Tài liệu Khảo sát thuật ngữ mỹ thuật trong tiếng anh (có so sánh với tiếng việt)

  • Số trang: 152 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 2452 |
  • Lượt tải: 1
dangvantuan

Tham gia: 02/08/2015

Mô tả:

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN ------------------------ VŨ NGỌC HẠNH KHẢO SÁT THUẬT NGỮ MỸ THUẬT TRONG TIẾNG ANH (có so sánh với tiếng Việt) LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC Chuyên ngành : Ngôn ngữ học Mã số : 602201 Người hướng dẫn khoa học: PGS- TS Hoàng Anh Thi Hà Nội - 2010 i MỤC LỤC Trang Lời cảm ơn ……………………………………………………………………… Lời cam đoan …………………………………………………………………… Bảng ký hiệu các chưc cái viết tắt ……………………………………………… Mục lục …………………………………………………………………………. PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài ………………………………………………………….. 2. Đối tượng và nhiệm vụ nghiên cứu ……………………………………… 3. Tư liệu và phương pháp nghiên cứu ………………………….………….. 4. Bố cục của luận văn …………………………………………….…………. 1 2 3 4 CHƯƠNG 1 MỘT SỐ CƠ SỞ LÝ LUẬN 1.1. Khái niệm thuật ngữ …………………………………………………….. 1.2. Phân biệt thuật ngữ và danh pháp ……………………………………… 1.3. Đặc điểm, tính chất của thuật ngữ ……………………………………… 1.3.1. Tính xác định về nghĩa ……………………………………………… 1.3.2. Tính hệ thống ……………………………………………………….. 1.3.3. Tính một nghĩa ……………………………………………………… 1.3.4. Tính quốc tế ………………………………………………………… 1.3.5. Tính không biểu cảm ……………………………………………….. 1.4. Thuật ngữ gốc Ấn Âu và thuật ngữ tiếng Việt …………………………… 1.4.1. Đặc điểm của thuật ngữ nguồn gốc Ấn Âu …………………………. 1.4.2. Đặc điểm của thuật ngữ tiếngViệt …………………………………… 1.4.3. Yêu cầu và tiêu chuẩn của thuật ngữ Việt Nam ……………………… 1.4.4. Nguyên tắc vay mượn ………………………………………………… 1.5. Thuật ngữ mỹ thuật ……………………………………………………….. 1.5.1. Bằng tiếng Anh ………………………………………………………. 1.5.2. Bằng tiếng Việt ………………………………………………………. 5 8 10 10 11 12 12 13 14 14 15 16 17 18 18 21 CHƯƠNG 2 ĐẶC ĐIỂM CỦA THUẬT NGỮ MỸ THUẬT TIẾNG ANH 2.1. Đặc trưng cấu tạo của thuật ngữ mỹ thuật tiếng Anh …………….…… 2.1.1 Mô hình cấu trúc của thuật ngữ đơn (single terms) ………………….. 2.1.1.1. Thuật ngữ gốc từ ………………………………………………….. 2.1.1.2.Thuật ngữ là từ phái sinh …………………………………………. iv 25 28 28 31 2.2. Thuật ngữ phức ……….. ……………………………………..................... 2.2.1 Thuật ngữ gồm hai từ ………………………………………………… 2.2.2 Thuật ngữ gồm 3 từ ………………………………………………… 2.2.3. Cách viết thuật ngữ ………………………………………………… 2.3. Các phụ tố trong tiếng Anh ………………………………………………. 2.4. Các phụ tố trong hệ thuật ngữ mỹ thuật ………………………………… 2.5. Khảo sát nguồn gốc của thuật ngữ mỹ thuật tiếng Anh ………………… 2 .5.1. thuật ngữ mỹ thuật có nguồn gốc bản địa …………………………… 2 .5.2. thuật ngữ mỹ thuật có nguồn gốc ngoại lai ………………………… 2.6. Nguồn gốc của phụ tố cấu tạo thuật ngữ mỹ thuật tiếng Anh ………… 2.6.1. Phụ tố gốc Anh ……………………………………………………… 2.6.2. Phụ tố ngoại lai …………………………………………………….. 2.6.3. Các phụ tố chưa rõ nguồn gốc ………………………………………. 40 41 51 54 55 56 57 65 65 66 67 68 70 CHƯƠNG 3 BƯỚC ĐẦU KHẢO SÁT THUẬT NGỮ MỸ THUẬT TIẾNG VIỆT VÀ SO SÁNH VỚI THUẬT NGỮ MỸ THUẬT TIẾNG ANH 3.1. Về cấu trúc ………………………………………………………………… 3.1.1. Thuật ngữ đơn ……………………………………………………… 3.1.2. Thuật ngữ phức ……………………………………………………… 3.1.2.1. Thuật ngữ phức theo phương thức ghép …………………….. 3.1.2.2. Thuật ngữ phức là cụm từ (ngữ) …………………………………. 3.2. Về nguồn gốc ……………………………………………………………... 3.2.1. Thuật ngữ thuần Việt ……………………………………………….. 3.2.2. Thuật ngữ là từ Hán – Việt …………………………………………. 3.2.2.1. Hán Việt ………………………………………………………….. 3.2.2.2.Việt- Hán …………………………………………………………… 3.2.3. Thuật ngữ dùng nguyên tiếng Anh …………..………………….….. 3.2.3.1. Không phiên âm (mượn nguyên dạng âm và chữ viết) ……..……. 3.2.3.2. Phiên âm ………………………………………………………….. 3.3. Vài nhận xét về chuyển dịch thuật ngữ mỹ thuật Anh Việt …………… 3.3.1. Dịch thuật tương đương (equivalence) …………………….