Tài liệu Hoàn thiện công tác tham mưu của cơ quan hành chính nhà nước ở trung ương tt

  • Số trang: 28 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 379 |
  • Lượt tải: 0
dangvantuan

Tham gia: 02/08/2015

Mô tả:

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ --------/-------- -----/----- HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA LÊ NGỌC HỒNG HOÀN THIỆN CÔNG TÁC THAM MƯU CỦA CƠ QUAN HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC Ở TRUNG ƯƠNG Chuyên ngành: Quản lý Hành chính công Mã số: 62 34 82 01 TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SỸ QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH CÔNG HÀ NỘI – 2019 Luận án được hoàn thành tại: HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA Người hướng dẫn khoa học: 1. PGS.TS. LƯU KIẾM THANH 2. PGS.TS. NGÔ THÀNH CAN Luận án được bảo vệ tại Hội đồng ………………………… Học viện Hành chính Quốc gia Địa điểm: Phòng họp … nhà … Hội trường bảo vệ Luận án Tiến sĩ Học viện Hành chính Quốc gia Số: 77, Nguyễn Chí Thanh, Đống Đa, Hà Nội Thời gian: vào hồi …h… ngày … tháng ….. năm ……….. Có thể tìm hiểu luận án tại thư viện Học viện Hành chính Quốc gia hoặc trên trang Web của Khoa Sau đại học, Học viện Hành chính Quốc gia PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Sau khi gia nhập WTO, Việt Nam phải chuẩn bị đương đầu với rất nhiều thách thức về nâng cao trình độ quản lý hành chính nhà nước, nâng cao chất lượng các quyết định hành chính và năng lực quản lý hành chính nhà nước, tăng cường kiểm tra, giám sát cũng như xây dựng chiến lược tầm xa để tăng chỉ số cạnh tranh, đưa đất nước vượt qua khó khăn, thách thức của sân chơi lớn. Một trong những điều kiện cơ bản đảm bảo cho quyết định hành chính và năng lực quản lý hành chính được nâng cao nằm ở vai trò của tham mưu. Bộ máy tham mưu có nhiệm vụ đề xuất các phương án trong chính sách, chiến lược cũng như trong tổ chức triển khai, kiểm tra, giám sát thực hiện. Trong khi đó, một loạt các vấn đề nảy sinh trong hoạt động cả về kỹ thuật cũng như trong khâu tổ chức tham mưu cho thấy tính cấp thiết của việc hoàn thiện hệ thống pháp luật cũng như đảm bảo các yếu tố kỹ thuật cho bộ máy tham mưu hoạt động xứng tầm với nhiệm vụ trong thời kỳ mới. Thời đại kinh tế tri thức đòi hỏi sự tăng cường hàm lượng tri thức trong các hoạt động kinh tế chính trị xã hội. Vị trí tham mưu qua đó được nâng cao như là một trong những yếu tố cơ bản, mang tính quyết định cho sự phát triển. Đây chính là lý do tác giả lựa chọn hướng nghiên cứu là “Hoàn thiện công tác tham mưu của cơ quan hành chính nhà nước ở trung ương”. 2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu Mục đích nghiên cứu của đề tài: Đề xuất giải pháp tăng cường hiệu quả hoạt động của công tác tham mưu trong cơ quan hành chính nhà nước ở TƯ. Nhiệm vụ nghiên cứu: Luận án tập trung thực hịên các nhiệm vụ sau: - Hệ thống hóa cơ sở lý luận về: công tác tham mưu; - Thực hiện việc khảo sát thực trạng tổ chức quản lý hoạt động tham mưu, thực trạng, kết quả hoạt động tham mưu ở các cơ quan hành chính nhà