Tài liệu Kế toán bán mặt hàng thuốc trừ sâu tại công ty cổ phần quốc tế hòa bình

  • Số trang: 43 |
  • Loại file: DOC |
  • Lượt xem: 46 |
  • Lượt tải: 0
nganguyen

Đã đăng 34345 tài liệu

Mô tả:

Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Lưu Thị Duyên PHẦN MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết, ý nghĩa của việc nghiên cứu kế toán bán mặt hàng thuốc trừ sâu tại Công ty Cổ phần quốc tế Hòa Bình Trong nền kinh tế thị trường, vấn đề hiệu quả sản xuất kinh doanh của mỗi doanh nghiệp không những là thước đo phản ánh trình độ tổ chức quản lý mà còn là sự sống còn, nó quyết định tới sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Thực tế trong những năm vừa qua cho thấy, với sự phát triển mạnh mẽ của cơ chế thị trường và sự cạnh tranh gay gắt, bên cạnh những doanh nghiệp sản xuất làm ăn có hiệu quả, mở rộng và không ngừng nâng cao vị thế của mình trên thị trường cả trong và ngoài nước thì vẫn tồn tại không ít những doanh nghiệp sản xuất hoạt động kém hiệu quả, thu nhập không đủ bù đắp chi phí và có nguy cơ đứng trước sự phá sản, giải thể. Nguyên nhân của tình trạng trên có nhiều song nhìn nhận đánh giá một cách tổng quát, khách quan thì nguyên nhân của sự đổ vỡ, phá sản trong các doanh nghiệp sản xuất chủ yếu là do sự yếu kém trong việc tổ chức công tác bán hàng và xác định kết quả. Vì vậy, với mục tiêu cao nhất và cuối cùng là lợi nhuận thì việc xem xét các phương thức bán hàng, xác định kết quả bán hàng có ý nghĩa cực kỳ quan trọng và được đặt ra hàng đầu đối với bất kỳ doanh nghiệp sản xuất. Trên phạm vi toàn bộ nền kinh tế , bán hàng có một vai trò đặc biệt, nó vừa là điều kiện để tiến hành tái sản xuất xã hội vừa là cầu nối giữa nhà sản xuất với người tiêu dùng, phản ánh sự gặp nhau giữa cung và cầu về hàng hóa, qua đó định hướng cho sản xuất, tiêu dùng và khả năng thanh toán. Với một doanh nghiệp việc tăng nhanh quá trình bán hàng tức là tăng vòng quay của vốn, tiết kiệm vốn và trực tiếp làm tăng lợi nhuận của doanh nghiệp. Từ đó sẽ nâng cao đời sống, thu nhập cho cán bộ công nhân viên trong doanh nghiệp và thực hiện đầy đủ nghĩa vụ với nhà nước. Kế toán bán hàng là một phần hành quan trọng trong hệ thống kế toán, vai trò trong quảnl ý điều hành và kiểm soát các hoạt động kinh tế qua hệ thống thông tin trung thực, chính xác đầy đủ, toàn diện kịp thời. Kế toán bán hàng cung cấp thông tin kinh tế cần thiết cho các bộ phần liên quan, để đưa ra những biện pháp hoàn thiện hoạt động kinh doanh, giúp Ban giám Sinh viên: Phạm Thu Hà 1 Lớp: SB14D2 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Lưu Thị Duyên đốc nắm được thực trạng tình hình tiêu thụ hàng hóa của doanh nghiệp mình và kịp thời có những chính sách điều chỉnh thích hợp với thị trường. Mặc dù đã có các chuẩn mực, văn bản, chế độ kế toán được ban hành ở Việt Nam như chuẩn mực số 01, số 02, số 14 nhưng qua quá trình khảo sát và tìm hiểu cho thấy việc áp dụng các chuẩn mực trong kế toán bán mặt hàng thuốc trừ sâu tại Công ty Cổ phần quốc tế Hòa Bình chưa được chính xác và đầy đủ. Thực trạng kế toán bán mặt hàng thuốc trừ sâu tại Công ty vẫn còn một số vướng mắc cần được hoàn thiện hơn nữa. 2. Mục tiêu cụ thể đặt ra cần giải quyết trong việc nghiên cứu kế toán bán mặt hàng thuốc trừ sâu tại Công ty Cổ phần quốc tế Hòa Bình Nghiên cứu cơ sở lý luận về kế toán tiêu thụ thành phẩm cũng như vai trò, tầm quan trọng của kế toán tiêu thụ thành phẩm trong các DN sản xuất công nghiệp ở Việt Nam hiện nay. - Nghiên cứu, phân tích, đánh giá thực trạng kế toán tiêu thụ mặt hàng thuốc trừ sâu tại Công ty Cổ phần quốc tế Hòa Bình có tuân thủ theo các chuẩn mực kế toán hiện hành của Việt Nam hay không. Tìm ra những ưu điểm và những vấn đề còn tồn tại trong kế toán bán hàng tại Công ty Cổ phần quốc tế Hòa Bình - Làm rõ các nhân tố ảnh hưởng đến công tác kế toán tiêu thụ trong DN sản xuất công nghiệp nói chung. - Đề xuất ra các giải pháp nhằm hoàn thiện kế toán tiêu thụ mặt hàng thuốc trừ sâu tại Công ty Cổ phần quốc tế Hòa Bình nhằm đảm bảo tuân thủ đúng theo các chuẩn mực kế toán hiện hành của Việt Nam. Từ đó mang lại hiệu quả trong công tác kế toán bán hàng nói riêng và công tác kế toán trong Công ty nói chung, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh. 3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của kế toán bán mặt hàng thuốc trừ sâu tại Công ty Cổ phần quốc tế Hòa Bình Do hạn chế về thời