Tài liệu Hoàn thiện kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Công ty TNHH Thiết kế và Thương mại Sao Đỏ

  • Số trang: 108 |
  • Loại file: DOC |
  • Lượt xem: 5 |
  • Lượt tải: 0
kenhht

Tham gia: 06/11/2018

Mô tả:

Hoàn thiện kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Công ty TNHH Thiết kế và Thương mại Sao Đỏ
Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội -1- Khoa kinh tếế Lời mở đầu Trong nền kinh tế thị trường luôn diễn ra sự cạnh tranh gay gắt đòi hỏi các doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển phải quan tâm đến công tác quản lý tài chính của doanh nghiệp. Đặc biệt là đối với các doanh nghiệp sản xuất phải biết hạch toán sao cho có thể tự trang trải các khoản chi phí và có lợi nhuận như mong muốn. Vì vậy bất cứ một đơn vị kinh tế nào dù lớn hay nhỏ đều phải tìm ra cho mình một hướng đi đúng đắn, phù hợp với nền kinh tế hiện nay, phải tính toán suy nghĩ tìm ra biện pháp tối ưu nhất trong công tác tổ chức sản xuất – kinh doanh, phải lấy thu nhập về tiêu thụ sản phẩm bù đắp mọi chi phí cho sản xuất. Một vấn đề đặt ra cho tất cả các nhà kinh doanh là làm thế nào để bỏ chi phí ra cho sản xuất sản phẩm là thấp nhất mà lợi nhuận thu về là cao nhất. Đây là một vấn đề rất phức tạp trong công tác hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành. Muốn vậy, các nhà quản trị doanh nghiệp cần có những thông tin đầy đủ chính xác và kịp thời về chi phí sản xuất để xác định được giá thành sản phẩm. Trên cơ sở đó, xác định giá bán hợp lý, cơ cấu lại sản phẩm tối ưu nhằm tận dụng tối đa khả năng sản xuất để thu về lợi nhuận là cao nhất. Đối với công ty TNHH Thiết kế và Thương mại Sao Đỏ cũng vậy, việc tính đúng, tính đủ chi phí sản xuất vào giá thành sản phẩm có ý nghĩa quan trọng trong việc thực hiện mục tiêu “ Nâng cao chất lượng sản phẩm đồng thời cũng hạ thấp được giá thành sản phẩm”. Cùng với kiến thức em đã tổng hợp và tích luỹ về chuyên nghành kế toán trong thời gian học tập ở trường, kết hợp với quá trình tìm hiểu thực tế trong thời gian thực tập tai công ty TNHH Thiết kế và Thương mại Sao Đỏ, em nhận thấy công tác kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm giữ một vai trò hết sức quan trọng trong các doanh nghiệp sản xuất hiện nay. Đây cũng là một vấn đề đang được các doanh nghiệp quan tâm, do đó em lựa chọn đề tài: “Hoàn thiện kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Công ty TNHH Thiết kế và Thương mại Sao Đỏ” cho bài chuyên đề tốt nghiệp của mình. Vũ Thi Ngọc, Lớp TCĐH KT2 – K1 nghiệp Chuyên đềề tốốt Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội -2- Khoa Kinh Tếế * Mục đích của việc nghiên cứu đề tài: - Khái quát chung về công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành tại doanh nghiệp sản xuất. - Nghiên cứu thực trạng tổ chức công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Công ty TNHH Thiết kế và Thương mại Sao Đỏ. - Đưa ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Công ty TNHH Thiết kế và Thương mại Sao Đỏ. * Phạm vi và phương pháp nghiên cứu của đề tài: + Phạm vi: Do thời gian đi thực tế chưa nhiều nên em đã chọn sản phẩm sản xuất nhôm thanh của công ty là đối tượng tính giá thành.Sản phẩm nhôm của công ty được sản xuất trên dây truyền công nghệ hiện đại và rất phức tạp. Sản phẩm này được tổ chức sản xuất hàng loạt kết hợp cùng với đơn đặt hàng của công ty. + Phương pháp nghiên cứu : Đối với thu thập tài liệu: được thu thập từ tài liệu đã công bố, sưu tầm các nguồn thư viện ở trường, các hiệu sách. Internet…ví dụ như tài liệu của trường ĐH Kinh tế quốc dân, Học viện tài chính và các tài liệu khác có liên quan. Đối với thu thập để đánh giá thực trạng tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại công ty được thu thập bằng phương pháp : Điều tra thống kê trên phòng kế toán, tham gia ý kiến của những người có liên quan và qua quan sát tìm hiểu thực tế. Các phương pháp thu thập thông tin : + Phương pháp chứng từ: là phương pháp xác định và kiểm tra sự hình thành các nghiệp vụ kinh tế phát sinh cụ thể. Lớp TCĐH KT2 - K1 Chuyên đếề tốết nghiệp Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội -3- Khoa Kinh Tếế + Phương pháp kiểm kê: là phương pháp xác định số hiện có của các loại tài sản nhằm làm cho số liệu kế toán phản ánh đúng thực trạng hoạt