Tài liệu Khảo sát thực trạng sự tuân thủ vệ sinh tay thường quy của nhân viên y tế tại bệnh viện tim hà nội

  • Số trang: 29 |
  • Loại file: DOC |
  • Lượt xem: 12364 |
  • Lượt tải: 8
nhattuvisu

Đã đăng 27127 tài liệu

Mô tả:

SỞ Y TẾ HÀ NỘI BỆNH VIỆN TIM HÀ NỘI BÁO CÁO KẾT QUẢ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP CƠ SỞ Năm 2012 Tên đề tài: Khảo sát thực trạng sự tuân thủ vệ sinh tay thường quy của nhân viên y tế tại bệnh viện Tim Hà Nội Chủ nhiệm đề tài: CNĐD Đoàn Hoàng Yến Thư ký đề tài: CNĐD Đỗ Cẩm Thuý Hà Nội, ngày 26 tháng 10 năm 2012 I. Đặt vấn đề: 0 Bình thường trên da tay người cán bộ y tế thường có 2 loại vi khuẩn: Vi khuẩn thường trú và vi khuẩn vãng lai. Các vi khuẩn thường trú có thể vào cơ thể qua các thủ thuật xâm lấn. các vi khuẩn vãng lai thường là những tác nhân gây nhiễm trùng bệnh viện phổ biến và thường tồn tại trên da không quá 28 giờ chúng dễ dàng bị loại bỏ bằng vệ sinh bàn tay với nước và xà phòng hay dung dịch rửa tay nhanh. Tổ chức y tế thế giới khẳng định “ Rửa tay là biện pháp đơn giản và hiệu quả nhất trong phòng ngừa nhiễm khuẩn bệnh viện” nhiều nghiên cứu về vệ sinh bàn tay trên thế giới đã chững minh rằng các biện pháp VSBT đã giảm 50% nguy cơ gây nhiễm khuẩn bệnh viện (NKBV) cũng như nguy cơ phơi nhiễm bệnh nghề nghiệp cho nhân viên y tế, với hiệu quả trong dự phòng NKBV các biện pháp VSBT đã tích cực góp phần giảm chi phí trong điều trị, giảm thời gian điều trị nội trú, giảm tỷ lệ tử vong… Theo Tổ chức Y tế thế giới: rửa tay được coi là liều vacxin tự chế, rất đơn giản, dễ thực hiện, hiệu quả về chi phí cũng như có thể cứu sống hàng triệu người. Tại Việt Nam những năm gần đây, Bộ Y tế đã phát động phong trào vệ sinh bàn tay tại tất cả các bệnh viện và cộng đồng. Theo nhiều báo cáo của các chuyên gia kiểm soát nhiễm khuẩn trong và ngoài nước thì các bệnh truyền nhiễm đã và đang diễn ra trong cộng đồng hoàn toàn có thể phòng ngừa được bằng cách giữ gìn vệ sinh ( VST thường quy).Theo đó, chỉ một động tác rửa tay sạch đã làm giảm tới 35% khả năng lây truyền vi khuẩn gây bệnh tiêu chảy làm tử vong hàng triệu người mỗi năm trên thế giới. VSBT trong nhân viên y tế hiện nay đã được coi như một chiến lược quan trọng nhằm giảm tỷ lệ nhiễm khuẩn tại các bệnh viện. Những hành vi quen thuộc của nhiều người như đưa tay dụi mắt, miệng, cầm nắm đồ vật bẩn nhưng không rửa tay sạch... đã vô tình làm “cầu nối” giúp những vị khách không mời dễ dàng vào cơ thể, gây nhiều bệnh nguy hiểm. Các bệnh hay gặp như 1 đau mắt, tiêu chảy, nhiễm trùng hô hấp cấp…thường mắc phải cũng chính là do thực hiện vệ sinh kém, một số kết quả nghiên cứu về VSBT tại bệnh viện Bạch Mai của Nguyễn Việt Hùng năm 2008, Bệnh viện Thanh Nhàn năm 2009; bệnh viện Nhi đồng 1 cho thấy tỷ lệ tuân thủ VSBT của NVYT còn rất thấp do thiếu ý thức và thiếu phương tiện … Bệnh viện Tim Hà Nội là bệnh viện chuyên khoa hạng I về phẫu thuật Tim nên việc vô khuẩn luôn được quan tâm, ưu tiên hàng đầu, trong đó có vệ sinh bàn tay. Việc thực hiên rửa tay ngoại khoa đã được NVYT tuân thủ nghiêm ngặt đúng quy trình, tuy nhiên theo số liệu điều tra cắt ngang của khoa KSNK hiện nay, tỷ lệ nhiễm khuẩn bệnh viện gia tăng, liên quan đến việc tuân thủ vệ sinh bàn tay thường quy của NVYT chưa cao, nguyên nhân có thể do nhận thức của NVYT chưa đầy đủ, hoặc tính chất cường độ công việc hay do thấy mất thời gian trong việc rửa tay ... Xuất phát từ thực tế trên chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài này nhằm mục tiêu: - Đánh giá sự tuân thủ VSBT thường quy của NVYT khi thực hiện điều trị và chăm sóc người bệnh tại các khoa, phòng bệnh viện - Tìm hiểu các yếu tố liên quan đến việc thực hiện VSBT của nhân viên y tế II. Tổng quan: Hầu hết các báo cáo tại Hội nghị Kiểm soát nhiễm khuẩn Khu vực Châu Á Thái Bình Dương lần thứ III và thứ IV (7/2007, 7/2009) có chung một khuyến cáo, đó là cần tăng cường sự tuân thủ rửa tay. Rửa tay và chà sát tay bằng dung dịch chứa cồn là biện pháp quan trọng, hữu hiệu, khả thi. Trong bài này, tác giả xin điểm qua mốc lịch sử quan trọng và những quan điểm, ý kiến của các chuyên gia kiểm soát nhiễm khuẩn hàng đầu thế giới xoay quanh vấn đề tưởng chừng rất đơn giản nhưng lại rất quan trọng, đó là Quy trình rửa tay thường quy và sát khuẩn tay bằng dung dịch chứa cồn. 2 1. Mốc lịch sử và tầm quan trọng của vệ sinh bàn tay 1.1. Mốc lịch sử quan trọng: Trong suốt thế kỷ thứ XIX, ở Châu Âu và Mỹ, 25% bà mẹ sinh con tại bệnh viện đã tử vong do sốt hậu sản. Sau đó, nguyên nhân của những tử vong đó được tìm thấy là do vi khuẩn Streptococcus pyogenes. Năm 1843, bác sĩ Oliver Wendell Holmes (Mỹ) yêu cầu một bác sĩ của khoa sản (nơi ông làm việc) nghỉ việc trong thời gian một tháng sau 2 trường hợp bà mẹ tử vong mà ông cho rằng liên quan đến vệ sinh bàn tay của bác sĩ đó. Vào những năm 1840’s, Bác sĩ Ignaz Semmelweis (1818-1865) công tác tại Bệnh viện đa khoa Viên (Áo) khám phá ra sự khác biệt về tử lệ tử vong ở các bà mẹ sau sinh con giữa hai khoa sản của bệnh viện. Năm 1846, Semmelweis nghiên cứu và thấy rằng tại hai khoa sản của bệnh viện, cùng thực hành một kỹ thuật rửa tay. Khoa thứ nhất là khoa thực hành của sinh viên y khoa, nơi mà chỉ có các BS và sinh viên y khoa làm việc có tỷ lệ tử vong do sốt hậu sản là 13,10%, tỷ lệ này cao gấp gần 5 lần so với khoa thứ 2 là khoa hướng dẫn thực hành cho nữ hộ sinh (bao gồm các nữ hộ sinh và học sinh hộ sinh) có tỷ lệ tử vong ở các bà mẹ sau sinh là 2.03%. Ông quan sát và thấy rằng, các bác sĩ và sinh viên y khoa thường không rửa tay sau khi thăm khám bệnh nhân này và chuyển sang thăm khám bệnh nhân kia hoặc thậm chí sau khi mổ tử thi bệnh nhân Ông cho rằng nguyên nhân của sốt hậu sản là do bàn tay chứa tác nhân gây bệnh do không rửa tay của các bác sĩ và sinh viên y khoa. Năm 1847, một người bạn của ông là Jakob Kolletschkang phát hiện một trường hợp tử vong cũng có nguyên nhân giống như các bà mẹ bị sốt hậu sản. Sau đó, ông đã đề xuất sử dụng dung dịch nước vôi trong có chứa chlorine để rửa tay sau việc đụng chạm trên tử thi sang thăm khám bệnh nhân. Tỷ lệ tử vong của các bà mẹ sau đó đã giảm từ 12,24 xuống 2,38%. Năm 1879, tại một hội thảo khoa học ở Paris, bác sĩ Louis Pasteur đã lên tiếng: “Nguyên nhân giết chết hậu sản của các bà mẹ chính là các bác sĩ. Chính các bác sĩ đã sử dụng những bàn tay thăm khám các bà mẹ bị bệnh rồi sử dụng chính bàn tay đó để khám các bà mẹ mạnh khoẻ”. Sau đó, ông đã đưa ra Lý 3 thuyết về “Mầm bệnh” và phương pháp tiệt khuẩn Pasteur được sử dụng tới ngày nay. Trong những năm đó, khuyến cáo rửa tay đã gặp rất nhiều khó khăn bởi thiếu phương tiện rửa tay, thiếu nước sự gia tăng đề kháng kháng sinh của vi khuẩn cộng với nhân viên y tế rất thiếu kiến thức về vệ sinh bệnh viện là những giải thích cho sự phản ứng của các bác sĩ trước khuyến cáo rửa tay giữa những lần tiếp xúc với những bệnh nhân khác nhau nêu trên. Họ cho rằng rửa tay như