các tổ chức có cội nguồn từ Duy Tân hội như Tâm Tâm xã, Phục Việt đã thừa nhận vai trò của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc. Họ hăng hái chuyển hoá theo khuynh hướng cộng sản. Chính gia đình Nguyễn Ái Quốc cũng là thành viên của Duy Tân hội và sau đó là của Việt Nam Quang phục hội; còn Nguyễn Ái Quốc là một trường hợp khác biệt trong cả một trào lưu yêu nước; là một sắc tố trỗi vượt trong phong trào yêu nước đầu thế kỉ XX. Sau khi vào Sài Gòn, đến bến Nhà Rồng, với tên là Văn Ba, ngày 3-6-1911, xuống tàu buôn Latútsơ Tơrêvin (Amiral Latouche Tréville) nhận làm phụ bếp. Ngày 5 tháng 6 năm 1911, rời bến Nhà Rồng ra đi với ý muốn sang phương Tây để làm quen với nền văn minh Pháp, để tìm xem những gì ẩn náu đằng sau những từ hoá mỹ: tự do, bình đẳng, bác ái mà bọn thực dân đang phô trương ở các thuộc địa. Cuộc khảo nghiệm dài ngày, gian khổ tại nhiều thuộc địa và tại những quốc gia đã từng diễn ra các cuộc cách mạng tư sản điển hình đã giúp Người đối chiếu thực trạng các nước tư bản phát triển với cuộc sống của nhân dân các nước thuộc địa để xác định mục tiêu, tìm kiếm đồng minh và những phương pháp hành động mới cho cuộc cách mạng Việt Nam. Bằng con đường lao động và chấp nhận lao động cực nhọc làm phương tiện và biện pháp để đi tìm chân lí, Nguyễn Ấi Quốc đã thực hiện một cuộc hành trình dài ngày quá nhiều nước. Người đã chứng kiến tội ác chồng chất của chủ nghĩa thực dân, Người cũng đã chia sẻ và nếm trải những khổ đau của nhân loại trong cuộc Chiến tranh Thế giới lần thứ nhất 1914 1918. Năm 1918. Chiến tranh Thế giới thứ nhất kết thúc. Ngày 18-1-1919, đại biểu các nước đế quốc tham gia chiến tranh họp hội nghị ở Vécxây (Pháp),
- Xem thêm -