……….. 3.3.1.1.Các thuật ngữ có tương đương 1: 1 …………………….………… 3.3.1.2. Dịch các thuật ngữ có tương đương 1:>1 …………….…………… 3.3.1.3. Tương đương > 1 …………………………………….…………… 3.3.2. Dịch không có tương đương (non- equivalence) …………………… 3.4. So sánh thuật ngữ mỹ thuật Anh –Việt …………………….…………… 3.4.1. về cấu tạo thuật ngữ ………………………………………………… 3.4.2. Những tương đồng và khác biệt giữa thuật ngữ mỹ thuật tiếng Anh và tiếng Việt …………………………………………………………………… v 74 74 75 75 76 78 78 79 79 80 80 80 81 82 82 84 85 86 87 92 92 93 3.4.2.1. Tương đồng ………………………………………………………. 3.4.2.2. Sự khác biệt ……………………………………………………… 3.5. Một số đề xuất soạn bài luyện tiếng Anh chuyên ngành mỹ thuật …….. 3.5.1. Yêu cầu chất lượng …………………………………………………… 3.5.2. Thực trạng dạy học tiếng Anh chuyên ngành mỹ thuậtcông nghiệp …. 3.5.3. Những khó khăn ……………………………………………………… 3.5.4. Phương pháp luyện tiếng Anh chuyên ngành mỹ thuật cho sinh viên .. 3.5.4.1. Giải pháp …………………………………………………………… 3.5.4.2. Thiết kế chương trình ……………………………………………… 3.6. Ví dụ bài luyện thuật ngữ mỹ thuật tiếng Anh chuyên ngành ………… Tiểu kết …………………………………………………………………………. KẾT LUẬN …………………………………………………………………….. TÀI LIỆU THAM KHẢO ……………………………………………………. PHỤ LỤC ………………………………………………………………………. vi 93 94 97 97 99 100 101 101 101 103 109 110 113 115 BẢNG CHỮ VIẾT TẮT VÀ KÝ HIỆU I. Các chữ viết tắt 1. 2. 3. 4. 5. 6. 7. 8. 9. 10. 11. Dt V Ttp Tttt MTCN TACN KR N V ADV ADJ danh từ động từ thành tố phụ thành tố trung tâm mỹ thuật công nghiệp Tiếng Anh chuyên ngành Không rõ nguồn gốc Danh từ Động từ Trạng từ Tính từ iii PHẦN MỞ ĐẦU 1. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI Chúng ta đang sống trong thời đại mà nền công nghiệp hiện đại đã thay thế sức lao động của con người trong hầu hết mọi ngành nghề, cũng như các quan hệ giao lưu giữa các nước trên thế giới ngày càng phát triển. Nhờ chính sách đổi mới của đảng và nhà nước mà kinh tế, văn hoá, khoa học nước ta đã đạt được nhiều thành tựu to lớn. Trong sự phát triển đó, hợp tác giao lưu và học tập văn hoá, khoa học kỹ thuật nước ngoài đóng góp một phần đáng kể. Những yêu cầu này chính là động lực thúc đẩy các cơ quan, viện trường và nhóm hoặc các cá nhân biên soạn thuật ngữ phục vụ cho các chuyên ngành khác nhau, đặc biệt là thuật ngữ trong tiếng Anh, ngôn ngữ đã trở nên phổ biến hàng đầu trên thế giới. Theo nghiên cứu của các nhà ngôn ngữ học trên thế giới, thuật ngữ là bộ phận phát triển mạnh nhất so với các bộ phận khác trong từ vựng. Thuật ngữ phát triển theo sự phát triển của khoa học thuật ngữ trong các ngôn ngữ cũng ra đời rất nhanh để đáp ứng nhu cầu sử dụng trong các lĩnh vực khoa học kỹ thuật. Vì thế cần thiết phải có ngày càng nhiều các đề tài nghiên cứu về thuật ngữ. Ở Việt Nam cũng đã có những luận án, luận văn và những nghiên cứu về thuật ngữ thương mại, thuật ngữ công nghệ thông tin... Tuy nhiên, có một mảng thuật ngữ còn chưa được quan tâm nghiên cứu nhiều ở Việt Nam là thuật ngữ mỹ thuật. Thuật ngữ mỹ thuật tuy không phải là mảng thuật ngữ ngữ phát triển nhanh nhất, nhưng cũng không nằm ngoài sự phát triển chung của thuật ngữ: tăng đều theo thời gian. Thêm vào đó, sinh viên và những người làm về mỹ thuật ở Việt Nam nói chung lại không thể không đụng chạm tới các thuật ngữ này. Bản thân những người làm công tác giảng dạy như chúng tôi cũng thấy khó khăn khi mà sự nghiên cứu thuật ngữ mỹ thuật ở Việt Nam chưa đáp ứng được nhu cầu học tập nghiên cứu: chưa có cuốn từ điển hay 1 một công trình nghiên cứu thuật ngữ mỹ thuật công nghiệp nào. Thậm chí, một tài liệu tiếng Anh chuyên ngành làm cơ sở cho việc giảng dạy và học tập một cách chính thống cũng chưa có. Trong khi đó, mỹ thuật đóng vai trò quan trọng trong