vậy là quá nhiều. Năm 1910, Bác sĩ Rosephine Baker tại Mỹ đã tổ chức khoá tập huấn đầu tiên giảng dạy về vệ sinh bàn tay cho những cán bộ y tế chăm bệnh nhi. Năm 1992, một báo cáo khoa học của New Enland đưa ra kết quả một nghiên cứu về rửa tay tại khoa hồi sức cấp cứu. Báo cáo cho thấy, mặc dù đã áp dụng những biện pháp giáo dục và giám sát đặc biệt, nhưng tỷ lệ tuân thủ rửa tay ở cán bộ y tế chỉ sấp xỉ 30% và tỷ lệ cao nhất chỉ đạt 48%. Cũng năm đó CDC (Mỹ) cho biết tỷ lệ nhiễm khuẩn bệnh viện giao động từ 5- 15% tại các bệnh viện, điều này dẫn đến nguy cơ nhiễm khuẩn mắc phải trên nhân viên y tế và năm 1993 đã có 11 nhân viên y tế mắc bệnh viêm gan A do không rửa tay sau khi tiếp xúc với 1 trong 2 bệnh nhân viêm gan A. 2. Cấu trúc giải phẫu da và tác nhân gây nhiễm khuẩn do bàn tay 2.1. Cấu trúc của da: Nếu dùng kính hiển vi soi trên bề mặt da, sẽ thấy hình ảnh da giống như bản đồ mặt đất: những thung lũng (nếp nhăn), Da chiếm diện tích trên cơ thể chúng ta khoảng 2m2, với tổng trọng lượng khoảng 1520% trọng lượng cơ thể. Da là hàng rào bảo vệ cơ thể, giúp cơ thể ổn định thân nhiệt, chống mất nước, bảo vệ cơ thể khỏi các tác nhân độc hại của môi trường như: vi khuẩn, bụi bẩn, ánh nắng,..Da còn là nơi đón nhận các xúc giác của cơ thể, giúp ta biết đau, nóng, lạnh và khoái cảm... 2.2. Tác nhân gây nhiễm khuẩn do da bàn tay Vi khuẩn cư trú trên bàn tay (tập trung số lượng lớn ở kẽ tay và kẽ móng tay), đặc biệt tụ cầu khuẩn thường xuyên có trên bề mặt da và trong niêm mạc 4 mũi của người khỏe mạnh, loại vi khuẩn rất nguy hiểm này truyền nhiễm sang người khác qua tiếp xúc thông thường. Nhiều người chỉ nhận thức vi khuẩn là các vết bẩn nhìn thấy bằng mắt thường. Trên thực tế, vi khuẩn luôn tồn tại trong không khí, trên các đồ vật, quần áo và có rất nhiều trên da bàn tay mà bằng mắt thường không thể nào nhìn thấy. Các nhà khoa học chứng minh, trên bề rộng của da người bình thường có diện tích là centimet vuông chứa tới 40.000 vi khuẩn, trên da bàn tay thì số lượng vi khuẩn còn nhiều hơn, vì đôi tay thường xuyên tiếp xúc với đủ mọi vật trong cuộc sống. Trong cuộc sống hằng ngày đôi khi chúng ta quên rằng vô số vi khuẩn và virus đang rình rập quanh ta chờ có dịp để lây nhiễm và tấn công...Bàn tay thường là trung gian đem mầm bệnh vào cơ thể con người. Mỗi khi bắt tay hay sờ mó một vật gì chẳng hạn như nắm khóa cửa, robinet, chốt xả nước bồn cầu, v.v… chắc chắn là bàn tay chúng ta đã bị nhiễm và có thể là với nhiều loại vi khuẩn khác nhau. Để phòng ngừa sự lây nhiễm thì có một cách rất dễ, đó là chúng ta hãy chịu khó rửa tay thường xuyên! Trên da nói chung và da bàn tay nói riêng có hai loại vi khuẩn, đó là vi khuẩn thường trú và vi khuẩn vãng lai. Vi khuẩn thường trú sống và sinh sản ở lớp sâu của da, khó loại bỏ bằng rửa tay thường quy. Bình thường vi khuẩn này không gây nhiễm khuẩn mà là hàng rào hiệu quả chống lại sự tụ tập của vi khuẩn ngoại sinh. Nó chính là nguồn gốc của nhiễm khuẩn da, nhiễm khuẩn nơi tiêm chích bởi P. aeuruginosa hoặc Acinetobacter spp. Nó sẽ gây nhiễm khuẩn toàn thân trong trường hợp có sai sót trong các kỹ thuật đòi hỏi vô khuẩn trong thăm khám, điều trị và chăm sóc người bệnh, khi mật độ vi khuẩn lớn, bênh nhân nằm viện lâu hoặc trường hợp bệnh nhân suy giảm miễn dịch hay bệnh nhân cấy ghép tạng. Những loại vi khuẩn thường trú gây nhiễm khuẩn mắc phải thường là vi khuẩn hoại sinh đa kháng kháng sinh. Vi khuẩn vãng lai tồn tại và sinh sản