động sản xuất kinh doanh và tình hình tài sản của đơn vị. + Phương pháp tài khoản: là phương pháp phân loại và hệ thống hoá các nghiệp vụ kinh tế phát sinh nhằm ghi chép và tập hợp các chi phí sản xuất phát sinh phục vụ cho việc tính giá thành của đơn vị. + Phương pháp tổng hợp và cân đối kế toán: là phương pháp khái quát tình hình và kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong từng thời kỳ nhất định bằng cách lập Báo cáo tài chính tổng hợp. * Bố cục của chuyên đề Ngoài lời mở đầu, chuyên đề bao gồm có 3 chương: Chương 1: Lý luận chung về công tác tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp sản xuất. Chương 2: Thực trạng công tác kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Công ty TNHH Thiết kế và Thương mại Sao Đỏ. Chương 3: Một số ý kiến đóng góp nhằm hoàn thiện công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Công ty TNHH Thiết kế và Thương mại Sao Đỏ. Mặc dù đã cố gắng tìm hiểu và nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của Cô giáo hướng dẫn cũng như các cô, các bác trong phòng tài chính kế toán của Công ty nhưng với trình độ lý luận và thời gian tiếp cận thực tế còn hạn chế nên bài chuyên đề của em không tránh khỏi những thiếu sót. Vì vậy, em rất mong nhận được ý kiến đóng góp của Cô giáo để bài viết của em được hoàn thiện hơn. Em xin chân thành cảm ơn! Lớp TCĐH KT2 - K1 Chuyên đếề tốết nghiệp Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội Lớp TCĐH KT2 - K1 -4- Khoa Kinh Tếế Chuyên đếề tốết nghiệp Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội -5- Khoa Kinh Tếế Chương 1 Lý luận chung về kế toán tập hợp chi phí và tính giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp sản xuất 1.1. Sự cần thiết phải tổ chức kế toán tập hợp chi phí và tính giá thành sản phẩm 1.1.1. Những tác động của nền kinh tế thị trường đến kế toán trong doanh nghiệp. Trong những năm gần đây, dưới sự lãnh đạo của Đảng - Nhà nước, đất nước ta đã và đang tiến hành công cuộc cải cách nền kinh tế theo định hướng XHCN và đã thu được một số thành tựu quan trọng bước đầu. Đời sống xã hội từng bước được cải thiện, nhu cầu của con người và xã hội ngày càng cao và đa dạng. Để đáp ứng được nhu cầu đó của xã hội, sản xuất kinh doanh phải không ngừng mở rộng với sự phát triển của các thành phần kinh tế, các phương thức hoạt động khác nhau. Như chúng ta đã biết, nền kinh tế nước ta đã và đang phát triển theo cơ chế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Đó là nền kinh tế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước. Cơ chế thị truờng là thiết chế kinh tế chi phối ý chí, hành động của người sản xuất và người tiêu dùng,người bán hàng và người mua hàng thông qua thị trường và giá cả. Trong cơ chế thị trường, các đơn vị sản xuất kinh doanh được tự do tác động lẫn nhau trên thị trường. Đơn vị này có thể mua sản phẩm, dịch vụ từ đơn vị khác. Trong một thị trường các giao dịch có thể tiến hành trao đổi thông qua hiện vật hoặc bằng tiền. Các doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển thì phải giải quyết được ba vấn đề cơ bản sau : Sản xuất cái gì ? Sản xuất như thế nào? Sản xuất cho ai? Đây chính là tổng thể các nhân tố, quan hệ, môi trường, động lực và quy luật chi phối sự vận động của thị trường. Lớp TCĐH KT2 - K1 Chuyên đếề tốết nghiệp Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội -6- Khoa Kinh Tếế Có hàng loạt các quy luật kinh tế tác động trong nền kinh tế thị trường nhưng phổ biến nhất vẫn là quy luật cung – cầu, quy luật giá trị, quy luật cạnh tranh. Những quy luật kinh tế thị trường tồn tại một cách khách quan và chỉ phát huy tác dụng khi có sự tác động của con người. Ưu điểm nổi bật của nền kinh tế thị trường là có tính năng động, khả năng thích nghi nhanh chóng, nó tạo điều kiện vật chất để thoả mãn ngày càng tốt hơn nhu cầu vật chất văn hoá và sự phát triển toàn diện, mặt khác nó kích áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật tăng năng suất lao động, nâng cao trình độ xã hội hoá sản xuất. Tuy nhiên, nền kinh tế thị trường cũng có những hạn chế mà bản thân nó không tự giải quyết được như : khủng hoảng, thất nghiệp, lạm phát, phân hoá giàu nghèo, ô nhiễm môi trường... Nhận thức đúng đắn kinh tế thị trường và sự vận động khách quan của các quy luật kinh tế thị trường sẽ giúp các doanh ngiệp tổ chức tốt công tác hạch toán nói chung và kế toán tập hợp chi phí, giá thành nói riêng. 