gian và năng lực nghiên cứu, nên đề tại luận văn này tập trung nghiên cứu vào: Sinh viên: Phạm Thu Hà 2 Lớp: SB14D2 Khóa luận tốt nghiệp - GVHD: Th.S Lưu Thị Duyên Tập trung nghiên cứu cơ sở lý luận liên quan đến kế toán tiêu thụ thành phẩm. - Phạm vi nghiên cứu: kế toán tiêu thụ mặt hàng thuốc trừ sâu tại Công ty cổ phần quốc tế Hòa Bình - Thời gian nghiên cứu: Công trình nghiên cứu này thực hiện trên cơ sở khảo sát thực tế tại Công ty Cổ phần quốc tế Hòa Bình từ ngày 13/2/2/012 đến 18/5/2012. Số liệu thu thập trong năm 2011 4. Phương pháp thực hiện việc nghiên cứu kế toán bán mặt hàng thuốc trừ sâu tại Công ty Cổ phần quốc tế Hòa Bình - Phương pháp thu thập dữ liệu: bằng cách phỏng vấn các nhân viên kế toán, thu thập dữ liệu từ các sổ sách, chứng từ, các loại báo cáo của Công ty - Phương pháp phân tích dữ liệu: bằng cách so sánh, đối chiếu với các văn bản, chuẩn mực kế toán hiện hành tại Việt Nam 5. Kết cấu của khóa luận tốt nghiệp về đề tài “Kế toán bán mặt hàng thuốc trừ sâu tại Công ty Cổ phần quốc tế Hòa Bình” Chương 1: Cơ sở lý luận của kế toán tiêu thụ thành phẩm trong các doanh nghiệp sản xuất công nghiệp Chương 2: Thực trạng kế toán tiêu thụ mặt hàng thuốc trừ sâu tại Công ty cổ phần quốc tế Hòa Bình Chương 3: Các kết luận và đề xuất nhằm hoàn thiện kế toán tiêu thụ mặt hàng thuốc trừ sâu tại Công ty cổ phần quốc tế Hòa Bình Sinh viên: Phạm Thu Hà 3 Lớp: SB14D2 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Lưu Thị Duyên CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA KẾ TOÁN TIÊU THỤ THÀNH PHẨM TRONG CÁC DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT CÔNG NGHIỆP 1.1 Một số khái niệm và lý thuyết về kế toán tiêu thụ thành phẩm trong các doanh nghiệp sản xuất công nghiệp 1.1.1 Một số khái niệm cơ bản 1.1.1.1Doanh thu bán hàng Theo chuẩn mực số 14: Doanh thu và Thu nhập khác (Ban hành và công bố theo Quyết định số 149/2001/QĐ-BTC ngày 31 tháng 12 năm 2001 của Bộ trưởng Bộ Tài Chính) thì: - Doanh thu chỉ bao gồm tổng giá trị của các lợi ích kinh tế doanh nghiệp đã thu được hoặc sẽ thu được. Các khoản thu hộ bên thứ ba không phải là nguồn lợi ích kinh tế, không làm tăng vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp sẽ không được coi là doanh thu (Ví dụ: Khi người nhận đại lý thu hộ tiền bán hàng cho đơn vị chủ hàng, thì doanh thu của người nhận đại lý chỉ là tiền hoa hồng được hưởng). Các khoản góp vốn của cổ đông hoặc chủ sở hữu làm tăng vốn chủ sở hữu nhưng không là doanh thu. - Doanh thu bán hàng được ghi nhận chỉ khi đảm bảo là doanh nghiệp nhận được lợi ích kinh tế từ giao dịch. Trường hợp lợi ích kinh tế từ giao dịch bán hàng còn phụ thuộc yếu tố không chắc chắn thì chỉ ghi nhận doanh thu khi yếu tố không chắc chắn này đã xử lý xong (ví dụ, khi doanh nghiệp không chắc chắn là Chính phủ nước sở tại có chấp nhận chuyển tiền bán hàng ở nước ngoài về hay không). Nếu doanh thu đã được ghi nhận trong trường hợp chưa thu được tiền thì khi xác định khoản tiền nợ phải thu này là không thu được thì phải hạch toán vào chi phí sản xuất, kinh doanh trong kỳ mà không được ghi giảm doanh thu. Khi xác định khoản phải thu là không chắc chắn thu được (Nợ phải thu khó đòi) thì phải lập dự phòng nợ phải thu khó đòi mà không ghi giảm doanh thu. Các khoản nợ phải thu khó đòi khi xác định thực sự là không đòi được thì được bù đắp bằng nguồn dự phòng nợ phải thu khó đòi. TK 511: Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ Sinh viên: Phạm Thu Hà 4 Lớp: SB14D2 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Lưu Thị Duyên 1.1.1.2 Các khoản giảm trừ doanh thu Theo chuẩn mực số 14: Doanh thu và Thu nhập khác (Ban hành và công bố theo Quyết định số 149/2001/QĐ-BTC ngày 31 tháng 12 năm 2001 của Bộ trưởng Bộ Tài Chính) thì: - Chiết khấu thương mại: “Chiết khấu thương mại là khoản doanh nghiệp bán giảm giá niêm yết cho khách hàng mua hàng với khối lượng lớn”. - Giảm giá hàng bán: “Giảm giá hàng bán là khoản giảm trừ cho người mua do hàng hóa kém phẩm chất, sai quy cách hoặc lạc hậu thị hiếu”. - Giá trị hàng bán bị trả lại: “Giỏ trị hàng bán bị trả lại là giá trị khối lượng hàng bỏn đó xác định là tiêu thụ bị khách hàng trả lại và từ chối thanh toán”. - Chiết khấu thanh toán: “Chiết khấu thanh toán là khoản tiền người bán giảm tiền cho người mua, do người mua thanh toán tiền mua hàng trước thời hạn thanh toán của hợp đồng”. 