nước cấp trung ương.. - Trên cơ sở đánh giá thực trạng và phân tích nguyên nhân, Luận án đưa ra giải pháp cụ thể giới thiệu mô hình tổ chức tham mưu phù hợp với yêu cầu hiện tại và các điều kiện cần thiết khi áp dụng mô hình hiện đại hóa công tác tham mưu. 3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Luận án nghiên cứu Giải pháp hoàn thiện công tác tham mưu cho cơ quan hành chính nhà nước ở trung ương. Phạm vi nghiên cứu của Luận án: Tìm hiểu công tác tham mưu trong quản lý HCNN giai đoạn 2010-2014 là giai đoạn tuy ngắn nhưng có nhiều thay đổi mãnh liệt, gắn với mốc Việt 1 Nam đang bước đầu đẩy mạnh cải cách hành chính giai đoạn 2. Đề tài nghiên cứu thực trạng công tác tham mưu, nhận diện và khảo sát, đánh giá thực trạng tổ chức và thực hiện các yếu tố đảm bảo cho công tác tham mưu giới hạn trong hoạt động tham mưu của các cơ quan quản lý nhà nước ở trung ương. 4. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu Phương pháp luận:Đề tài được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận Chủ nghĩa Mac Lenin và tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân do dân và vì dân. Phương pháp cụ thể được áp dụng để nghiên cứu: Phương pháp điều tra xã hội học, phương pháp thống kê, tổng hợp, đối chiếu, so sánh, phương pháp phân tích, phương pháp hệ thống… 5. Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết khoa học Câu hỏi nghiên cứu: a, Công tác tham mưu của cơ quan hành chính nhà nước ở trung ương được nghiên cứu trên cơ sở lý luận nào? b, Công tác tham mưu của cơ quan hành chính nhà nước ở trung ương hiện nay được tổ chức và thực hiện theo cách thức nào? Mức độ đáp ứng yêu cầu quản lý hành chính nhà nước của công tác tham mưu của cơ quan hành chính nhà nước ở trung ương hiện nay như thế nào? Công tác này hiện nay có những ưu điểm gì cần phát huy và hạn chế gì cần khắc phục? Các điều kiện cốt lõi đảm bảo chất lượng công tác tham mưu của cơ quan hành chính nhà nước ở trung ương hiện nay được đáp ứng ở mức độ nào? d, Cần có giải pháp gì để hoàn thiện công tác tham mưu của cơ quan hành chính nhà nước ở trung ương? Giả thiết khoa học: Dưới góc độ khoa học quản lý hành chính công, việc xây dựng các giải pháp hoàn thiện công tác tham mưu của cơ quan hành chính nhà nước ở trung ương sẽ đảm bảo chất lượng, đảm bảo các yêu cầu về tính hợp lý, hợp pháp, tính nhất quán, tính khả thi cho các quyết định quản lý hành chính nhà nước ở trung ương, đảm bảo tính hiệu quả cho các chỉ đạo ở tầm vĩ mô; Từ đó, đảm bảo hiệu quả hoạt động quản lý HCNN nói chung. 6. Những đóng góp mới của đề tài Hệ thống hóa kiến thức lý luận về công tác tham mưu, tìm hiểu, đúc rút kinh nghiệm thực tiễn ở Việt nam và quốc tế về hoạt động tham mưu chính sách hiệu quả. Trình bày thực trạng kết quả chất lượng tham mưu trong quản lý HCNN ở trung ương, mức độ đáp ứng yêu cầu QLHCNN của công tác tham mưu trong cơ quan NN ở trung ương. 2 - Đề xuất các giải pháp tăng cường hiệu quả cho công tác tham mưu trong cơ quan NN ở trung ương, làm cơ sở tham khảo, áp dụng cho tham mưu hành chính NN các cấp, các