1.1.2. Vai trò của kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành trong doanh nghiệp sản xuất hiện nay. Hạch toán kinh tế thúc đẩy tiết kiệm thời gian lao động và động viên các nguồn dự trữ nội bộ của doanh nghiệp đồng thời đảm bảo tích luỹ, tạo điều kiện không ngừng mở rộng sản xuất trên cơ sở áp dụng kỹ thuật tiên tiến nhằm thoả mãn nhu cầu ngày càng tăng và nâng cao phúc lợi cho người lao động. Hạch toán kinh tế đòi hỏi mỗi doanh nghiệp phải nghiêm khắc chấp hành các kế hoạch sản xuất sản phẩm về mặt hiện vật cũng như về mặt giá trị. “Đối với các doanh nghiệp sản xuất việc hạch toán sẽ cung cấp số liệu một cách chính xác, kịp thời và đầy đủ cho việc phân tích, đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Qua đó giúp cho lãnh đạo doanh nghiệp có biện pháp cải tiến tổ chức quản lý doanh nghiệp, tổ chức sản xuất để hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình”. Hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm là vấn đề trọng tâm của công tác hạch toán trong doanh nghiệp sản xuất. Tập hợp chi phí sản xuất giúp Lớp TCĐH KT2 - K1 Chuyên đếề tốết nghiệp Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội -7- Khoa Kinh Tếế cho doanh nghiệp nắm bắt tình tình hình thực hiện các định mức về chi phí vật liệu, nhân công..v..v.. là bao nhiêu so với kế hoạch. Từ đó doanh nghiệp có thể xác định mức tiết kiệm hay lãng phí chi phí sản xuất để đưa ra biện pháp quản lý thích hợp, để chi phí bỏ ra cho sản xuất sản phẩm là thấp nhất mà lợi nhuận thu về là cao nhất. 1.2.Những vấn đề chung về chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm ở doanh nghiệp sản xuất. 1.2.1. Khái niệm, bản chất và nội dung kinh tế của chi phí sản xuất. * Khái niệm Trong các doanh nghiệp sản xuất, quá trình sản xuất kinh doanh có thể được khái quát theo sơ đồ sau : Các yếu tố đầu Quá trình biến đổi vào của hoạt bên trong các động sản xuất yếu tố đầu vào Các sản phẩm, lao vụ cuối cùng + Các yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất là các yếu tố mà doanh nghiệp phải chuẩn bị và dự tữ tư trước như: nguyên vật liệu, tài sản...... Nếu không có các yếu tố này thì không thể tiến hành sản xuất được. Đây là những yếu tố đầu tiên quyết định đến quá trình sản xuất. + Quá trình biến đổi bên trong các yếu tố đầu vào: Là quá trình biến đổi một cách có ý thức và có mục đích các yếu tố sản xuất thành sản phẩm hay lao vụ. Quá trình này được thực hiện thông qua các công cụ lao động. + Các sản phẩm , lao vụ cuối cùng được tạo ra là kết quả của sự kết hợp của hai quá trình đầu. Như vậy, để tiến hành hoạt động sản xuất, doanh nghiệp phải có ba yếu tố cơ bản, đó là:  Tư liệu lao động như: nhà xưởng, thiết bị và tài sản cố định khác...  Đối tượng lao động như: nguyên vật liệu, nhiên liệu...  Lao động con người Quá trình sử dụng các yếu tố cơ bản trong sản xuất đồng thời là quá trình doanh nghiệp phải chi ra những chi phí sản xuất tương ứng. Đó là các chi phí về Lớp TCĐH KT2 - K1 Chuyên đếề tốết nghiệp Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội -8- Khoa Kinh Tếế khấu hao tài sản cố định, chi phí về nguyên vật liệu, nhiên liệu, chi phí tiền lương, tiền công, tiền trích BHXH, BHYT, KPCĐ... Trong điều kiện nền kinh tế hàng hoá và cơ chế hạch toán kinh doanh mọi chi phí đều được biểu hiện bằng tiền, trong đó : - Chi phí tiền lương là biểu hiện bằng tiền của hao phí về lao động sống. - Chi phí khấu hao tài sản cố định, chi phí nguyên vật liệu, nhiên liệu được biểu hiện bằng tiền của lao động vật hoá. Mặt khác, hoạt động trong doanh nghiệp bao gồm nhiều khâu, nhiều lĩnh vực khác nhau như : + Hoạt động sản xuất, chế tạo sản phẩm .. v...v + Hoạt động thu mua, dữ trữ hàng hoá..v...v + Hoạt động bán hàng: luân chuyển tiêu thụ sản phẩm hàng hoá... + Và các hoạt động khác Dù là hoạt động nào thì doanh nghiệp cũng phải bỏ ra những khoản chi phí nhất định. Nhưng chỉ những chi phí bỏ ra trong khâu sản xuất mới được gọi là chi phí sản xuất. Như vậy, “ Chi phí sản xuất là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ hao phí về lao động sống, lao động vật hoá và các chi phí cần thiết khác mà doanh nghiệp phải chi ra trong quá trình sản xuất trong một thời kỳ nhất định”. *Bản chất của