1.1.1.3 Giá vốn hàng bán - Giá vốn hàng bán là trị giá thực tế của số sản phẩm hàng hóa, dịch vụ đã được xác định tiêu thụ 1.1.2 Một số lý thuyết về kế toán tiêu thụ thành phẩm trong các doanh nghiệp sản xuất công nghiệp 1.1.2.1 Các phương thức bán hàng Phương thức bán buôn hàng hóa Bán buôn hàng hóa là phương thức bán hàng cho các đơn vị thương mại, các DN sản xuất…để thực hiện bán ra hoặc để gia công chế biến rồi bán ra. Đặc điểm của hàng hóa bán buôn là hàng hóa vẫn nằm trong lĩnh vực lưu thong, chưa đi vào lĩnh vực tiêu dung, do vậy giá trị và giá trị sử dụng của hàng hóa chưa được thực hiện. Hàng hóa thường được bán theo lô hàng hoặc bans với số lượng lớn.  Phương thức bán buôn hàng hóa qua kho: Bán buôn hàng hóa qua kho là phương thức bán buôn hàng hóa mà trong đó hàng bán được xuất ra từ kho bảo quản của DN. Trong phương thức này có hai hình thức + Bán buôn qua kho theo hình thức giao hàng trực tiếp tại kho: Khách hàng cử Sinh viên: Phạm Thu Hà 5 Lớp: SB14D2 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Lưu Thị Duyên người mang giấy ủy nhiệm đến kho của DN trực tiếp nhận hàng và áp tải hàng về. Sau khi giao nhạn hàng hóa, đại diện bên mua ký nhận đã đủ hàng vào chứng từ bán hàng của bên bán đồng thời trả tiền ngay hoặc ký nhận nợ. + Bán buôn qua kho theo hình thức gửi hàng: Bên bán xuất kho gửi hàng cho người mua bằng phương tiện vận tải của mình hoặc thuê ngoài, Chi phí vận chuyển gửi hàng bán có thể do bên mua hay bên bán chịu. Hàng gửi đi bán vẫn thuộc quyền sở hữu của DN đến khi nào bên mua nhận được hàng, chứng từ và đã chấp nhận thanh toán thì quyền sở hữu hàng hóa mới được chuyển giao từ người bán sang người mua.  Phương thức bán buôn hàng hóa vận chuyển thẳng: Là phương thức bán buôn hàng hóa mà trong đó hàng hóa bán ra khi mua về từ nhà cung cấp không đem về nhập kho của DN mà giao bán ngay hoặc chuyển bán ngay cho KH. Phương thức này có thể thực hiện theo 2 hình thức sau: + Bán buôn vận chuyển thẳng theo hình thức giao hàng trực tiếp (hình thức giao tay ba): DNTM bán buôn sau khi nhận hàng từ nhà cung cấp của mình thì giao bán trực tiếp cho KH của mình tại địa điểm do 2 bên thỏa thuận. Sau khi giao hàng hóa cho khách hàng thì đại diện bên mua sẽ ký nhận vào chứng từ bán hàng và quyền sở hữu hàng hóa đã được chuyển giao cho khách hàng, hàng hóa được xác định là tiêu thụ. + Bán buôn vận chuyển thẳng theo hình thức gửi hàng: DNTM sau khi mua hàng, nhận hàng mua, dùng phương tiện vận tải của mình hoặc thuê ngoài để vận chuyển hàng đến giao cho bên mua ở địa điểm đã được thỏa thuận, Hàng hóa chuyển bán trong trường hợp này vẫn thuộc quyền sở hữu của DNTM. Khi nhận được tiền của bên mua thanh toán hoặc giấy báo của bên mua đã nhận được hàng và chấp nhận thanh toán thì hàng hóa được xác định là tiêu thụ. Phương thức bán lẻ hàng hóa Bán lẻ hàng hóa là phương thức bán hàng trực tiếp cho người tiêu dùng hoặc các tổ chức kinh tế hoặc các đơn vị kinh tế tập thể mua về mang tính chất tiêu dùng nội bộ. Bán hàng theo phương thức này có đặc điểm là hàng hóa đã ra khỏi lĩnh vực lưu thong và đi vào lĩnh vực tiêu dùng. Giá trị và giá trị sử dụng của hàng hóa đã Sinh viên: Phạm Thu Hà 6 Lớp: SB14D2 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Lưu Thị Duyên được thực hiện. bán lẻ thường bán đơn chiếc hoặc với số lượng nhỏ. Phương thức bán lẻ thường có các hình thức sau  Hình thức bán lẻ thu tiền tập trung: là hình thức bán hàng mà trong đó việc thu tiền ở người mua và giao hàng cho người mua tách rời nhau. Mỗi quầy hàng có một nhân viên thu tiền làm nhiệm vụ thu tiền của khách rồi viết hóa đơn, tích kê giao cho khách hàng để họ đến nhận hàng ở quầy hàng do mậu dịch viên bán hàng giao. Hết ca hoặc ngày bán hàng thì mậu dịch viên căn cứ vào hóa đơn, tích kê giao hàng cho khách và kết quả kiểm kê hàng tồn quầy, xác định số lượng hàng đã bán trong ngày, tỏng ca là cơ sở cho việc lập báo cáo bán hàng. Nhân viên thu tiền làm giấy nộp tiền và nộp tiền cho thủ quỹ.  