ngành. Xây dựng công cụ đánh giá, tiêu chuẩn đánh giá hoạt động tham mưu. Xây dựng cơ chế khuyến khích vật chất, tạo động lực cho hoạt động tham mưu.Xây dựng quy trình tổ chức tham mưu một cách linh hoạt.Xây dựng mô hình hệ thống trung tâm hỗ trợ thông tin tham mưu liên ngành, viện chính sách chiến lược, xã hội hóa công tác tham mưu. Xây dựng các điều kiện áp dụng phương pháp quản lý sáng kiến một cách thường xuyên, liên tục và định kỳ. Tổ chức và hoạt động tham mưu sẽ được xây dựng và tiến hành một cách linh hoạt, tập hợp được trí tuệ của tập thể, của xã hội. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của Luận án: a, Về mặt lý luận: Luận án xác định rõ ràng vị trí, nhiệm vụ, vai trò công tác tham mưu đối với hoạt động quản lý hành chính NN; xác định nội dung, lý luận về công tác tổ chức hoạt động tham mưu, quy trình, phương pháp tham mưu. b, Về mặt thực tiễn, Luận án có những đóng góp sau: - Đánh giá thực trạng tổ chức và thực trạng đội ngũ tham mưu hành chính nhà nước ở trung ương hiện nay, xác định mức độ ảnh hưởng của các điều kiện chủ quan tới hiệu quả hoạt động tham mưu - Xây dựng giải pháp về các mặt nhằm đảm bảo tập hợp trí tuệ xã hội và tạo cơ sở pháp lý cũng như cơ sở kỹ thuật cho đề xuất chính sách. 7. Cấu trúc luận án Luận án chia làm 4 chương: Chương 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu về công tác tham mưu của cơ quan HCNN ở trung ương Chương 2. Cơ sở lý luận về công tác tham mưu của cơ quan hành chính nhà nước ở trung ương Chương 3. Thực trạng công tác tham mưu của cơ quan hành chính nhà nước ở trung ương Chương 4. Quan điểm chỉ đạo và giải pháp hoàn thiện công tác tham mưu của cơ quan hành chính nhà nước ở trung ương. 3 Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU Đánh giá chung về nhóm tài liệu nghiên cứu về yếu tố kỹ thuật, công nghệ trong tham mưu có thể được xem xét dưới các góc độ sau: 1.1. Khái niệm tham mưu và các thuật ngữ liên quan Các nghiên cứu về tham mưu trong và ngoài nước bao gồm lụân án tiến sỹ, luận văn thạc sỹ, đề tài nghiên cứu khoa học từ cấp bộ, sách chuyên khảo, bài nghiên cứu tạp chí, hội thảo, đăng trên diễn đàn mạng…. Các tài liệu chỉ có Lụân án tiến sỹ về kỹ năng tham mưu ban Đảng, đề tài nhiên cứu khoa học cấp bộ về bộ máy tham mưu văn phòng bộ, còn phần lớn là bài viết hội thảo, sách chuyên khảo, bài báo khoa học. Các tài liệu đã giới thiệu được khái niệm công tác tham mưu, bản chất của công tác tham mưu trong mối liên quan với các thuật ngữ khác như tư vấn, tham vấn. Tuy vậy, các tài liệu chưa phân tích được vị trí, vai trò của tham mưu hành chính trong giai đoạn mới. Khái niệm tham mưu chỉ đề cập khái niệm tham mưu từ góc độ hoạt động của một cá nhân mà chưa đề cập đến hoạt động tham mưu mà chủ thể là một tổ chức. 1.2. Về kỹ năng, quy trình, phương tiện kỹ thuật tham mưu Nhóm kỹ năng thu thập, xử lý thông tin tham mưu của các cơ quan Đảng TƯ: Còn nhiều hạn chế trong việc chủ động bao quát thông tin từ các kênh khác nhau, đặc bịêt là thông tin mang tính phát hiện, dự báo thông tin. Bên cạnh đó, nội dung khác như