chi phí sản xuất: Bản chất của chi phí sản xuất trong hoạt động của doanh nghiệp luôn được xác định là những phí tổn, hao phí về tài nguyên vật chất, về lao động và gắn liền với mục đích kinh doanh, nó bao gồm có 2 mặt: - Chi phí của doanh nghiệp phải được đo lường và tính toán bằng tiền trong một khoảng thời gian nhất định. - Độ lớn của chi phí phụ thuộc vào 2 yếu tố: khối lượng các yếu tố sản xuất đã tiêu hao trong kỳ và giá cả của một đơn vị yếu tố sản xuất đã hao phí. * Nội dung kinh tế của chi phí sản xuất: Lớp TCĐH KT2 - K1 Chuyên đếề tốết nghiệp Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội -9- Khoa Kinh Tếế Việc nghiên cứu và nhận thức chi phí còn phụ thuộc vào góc độ nhìn nhận trong từng loại kế toán khác nhau: + Trong góc độ kế toán tài chính: Chi phí được nhìn nhận như những khoản phí tổn phát sinh gắn liền với hoạt động của doanh nghiệp để đạt được một sản phẩm, lao vụ, dịch vụ nhất định. Chi phí được xác định bằng tiền của những hao phí của lao động sống, lao động vật hoá...trên cơ sở chứng từ, tài liệu bằng chứng chắc chắn. + Trên góc độ kế toán quản trị: Mục đích của kế toán quản trị là cung cấp thông tin chi phí thích hợp, kịp thời cho việc ra quyết định của nhà quản trị doanh nghiệp. Vì vậy, đối với kế toán quản trị chi phí không chỉ đơn thuần như kế toán tài chính, chi phí còn được nhận thức theo phương diện thông tin ra quyết định. Xét về thực chất thì chi phí sản xuất kinh doanh là sự chuyển dịch vốn của doanh nghiệp vào đối tượng tính giá nhất định, nó là vốn của doanh nghiệp bỏ vào quá trình sản xuất kinh doanh. 1.2.2. Phân loại chi phí sản xuất Trong doanh nghiệp sản xuất, chi phí sản xuất bao gồm khoản loại chi phí có nội dung, công dụng và mục đích sử dụng không giống nhau. Để thuận tiện cho việc quản lý và hạch toán chi phí đáp ứng được yêu cầu của kế toán, thúc đẩy doanh nghiệp tăng cường tiết kiệm chi phí, hạ giá thành sản phẩm. Việc phân loại chi phí là một tất yếu phải tuỳ thuộc vào mục đích sử dụng mà chúng ta có thể phân loại chi phí sản xuất theo những tiêu thức khác nhau. Việc xác định tiêu thức phân loại phù hợp, khoa học và hợp lý có ý nghĩa quan trọng đối với việc hạch toán , kiểm tra, phân tích chi phí sản xuất của toàn doanh nghiệp cũng như các bộ phận cấu thành bên trong doanh nghiệp. Có nhiều cách để phân loại chi phí, thông thường các doanh nghiệp phân loại chi phí sản xuất theo các cách sau: 1.2.2.1. Phân loại chi phí sản xuất theo nội dung, tính chất kinh tế (yếu tố định phí) Dựa vào tính chất, nội dung kinh tế của chi phí sản xuất sắp xếp các chi phí có chung tính chất vào một yếu tố, không phân biệt trong lĩnh vực nào, ở đâu. Lớp TCĐH KT2 - K1 Chuyên đếề tốết nghiệp Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội - 10 - Khoa Kinh Tếế Theo cách phân loại này, chi phí sản xuất bao gồm: + Chi phí nguyên vật liệu: Bao gồm các loại nguyên vật liệu chính, vật liệu phụ, nhiên liệu, phụ tùng thay thế... phục vụ cho sản xuất trong kỳ. + Chi phí nhân công: Bao gồm toàn bộ tiền lương, phụ cấp và các khoản trích theo lương theo quy định của công nhân trực tiếp sản xuất. + Chi phí khấu hao tài sản cố định: là toàn bộ số tiền trích khấu hao tài sản cố định đã sử dụng. + Chi phí dịch vụ mua ngoài: là toàn bộ số tiền đã chi ra để phục vụ cho hoạt động sản xuất. + Chi phí khác bằng tiền: là toàn bộ số chi phí khác dùng cho hoạt động sản xuất kinh doanh ngoài bốn yếu tố trên. Cách phân loại này cho phép hiểu rõ cơ cấu, tỷ trọng từng yếu tố chi phí, là cơ sở để phân tích, đánh giá tình hình thực hiện dự toán chi phí sản xuất, lập báo cáo chi phí sản xuất theo yếu tố ở bảng thuyết minh báo cáo tài chính, làm cơ sở cho việc xây dựng kế hoạch cung ứng vốn, vật tư, huy động sử dụng lao động. 1.2.2.2. Phân loại chi phí sản xuất theo mục đích, công dụng (theo khoản mục) Theo cách phân loại này: căn cứ vào mục đích, công dụng của chi phí chia ra các khoản mục chi phí khác nhau, mỗi khoản mục chi phí có cùng mục đích và công dụng không phân biệt chi phí đó có nội dung như thế nào. Như vậy, toàn bộ chi phí sản xuất phát sinh trong kỳ bao gồm các loại sau: + Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp: là những chi phí về các loại các vật liệu chính, vật liệu phụ... sử dụng trực tiếp vào sản xuất, chế tạo sản phẩm. Không tính vào khoản mục