Hình thức bán lẻ thu tiền trực tiếp: nhân viên bán hàng trực tiếp thu tiền của khách hàng và giao hàng cho khách. Cuối ngày hoặc ca bán hàng thì mậu dịch viên phải kiểm kê hàng hóa tồn quầy, xác định số lượng hàng đã bán trong ca, trong ngày để lập báo cáo bán hàng đồng thời lập giấy nộp tiền và nộp tiền bán hàng cho thủ quỹ. Phương thức bán đại lý Là phương thức bán hàng mà trong đó DNTM giao hàng cho cơ sở nhận bán đại lý, ký gửi để các cơ sở này trực tiếp bán hàng. Sau khi bán được hàng, cơ sở đại lý thanh toán tiền hàng cho CNTM và được hưởng một khoản tiền gọi là hoa hồng đại lý. Số hàng chuyển giao cho các cơ sở đại lý vẫn thuộc quyền sở hữu của các DNTM, đến khi nào cơ sở đại lý thanh toán tiền bán hàng hoặc chấp nhận thanh toán thì nghiệp vụ bán hàng mới hoàn thành. Phương thức bán hàng trả góp Là phương thức bán hàng thu tiền nhiều lần. Người mua thanh toán lần đầu tại thời điểm mua hàng, số tiền còn lại người mua chấp nhận trả dần ở các kỳ tiếp theo và phải chịu một tỷ lệ lãi suất nhất định. 1.1.2.2 Các phương thức thanh toán Sinh viên: Phạm Thu Hà 7 Lớp: SB14D2 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Lưu Thị Duyên - Phương thức thanh toán trực tiếp: là phương thức thanh toán mà quyền sở hữu về tiền tệ sẽ được chuyển từ người mua sang người bán ngay sau khi quyền sở hữu hàng hóa bị chuyển giao. Thanh toán trực tiếp có thể bằng tiền mặt, ngân phiếu, séc hoặc có thể bằng hàng hóa (nếu bán theo phương thức hàng đổi hàng). Ở hình thức này sự vận động của hàng hóa gắn liền với sự vận động của tiền tệ) - Phương thức thanh toán trả chậm: Là phương thức thanh toán mà quyền sở hữu về tiền tệ sẽ được chuyển giao sau một khoảng thời gian so với thời điểm chuyển quyền sở hữu về hàng hóa, do đó hình thành khoản công nợ phải thu của khách hàng. Nợ phải thu cần được hạch toán quản lý chi tiết cho từng đối tượng phải thu và ghi chép theo từng lần thanh toán. Ở hình thức này sự vận động của hàng hóa và tiền tệ có khoảng cách về không gian và thời gian. 1.2 Nội dung kế toán tiêu thụ thành phẩm tại các doanh nghiệp sản xuất công nghiệp 1.2.1 Kế toán tiêu thụ thành phẩm chịu sự chi phối bởi các chuẩn mực kế toán Việt Nam số 01, 02, 14 1.2.1.1 Chuẩn mực số 01: Chuẩn mực chung (Ban hành và công bố theo Quyết định số165/2002/QĐ-BTC ngày 31 tháng 12 năm 2002 của Bộ trưởng Bộ Tài Chính) Việc ghi nhận doanh thu và chi phí phải phù hợp với nhau. Khi ghi nhận một khoản doanh thu thì phải ghi nhận một khoản chi phí tương ứng có liên quan đến việc tạo ra doanh thu đó. Chi phí tương ứng với doanh thu gồm chi phí của kỳ tạo ra doanh thu và chi phí của các kỳ trước hoặc chi phí phải trả nhưng liên quan đến doanh thu của kỳ đó. Kế toán bán hàng phải tuân thủ các nguyên tắc sau: Cơ sở dồn tích: doanh nghiệp phải ghi nhận doanh thu ngay khi hàng xác định đã bán, không căn cứ vào thời điểm thực tế doanh nghiệp thu được tiền hay các khoản tương đương tiền. Giá gốc: trị giá vốn hàng bán phải được xác định tính theo số tiền hoặc tương đương tiền mà doanh nghiệp đã trả hoặc phải trả (đối với hàng hóa mua bằng tiền) hoặc giá trị hợp lý của hàng hóa (đối với hàng hóa trao đổi) đến khi hàng hóa đó ở trạng thái sẵn sàng sử dụng để bán. Sinh viên: Phạm Thu Hà 8 Lớp: SB14D2 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Lưu Thị Duyên Phù hợp: việc ghi nhận doanh thu và chi phí phải phù hợp với nhau. Khi ghi nhận một khoản doanh thu thì phải ghi nhận một khoản chi phí tương ứng có liên quan đến việc tạo ra doanh thu đó. Nhất quán: doanh nghiệp phải nhất quán trong việc sử dụng hình thức ghi sổ kế toán, tính đơn giá hàng xuất kho từ đó tính giá vốn hàng bán. Thận trọng: Yêu cầu kế toán bán hàng phải lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho, nợ phải thu khú đũi…. Các yêu cầu cơ bản đối với kế toán: Kế toán bán hàng phải tuân theo nguyên tắc trung thực, khách quan, kịp thời, đầy đủ và có thể so sánh. 1.2.1.2 Chuẩn mực số 02: Hàng Tồn Kho (Ban hành và công bố theo Quyết định số 149/2001/QĐ-BTC ngày 31 tháng 12 năm 2001 của Bộ trưởng Bộ Tài Chính)  Nguyên tắc xác định giá vốn hàng bán: Trị giá hàng bán được tính theo giá gốc theo nguyên tắc giỏ phớ. Trường hợp giá trị thuần có thể thực hiện được thấp hơn giá gốc thì phải tính theo giá trị thuần có thể thực hiện được. Trong đó, giá gốc hàng bán bao gồm: Chi phí mua, chi phí chế biến, và các chi phí liên quan trực tiếp khác phát sinh để có được hàng hóa ở địa điểm và trạng thái sẵn sàng sử dụng để bán.  Xác định giá vốn hàng bán Giỏ vốn hàng bán được xác định theo một trong các phương pháp:  Phương pháp bình quân gia quyền: Giá mua thực tế của hàng xuất Số lượng hàng = xuất kho Đơn giá bình x quân kho Theo phương pháp này, giá vốn của từng loại hàng bán được tính theo giá trị trung bình của từng loại hàng tồn kho tương tự đầu kỳ và giá trị từng loại hàng đó được mua trong kỳ. Giá trị trung bình có thể được tính theo thời kỳ hoặc vào mỗi lần nhập một lô hàng về hoặc giá trung bình kỳ trước.  