cuộc sống tinh thần, mỹ thuật cũng như các ngành khác yêu cầu ngày một cao hơn, hoàn thiện hơn, đó là lý do các họa sĩ phải có ý thức tự vươn lên, có kiến thức chuyên môn sâu, biết kết hợp các yếu tố trong và ngoài nước. Để tạo điều kiện cho các nhà chuyên môn học hỏi, luận văn của chúng tôi lấy thuật ngữ mỹ thuật làm đối tượng khảo sát, mong muốn được đặt nền móng đầu tiên cho mảng thuật ngữ mỹ thuật, giúp thêm tư liệu cho việc giảng dạy tiếng Anh ở lĩnh vực mỹ thuật đang còn rất hiếm hoi tài liệu. 2. ĐỐI TƯỢNG VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU a/ Đối tượng nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các thuật ngữ mỹ thuật trong tiếng Anh và tiếng Việt. Đó là những thuật ngữ biểu đạt các khái niệm được sử dụng trong lĩnh vực mỹ thuật. b/ Mục đích nghiên cứu Mục đích nghiên cứu của luận văn là bước đầu khảo sát thuật ngữ mỹ thuật trong tiếng Anh và tiếng Việt để làm sáng tỏ những đặc trưng của hệ thuật ngữ trong mỗi ngôn ngữ. Từ đó đề xuất ý kiến góp phần biên soạn giáo trình chuyên ngành cho sinh viên mỹ thuật. c/ Nhiệm vụ nghiên cứu Hệ thống hoá những quan điểm lý luận trong việc nghiên cứu thuật ngữ và thuật ngữ mỹ thuật của các nhà nghiên cứu thế giới và các nhà nghiên cứu Việt Nam. Từ đó xác định cơ sở lý luận cho luận văn. Phân biệt thuật ngữ và danh pháp, thuật ngữ mỹ thuật trong tiếng Anh theo các con đường hình thành, kiểu ngữ nghĩa và đặc điểm cách thức biểu thị của thuật ngữ mỹ thuật. 2 Khảo sát đặc điểm cấu tạo của thuật ngữ mỹ thuật tiếng Anh về mặt cấu tạo. Xác định các loại mô hình kết hợp giữa các thành tố để tạo thành thuật ngữ mỹ thuật ở tiếng Anh và tiếng Việt. Trên cơ sở đó tìm ra sự khác biệt và tương đồng giữa các thành tố cấu tạo nên hệ thuật ngữ giữa hai ngôn ngữ. Khảo sát các kiểu dịch tương đương và một số thủ pháp được sử dụng trong chuyển dịch tương đương và không tương đương thuật ngữ mỹ thuật Anh Việt. 3. TƯ LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU a/ Tư liệu nghiên cứu : Tư liệu nghiên cứu của luận văn gồm 843 thuật ngữ mỹ thuật tiếng Anh được lựa chọn từ những tài liệu sau: 1. Buckett (2000), câu chuyện nghệ thuật, Nxb tổng hợp HCM 2. Design in Finland (1989) ,The Finnish Foreign Trade Association, Finland 3. Encyc of mosaic(Từ điển bách khoa vẽ trang trí) 4. Nguyễn Phi Hoanh (1993), Mỹ thuật và nghệ sĩ, Nxb thành phồ HCM. 5. Đặng Thị Bích Ngân (2002) , Từ điển thuật ngữ mỹ thuật phổ thông, Nxb Giáo dục. 6. Nguyễn Long Tuyền (2001), Vật liệu, công nghệ và kỹ thuật của nghệ thuật ứng dụng và nghệ thuật tạo hình - NCKH cấp bộ 7. Oxford advanced learner’s dictionary Oxford university press 1995 8. Rethinking Design (1992), Mohawk Paper Mills, Inc 9. Từ điển Anh -Việt (English-Vietnamese Dictionary unabridged), Nxb Giáo dục 1995. 10.Từ điển Anh -Việt (English-Vietnamese Dictionary unabridged), Nxb Khoa học Xã hội 1993. 11.Từ điển Anh-Việt & Việt-Anh thường dùng (English–Vietnamese and Vietnamese - English Dictionary), Nxb Khoa học Xã hội- Hà Nội. 12. Từ điển Việt –Anh, Nxb Thế giới 1995. 3 13. Thuật ngữ Mỹ thuật Pháp-Việt & Việt- Pháp,UBKHXHVN-Viện Ngôn ngữ học 1970 b/ Phương pháp nghiên cứu Trong luận văn, chúng tôi sử dụng các thủ pháp phân tích ngôn ngữ học thống kê, phân tích cấu trúc và phân tích ngữ nghĩa các thuật ngữ khảo sát. Từ đó xác định các đặc điểm của thuật ngữ mỹ thuật Anh-Việt. Chúng tôi cũng sử dụng thủ pháp so sánh đối chiếu các thuật ngữ mỹ thuật tiếng Anh với thuật ngữ mỹ thuật tiếng Việt để tìm ra nét tương đồng và khác biệt giữa thuật ngữ mỹ thuật tiếng Anh và tiếng Việt. 4. BỐ CỤC CỦA LUẬN VĂN Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phần phụ lục, luận văn được trình bày ở 3 chương sau: Chương 1: Một số cơ sở lý luận. Chương 2: Đặc điểm của thuật ngữ mỹ thuật tiếng Anh. Chương 3: Bước đầu khảo sát thuật ngữ mỹ thuật tiếng Việt và so sánh với hệ thuật ngữ mỹ thuật tiếng Anh. 4 CHƯƠNG 1: MỘT SỐ CƠ SỞ LÝ LUẬN 1.1. Khái niệm thuật ngữ Hiện có rất nhiều quan điểm và định nghĩa khác nhau của các tác giả trong nước cũng như ngoài nước về thuật ngữ. Trong luận văn này chúng tôi chỉ đưa ra một số định nghĩa tiêu biểu. Trong tiếng Nga, thuật ngữ được định nghĩa như sau. - Có những định nghĩa chỉ ra sự phân định giữa một bên là thuật ngữ, còn bên kia là từ thông thường. Chẳng hạn, H .