này những chi phí nguyên vật liệu dùng vào mục đích chung hay cho hoạt động ngoài sản xuất. + Chi phí nhân công trực tiếp: là các khoản chi phí về tiền lương, phụ cấp và các khoản trích theo lương ( BHXH, BHYT, KPCĐ...) của công nhân trực tiếp sản xuất sản phẩm theo quy định. + Chi phí sản xuất chung: là chi phí dùng vào việc quản lý và phục vụ sản xuất chung tại bộ phận sản xuất, bao gồm các khoản sau: Lớp TCĐH KT2 - K1 Chuyên đếề tốết nghiệp Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội - 11 - Khoa Kinh Tếế - Chi phí nhân viên phân xưởng: gồm chi phí về tiền lương, phụ cấp theo lương... của nhân viên quản lý, nhân viên thống kê tại phân xưởng. - Chi phí vật liệu : gồm vật liệu các vật liệu sử dụng cho nhu cầu sản xuất chung của phân xưởng sản xuất. - Chi phí dụng cụ sản xuất: chi phí về các loại công cụ, dụng cụ dùng cho nhu càu chung của phân xưởng. - Chi phí khấu hao tài sản cố định: bao gồm khấu hao tài sản cố định hữu hình, tài sản cố định vô hình và tài sản cố định thuê tài chính sử dụng ở phân xưởng sản xuất. + Chi phí dịch vụ mua ngoài + Chi phí bằng tiền khác Cách phân loại này có tác dụng phục vụ cho việc quản lý chi phí theo định mức, là cơ sở cho kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành theo khoản mục, là căn cứ để phân tích tình hình thực hiện kế hoạch giá thành và định mức chi phí cho kỳ sau. 1.2.2.3. Phân loại chi phí sản xuất theo mối quan hệ với khối lượng, sản phẩm, công việc lao vụ dịch vụ sản xuất trong kỳ. + Chi phí khả biến (biến phí): là những chi phí thay đổi khi mức hoạt động thay đổi. - Đặc trưng: Tổng chi phí biến đổi khi mức độ hoạt động thay đổi, chi phí biến đổi đơn vị không đổi khi mức độ hoạt động thay đổi. + Chi phí cố định (Định phí): là những khoản chi phí không thay đổi khi mức độ hoạt động thay đổi. - Đặc trưng: Tổng chi phí không thay đổi khi mức độ hoạt động thay đổi trong phạm vi phù hợp . Chi phí cố định đơn vị thay đổi và giảm dần khi mức độ hoạt động tăng lên. Cách phân loại này có tác dụng trong việc ra quyết định, lập các dự toán. 1.2.2.4. Phân loại chi phí sản xuất theo phương pháp tập hợp chi phí. Lớp TCĐH KT2 - K1 Chuyên đếề tốết nghiệp Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội - 12 - Khoa Kinh Tếế + Chi phí trực tiếp: là những chi phí liên quan trực tiếp đến từng đối tượng kế toán tập hợp. + Chi phí gián tiếp Mỗi một doanh nghiệp có đặc điểm và nhiệm vụ sản xuất khác nhau. Do vậy, tuỳ theo yêu cầu quản lý và để phục vụ cho việc tính giá thành một cách đơn giản, dễ hiểu mà mỗi doanh nghiệp tự lựa chọn cho mình cách phân loại chi phí sản xuất theo tiêu thức nào cho phù hợp với doanh nghiệp. 1.3. Giá thành sản phẩm sản xuất, phân loại giá thành sản phẩm sản xuất. 1.3.1. Khái niệm, bản chất và nội dung kinh tế của giá thành sản phẩm sản xuất. 1.3.1.1. Khái niệm giá thành sản phẩm sản xuất. Trong nền kinh tế thị trường, vấn đề mà các doanh nghiệp luôn đặt ra làm mục tiêu hàng đầu đó là lợi nhuận. Để tăng lợi nhuận đòi hỏi các doanh nghiệp phải tìm mọi biện pháp tiết kiệm chi phí sản xuất, hạ giá thành sản phẩm. Đây là con đường cơ bản giúp các doanh nghiệp tăng lợi nhuận một cách chắc chắn và có hiệu quả. Đối với các doanh nghiệp sản xuất cũng vậy, mục tiêu của nhà sản xuất là làm sao hạ thấp được giá thành sản phẩm nhưng vẫn đảm bảo được chất lượng sản phẩm. Hạ được giá thành sản phẩm sản xuất là cơ sở hạ giá bán sản phẩm và tăng sản lượng tiêu thụ để phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng của xã hội, đẩy nhanh vòng quay vốn và đem lại lợi nhuận cao cho doanh nghiệp, từ đó nâng cao tích luỹ cho doanh để có thể tái sản xuất và nâng cao đời sống cho người lao động. “Như vậy, giá thành sản phẩm(công việc, lao vụ) là biểu hiện bằng tiền của các chi phí sản xuất tính cho khối lượng sản phẩm(công việc, lao vụ ) nhất định đã hoàn thành” Giá thành sản phẩm là một chỉ tiêu kinh tế tổng hợp phản ánh kết quả sử dụng tài sản, vật tư, lao động, tiền vốn trong quá trình sản xuất, cũng như tính đúng đắn của các giải pháp tổ chức, kinh tế, kỹ thuật và công nghệ mà doanh nghiệp đã sử dụng nhằm nâng cao năng suất lao động, hạ thấp chi phí và tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp. Giá thành còn là căn cứ để xác định giá bán và xác định hiệu quả Lớp TCĐH KT2 - K1 Chuyên đếề tốết