Phương pháp bình quân cả kỳ dự trữ: Z sản xuât thực tế Giá đơn vị bình Sinh viên: Phạm Thu Hà + Z sản xuât thực tế thành phẩm tồn đầu kỳ thành phẩm nhập trong kỳ 9 Lớp: SB14D2 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Lưu Thị Duyên quân cả kỳ dự = trữ Số lượng thành phẩm + Số lượng thành phẩm tồn đầu kỳ nhập kho trong kỳ Phương pháp này đơn giản, dễ thực hiện song độ chính xác không cao do những biến động của giá cả hàng hóa trên thị trường, đồng thời việc tính giá đơn vị của hàng xuất bán cũng như giá trị hàng bán được tính vào cuối kỳ nờn khụng cập nhật trị giá vốn hàng bán ra, có thể gây ảnh hưởng đến tốc độ công tác quyết toán trong DN Ưu điểm: Tính toán đơn giản, dễ làm Nhược điểm: Độ chính xác không cao, công việc tính toán dồn vào cuối tháng gây ảnh hưởng đến công tác quyết toán nói chung.  Phương pháp bình quân sau mỗi lần nhập (phương pháp bình quân liên hoàn): Theo phương pháp này thì sau mỗi lần nhập kho giá thực tế của hàng hoá được tính lại để làm cơ sở tính giá hàng xuất kho cho lần nhập sau đó. Trị giá hàng xuất kho tiêu thụ được tính trên cơ sở giá bình quân sau mỗi lần nhập tại thời điểm tương ứng. Giá đơn vị = bình quân sau mỗi = Giá trị thành phẩm tồn kho sau mỗi lần nhập Lượng thành phẩm tồn sau mỗi lần nhập lần nhập Ưu điểm: Xác định được ngay giá vốn bất kỳ tại thời điểm nào đó trong kỳ mà không phải đợi đến cuối tháng, chính xác, cập nhật. Nhược điểm: Tính toán phức tạp. - Phương pháp bình quân cuối kỳ trước Giá đơn vị bình quân cuối kỳ trước = = Z sản xuất thực tế thành phẩm tồn đầu kỳ Số lượng thành phẩm tồn kho đầu kỳ Ưu điểm: Đơn giản, phản ánh được tình hình biến động trong kỳ. Nhược điểm: Độ chính xác không cao vì không tính đến sự biến động của giá cả.  Phương pháp nhập trước – xuất trước ( FIFO): Sinh viên: Phạm Thu Hà 10 Lớp: SB14D2 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Lưu Thị Duyên Theo phương pháp này, giả thiết rằng số thành phẩm nào nhập trước thì xuất trước, xuất hết số nhập trước rồi mới đến số nhập sau theo giá thực tế của từng số hàng xuất. Nói cách khác, cơ sở của phương pháp này là giá thực tế của thành phẩm mua trước sẽ được dùng làm giá để tính giá thực tế thành phẩm xuất trước. Do vậy, giá trị thành phẩm tồn kho cuối kỳ sẽ là giá thực tế của số thành phẩm mua vào sau cùng. Ưu điểm: + Kịp thời, chính xác, công việc không bị dồn vào cuối tháng + Thích hợp trong trường hợp giá cả ổn định ít biến động hoặc có xu hướng giảm. Nhược điểm: Phương pháp này trên thực tế ít dùng.  Phương pháp nhập sau - xuất trước ( LIFO) Theo phương pháp này, giả thiết rằng số thành phẩm nào nhập sau thì xuất trước, xuất hết số nhập sau rồi mới đến số nhập trước theo giá thực tế của từng số hàng xuất. Có nghĩa là giá thực tế của thành phẩm mua sau sẽ được dùng làm giá để tính giá thực tế vật liệu xuất trước và do vậy giá thành phẩm tồn kho cuối kỳ sẽ là giá thực tế của thành phẩm mua trước đó. Ưu điểm: + Đảm bảo tính chính xác của giá hàng bán, đòi hỏi quản lý, tổ chức chặt chẽ và hạch toán chi tiết hàng tồn kho. + Thích hợp trong trường hợp có lạm phát Nhược điểm: Tính toán phức tạp  Phương pháp giá đích danh (Phương pháp trực tiếp) Theo phương pháp này, thành phẩm được xác định giá trị theo từng lô và giữ nguyên từ lúc nhập vào cho đến lúc xuất (trừ trường hợp có sự điều chỉnh giá). Khi xuất thành phẩm nào sẽ tính theo giá thực tế của thành phẩm đó. Do vậy, phương pháp này còn có tên là phương pháp đặc điểm riêng hay phương pháp giá thực tế đích danh. Ưu điểm: Phản ánh chính xác từng lô hàng xuất, đảm bảo cân đối giữa giá trị và hiện vật. Nhược điểm: Thường sử dụng với các loại hàng hoá có giá trị cao và có tính tách biệt. Sinh viên: Phạm Thu Hà 11 Lớp: SB14D2 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Lưu Thị Duyên Mỗi phương pháp đánh giá thành phẩm có ưu, nhược điểm và phạm vi áp dụng riêng. Kế toán phải xác định phương pháp đánh giá thành phẩm nhất định nhằm đảm bảo tính nhất quán trong niên độ kế toán, nếu có thay đổi gì thì phải giải thích rõ ràng trên thuyết minh báo cáo tài chính của doanh nghiệp. 