Π.Kyзьин chỉ ra rằng: “Cả về hình thức lẫn nội dung không thể tìm thấy ranh giới thực nào giữa từ thông thường, từ phi chuyên môn với từ của vốn thuật ngữ. Đường ranh giới hiện thực, khách quan giữa hai loại từ này về thực chất là một đường ranh giới ngoài ngôn ngữ. Nếu như từ thông thường, từ phi chuyên môn tương ứng với đối tượng thông dụng, thì từ của vốn thuật ngữ lại tương ứng với đối tượng chuyên môn mà chỉ có một số lượng hạn hẹp các chuyên gia biết đến” [40tr.145] Г.О.Винokyp lại cho rằng: “Thuật ngữ - đó không phải là một từ đặc biệt mà chỉ là từ có chức năng đặc biệt […] đó là chức năng gọi tên ” [41tr.5-6]. Nhiều tác giả đã đồng tình với quan điểm trên, trong đó có A. И. Moиceeв khi viết: “Chính biên giới giữa thuật ngữ và phi thuật ngữ không nằm giữa các loại từ và cụm từ khác nhau mà nằm trong nội bộ mỗi từ và cụm từ định danh” [42 tr.31]. B.B Bиногpaдов đã nêu rõ hơn: “Trước hết, từ thực hiện chức năng định danh, nghĩa là hoặc nó là phương tiện biểu thị, lúc đó nó chỉ là một ký hiệu giản đơn, hoặc nó là phương tiện của định nghĩa logic, lúc đó nó là thuật ngữ khoa học” [43tr.12] .Một số nhà ngôn ngữ học khác lại xác định thuật ngữ trong mối quan hệ giữa nó với khái niệm. Chẳng hạn, các soạn giả của “Đại Bách khoa toàn thư Xô - viết” đã định nghĩa: “Thuật ngữ là một từ hoặc một cụm từ chỉ ra một cách chính xác khái niệm và quan hệ của nó với những khái niệm khác trong giới hạn của phạm vi chuyên ngành. Thuật ngữ là cái biểu thị vốn đã chuyên biệt hoá, hạn định hoá về sự vật, hiện tượng, 5 thuộc tính và quan hệ của chúng đặc trưng cho phạm vi chuyên môn đó” [44 tr. 473- 474]. Trong cuốn “Từ điển thuật ngữ ngôn ngữ học” O.C. Axмaнoвa giải thích: “Thuật ngữ là từ hoặc cụm từ của ngôn ngữ chuyên môn (ngôn ngữ khoa học, ngôn ngữ kỹ thuật v.v) được sáng tạo ra (được tiếp nhận, được vay mượn v.v.) để biểu thị chính xác các khái niệm chuyên môn và biểu thị các đối tượng chuyên môn”. [45tr.474]. Thuật ngữ được định nghĩa như sau trong tiếng Anh Term: a word or expression used in relation to a particular subject, often to describe something official or technical. [47] (Thuật ngữ là một từ hoặc một cụm từ dùng để diễn tả một vật cụ thể, thường được dùng để mô tả chuyên môn hoặc trong kỹ thuật) Term: To give something a name or to describe it with a particular expression. [47] (Thuật ngữ là tên gọi cho một sự vật gì đó hoặc mô tả nó với một cụm từ đặc biệt) Term: to say what the meaning of something,especially a word, is: in this dictionary ‘reality’ is defined as ‘the state of things as they are, rather than as they are imagined to be’.[47] (Thuật ngữ là một từ đặc biệt dùng để diễn tả nghĩa của một sự vật gì đó: Theo như từ điển thì thuật ngữ được định nghĩa như là ‘trạng thái của sự vật như là nó có, hơn là người ta đặt tên cho nó.) Term: a word or phrase used as the name of something, especially one connected with a particular subject or used in a particular type of language. [10] (thuật ngữ là một từ hoặc một cụm từ là tên gọi cho một sự vật gì đó, đặc biệt có quan hệ với ngành chuyên môn hoặc được sử dụng trong tiếng lóng) Term: a word or compound word used in a specific context [49] (Thuật ngữ là