ngay ở lớp da bên ngoài và đây chính là nguyên nhân gây nhiễm khuẩn mắc phải, nó có thể bị tiêu diệt bởi rửa tay thường quy. Theo một số tài liệu cho thấy số lượng vi khuẩn vãng lai 5 trên cánh tay là 104 CFU/cm2 và trên da bàn tay nhân viên y tế từ 3.9*104 đến 4.6*106. Số vi khuẩn vãng lai trên thường do nhân viên y tế tiếp xúc bàn tay với người bệnh, vật dụng xung quanh người bệnh trong quá trình thăm khám hoặc chăm sóc, phục vụ người bệnh. Vi khuẩn vãng lai thường gây nên nhiễm khuẩn bệnh viện, có khi trở thành dịch khu trú tại một khoa, một bệnh viện hoặc có thể trở thành vụ dịch lớn. Những tác nhân gây bệnh thường có trên bàn tay: - Vi khuẩn gram âm: trực khuẩn gram âm với ưu thế là các dòng vi khuẩn đường ruột như E. coli, Pseudomonas aeruginosa. - Vi khuẩn gram dương: cầu khuẩn gram dương như dòng Staphylococcus đặc biệt là Staphylococcus Aureus. - Các loại nấm: chủ yếu là Candida - Các loại virut: Rotavirus, Adenovirus, HNV, HCV, HIV… Rửa tay thường quy tức là loại bỏ vi khuẩn vãng lai trên bàn tay. Rửa tay có chất sát khuẩn là tiêu diệt cả vi khuẩn gây bệnh. III. Khuyến cáo tại Hội nghị kiểm soát nhiễm khuẩn bệnh viện khu vực Châu Á Thái Bình Dương lần thứ III, tháng 7/2007 tại Malaysia và lần thứ IV tại Macau tháng 7/2009 có nhiều báo cáo khoa học liên quan tới vấn đề rửa tay. Mới đây, WHO (2007) trên cơ sở những khuyến cáo của CDC (2002), ĐứcPháp (2002) và ý kiến của các chuyên gia kiểm soát nhiễm khuẩn hàng đầu trên thế giới dựa vào các kết quả nghiên cứu khoa học đã đưa ra khuyến cáo: - Rửa tay là biện pháp đơn giản nhất, rẻ tiền nhất và cũng hiệu quả nhất trong KSNK do đó cần tăng cường sự tuân thủ rửa tay. - Sát khuẩn tay bằng dung dịch chứa cồn là phương pháp nhanh nhất, hiệu quả nhất trong kiểm soát nhiễm khuẩn bệnh viện. Tăng cường sự tuân thủ rửa tay là điều quan trọng nhất trong các cơ sở y tế. Kết quả nhiều nghiên cứu cho thấy sự tuân thủ này giao động từ 16 đến 81% và trung bình là 40 %. Người ta cũng cho rằng sự tuân thủ có liên quan đến tính hiệu quả, sức chịu đựng của da tay và thời gian rửa tay. 6 Định nghĩa vệ sinh bàn tay Mục đích của rửa tay thường quy là làm sạch và loại bỏ vi khuẩn vãng lai trên da tay, đảm bảo an toàn cho người bệnh, nhân viên y tế và góp phần làm giảm tỷ lệ nhiễm khuẩn bệnh viện.  Vệ sinh bàn tay gồm: * VSBT thường quy:  Rửa tay: với xà phòng thường (trung tính) và nước Chà tay bằng dung dịch chứa cồn: Rửa tay bằng dung dịch chứa cồn (Hand rub)  VSBT Ngoại khoa  Rửa tay sát khuẩn: Rửa tay với xà phòng chứa chất sát khuẩn Rửa tay/sát trùng tay phẫu thuật: Rửa tay sát khuẩn hay chà tay bằng dung dịch chứa cồn trước khi phẫu thuật bởi nhân viên phẫu thuật * Chỉ định và cơ hội VST: - Chỉ định: lý do cần VST tại thời điểm xác định - Cơ hội cần VST: Thời điểm cần VST khi chăm sóc, điều trị nhằm cắt đứt lan truyền mầm bệnh qua bàn tay. Cơ hội vệ sinh tay là số lần cần VST , một cơ hội được tạo ra từ ít nhất một chỉ định 3. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu 3.1. Đối tượng nghiên cứu: - Tất cả NVYT trực tiếp tham gia điều trị, chăm sóc người bệnh bao gồm: Bác sỹ, điều dưỡng, hộ lý- y công - Địa điểm nghiên cứu: 3 khoa lâm sàng: Hồi sức, Ngoại và khoa điều trị ( 3 khoa trọng điểm là 3 khoa có tỷ lệ NKBV đứng đầu theo điều tra cắt ngang NKBV tại bệnh viện Tim Hà Nội qua 2 năm liền 2010, 2011) - Thời gian: từ tháng 7/2012 đến tháng 10/2012 3.2.Phương pháp nghiên cứu: Mô tả, cắt ngang 7 Cỡ mẫu: lấy mẫu toàn bộ 400 cơ hội vệ sinh bàn tay Tiêu chuẩn chọn vào Bác sĩ, điều dưỡng, hộ lý là nhân viên chính thức đang làm việc tại các khoa trọng điểm trong thời gian nghiên cứu và có làm chuyên môn tiếp xúc với người bệnh theo chỉ định VST thường quy tại 05 thời điểm của WHO và Quy định của bệnh viện - Trước và sau mọi tiếp xúc trực tiếp với mỗi người bệnh - Trước và sau khi thực hiện mọi thủ thuật xâm lấn - Trước và sau khi ra khỏi buồng bệnh - Trước khi đi găng và sau khi tháo găng - Ngay sau mỗi khi tiếp xúc với máu, dịch cơ thể - Sau tiếp xúc với bề mặt đồ dùng, vật dụng trong buồng bệnh +Tiêu chuẩn loại trừ: các đối tượng VSBT không trong mục đích nghiên cứu (Người nhà người bệnh, nhân viên ICT, học việc, rửa tay ngoại khoa…) Phương pháp thu thập số liệu * Công cụ thu thập số liệu: - Sử dụng 03 mẫu phiếu khảo sát có tham khảo tài liệu “ Vệ sinh tay trong phòng ngừa NKBV của nhà xuất bản Y học năm 2010 và Quy trình Rửa tay sát khuẩn tay nhanh của Bộ Y tế. *Kỹ thuật quan sát: Thu thập số liệu thông qua quan sát trực tiếp tại 03 khoa lâm sàng và điền vào các biểu mấu đánh giá, NVYT không biết thời điểm VSBT nào được đưa vào nghiên cứu Mỗi BS, ĐD, HL được quan sát ít nhất là 05 cơ hội VST trong 1 lần giám sát, thời gian trung bình cho 1 lần giám sát là 20 phút - Phỏng vấn gián tiếp: sau khi được quan sát đủ 05 cơ hội rửa tay. BS, ĐD, HL điền vào mấu phiếu khảo sát kiến thức sau đó cán bộ giám sát thu lại và chấm điểm, ( trả lời đúng 1 điểm, trả lời sai hoặc không trả lời: 0 điểm) 8 Phương pháp kiểm soát sai lệch: Nhóm NC được tập huấn và thống nhất phương pháp quan sát, thực hiện đúng các chỉ tiêu đề ra. - Kiểm soát sai lệch bằng cách tuân thủ tiêu chí chon mẫu và tiêu trí loại trừ - Kiểm soát sai lệch của người quan sát bằng cách tập huấn thật kỹ cho giám sát viên, khảo sát thử để xem xét, chỉnh sửa bảng khảo sát cho phù hợp - Xử lý số liệu bằng chương trình phần mềm Excel năm 2003 4. Kết quả 4.1. Đánh giá sự tuân thủ vệ sinh bàn tay của nhân viên y tế Khảo sát của chúng tôi được tiến hành từ 1/7/2012 đến 15/10/2012 tại 3 khoa lâm sàng trọng điểm Hồi sức, khoa ngoại, điều trị, tổng số có 65 bác sỹ, điều dưỡng và hộ lý được chon vào nghiên cứu, tỷ lệ chấp nhận trả lời phỏng vấn là 100% và 400 cơ hội VSBT Bảng 1.Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu: Đối tượng Tuổi trung bình Giới Nam Bác sỹ công tác ≤ 6 tháng Hộ lý Tổng 32,7 27,6 32,8 5 13 0 2 41 4 0 0 1 5 0 0 23 31 1 0 0 4 Nữ Thời gian Điều dưỡng 1 6 -12 tháng 1-3 năm ≥ 3 năm 28,43 18 (27,7%) 47 (72,3%) 0 24 40 Nhận xét: Tổng số đối tượng tham gia Nc là 65, trong đó ĐD(n= 54;83%) nhiều gấp gần 9 lần số BS ( n = 7; 10/7%) nữ giới gấp 3 lần nam giới(72,3% ở nữ so với 27,7% ở nam. Tuổi trung bình toàn bộ nhân viên y tế được khảo sát là 28,43 tuổi nhỏ nhất 24, tuổi lớn nhất 41 9 - Thâm niên công tác, hầu hết nhân viên có từ 3 năm kinh nghiệm trở lên ( 61,5%). Điều này cho thấy nhân viên y tế của bệnh viện có tuổi đời và thâm niên công tác đều còn rất trẻ Bảng 2. Số cơ hội rửa tay của nhân viên y tế Đối tượng Số cơ hội Có rửa tay Không RT % có RT % không RT Bác sỹ 75 49 26 65,3 34,7 Điều dưỡng 290 212 78 73,1 26,9 Hộ lý 35 13 22 37,1 62,9 Tổng N 400 274 126 68,5 31,5 Nhận xét: Trong 400 cơ hội vệ sinh bàn tay của nhân viên y tế tại 3 khoa lâm sàng thì có 68,5% nhân viên y tế thực hiện vệ sinh tay thường quy, còn 31,5% NVYT chưa thực hiện VST Khi so sánh giữa các đối tượng NVYT, tỉ lệ tuân thủ VSBT ở điều