1.2.1.3 Chuẩn mực số 14: Doanh thu và Thu nhập khác (Ban hành và công bố theo Quyết định số 149/2001/QĐ-BTC ngày 31 tháng 12 năm 2001 của Bộ trưởng Bộ Tài Chính) Doanh thu chỉ bao gồm tổng giá trị của các lợi ích kinh tế doanh nghiệp đã thu được hoặc sẽ thu được. Các khoản thu hộ bên thứ ba không phải là nguồn lợi ích kinh tế, không làm tăng vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp sẽ không được coi là doanh thu (Ví dụ: Khi người nhận đại lý thu hộ tiền bán hàng cho đơn vị chủ hàng, thì doanh thu của người nhận đại lý chỉ là tiền hoa hồng được hưởng). Các khoản góp vốn của cổ đông hoặc chủ sở hữu làm tăng vốn chủ sở hữu nhưng không là doanh thu. Doanh thu được xác định theo giá trị hợp lý của các khoản đã thu hoặc sẽ thu được. Doanh thu phát sinh từ giao dịch được xác định bởi thỏa thuận giữa doanh nghiệp với bên mua hoặc bên sử dụng tài sản. Nó được xác định bằng giá trị hợp lý của các khoản đã thu được hoặc sẽ thu được sau khi trừ (-) các khoản chiết khấu thương mại, chiết khấu thanh toán, giảm giá hàng bán và giá trị hàng bán bị trả lại. - Doanh thu bán hàng được ghi nhận khi đồng thời thỏa mãn tất cả 5 điều kiện sau:  DN đã chuyển giao phần lớn rủi ro và lợi ích gắn liền với quyền sở hữu sản phẩm hoặc hàng hóa cho người mua  DN không còn nắm giữ quyền quản lý hàng hóa như người sở hữu hàng hoặc quyền kiểm soát hàng hóa.  Doanh thu được xác định tương đối chắc chắn  DN đã thu được hoặc sẽ thu được lợi ích kinh tế từ giao dịch bán hàng  Xác định được các khoản chi phí liên quan đến giao dịch bán hàng. 1.2.2 Kế toán tiêu thụ thành phẩm theo chế độ kế toán hiện hành (Quyết định 15/2006/QĐBTC) Sinh viên: Phạm Thu Hà 12 Lớp: SB14D2 Khóa luận tốt nghiệp 1.2.2.1 GVHD: Th.S Lưu Thị Duyên Chứng từ sử dụng Theo chế độ kế toán ban hành theo quyết định số 15/2006/QĐ-BTC ngày 20/3/2006 của Bộ trưởng Bộ Tài chính, các chứng từ kế toán bán hàng và xác định kết quả kinh doanh bao gồm: + Hợp đồng cung cấp, hợp đồng mua bán, giấy cam kết + Hoá đơn GTGT (mẫu 01- GTKT): áp dụng cho các doanh nghiệp thuộc đối tượng tính thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ(từ ngày 01/04/2011 bắt đầu dùng hoá đơn tự in) + Hoá đơn bán hàng (mẫu 02- GTKT): áp dụng cho các doanh nghiệp thuộc đối tượng tính thuế GTGT theo phương pháp trực tiếp(từ ngày 01/04/2011 bắt đầu dùng hoá đơn tự in) + Hoá đơn bán hàng kiêm phiếu xuất kho: áp dụng cho các doanh nghiệp không thuộc đối tượng nộp thuế GTGT (từ ngày 01/04/2011 bắt đầu dùng hoá đơn tự in) + Hoá đơn thu mua hàng nông sản + Phiếu xuất kho hàng gửi bán đại lý + Hoá đơn bán lẻ do các cơ quan thuế lập cho các cơ quan kinh doanh không thường xuyên và các khách hàng lẻ Nếu trong chế độ chứng từ không có loại chứng từ bán hàng cho hoạt động đặc thù của doanh nghiệp thì doanh nghiệp phải tự thiết kế nhưng đảm bảo đầy đủ nội dung của chứng từ kế toán. +Hóa đơn GTGT,Chứng từ thanh toán +Bảng kê thanh toán hàng gửi bán đại lý… 1.2.2.2 Các Tài khoản sử dụng TK 511 – Doanh thu bán hàng và cung câp dịch vụ :  Kết cấu tài khoản Bên Nợ: - Thuế Xuất khẩu, Thuế Tiêu thụ đặc biệt của số hàng tiêu thụ - Thuế GTGT phải nộp của DN tính thuế GTGT theo phương pháp trực tiếp - Doanh thu hàng bán bị trả lại kết chuyển cuối kỳ - Khoản chiết khấu thương mại kết chuyển cuối kỳ Sinh viên: Phạm Thu Hà 13 Lớp: SB14D2 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Lưu Thị Duyên - Giảm giá hàng bán kết chuyển cuối kỳ - Cuối kỳ kết chuyển doanh thu thuần vào Tài khoản xác định kết quả Bên Có: Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ thực tế phát sinh trong kỳ  TK 511 cuối kỳ không có số dư và được chi tiết thành 5 tiểu khoản: - TK 5111– Doanh thu bán hàng hoá - TK 5112 – Doanh thu bán thành phẩm - TK 5113 – Doanh thu cung cấp dịch vụ - TK 5114 – Doanh thu trợ cấp, trợ giá - TK 5117 – Doanh thu kinh doanh bất động sản đầu tư. - TK 5118 – Doanh thu khác TK 512 – Doanh thu nội bộ :  Tài khoản này dùng để phản ánh doanh thu của số sản phẩm hàng hoá, lao vụ dịch vụ tiêu thụ trong nội bộ DN. Doanh thu tiêu thụ nội bộ là số tiền thu được do bán hàng hóa, sản phẩm, cung cấp dịch vụ tiêu thụ nội bộ giữa các đơn vị trực thuộc trong cùng một công ty, tổng công ty.  Kết cấu TK 512 tương tự TK 511  Tài khoản này cuối kỳ không có số dư và được chi tiết thành 3 tài khoản cấp 2: - TK 5121 – Doanh thu bán hàng hoá - TK 5122 – Doanh thu bán thành phẩm - TK 5123 – Doanh thu cung cấp dịch vụ TK 521- Chiết khấu thương mại.  