sử dụng kỹ thuật nghiệp vụ để kiểm tra, xác minh, hệ thống hóa thông tin, bảo vệ bí mật thông tin… vẫn còn thiếu. Các tài liệu trong và ngoài nước đã xác định được nội dung kỹ năng tham mưu, các giai đoạn của hoạt động tham mưu, song chưa xây dựng quy trình tham mưu trong hoạt động của cơ quan, tổ chức hành chính cũng như chưa xây dựng được phương pháp tổ chức và vận hành bộ máy tham mưu, cách thức tham gia phối hợp của các bộ phận, cá nhân trong cổ máy tham mưu. 1.3. Về nghiên cứu, tổ chức công tác tham mưu Các tác giả đã chú ý tới các yếu tố ảnh hưởng kỹ năng tham mưu. Về tổ chức, chú ý yêu cầu về quy trình tham mưu, công tác thẩm định…Tuy nhiên các ý kiến mới chỉ dừng ở đề xuất, chưa có nghiên cứu cụ thể. Các tài lịêu cũng mới chỉ đề cập đến công tác tham mưu của các cơ quan Đảng trung ương; về đội ngũ cơ quan chính quyền cũng mới chỉ dừng ở nhận xét đánh giá thực tiễn công tác tham mưu lực lượng vũ trang như công 4 an, quân đội, công tác tham mưu. Chưa có tài liệu bao quát tình hình cụ thể tham mưu chính quyền cũng như chưa có nghiên cứu chung về tổ chức tham mưu, các tài liệu chỉ đánh giá hoạt động tham mưu của cá nhân cán bộ tham mưu. 1.4. Về điều kiện, yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động tham mưu Đặc biệt, các tác giả nhấn mạnh tới các yếu tố chính trị, văn hóa trong tham mưu. Ngoài ra, các tác giả cũng đề cập tới một số vấn đề liên quan đến yếu tố kỹ thuật trong yêu cầu đối với công tác tham mưu. Các tác giả cho rằng, để hoạt động tham mưu đạt hiệu quả cao, bên cạnh yếu tố chủ quan về năng lực, phẩm chất của đội ngũ tham mưu, phải quan tâm đến các yếu tố: Môi trường thuận lợi để người tham gia hoạt động tham mưu thu thập, lưu truyền, xử lý, trao đổi, so sánh, công bố… thông tin. Yếu tố khách quan: Cơ chế, chính sách tuyển dụng, đãi ngộ đối với chuyên viên; Công tác đào tạo bồi dưỡng nghiệp vụ tham mưu; Điều kiện đảm bảo củng cố và phát triển kỹ năng và tổ chức tham mưu. Các bài nghiên cứu đã chỉ ra được những yếu tố cơ bản ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động tham mưu, song chưa có công trình nghiên cứu hệ thống hóa được tác yếu tố này cũng như chưa đi sâu đánh giá và phân tích đầy đủ mức độ tương quan giữa các yếu tố đã đề cập với chất lượng tham mưu. 1.5. Về giải pháp, công nghệ hoàn thiện công tác tham mưu Về thực tiễn, các tài liệu khảo sát kỹ năng tham mưu cán bộ ban đảng TƯ, bộ máy tham mưu văn phòng bộ. Các tài liệu tập trung vào nghiên cứu thực trạng kỹ năng tham mưu của cán bộ. Các tài lịêu cũng mới chỉ đề cập đến công tác tham mưu của các cơ quan Đảng trung ương; về đội ngũ cơ quan chính quyền cũng mới chỉ dừng ở nhận xét đánh giá thực tiễn công tác tham mưu lực lượng vũ trang như công an, quân đội. Chưa có tài liệu bao quát tình hình cụ thể tham mưu chính quyền cũng như chưa có nghiên cứu chung về tổ chức tham mưu, các tài liệu dừng lại ở đánh giá hoạt động tham mưu của cá nhân cán bộ tham mưu. Các kiến nghị đề xuất giải pháp mới chỉ dừng lại giải pháp cụ thể cho vịêc nâng cao kỹ năng tham mưu ban đảng TƯ. Các tài lịêu chưa