nghiệp Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội - 13 - Khoa Kinh Tếế kinh tế của hoạt động sản xuất. Vì vậy, sản phẩm sản xuất ra cần phải tính giá thành. Nhất là trong điều kiện nền kinh tế thị trường với mức độ cạnh tranh gay gắt của các doanh nghiệp thì đòi hỏi sự cần thiết là các doanh nghiệp phải thường xuyên cải tiến mặt hàng, nâng cao chất lượng sản phẩm và hạ giá thành để từ đó tăng nguồn lợi nhuận cho doanh nghiệp và nâng cao sức cạnh tranh của mình trên thị trường trong nước và ngoài nước. 1.3.1.2 Bản chất và nội dung kinh tế của giá thành sản xuất * Bản chất: Giá thành chỉ bao gồm chi phí đã thực sự chi ra trong kỳ cho sản phẩm sản xuất và tiêu thụ sản phẩm. Giá thành sản phẩm không bao gồm những chi phí trực tiếp và gián tiếp được bồi hoàn để tiến hành tái sản xuất bao gồm các khoản mục : CPNVLTT, CPNCTT, CPSXC. *Nội dung kinh tế của giá thành sản phẩm sản xuất. Giá thành sản phẩm là một chỉ tiêu mang tính giới hạn và xác định, vừa mang tính khách quan vừa mang tính chủ quan. Trong hệ thống các chỉ tiêu quản lý của doanh nghiệp, giá thành sản phẩm là chỉ tiêu kinh tế tổng hợp phản ánh kết quả sử dụng các loại tài sản trong quá trình sản xuất kinh doanh, cũng như tính đúng đắn của những giải pháp quản lý mà doanh nghiệp đã thực hiện nhằm mục đích hạ thấp chi phí, tăng cao lợi nhuận. 1.3.2. Phân loại giá thành. Để đáp ứng yêu cầu quản lý hạch toán của doanh nghiệp sản xuất giá thành được chia thành các loại tương ứng sau: 1.3.2.1. Căn cứ vào cơ sở số liệu và thời điểm tính giá thành. + Giá thành kế hoạch: là giá thành sản phẩm được tính trên cơ sở chi phí sản xuất kế hoạch và sản lượng kế hoạch. Giá thành kế hoạch do bộ phận kế hoạch của doanh nghiệp thực hiện và được tiến hành khi bắt đầu quá trình sản xuất chế tạo ra sản phẩm. Giá thành kế hoạch là cơ sở để so sánh, phân tích, đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch hạ giá thành của doanh nghiệp. Lớp TCĐH KT2 - K1 Chuyên đếề tốết nghiệp Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội - 14 - Khoa Kinh Tếế + Giá thành định mức: là giá thành sản phẩm được tính trên cơ sở các định mức chi phí hiện hành và chỉ tính cho một đơn vị sản phẩm.Giá thành định mức là thước đo chính xác để xác định kết quả sử dụng tài sản, vật tư, lao động trong sản xuất. + Giá thành thực tế: là giá thành sản phẩm được tính trên cơ sở số liệu chi phí sản xuất thực tế đã phát sinh và tập hợp được trong kỳ cũng như sản lượng sản phẩm thực tế đã sản xuất trong kỳ. Giá thành thực tế được xác định sau khi kết thúc quá trình sản xuất, chế tạo sản phẩm. Giá thành thực tế là chỉ tiêu kinh tế tổng hợp, phản ánh kết quả phấn đấu của doanh nghiệp trong việc tổ chức và sử dụng các yếu tố lao động trong doanh nghiệp. 1.3.2.2. Căn cứ vào phạm vi các chi phí cấu thành + Giá thành sản xuất( giá thành công xưởng): là các chi phí nguyên liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp, chi phí sản xuất chung tính cho sản phẩm, công việc hay lao vụ đã hoàn thành. Giá thành sản xuất là căn cứ để xác định giá vốn hàng bán và mức lãi gộp trong kỳ ở các doanh nghiệp. + Giá thành toàn bộ của sản phẩm tiêu thụ: là toàn bộ hao phí của các yếu tố sản xuất nhằm chế tạo và tiêu thụ sản phẩm, bao gồm: Giá thành sản xuất thực tế, chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiêp tính cho sản phẩm tiêu thụ là căn cứ để tính toán xác định mức lợi nhuận trước thuế. 1.4. Phân biệt chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp sản xuất. Trong quản trị doanh nghiệp, chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm là những chỉ tiêu kinh tế quan trọng luôn được các nhà quản lý quan tâm. Chi phí sản xuất là cơ sở hình thành nên giá thành sản phẩm, giữa chúng có mối quan hệ mật thiết với nhau “ giống nhau về bản chất vì đều là những hao phí về lao động sống và lao động vật hoá mà doanh nghiệp chi ra trong quá trình sản xuất”. Tính đúng, tính đủ chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm là tiền đề hạch toán kinh doanh, xác định kết quả của doanh nghiệp. Tuy nhiên, giữa chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm cũng có sự khác nhau trên các phương diện: Lớp TCĐH KT2 - K1 Chuyên đếề tốết nghiệp Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội - 15 - Khoa Kinh Tếế + Về mặt thời gian: Nói đến chi phí sản xuất là xét các hao phí trong một thời kỳ nhất định, còn giá thành sản phẩm gắn liền với thời hạn hoàn thành sản phẩm. + Về mặt lượng: Chi phí sản xuất không chỉ liên quan đến những sản phẩm hoàn thành mà còn liên quan đến cả những sản phẩm đang còn dở dang và cả sản phẩm hỏng. Còn giá thành sản phẩm không liên quan đến chi phí sản xuất của sản phẩm dở dang cuối kỳ và sản phẩm hỏng nhưng lại liên quan đến chi phí sản xuất của sản phẩm dở dang kỳ trước chuyển sang. Z = Dđk+ C - Dck 1.5. Kế toán tập hợp chi phí sản xuất trong doanh nghiệp. 