Kết cấu TK Bên Nợ: Chiết khấu thương mại phát sinh trong kỳ Bên Có: Cuối kỳ kết chuyển toàn bộ số chiết khấu thương mại phát sinh trong kỳ sang TK 511 để xác định doanh thu thuần  Tài khoản 521 cuối kỳ không có số dư. TK 521 có 3 TK cấp 2: - TK 5211- chiết khấu hàng hoá: Phản ánh toàn bộ số tiền chiết khấu thương mại( tính trên số lượng hàng hoá đã bán ra) cho người mua hàng hoá. Sinh viên: Phạm Thu Hà 14 Lớp: SB14D2 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Lưu Thị Duyên - TK 5212- Chiết khấu thành phẩm: Phản ánh số tiền chiết khấu thương mại tính trên số lượng sản phẩm đã bán ra cho người mua thành phẩm. - TK 5213- Chiết khấu dịch vụ: Phản ánh toàn bộ số tiền chiết khấu thương mại tính trên số lượng dịch vụ đã cung cấp cho người mua dịch vụ TK 531 – Hàng bán bị trả lại  TK này sử dụng để phản ánh doanh thu của số hàng hóa đã được xác định là tiêu thụ nhưng vì lý do về chất lượng, mẫu mã, quy cách mà người mua từ chối thanh toán và trả lại cho DN  Kết cấu Tài khoản Bên Nợ: Phản ánh doanh thu của số hàng hóa đã xác định tiêu thụ bị khách hàng trả lại Bên Có: Cuối kỳ kết chuyển doanh thu của sản phẩm hàng hóa đã bị tiêu thụ bị trả lại trong kỳ để xác định doanh thu thuần  TK này không có số dư cuối kỳ TK 532 – Giảm giá hàng bán  TK này được sử dụng để phản ánh khoản người bán giảm trừ cho người mua do hàng hóa kém phẩm chất, sai quy cách hoặc quá thời hạn ghi trên hợp đồng hoặc hàng hóa bị lạc hậu thị hiếu  Kết cấu TK Bên Nợ: Phản ánh khoản giảm giá hầng bán Bên Có: cuối kỳ kết chuyển toàn bộ số giảm giá hầng bán phát sinh trong kỳ sang TK 511 để xác định doanh thu thuần TK 632 – Giá vốn hàng bán  Kết cấu tài khoản Bên Nợ - Phản ánh giá vống của sản phẩm hàng hóa tiêu thụ trong kỳ - Số trích lập chênh lệch dự phòng giảm giá hàng tồn kho năm nay cao hơn năm trước - Trị giá sản phẩm, hàng hóa hao hụt, mất mát sau khi trừ phần cá nhân bồi thường Sinh viên: Phạm Thu Hà 15 Lớp: SB14D2 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Lưu Thị Duyên Bên Có - Kết chuyển trị giá vốn của sản phẩm, hàng hóa…đã tiêu thụ trong kỳ để xác định kết quả - Hoàn nhập chênh lệch dự phòng giảm giá hàng tồn kho của năm nay thấp hơn năm trước - Trị giá vốn của số hàng hóa, sản phẩm…đã tiêu thụ trogn kỳ nhưng bị khách hàng trả lại TK 131 – Phải thu khách hàng  Tài khoản này được sử dụng để phản ánh số tiền mà DN phải thu của khách hàng do bán chịu hàng hóa, sản phẩm, dịch vụ và tình hình thanh toán các khoản phải thu của khách hàng. Ngoài ra TK 131 còn được sử dụng để phản ánh số tiền DN nhận ứng trước của KH.  Kết cấu TK Bên Nợ: - Số tiền phải thu của Khách hàng về việc bán chịu hàng hóa, sản phẩm trong kỳ - Số tiền thừa trả lại khách hàng Bên Có - Số tiền khách hàng trả nợ - Số tiền DN nhận ứng trước cho KH - Khoản giảm trừ tiền hàng cho khách sau khi đã xác định tiêu thụ - Chiết khấu thanh toán dành cho người mua. Số dư nợ: Số tiền còn phải thu của KH Số dư có (nếu có): - Số tiền nhận ứng trước của KH - Số tiền đã thu nhiều hơn số phải thu TK 157 – Hàng gửi bán  Tài khoản này được sử dụng để phản ánh trị giá của hàng hóa gửi cho người mua, giao cho các cơ sở đại lý chưa được chấp nhận thanh toán  Kết cấu tài khoản Sinh viên: Phạm Thu Hà 16 Lớp: SB14D2 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Lưu Thị Duyên Bên Nợ: Phản ánh trị giá thực tế của hàng hóa gửi bán hoặc gửi đại lý bán Bên Có: Phản ánh trijg ía thực tế của số hàng gửi cho người mua, cho các cơ sở đại lý đã xác định tiêu thụ Số dư nợ: - Phản ánh trị giá hàng hóa gửi bán chưa được xác định tiêu thụ đến cuối kỳ. - Phản ánh trị giá hàng bị trả lại nhờ bên mua giữ hộ TK 155 – Thành phẩm  Tài khoản này để phản ánh giá trị hiện có và tình hình biến động của các loại thành phẩm của doanh nghiệp.  Kết cấu tài khoản Bên Nợ: - Trị giá của thành phẩm nhập kho; - Trị giá của thành phẩm thừa khi kiểm kê; - Kết chuyển giá trị thực tế của thành phẩm tồn kho cuối kỳ (Trường hợp doanh nghiệp hạch toán hàng tồn kho theo phương pháp kiểm kê định kỳ). Bên Có: - Trị giá thực tế của thành phẩm xuất kho; - Trị giá của thành phẩm thiếu hụt khi kiểm kê; - Kết chuyển trị giá thực tế của thành phẩm tồn kho đầu kỳ (Trường hợp doanh nghiệp hạch toán hàng tồn kho theo phương pháp kiểm kê định kỳ). Số dư bên Nợ: Trị giá thực tế của thành phẩm tồn kho cuối kỳ. 1.2.2.3 Trình tự hạch toán Kế toán nghiệp vụ bán hàng ở DNTM kế toán hàng tồn kho theo phương háp kê khai thường xuyên và tính thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ thuế Kế toán bán buôn qua kho Kế toán nghiệp vụ bán buôn theo hình thức giao hàng trực tiếp cho khách hàng - Kế toán ghi nhận doanh thu của