một từ hoặc từ ghép được sử dụng trong một ngữ cảnh đặc biệt). Ở Việt nam, các nhà ngôn ngữ học cũng hết sức quan tâm đến lĩnh vực thuật ngữ và những định nghĩa về thuật ngữ ngày một đầy đủ, chính xác. Hoàng 6 Xuân Hãn, Đỗ Hữu Châu, Nguyễn Văn Tu, Lưu Vân Lăng, Vũ Quang Hào, Nguyễn Thiện Giáp và một số nhà nghiên cứu khác cũng đã đưa ra những định nghĩa về thuật ngữ. Theo Hoàng Xuân Hãn, “Thuật ngữ hay danh từ khoa học là những từ ngữ biểu thị một khái niệm xác định thuộc những khái niệm của một ngành khoa học nhất định” [13]. Theo Nguyễn Văn Tu trong cuốn “Khái luận ngôn ngữ học” [22,tr. 176]: “Thuật ngữ là từ hoặc nhóm từ dùng trong các ngành khoa học, kỹ thuật, chính trị, ngoại giao, nghệ thuật v.v. và có một ý nghĩa đặc biệt, biểu thị chính xác các khái niệm và tên các sự vật thuộc ngành nói trên” ... Đến năm 1968 ông đưa ra định nghĩa chỉ nhấn mạnh khái niệm mà các thuật ngữ biểu thị: “Thuật ngữ là những từ và những từ tố cố định để chỉ những khái niệm của một ngành khoa học nào đó, ngành sản xuất hay ngành văn hoá nào đó v.v. ” [23, tr.114]. Trong “Giáo trình Việt ngữ, tập 2”, Đỗ Hữu Châu viết “Thuật ngữ là những từ chuyên môn được sử dụng trong phạm vi một ngành khoa học, một nghề nghiệp hoặc một ngành kỹ thuật nào đấy. Có thuật ngữ của ngành vật lý, ngành hoá học, toán học, thương mại, ngoại giao v.v.... Đặc tính của những từ này là phải cố gắng chỉ có một nghĩa, biểu thị một khái niệm hay chỉ tên một sự vật, một hiện tượng khoa học, kỹ thuật nhất định”. [2, tr.167]. Trong giáo trình từ vựng học tiếng Việt – tái bản năm 1998 của Nguyễn Thiện Giáp đã đưa ra quan điểm rõ ràng, súc tích về những đặc trưng của thuật ngữ, ông viết: “Thuật ngữ là một bộ phận từ ngữ đặc biệt của ngôn ngữ. Nó bao gồm những từ và cụm từ cố định là tên gọi chính xác của các loại khái niệm và các đối tượng thuộc các lĩnh vực chuyên môn của con người” [7, tr.270] . Trong hàng loạt những quan điểm của các học giả trong và ngoài nước về định nghĩa thế nào là thuật ngữ, chúng tôi nhận thấy một chút khác nhau giữa các học giả Châu Âu và các học giả trong nước ở chỗ có những định nghĩa chỉ ra sự phân định giữa một bên là thuật ngữ, còn bên kia là từ thông thường - Chẳng 7 hạn, H .Π.Kyзнин, hoặc Г.О.Винokyp, và Online Etymology Dictionary – word origins - word lại cho rằng: Thuật ngữ - đó không phải là một từ đặc biệt mà chỉ là từ có chức năng đặc biệt - đó là chức năng gọi tên. Một số nhà ngôn ngữ học khác lại xác định thuật ngữ trong mối quan hệ giữa nó với khái niệm. Còn các học giả trong nước cho rằng thuật ngữ hay danh từ khoa học là những từ ngữ biểu thị một khái niệm xác định thuộc những khái niệm của một ngành khoa học nhất định - theo Hoàng Xuân Hãn. Nhiều tác giả còn đề nghị thêm rằng thuật ngữ cần phải có tính ngắn ngọn (chẳng hạn như [13,tr. 131], [36, tr.59]). Tuy có những ý kiến khác nhau, nhưng các nhà khoa học ở trong nước cũng như nước ngoài đều nhất trí và nhất mạnh hai điểm cơ bản sau: Một là, thuật ngữ phải chính xác. Hai là, thuật ngữ phải có tính hệ thống. Chúng tôi thấy rằng ngoài hai điểm quan trọng nêu trên, còn phải thấy một số yêu cầu khác nữa quan trọng đối với thuật ngữ. Sau đây chúng tôi đi vào cụ thể hơn nội dung yêu cầu đối với thuật ngữ. Đây chính là cơ sở để chúng ta xem xét, đánh giá việc xây dựng các thuật ngữ mỹ thuật. 