1.5.1. Đối tượng và phương pháp hạch toán chi phí sản xuất *Đối tượng kế toán tập hợp chi phí sản xuất. Xác định đối tượng kế toán tập hợp chi phí sản xuất là khâu đầu tiên đối với kế toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm . Vậy, đối tượng kế toán tập hợp chi phí sản xuất là phạm vi, giới hạn để tập hợp chi phí nhằm đáp ứng yêu cầu kiểm soát chi phí và tính gia thành sản phẩm . Để xác định đối tượng tập hợp chi phí sản xuất ở từng doanh nghiệp cần căn cứ vào: + Đặc điểm cơ cấu tổ chức sản xuất, quy trình công nghệ sản xuất, chế tạo sản phẩm và đặc điểm của sản phẩm. + Căn cứ vào yêu cầu kiểm tra, kiểm soát chi phí và yêu cầu tính giá thành, khả năng, trình độ quản lý và hạch toán của doanh nghiệp. Xác định đúng đối tượng tập hợp chi phí sản xuất phù hợp với đặc điểm hoạt động và yêu cầu quản lý của doanh nghiệp có ý nghĩa lớn trong việc tổ chức kế toán tập hợp chi phí, từ việc ban đầu đến tổ chức tổng hợp ghi chép trên sổ sách kế toán. *Phương pháp tập hợp chi phí sản xuất. Có hai phương pháp kế toán tâp hợp chi phí sản xuất là : phương pháp tập hợp trực tiếp và phương pháp phân bổ gián tiếp . + Phương pháp tập hợp trực tiếp: được áp dụng đối với các chi phí phát sinh chỉ liên quan trực tiếp đến đối tượng kế toán tập hợp chi phí và công tác hạch toán. Lớp TCĐH KT2 - K1 Chuyên đếề tốết nghiệp Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội - 16 - Khoa Kinh Tếế + Phương pháp phân bổ gián tiếp: được áp dụng khi một loại chi phí sản xuất thực tế phát sinh có liên quan đến nhiều đối tượng kế toán tập hợp chi phí, không thể tập hợp trực tiếp cho từng đối tượng. Trường hợp này phải phân bổ chi phí theo những tiêu chuẩn phân bổ hợp lý. Các bước thực hiện như sau: - Bước 1: Chọn tiêu thức phân bổ và tính hệ số phân bổ. Tiêu thức phân bổ phải hợp lý, khoa học. Có nghĩa là đại lượng có sẵn cụ thể, dễ tính và không quá nhỏ. Công thức xác định hệ số phân bổ: C H= T Trong đó: H: Hệ số phân bổ gián tiếp C: Tổng chi phí cần phân bổ T: Tổng đại lượng của tiêu chuẩn dùng để phân bổ - Bước 2: Tính mức chi phí phân bổ cho các đối tượng theo công thức sau: Ci = H * Ti Trong đó: Ci : Chi phí phân bổ cho đối tượng i Ti: Đại lượng của tiêu chuẩn dùng để phân bổ của đối tượng i Như vậy, tuỳ từng trường hợp cụ thể mà lựa chọn phương án kế toán tập hợp chi phí cho phù hợp. Bởi thực tế thì không phải tất cả chi phí trực tiếp là tập hợp theo phương pháp trực tiếp. Mà có những chi phí trực tiếp vẫn phải phân bổ theo phương pháp gián tiếp và chi phí gián tiếp lại được tập hợp theo phương pháp trực tiếp. 1.5.2. Hạch toán ban đầu ( chứng từ ban đầu ). Chứng từ kế toán sử dụng: - Phiếu xuất kho - Bảng phân bổ nguyên vật liệu, CCDC (Mẫu số 02 – VT). - Bảng chấm công (Mẫu số 01A – LĐTL), Bảng phân bổ tiền lương và các khoản trích theo lương ( Mẫu số 11 – LĐTL). Lớp TCĐH KT2 - K1 Chuyên đếề tốết nghiệp Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội - 17 - Khoa Kinh Tếế - Bảng thanh toán tiền lương ( Mẫu số 02 – LĐTL) - Phiếu chi ( Mẫu số 02 – TT). Giấy báo nợ của ngân hàng. - Hoá đơn GTGT ( Hoá đơn dịch vụ mua ngoài) ( Mẫu số 01GTKT – 3LL). - Các chứng từ khác có liên quan. 1.5.3. Tài khoản sử dụng. * TK 621: Chi phí NVL trực tiếp . - Nội dung : dùng để tập hợp chi phí NVLTT dùng cho sản xuất chế tạo sản phẩm phát sinh trong kỳ. - Kết cấu: Bên nợ: Phản ánh giá trị NVL xuất dùng trực tiếp cho SX, chế tạo sản phẩm. Bên có: Phản ánh giá trị NVL xuất dùng không hết cuối kỳ. Kết chuyển chi phí NVL thực tế phát sinh trong kỳ sang TK 154 TK 621 không có số dư cuối kỳ và có thể mở chi tiết các tài khoản cấp 2 tuỳ theo yêu cầu quản lý của doanh nghiệp. *TK 622: Chi phí nhân công trực tiếp. - Nội dung: dùng để tập hợp và kết chuyển chi phí nhân