dưỡng là cao nhất (73,1% trong 290 cơ hội), hộ lý là đối tượng có tỉ lệ tuân thủ VSBT kém nhất (37,1% trong 35 cơ hội) Đối tượng Bác sỹ Điều dưỡng Hộ lý N % 75(18,6%) 290 (72,5%) 35 (8,7%) 400 100 49(65,3%) 212(73,1%) 13(37,1%) 274 68,5 Cơ hội VST T.Số cơ hội 78(26,9%)22(62,8 %)12631,5Có VST 10 26 (34,7%) Không VRT Nhận xét: Trong 400 cơ hội của mẫu nghiên cứu tỷ lệ cơ hội VST của điều dưỡng là cao nhất (290; 72,5 %) BS là 75;18,6%, ít nhất là Hộ lý có 35; 8,7% và Tỷ lệ NVYT có thực hiện VST là 68,5%. Không thực hiện VST 31,5% (trong đó ĐD thực hiện VST cao hơn các đối tượng khác n= 212; 73,1%, BS n= 49; 65,3% và thấp nhât là HL n= 13; 37,1% ) Bảng 3. So sánh số cơ hội VST của nhân viên y tế tại 3 khoa lâm sàng: Khoa Đối tượng Bác sỹ Có RT Điều trị 20 ( 66,7 %) Ngoại 18 ( 90 %) Hồi sức 11 (44 %) Không RT 10 ( 33,3 %) 2 ( 10%) 14 (56 %) Tổng cơ hội Điều dưỡng 20 25 41 (74,6 %) 65 (86,7 %) 106 (66,3 %) Không RT 14 (25,4 %) 10 (13,3 %) 54 ( 33,7%) Có RT 3 (60%) Không RT Tổng cơ hội Tổng 30 Có RT Tổng cơ hội Hộ lý Số cơ hội 55 75 2 (40%) 8 (32 %) 2 (40%) 3 (60%) 5 5 160 17 (68 %) 25 Cơ hội VST 90 (22,5%) 100 ( 25%) 210 (52,5%) Có VST 64 (71,1%) 85 (85%) 125 (59,5%) Không VST 26 ( 28,9%) 15 (15%) 85 (40,5%) Nhận xét: Tại bảng 3 khi so sánh số cơ hội và tỷ lệ VST của NVYT tại 3 khoa lâm sàng cho thấy: Khoa HS có số cơ hội VST cao nhất 52,5% trong 400 cơ hội, tuy nhiên tỷ lệ thực hiện VST lại thấp hơn so với 2 khoa điều trị 11 và khoa ngoại ( 40,5%). điều này cho thấy phù hợp với đặc thù của khoa hồi sức chăm sóc toàn diện BN sau mổ (BS, ĐD, HL phải thăm khám và chăm sóc người bệnh liên tục và toàn diện) - Tỉ lệ bác sỹ, ĐD tại khoa ngoại tuân thủ VSBT tốt nhất là 85% - Tỉ lệ hộ lý tại khoa điều trị tuân thủ VSBT tốt nhất là 60% Bảng 4.Tỉ lệ thực hành VSTcủa NVYT theo từng thời điểm Tổng số Thời điểm VSBT cơ hội 1. Trước khi tiếp xúc BN 63 Có RT Không RT 34 (53,9%) 29(46%) 2. Sau khi tiếp xúc BN 57 42(73,6%) 15(26,3%) 3. Trước khi thực hành thủ thuật xâm lấn 46 43(93,6%) 3(6,52%) 4. Sau khi thực hành thủ thuật xâm lấn 42 38(90,4%) 4(9,5%) 5. Trước khi vào buồng bệnh 29 14(48,3%) 15(51,7%) 24 9(37,5%) 7. Trước khi đi găng 45 25(55,5%) 20(44,4%) 8. Sau khi tháo găng 50 45(90%) 5(10%) 18 18( 100%) 0 26 9 (34,6%) 6.Trước khi ra khỏi buồng bệnh 9. Ngay sau khi tiếp xúc với máu và dịch cơ thể 10.Sau khi tiếp xúc vật dụng xung quanh BN Tổng 15 (62,5%) 17 (65,4%) 400 274 126 100 % 68,5% 31,5% Nhận xét: Qua thực tế khảo sát thực hành VST của NVYT cho thấy thời điểm sau khi tiếp xúc các vật dụng xung quanh người bệnh chưa được NVYT VST chiếm tỷ lệ khá cao (65,4%) và trước khi ra khỏi buồng bệnh (62,5%) và 44,4%) không có thói quen rửa tay trước khi đi găng. Tuy nhiên 12 tại thời điểm ngay sau khi tiếp xúc với máu và dịch cơ thể được tuân thủ VSBT là 100% Bảng 5: So sánh giữa 2 phương pháp VST tại các thời điểm Thời điểm VSBT (1) Trước khi tiếp xúc BN (2) Sau khi tiếp xúc BN (3) Trước khi thực hành thủ thuật xâm lấn (4) Sau khi thực hành thủ thuật xâm lấn (5) Trước khi vào buồng bệnh (6) Trước khi ra khỏi buồng bệnh (7) Trước khi đi găng (8) Sau khi tháo găng Có Rửa tay VSBT bằng nước 33 41 43 38 14 9 24 45 cồn 18,2 27 81,8 % 13 % 31,7 28 68,3 % 25 % 58,1 18 41,9 % 21 % 55,3 17 44,7 % 11 % 78,6 3 21,4 % 5 % 55,6 4 44,4 % 5 % 20,8 19 79,2 % 25 % 55,6 20 44,4 % 0 0% 8 88,9 % 144 52,6% (9) Ngay sau khi tiếp xúc với 18 18 máu và dịch cơ thể (10) Sau khi tiếp xúc vật dụng 9 1 11,1 274 