nghiên cứu giải pháp cho hoạt động tham mưu chính quyền cũng như chưa có giải pháp về tổ chức công tác tham mưu. Các giải pháp cũng mang tính đơn lẻ về công tác đào tạo bồi dưỡng, chế độ chính sách cụ thể đối với cán bộ tham mưu, chưa có giải pháp tổng thể mang tầm vĩ mô về tính thống nhất, tổ chức bộ 5 máy tham mưu tư vấn chính sách mang tính liên kết, chưa có giải pháp cụ thể mang tính phát triển công nghệ hỗ trợ và áp dụng các công cụ tính toán cụ thể. 1.6.Kinh nghiệm quốc tế về đổi mới công tác tham mưu Một số nước trên thế giới xây dựng quy trình tham mưu theo hướng tăng cường trách nhiệm tham mưu trong thẩm định tính hợp pháp của văn bản. Mô hình Mỹ và các nước phương tây về tổ chức xây dựng chính sách; Mô hình Châu Á ( Ấn độ, trung quốc) phát triển các viện chính sách; Kinh nghiệm một số quốc gia như Pháp tuyển chọn rất khắt khe 200/ hàng ngàn người; Mô hình tổ chức cơ chế tham mưu độc lập, mô hình đổi mới tổ chức, hoạt động của Chính phủ Như vậy, hoàn thiện công tác tham mưu trong cơ quan quản lý hành chính nhà nước ở trung ương là vấn đề mới, chưa được nghiên cứu thấu đáo và đầy đủ trong các công trình khoa học, tài lịêu tham khảo. 6 Chương 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC THAM MƯU CỦA CƠ QUAN HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC Ở TRUNG ƯƠNG 2.1. Khái niệm, chức năng, đặc điểm, vai trò của tham mưu của cơ quan HCNN ở trung ương 2.1.1. Khái niệm tham mưu và các thuật ngữ liên quan Qua tổng hợp cho thấy: Tham mưu trong quản lý hành chính nhà nước là một dạng đặc thù trong lĩnh vực quản lý hành chính nhà nước nhằm cung cấp ý kiến, đề xuất phương án, giải pháp để cá nhân, cấp có thẩm quyền xem xét, sử dụng trong quá trình ra quyết định. Chủ thể hoạt động này là những cá nhân, tổ chức chuyên trách trong hệ thống, chịu trách nhiệm pháp lý về nội dung, kết quả tham mưu thông qua việc thực hiện công tác thông tin, phân tích, đề xuất phương án giải quyết đúng đắn, hiệu quả trong lĩnh vực chuyên môn. Khái quát rộng về chức năng tham mưu trong hành chính có thể thấy tham mưu không chỉ là hoạt động của một cá nhân hoặc một bộ phận mà còn có thể là một cơ quan, tổ chức chuyên trách tham mưu cho một tổ chức lãnh đạo trong trường hợp bộ tham mưu cho Chính phủ trong việc xây dựng chính sách, ban hành quyết định và tổ chức thực hiện quyết định. 2.1.2. Chức năng , nhiệm vụ của bộ phận tham mưu Với cách hiểu như vậy, bộ phận tham mưu có đặc thù là luôn ở vị trí trợ giúp một chủ thể là nhà lãnh đạo, quản lý. Chính đặc điểm, những yêu cầu mới của chủ thể lãnh đạo sẽ quyết định tính chất, đặc điểm của đội ngũ tham mưu.Về nội dung tham mưu, có thể chia làm 2 loại; tham mưu tổng hợp và tham mưu chuyên ngành.