hàng bán: Nợ TK 111, 112, 131: Gía bán đã có VAT Sinh viên: Phạm Thu Hà 17 Lớp: SB14D2 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Lưu Thị Duyên Có TK 511: Doanh thu bán hàng chưa có VAT Có TK 3331: Thuế GTGT đầu ra - Căn cứ vào phiếu xuất kho, kế toán phản ánh giá vốn hàng bán Nợ TK 632: Có TK 156: Trị giá hàng hóa thực tế xuất kho - Nếu hàng hóa bán có bao bì đi kèm tính giá riêng, kế toán ghi: Nợ TK 111,112,131: Giá bán bao bì đã có thuế Có TK 153: trị giá thực tế xuất kho của bao bì Có TK 3331: Thuế GTGT đầu ra của bao bì Các trường hợp phát sinh trong quá trình bán buôn - Kế toán chiết khấu thương mại Trường hợp bán buôn có phát sinh chiết khấu thương mại giảm trừ cho KH, ghi: Nợ TK 521: Số chiết khấu thương mại cho KH Nợ TK 3331: số thuế GTGT đầu ra tính trên khoản CKTM Có TK 111,112,131:Tổng số tiền phải giảm trừ - Kế toán giảm giá hàng bán Trường hợp phát sinh giảm giá hàng bán, ghi Nợ TK 532: Khoản giảm giá cho KH theo giá chưa thuế GTGT Nợ TK 3331: Thuế GTGT đầu ra tính trên khỏan giảm giá Có TK 111,112,131: Khoản giảm giá theo giá thanh toán - Kế toán hàng bán bị trả lại Trường hợp bán buôn có phát sinh hàng bán bị trả lại Kế toán phản ánh doanh thu hàng bán bị trả lại Nợ TK 531: Doanh thu hàng bán bị trả lại chưa thuế GTGT NỢ TK 3331: Thuế GTGT của hàng bị trả lại Có TK 111,112,131: Giá thanh toán của hàng bị trả lại Đơn vị chuyển hàng về nhập kho Nợ TK 156: Giá vốn của số hàng bị trả lại Có TK 632: Nếu đơn vị chưa chuyển về nhập kho Sinh viên: Phạm Thu Hà 18 Lớp: SB14D2 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Lưu Thị Duyên Nợ TK 157 Có TK 632: Giá vốn của số hàng bị trả lại Cuối kỳ kết chuyển khoản giảm giá hàng bán, hàng bán bị trả lại và chiết khấu thương mại để xác định doanh thu thuần: Nợ TK 511: Giảm trừ Doanh thu Có TK 531: Doanh thu hàng bán bị trả lại Có TK 532: Giảm giá hàng bán Có TK 521: Chiết khấu thương mại dành cho KH 1.2.2.4 Sổ kế toán Công tác kế toán trong một đơn vị hạch toán, đặc biệt là trong các doanh nghiệp, thường nhiều và phức tạp không chỉ thể hiện ở số lượng các phần hành, mà còn ở mỗi phần hành kế toán cần thực hiện. Để đảm bảo việc ghi chép dễ dàng đơn vị cần phải có một hệ thống sổ sách kế toán phù hợp với đặc điểm kinh doanh của doanh nghiệp mình. Việc ghi chép vào sổ sách kế toán là công việc có khối lượng lớn, thường xuyên, diễn ra hàng ngày. Vì vậy, cần phải tổ chức sổ sách một cách khoa học, chặt chẽ. Có như vậy mới đảm bảo cung cấp thông tin đầy đủ cho nhà quản lý cũng như các đối tượng liên quan khác. Trên thực tế, doanh nghiệp có thể lựa chọn một trong bốn hình thức sổ kế toán sau: • Hình thức Nhật ký – sổ cái: Theo hình thức này, các nghiệp vụ kinh tế phát sinh được phản ánh vào một quyển sổ duy nhất gọi là Nhật ký - Sổ cái. Sổ này là sổ hạch toán tổng hợp duy nhất, trong đó kết hợp phản ánh theo thời gian và theo hệ thống. áp dụng với các doanh nghiệp có quy mô nhỏ, khối lượng nghiệp vụ phát sinh ít, doanh nghiệp sử dụng ít tài khoản. • Hình thức Nhật ký chung: Là hình thức phản ánh các nghiệp vụ kinh tế phát sinh theo thứ tự thời gian vào một quyển sổ gọi là sổ Nhật ký chung. Hình thức này áp dụng với mọi loại hình doanh nghiệp đặc biệt là doanh nghiệp vừa và nhỏ, doanh nghiệp áp dụng kế toán máy. Các sổ thường dùng: + Sổ Nhật ký chung, Sổ nhật ký chuyên dùng + Sổ cái, Sổ kế toán chi tiết Sinh viên: Phạm Thu Hà 19 Lớp: SB14D2 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Lưu Thị Duyên • Hình thức Nhật ký chứng từ: Hình thức này thích hợp với doanh nghiệp lớn, số lượng nghiệp vụ nhiều và điều kiện kế toán thủ công, dễ chuyên môn hoá cán bộ kế toán. Tuy nhiên, phải đòi hỏi trình độ kế toán phải cao, mặt khác không phù hợp với kế toán máy. Sổ sách trong hình thức này gồm: + Sổ nhật ký – chứng từ + Sổ cái + Bảng kê, bảng phân bổ + Sổ chi tiết • Hình thức Chứng từ – ghi sổ: Hình thức này thích hợp cho mọi loại hình đơn vị, thuận tiện cho việc áp dụng kế toán máy. Tuy nhiên, việc ghi chép bị trùng lặp nhiều lần nên việc lập báo cáo dễ bị chậm trễ nhất là trong điều kiện thủ công. Hình thức này gồm các sổ sách sau: + Chứng từ ghi sổ + Sổ đăng ký chứng từ ghi sổ + Sổ cái + Các sổ và thẻ hạch toán chi tiết. • Hình thức kế toán máy: Hiện nay hình thức kế toán này đang được áp dụng phổ biến ở hầu hết các doanh nghiệp. Quy trình kế toán này đơn giản và đạt được hiệu quả cao. Sinh viên: Phạm Thu Hà 20 Lớp: SB14D2
- Xem thêm -