1.2. Phân biệt thuật ngữ và danh pháp Buнoкyp đã định nghĩa danh pháp như sau: “Danh pháp thì khác hệ thuật ngữ, nó chỉ là một hệ thống các phù hiệu hoàn toàn trừu tượng và ước lệ, mà mục đích duy nhất là ở chỗ cấp cho ta cái phương tiện thuận lợi nhất về mặt thực tiễn để gọi tên các đồ vật, các đối tượng không quan hệ trực tiếp với những đòi hỏi của tư duy lý luận hoạt động với những sự vật này”. Hệ thuật ngữ trước hết gắn liền với hệ thống các khái niệm của một khoa học nhất định. Còn danh pháp là toàn bộ những tên gọi được dùng trong một ngành chuyên môn nào đó, nó không gắn trực tiếp với các khái niệm của khoa học này mà chỉ gọi tên các sự vật trong khoa học đó mà thôi. Như là, trong kỹ thuật, một 8 cái máy có hàng nghìn chi tiết đều có tên gọi của nó thì đó thuộc về danh pháp chứ không phải thuật ngữ. Trong địa lý học các từ như: biển, sông, núi , sa mạc v.v… là các thuật ngữ, còn các tên biển, tên sông, tên hồ v.v. cụ thể như sông Hồng, sông Đà, núi Trường Sơn, vịnh Cam Ranh, hồ Núi Cốc v.v. là danh pháp. Trong thực vật học, các từ cây, lá, cành v.v. là thuật ngữ, còn tên các cây, các loại hoa, loại quả cụ thể là danh pháp. Như vậy, về mặt chức năng, danh pháp giống với các tên riêng. Về bản chất, danh pháp là tên riêng của các đối tượng. Thuật ngữ có thể được cấu tạo trên cơ sở các từ hoặc các hình vị có ý nghĩa sự vật cụ thể. Nội dung của thuật ngữ ít nhiều tương ứng với ý nghĩa của các từ tạo nên chúng, còn danh pháp có thể được quan niệm là một chuỗi kế tiếp nhau của các chữ cái (vitamin A, vitamin B v.v…) là một chuỗi các con số (NU 76, TU 108 , XH 76) hay bất kỳ cách gọi tên võ đoán nào. Qua tìm hiểu những định nghĩa trên ta thấy thuật ngữ khoa học là bộ phận từ vựng đặc biệt của ngôn ngữ. Nó bao gồm những từ và cụm từ cố định là tên gọi chính xác của những khái niệm và những đối tượng thuộc các lĩnh vực chuyên môn của con người, thuật ngữ khoa học là lớp từ vựng được sử dụng hạn chế về mặt xã hội, chúng không giống với các cụm từ thông thường. Nghĩa các từ ngữ thông thường có thể biểu thị sắc thái tình cảm, thái độ đánh giá của con người, có thể mang tính đa nghĩa, có thể đồng nghĩa, trái nghĩa, đồng âm, trong khi thuật ngữ chỉ mô tả một khái niệm, mang một nghĩa, chúng biểu thị khái niệm xác định trong ngành khoa học, kỹ thuật nên chúng tuân thủ tính chặt chẽ của nó. Từ những định nghĩa trên chúng ta rút ra những đặc điểm của thuật ngữ như sau:  Về cấu trúc: thuật ngữ là một từ, một cụm từ.  Về nội dung: thuật ngữ biểu hiện duy nhất một nghĩa, một khái niệm.  Về sử dụng: thuật ngữ được sử dụng trong một ngành nhất định, một lĩnh vực khoa học nhất định. 9 Tóm lại: Thuật ngữ là một từ hoặc một cụm từ biểu thị chính xác khái niệm, đối tượng được sử dụng trong một ngành khoa học cụ thể. Chúng tôi chọn định nghĩa này để làm việc khi khảo sát hệ thuật ngữ mỹ thuật tiếng Anh. 1.3. Đặc điểm, tính chất của thuật ngữ Như phần trên đã đưa ra những định nghĩa về thuật ngữ và chúng ta cũng thống nhất rằng: Thuật ngữ khoa học là một bộ phận từ vựng đặc biệt của ngôn ngữ. Nó bao gồm những từ và cụm từ cố định, là tên gọi chính xác những khái niệm và những đối tượng thuộc các lĩnh vực chuyên môn của con người. Cũng như từ nghề nghiệp, thuật ngữ khoa học là lớp từ vựng được sử dụng hạn chế bởi những người cùng ngành chuyên môn nhất định. Thuật ngữ cũng tham gia vào từ vựng của ngôn ngữ văn học như từ nghề nghiệp. Tuy nhiên, thuật ngữ khoa học có những đặc điểm riêng khác với từ nghề nghiệp và các lớp từ vựng khác. Mặc dù có những quan điểm khác nhau về thuật ngữ nhưng năm đặc tính cơ bản của thuật ngữ là: 1. Tính xác định về nghĩa 2. Tính hệ thống 3. Tính một nghĩa 4. Tính quốc tế 5. Tính không biểu thị sắc thái tình cảm 1.3.1. Tính xác định về nghĩa Thuật ngữ là bộ phận từ vựng đặc biệt dùng trong một ngành khoa học cụ thể nào đó. Mọi từ trong ngôn ngữ đều liên hệ với khái niệm nhưng ý nghĩa từ vựng của các từ thông thường không đồng nhất với khái niệm mà chúng gọi tên, trong khi đó thuật ngữ phụ thuộc chặt chẽ vào khái niệm của một ngành khoa học nào đó. Nói đến thuật ngữ là nói đến tính xác định của nghĩa hoặc khái niệm mà nó biểu hiện mà không gây nhầm lẫn. Đối