Đối tượng tham mưu, từ góc độ tham mưu là một tổ chức, có thể hiểu đó là những cấp quản lý lãnh đạo có quyền lực ban hành và thực hiện các quyết định quản lý. Tìm hiểu chủ thể công tác tham mưu của cơ quan hành chính nhà nước ở trung ương có thể xác định đó là những cá nhân, tổ chức thực hiện công tác tham mưu cho đối tượng lãnh đạo là cơ quan hành chính nhà nước ở trung ương. Bộ phận thực hiện công tác tham mưu ở các cơ quan hành chính nhà nước ở trung ương có thể hiểu đó là các bộ, cơ quan ngang bộ tham mưu cho Chính phủ và các vụ thuộc bộ tham mưu cho lãnh đạo bộ. Vì vậy, sản phẩm của tham mưu có thể là các quyết định quản lý cụ thể hoặc tham mưu về xây dựng chính sách vĩ mô. 7 2.1.3. Đặc điểm, phạm vi đối tượng của công tác tham mưu trong hành chính nhà nước ở trung ương Thứ nhất, công tác tham mưu là hoạt động mang tính trợ giúp, nghĩa là luôn gắn liền với hoạt động quản lý lãnh đạo, trong đó, hoạt động quản lý lãnh đạo là trung tâm, là đối tượng phục vụ của tham mưu. Thứ hai, công tác tham mưu mang tính chuyên nghiệp, gắn liền một lĩnh vực, một chuyên môn cụ thể, là hoạt động mang tính chuyên môn sâu. Thứ ba, công tác tham mưu mang tính chuyên trách, tức là những người thực hiên công tác tham mưu phải là đội ngũ chuyên trách trong tổ chức, có trách nhiệm tham mưu, thực hiện hoạt động này một cách thường xuyên, chịu trách nhiệm về kết quả tham mưu, về tính đúng đắn hiệu quả mà phương án tham mưu đưa lại. Thứ tư, tham mưu phục vụ lãnh đạo luôn gắn liền với công tác thông tin. Trách nhiệm được giao phó đòi hỏi bộ phận tham mưu phải đảm bảo thông tin mọi mặt, kịp thời, đầy đủ. Đối tượng phục vụ của tham mưu trong hành chính nhà nước ở trung ương là hoạt động quản lý, lãnh đạo trong hành chính nhà nước TƯ. Đặc điểm của quản lý hành chính nhà nước là hoạt động mang tính ảnh hưởng trực tiếp tới mọi mặt của đời sống xã hội, của công dân. Về phạm vi ảnh hưởng, hoạt động hành chính nhà nước ở TƯ tạo ảnh hưởng trực tiếp lên nhiều đối tượng của một ngành, lĩnh vực trong phạm vi toàn ngành, toàn quốc, nhiều địa phương, đặc biệt là cả những lĩnh vực liên quan đến hoạt động đối ngoại, có yếu tố nước ngoài. 2.1.4. Trách nhiệm, quyền, nghĩa vụ của tham mưu Tham mưu có trách nhiệm: - Cung cấp cho quản lý đầy đủ nội dung thông tin, căn cứ, cơ sở, dữ liệu cần thiết về đối tượng quản lý và các thông tin liên quan đến quá trình quản lý; - Phân tích, giải thích, thuyết phục đối với nhà quản lý để lựa chọn phương án tối ưu nhất từ các phương án đề xuất phù hợp với mục tiêu quản lý; có trách nhiệm xem xét, đánh giá hiệu quả các quyết định của quản lý, chủ động đưa ra các đề xuất, cảnh báo…giúp lãnh đạo kịp thời điều chỉnh, điều hành chỉ đạo thực hiện các quyết định; - Dự báo các khả năng, kịp thời báo cáo cảnh báo các sự cố, khả năng xảy ra sự cố về đối tượng quản lý, các ảnh hưởng từ môi trường khách quan tới đối tượng quản lý cho nhà quản lý; 8 - Phối hợp với các cơ quan, đơn vị chuyên môn cấp trên, cũng như bộ phận chuyên môn cấp dưới, đảm bảo sự thống nhất trong chuyên môn trong toàn bộ hệ thống quản lý hành chính nhà nước; - Phối hợp với đơn vị thực thi cùng cấp trong việc chia sẻ nắm bắt thông tin thực tiễn thuộc lĩnh vực mình phụ trách. - Bằng các quy định trong Nghị định 110/2004 và Nghị định 09/2010, pháp luật hiện hành quy định trách nhiệm của tham mưu với vai trò: Chịu trách nhiệm liên đới trước pháp luật về nội dung, chất lượng chính sách. 2.2. Nội