công trực tiếp ( gồm: tiền lương, tiền thưởng, các khoản phụ cấp và các khoản phải trả của công nhân sản xuất). - Kết cấu: Bên nợ: Tập hợp chi phí nhân công trực tiếp Bên có : Kết chuyển và phân bổ chi phí nhân công trực tiếp cho các đối tượng liên quan. TK 622 không có số dư cuối kỳ và có thể mở chi tiết tài khoản cấp 2 tuỳ theo yêu cầu quản lý của doanh nghiệp. *TK 627: Chi phí sản xuất chung. - Nội dung: dùng để tập hợp và kết chuyển các chi phí sản xuất chung. - Kết cấu: TK 627 không có số dư cuối kỳ. Bên nợ: Tập hợp chi phí SXC theo các phân xưởng, tổ đội sản xuất phát sinh. Bên có: Ghi giảm chi phí SXC, số phân bổ và kết chuyển sang TK 154. Lớp TCĐH KT2 - K1 Chuyên đếề tốết nghiệp Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội - 18 - Khoa Kinh Tếế *TK 154: Chi phí sản xuất kinh doanh dở dang. - Nội dung: Tập hợp toàn bộ chi phí sản xuất trong kỳ liên quan đến việc tập hợp chi phí phục vụ cho tính giá thành. - Kết cấu: Bên nợ: Kết chuyển chi phí từ các TK 621, TK 622, TK 627 sang. Kết chuyển chi phí sản xuất dở dang của kỳ trước. Bên có: Phản ánh khoản làm giảm giá thành sản phẩm. Giá thành của sản phẩm, lao vụ hoàn thành trong kỳ. Số dư nợ: Chi phí sản xuất dở dang của sản phẩm, lao vụ cuối kỳ. 1.5.4. Phương pháp kế toán tập hợp chi phí sản xuất trong các DNSX. 1.5.4.1. Phương pháp kế toán tập hợp chi phí sản xuất trong các doanh nghiệp sản xuất áp dụng theo phương pháp kê khai thường xuyên. Những doanh nghiệp sử dụng phương pháp kê khai thường xuyên là những doanh nghiệp có quy mô lớn, tiến hành nhiều hoạt động sản xuất kinh doanh. *Kế toán tập hợp và phân bổ chi phí nguyên vật liệu trực tiếp. + Nguyên tắc: Đối với chi phí nguyên liệu, vật liệu liên quan đến nhiều đối tượng chịu chi phí thì tập hợp và phân bổ theo công thức: C Ci = x ti ∑ ti C: Tổng chi phí NVL đã tập hợp cần phân bổ. ti: Tiêu thức phân bổ của đối tượng thứ i. Ci: Chi phí sản xuất cho đối tượng thứ i. Trong đó: Chi phí nguyên vật liệu chính, bán thành phẩm phân bổ theo chi phí định mức, chi phí kế hoạch. Đối với chi phí vật liệu phụ, nhiên liệu phân bổ theo: Chi phí nguyên vật liệu chính, chi phí định mức, chi phí kế hoạch. Chi phí NVL trực tiếp trong kỳ được tính vào giá thành sản phẩm phụ thuộc vào các yếu tố sau: Lớp TCĐH KT2 - K1 Chuyên đếề tốết nghiệp Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội Chi phí NVL Trị giá NVL - 19 - Trị giá Khoa Kinh Tếế Trị giá NVL Trị giá phế trực tiếp trong = xuất đưa vào + NVL còn - còn lại cuối kỳ - liệu thu hồi kỳ sử dụng lại đầu kỳ chưa sử dụng (Nếu có ) + Phương pháp kế toán: Trình tự theo sơ đồ sau : Sơ đồ 1.1: Sơ đồ hạch toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp. TK 152 TK 621 TK 152 Trị giá thực tế NVL sử dụng Trị giá thực tế NVL xuất kho không hết nhập lại kho, dùng cho chế tạo sản phẩm giá trị phế liệu thu hồi TK 111,112, 141 TK 154 Mua NVL dùng trực tiếp Phân bổ và kết chuyển CPNVL cho chế tạo sản phẩm trực tiếp cho đối tượng liên quan Lớp TCĐH KT2 - K1 Chuyên đếề tốết nghiệp Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội - 20 - Khoa Kinh Tếế TK 133 VAT khấu trừ TK 331 Mua NVL dùng trực tiếp cho chế tạo sản phẩm *Kế toán tập hợp và phân bổ chi phí nhân công trực tiếp. + Nội dung: Chi phí nhân công trực tiếp là những khoản chi phí phải trả cho công nhân trực tiếp sản xuất sản phẩm hoặc trực tiếp thực hiện các lao vụ, dịch vụ gồm có: tiền lương chính, lương phụ, các khoản phụ cấp và các khoản tiền trích theo lương ( BHXH, BHYT, KPCĐ...) + Nguyên tắc hạch toán: Đối với khoản chi phí nhân công trực tiếp có liên quan trực tiếp tới từng đối tượng chịu chi phí thì tập hợp cho từng đối tượng liên quan.. Đối với chi phí nhân công trực tiếp có liên quan đến nhiều đối tượng chịu chi phí thì phải phân bổ cho từng đối tượng chịu chi phí theo tiêu thức phân bổ nhất định và phân bổ theo công thức sau : C Ci = x ti ∑ ti C: Tổng chi phí nhân công đã tập hợp cần phân bổ. ti: Tiêu thức phân bổ của đối tượng thứ i. Ci: Chi phí sản xuất cho đối tượng thứ i. Trong đó: Tiêu thức dùng để phân bổ chi phí nhân công trực tiếp thường là: - Đối với tiền lương chính của công nhân sản xuất phân bổ theo chi phí tiền lương định mứ, chi phí tiền lương kế hoạch. - Đối với lương phụ phân bổ theo lương chính. Lớp TCĐH KT2 - K1 Chuyên đếề tốết nghiệp
- Xem thêm -