với từ ngữ thông thường ý nghĩa 10 từ vựng có thể thay đổi trong mỗi một văn cảnh khác nhau, còn đối với thuật ngữ thì không thế. Trong mọi văn cảnh khác nhau, cũng như khi đứng một mình, thuật ngữ không thay đổi về nội dung. Ví dụ: biscuit - Trong thuật ngữ mỹ thuật chỉ có nghĩa - mầu nâu nhạt Đối với ngôn ngữ thông thường thì tuỳ từng ngữ cảnh mà nó mang nghĩa là: bánh bích qui hoặc đồ sứ mới nung lần đầu trước khi tráng men. 1.3.2. Tính hệ thống Thuật ngữ là một bộ phận của ngôn ngữ. Mà ngôn ngữ của bất kỳ một quốc gia nào cũng mang tính hệ thống. Bởi vì thuật ngữ là từ, cụm từ biểu đạt chính xác một khái niệm của một chuyên ngành nào đó. Thuật ngữ phải nằm trong hệ thống từ vựng chung của một ngôn ngữ, mỗi lĩnh vực khoa học đều có một khái niệm chặt chẽ được thể hiện ra bằng hệ thống các thuật ngữ của mình. Giá trị của mỗi thuật ngữ đều được xác định bởi mối quan hệ của nó với những khác trong hệ thống ấy. Nếu tách một thuật ngữ ra khỏi hệ thống của nó thì nội dung thuật ngữ của nó không còn nữa. Trong tiếng Anh, tính hệ thống của thuật ngữ thể hiện ở sự lệ thuộc lẫn nhau của các hình thái ngữ pháp phái sinh trong việc cấu tạo và biến đổi từ, chẳng hạn: 1. encaustic thuật vẽ sáp mầu, thuật vẽ sáp nung. Thuật ngữ này được cấu tạo từ thân từ caustic và tiền tố en. 2. encaustic painting mầu pha sáp 3. paint brush bút vẽ 4. paint- box hộp thuốc vẽ 5. paint thuốc màu 6. dead – colour mầu lót bức hoạ - được tạo nên từ tính từ dead : chết và danh từ colour: mầu sắc. 11 Nếu tách encaustic ra khỏi lĩnh vực thuật ngữ mỹ thuật thì nó chỉ có nghĩa là chất ăn da, hoặc có nghĩa là chất kiềm. Tương tự, nếu tách dead ra khỏi lĩnh vực thuật ngữ mỹ thuật thì nó chỉ có nghĩa là: chết. Và nếu tách colour ra khỏi lĩnh vực thuật ngữ mỹ thuật thì nó chỉ có nghĩa là “mầu sắc”. 1.3.3. Tính một nghĩa Chính vì thuật ngữ có tính xác định về nghĩa và tính hệ thống nên đã qui định tính một nghĩa của thuật ngữ. Một đơn vị từ vựng thông thường có thể mang nhiều nghĩa khác nhau trong mỗi một ngữ cảnh khác nhau, nhưng một thuật ngữ lý tưởng là thuật ngữ phản ánh được đặt trưng cơ bản, nội dung bản chất của khái niệm. Để có một thuật ngữ chính xác thì trong nội bộ một ngành khoa học, mỗi khái niệm chỉ nên có một thuật ngữ biểu hiện và ngược lại một thuật ngữ chỉ được dùng để chỉ một khái niệm. Như vậy thuật ngữ không có tính đa nghĩa. Tuy nhiên, nói như vậy không có nghĩa thuật ngữ chỉ tham gia vào một hệ thống mà nó có thể tham gia vào nhiều hệ thống khác nhau, nhưng trong cùng một hệ thống, mỗi chỉ có một nghĩa mà thôi, trường hợp một thuật ngữ tham gia nhiều hệ thống thuật ngữ như trên đa số các nhà ngôn ngữ học cho là hiện tượng đồng âm. Ví dụ: term (tiếng Anh) nghĩa trong ngôn ngữ là “thuật ngữ”, còn nghĩa thông dụng là “giới hạn, quan hệ”. 1.3.4. Tính quốc tế Theo Nguyễn Thiện Giáp [8,tr.120] thuật ngữ là một bộ phận từ vựng đặc biệt, biểu thị những khái niệm khoa học chung cho những người nói các ngôn ngữ khác nhau, do đó, sự thống nhất thuật ngữ giữa các ngôn ngữ là cần thiết và bổ ích, thúc đẩy tiến trình phát triển khoa học của loài người nói chung, những khái niệm khoa học mà thuật ngữ biểu thị là tài sản chung của nhân loại. Đối với tính quốc tế của thuật ngữ người ta thông thường chỉ chú ý tới biểu hiện hình thức cấu tạo của nó, theo chúng tôi, tính quốc tế của thuật ngữ không phải chỉ được thể hiện ở mặt hình thức cấu tạo ngữ âm, mà còn thể hiện ở hình thái bên 12 trong của nó (nghĩa là cách chọn đặc trưng của sự vật, khái niệm … làm cơ sở định danh cho việc đặt thuật ngữ ), các ngôn ngữ dùng những thuật ngữ giống hoặc tương tự nhau.Ví dụ: Tiếng Pháp : radio Tiếng Anh : radio Tiếng Đức : radio Tiếng Việt : radio Tính quốc tế của thuật ngữ thể hiện ở hình thức