nhanh bằng 6 % 100 % xung quanh BN Tổng Sát khuẩn tay 130 % 47,4% Nhận xét: Trong 274 thời điểm NVYT có VST được lựa chọn phương pháp Rửa tay với nước (47,4%) và sát khuẩn tay nhanh bằng cồn (52,6%) tỷ lệ không chênh nhau mấy, điều này cho thấy NVYT lựa chọn cả 02 phương pháp VST thường quy. Bảng 6.Tỉ lệ NVYT thực hiện đúng các bước quy trình VST 13 Có thực hiện n % 130 100 130 100 128 98,4 Không thực hiện n % 0 0 0 0 2 1,6 ngược lại (≥ 5 lần) 4. Chà 2 lòng bàn tay vào nhau, miết 128 98,4 2 1,6 mạnh các kẽ ngón tay (≥ 5lần) 5. Chà mặt ngoài các ngón tay của bàn 90 69,2 40 30,8 (≥ 5 lần) 6. Dùng bàn tay này xoay ngón cái của 64 49,2 66 50,8 bàn tay kia và ngược lại 7. Xoay các đầu ngón tay này vào lòng 44 33,8 86 66,2 bàn tay kia và ngược lại 8. Làm sạch tay dưới vòi nước chảy 129 98,4 1 0,8 đến cổ tay 9. Làm khô tay bằng khăn lau tay và 127 97,6 3 2,4 dùng khăn lau tay khóa vòi nước chảy 10. Tổng thời gian thực hiện: ≥ 30 giây 108 83,1 22 16,9 Quy trình VSBT dưới vòi nước chảy 1. Làm ướt tay và lấy xà phòng 2. Chà 2 lòng bàn tay vào nhau 3. Chà lòng bàn tay này lên mu và kẽ ngoài các ngón tay của bàn tay kia và tay này vào lòng bàn tay kia Nhận xét: Tại bảng 6 cho thấy khi thực hiện Quy trình Rửa tay bằng nước với dung dịch khử khuẩn NVYT chưa tuân thủ đủ các bước theo quy trình tập chung ở các ( bước 5,6,7 chiếm tỷ lệ cao 30,8 – 66,2%) và còn 16.9 % chưa thực hiện đúng thời gian rửa tay theo quy định Bảng 7. Thực hiện quy trình vệ sinh tay bằng dung dịch sát khuẩn tay nhanh Quy trình sát khuẩn tay nhanh 1. Lấy 3ml dung dịch cồn sát khuẩn 2. Chà 2 lòng bàn tay vào nhau 3. Chà lòng bàn tay này lên mu và kẽ 14 Có thực hiện Không thực hiện n % n % 144 100 0 0 144 100 0 0 135 93,7 9 6,3 ngoài các ngón tay của bàn tay kia và ngược lại 4. Chà 2 lòng bàn tay vào nhau, miết mạnh các kẽ ngón tay 5. Chà mặt ngoài các ngón tay của bàn tay này vào lòng bàn tay kia 6. Dùng bàn tay này xoay ngón cái của bàn tay kia và ngược lại. 7. Xoay các đầu ngón tay này vào lòng bàn tay kia và ngược lại 8. Chà xát tay đến khi khô tay. 9.Tổng thời gian thực hiện ≥ 30 giây 140 97,2 4 2,8 116 80,6 28 19,4 104 72,2 40 27,8 105 72,9 39 27,1 128 122 88,9 84,7 16 22 11,1 15,3 Nhận xét: Tại bảng 7 cho thấy bước 5,6,7 của QT sát khuẩn tay nhanh NVYT thực hiện chưa tốt, còn (19,4 - 27,8%) không thực hiện. có sự giống nhau khi thực hiên quy trình rửa tay bằng nước và có 15,3% thực hiện chưa đúng thời gian quy định 4.2. Các yếu tố liên quan đến VSBT thường quy của NVYT * Kiến thức: Bảng 8. Kiến thức của đối tượng nghiên cứu Phân loại kết quả điểm Bác sỹ Điều Hộ lý Tổng (65) n dưỡng Tốt ( 9 - ≤10 ) Khá (7- ≤9) Trung bình (5 - ≤7) Yếu (≤ 5) 0 5 2 0 1 33 19 1 0 4 0 0 % 1 42 21 1 1,5 64,6 32,4 1,5 Nhận xét: Trong 65 nhân viên y tế được khảo sát chỉ có 1,5 đạt loại tốt, 64,6 đạt loại khá, điểm trung bình tương đối cao chiếm 32,4% ; Bảng 9. Kết quả khảo sát kiến thức từ câu 1 - 15 Câu số Đáp án đúng Trả lời đúng n % 15 Trả lời sai n % 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 Nhận xét: D B A A A A D B D D C D D B D 61 31 35 46 34 61 60 48 58 62 63 58 46 6 42 93,8 47,7 53,8 70,7 52,3 93,8 92,3 73,8 89,2 95,4 96,9 89,2 70,7 9,2 64,6 4 34 30 19 31 4 5 17 7 3 2 7 19 59 23 6,2 52,3 46,2 29,3 47,7 6,2 7,7 26,2 10,8 4,6 3,1 10,8 29,3 90,8 35,4 Khi khảo sát kiến thức của NVYT đa số đã trả lời đúng, tuy nhiên vẫn có 46,2 - 52,3 % trả lời sai câu số 2,3 có liên quan mật thiết với nhau (Vi khuẩn vãng lai