cấu tạo cũng chỉ là tương đối vì dường như không có thuật ngữ nào có sự thống nhất ở tất cả các ngôn ngữ, mức độ thống nhất của tất cả các thuật ngữ là khác nhau, tính thống nhất của mỗi ngôn ngữ phụ thuộc vào truyền thống lịch sử, như tiếng Việt và một số tiếng khác ở Đông Nam Á như Nhật Bản, Triều Tiên v.v. xây dựng thuật ngữ phần lớn dựa trên cơ sở các yếu tố gốc Hán. 1.3.5. Tính không biểu cảm Đọc một câu thơ, một câu chuyện thông thường, chúng ta có thể hiểu, hoặc tưởng tượng ra cảnh đẹp, hoặc rung động theo mức độ cảm nhận khác nhau của người đọc, khả năng dùng từ ngữ của tác giả làm người đọc buồn vui, yêu ghét, hoặc cảm thụ vẻ đẹp được tạo nên của đoạn thơ, đoạn văn đó - khả năng này chính là giá trị tu từ học của một từ. Trong một hệ thống thuật ngữ chặt chẽ không cho phép có hiện tượng như vậy. Mọi thuật ngữ khoa học không có giá trị tu từ học trong hệ thống của mình, nói một cách khác nó trung hoà về biểu cảm. Thuật ngữ là những từ ngữ không mang giá trị biểu cảm như các từ ngữ trong phong cách văn học, nghệ thuật hay đời thường, bởi chúng được tạo ra là chỉ để biểu thị những khái niệm của một ngành khoa học xác định và phụ thuộc vào sự phát triển của ngành khoa học đó. Thực tế thuật ngữ là một bộ phận của hệ thống từ vựng nói chung, có quan hệ với các từ khác trong hệ thống ngôn ngữ. Cả từ thông thường lẫn thuật ngữ 13 đều chỉ sự chi phối của các qui luật ngữ âm, cấu tạo từ và ngữ pháp của ngôn ngữ nói chung, do đó thuật ngữ không cách biệt hoàn toàn với từ toàn dân và các lớp từ vựng khác không phải thuật ngữ. Như vậy, chính vì tính chất riêng của thuật ngữ khoa học là không mang sắc thái biểu cảm đã làm cho nó phân biệt rõ với từ trong từ vựng thông thường, từ nghề nghiệp, tiếng lóng và biệt ngữ mặc dù từ nghề nghiệp, tiếng lóng, biệt ngữ cũng đều được dùng trong những phạm vi xã hội hạn hẹp. 1.4. Thuật ngữ gốc Ấn Âu và thuật ngữ tiếng Việt Trong hai ngôn ngữ Việt, Anh đều có số lượng đáng kể các thuật ngữ được tạo ra từ nguồn gốc Ấn Âu. Vì chức năng của ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp của con người nên thuật ngữ nguồn gốc Ấn Âu và thuật ngữ tiếng Việt giống nhau về mặt nội dung nhưng về mặt hình thức lại khác nhau. Thuật ngữ Ấn Âu là thuật ngữ biến hình còn thuật ngữ Việt là thuật ngữ không biến hình. 1.4.1. Đặc điểm của thuật ngữ nguồn gốc Ấn Âu Ngôn ngữ Ấn Âu là loại hình khuất chiết có những đặc điểm sau: 1. Có sự đối lập mờ nhạt giữa căn tố và yếu tố hư. 2. Có sự đối lập rõ nét giữa yếu tố cấu tạo từ và biến tố. 3. Có sự đối lập rành mạch giữa các từ loại. 4. Hiện tượng hợp dạng phát triển mạnh mẽ. 5. Trật tự từ tự do. 6. Số lượng yếu tố cấu tạo từ hữu hạn. 7. Ít từ ghép. 14 8. Hiện từ đồng nghĩa giữa các yếu tố ngữ pháp phát triển mạnh. 9. Có phạm trù ngữ pháp gọi là “giống” hoặc có hiện tượng chia danh từ thành“loại”. 10. Phạm trù “ từ” thể hiện ra một cách rõ ràng. 11. Trật tự cú pháp thường là “ chủ ngữ - vị ngữ - bổ ngữ”. 12. Mệnh đề phụ phát triển. 13. Số lượng nguyên âm lớn. Các ngôn ngữ Ấn Âu là ngôn ngữ biến đổi hình thái nên về mặt hình thức chúng có sự biến đổi về hình thái cho phù hợp với các quan hệ ngữ pháp, phù hợp với các ngôi, thời, thể, giống, số, cách. Ý nghĩa từ vựng, ý nghĩa ngữ pháp phải tuân theo nguyên tắc, không thể tách bạch phần nào biểu thị ý nghĩa từ vựng và phần nào biểu thị ý nghĩa ngữ pháp. 1.4.2. Đặc điểm của thuật ngữ tiếng Việt 1. Từ tương đối ngắn 2. Có sự phân biệt mờ nhạt giữa các từ loại (có hiện tượng chuyển loại) 3. Sử dụng ‘từ hình thức’ thay cho biến tố 4. Trật tự từ cố định 5. ‘Từ’ với tư cách là 1 đơn vị ngôn ngữ thể hiện ra một cách không thật rõ ràng 6. Mệnh đề thể hiện rõ 7. Trật tự cú pháp chủ ngữ - vị ngữ - bổ ngữ 8. Hay dùng mệnh đề phụ 15
- Xem thêm -