là phổ tác nhân chính gây nhiễm khuẩn bệnh viện và cũng là loại vi khuẩn có thể loại bỏ dễ dàng bằng các biện pháp cơ học thông thường như rửa tay bằng nước và xà phòng). Đây là một trong những nội dung quan trọng quyết định việc tuân thủ VSBT của NVYT; - Câu số 14 có số người trả lời sai nhiều nhất 90,8%, cho rằng VK tập chung chủ yếu tại các đầu ngón tay, câu trả lời đúng là “Phần lớn vi khuẩn trên bàn tay được tìm thấy xung quanh lòng (gan) bàn tay” , phần lớn các ý kiến đều cho rằng vi khuẩn có nhiều nhất ở móng tay (34/65), ở các đầu ngón tay (24/65). Bảng 10. Lượng giá ý thức VSBT của nhân viên y tế khi thực hiện VST thường quy Ý thức nhắc nhở Chưa bao giờ Hiếm khi Thỉnh thoảng NVYT nhắc đồng nghiệp 2 (3%) 6 (9,2%) 32 (49,2%) 16 NVYT được đồng nhiệp nhắc 6 (9,2%) 0 41 (63%) Thường xuyên 25(38,4%) 15 (23%) Nhận xét: Nhìn chung nhân viên y tế đã có ý thức nhắc nhở đồng nghiệp VST khi có cơ hội (thỉnh thoảng 49,2%, thường xuyên (38,3%) và NVYT được đồng nghiệp nhắc khi không VST ( thỉnh thoảng 63%, thường xuyên 23%) 17 Bảng 11. Thái độ VSBT liên quan đến phương tiện Thái độ N = 65 Phương thức rửa tay Khi bồn rửa ở cách xa trên 5m Khi có chỉ định VSBT mà da tay bị kích ứng và khô, % Bằng nước và xà phòng Bằng dung dịch rửa tay nhanh Cả hai cách Không rửa tay Rửa tay nhanh Có rửa tay Không rửa tay Hạn chế rửa tay tối đa Mang găng tay để thay thế VSBT Rửa tay kết hợp dùng kem dưỡng ẩm 7 5 53 0 10 55 0 0 3 62 (10,8%) (7,7%) (81,5%) ( 0 %) (15,4%) (84,6%) ( 0% ) ( 0% ) ( 4,6%) ( 95,4%) NVYT sẽ Nhận xét: Về lựa chọn phương thức VST đa số NVYT đều chọn cả 2 cách VST ( 81, 5 %) và chọn dung dịch có kem dưỡng ẩm da tay (95%) tuy nhiên vẫn có 4,6% NVYT trả lời là mang găng tay để thay thế VSBT *Phương tiện và điều kiện VSBT Tiêu chuẩn phương tiện vệ sinh tay thường quy: Vị trí rửa tay bằng nước đạt 5 tiêu chí: - Lavabo rửa tay: loại vòi nước có cần gạt, bồn rửa không có vết bẩn nhìn sờ thấy được, quanh bồn không để phương tiện đồ vật khác - Bình cấp dung dịch rửa tay kin có bơm định lượng, hoạt động tốt, còn hạn sử dụng hoặc xà phòngđể trọng hộp khô ráo có lỗ thoat nước - Có hệ thống cấp nước sạch thường xuyên - Khăn lau tay dùng một lần để trong tui nilon hoặc trong hộp riêng, có hộp đựng khăn bẩn - Có tờ hướng dẫn quy trình VST Tiêu chuẩn dung dịch khử khuẩn tay: 04 tiêu chí - DD khử khuẩn tay được giữ trong bình kín - Có bơm định lượng, còn hạn sử dụng, có chất dưỡng da 18 - Được gắn cố định bằng móc treo trên tường lối ra vào buồng bệnh, hoặc ở đầu giường bệnh, hay trên các xe tiêm và xe thay băng - Có tờ hướng dẫn quy trình VST Bảng 12: Phương tiện VSBT thường quy chung tại 3 khoa: Phương tiện Khoa Điều trị Khoa ngoại Khoa hồi sức N =18 N= 08 N= 03 Có % Có % Có % Buồng bệnh 01 5,6% 01 12,5% 03 100% Phòng thủ thuật 02 100% 01 100% 0 0 Vệ sinh NV 02 100% 02 100% 02 100% VS bệnh nhân 10 55,6% 03 37,5% 02 100% Dung Buồng bệnh 01 5,6% 01 5,6% 03 100% dịch sát 02 05 100% 100% 1 4 100% 100% 0 04 0 khuẩn Phòng thủ thuật Xe tiêm, tay Xe thay băng Lavabo 100% nhanh Nhận xét: Thiếu phương tiện VST tại các buồng bệnh khoa ngoại và khoa điều trị Tỷ lệ bồn rửa tay đạt thấp 5,6% ; dung dịch VST chưa trang bị đủ, mới tập trung ở phòng thủ thuật, trên xe tiêm, xe thay băng và chưa đạt tiêu chuẩn theo quy định - Tại buồng thủ thuật được trang bị đầy đủ đạt 100%, khoa hồi sức được trang bị đầy đủ lavabo rửa tay và dung dịch sát khuẩn tay gắn tại đầu giường người bệnh 19
- Xem thêm -