dung, kỹ năng, quy trình và các yếu tố ảnh hưởng tới hoạt động tham mưu của cơ quan HCNN ở trung ương 2.2.1. Nội dung công tác tham mưu của cơ quan HCNN ở TƯ Nội dung công tác tham mưu chủ yếu xoay quanh các nhiệm vụ trợ giúp cho hoạt động quản lý như sau: - Thu thập xử lý, tổng hợp, phân tích thông tin, cung cấp thông tin ; - Xây dựng dự thảo các quyết định trình lãnh đạo ban hành; - Quản lý cơ sở dữ liệu phục vụ các hoạt động lập chương trình kế hoạch - Xây dựng và triển khai hệ thống kiểm soát đối tượng quản lý,thống kê, phân tích, báo cáo; - Giúp lãnh đạo quản lý, kiểm soát sự thay đổi, giải quyết xung đột, xử lý sự cố, phòng tránh rủi ro; - Quản lý sáng kiến; - Giúp lãnh đạo trong các hoạt động phát ngôn, giao tiếp, PR và truyền thông; - Tổ chức các hoạt động kết nối giữa lãnh đạo và các bộ phận cấp dưới trực thuộc; 2.2.2. Kỹ năng tham mưu và quy trình tham mưu Các nghiên cứu tập trung giới thiệu nội dung kỹ năng tham mưu và quy trình thực hịên các hoạt động của cán bộ tham mưu, quy trình tìm ra giải pháp gồm: Xác định vấn đề; Phân tích vấn đề; Khai thác giải pháp thay thế; Tìm ra giải pháp tốt nhất; Đưa ra quyết định có hiệu quả. 9 2.2.3. Các điều kiện, yếu tố ảnh hưởng tới hoạt động tham mưu Do tính chất chính sách gắn với lợi ích, hoạt động tham mưu bị tác động bởi rất nhiều yếu tố chủ quan và khách quan, thậm chí cả những yếu tố mang tính lợi ích, nhạy cảm, chính thức và không chính thức. Yếu tố ảnh hưởng tới hoạt động tham mưu, năng lực cán bộ tham mưu bao hàm cả các yếu tố chủ quan và khách quan. Các khía cạnh về cơ chế, chính sách đãi ngộ, tuyển dụng, bồi dưỡng nghiệp vụ và các điều kiện đảm bảo hoạt động tham mưu là yếu tố đang cản trở việc củng cố và phát triển kỹ năng nghề nghiệp của họ. Trong số những yếu tố cơ bản, yếu tố ảnh hưởng rõ nét nhất là cơ chế , chính sách và công tác đào tạo bồi dưỡng. Các điều kiện về mặt chính trị, cơ sở phát triển kinh tế xã hội, nền tảng công nghệ: trong đó việc hoàn thiện nền tảng công nghệ giúp đảm bảo đổi mới sâu rộng phương pháp tổ chức và hoạt động tham mưu, công tác thông tin quản lý; nền tảng kinh tế giúp bảo đảm cụ thể hóa tối đa định hướng tự chủ trong phát triển kinh tế xã hội, thiết lập quan hệ hợp tác, đối ngoại; giảm sự lệ thuộc về xây dựng chính sách, giảm sức ép chính trị từ các thế lực bên ngoài… 2.3. Yêu cầu, nguyên tắc tổ chức hoạt động tham mưu của cơ quan hành chính NN ở trung ương 2.3.1. Yêu cầu về năng lực, tổ chức bộ máy tham mưu Tham mưu phải đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ quản lý, chỉ đạo và điều hành công việc của bộ máy quản lý hành chính nhà nước; Đảm bảo chất lượng tham mưu, đề xuất; Đảm bảo tính khả thi và hiện thực trong công tác tham mưu; Đáp ứng các yêu cầu cải cách hành chính. Cần xác định rõ mối quan hệ chức năng, quyền hạn, cơ cấu, thẩm quyền, trách nhiệm, cũng như cần xác định mô hình phối kết hợp nhằm nâng cao hiệu quả và tránh lãng phí chồng chéo. 2.3.2. Nguyên tắc chủ yếu trong công tác tham mưu của cơ quan HCNN ở trung ương Đảm bảo đúng các quy định hiện hành của pháp luật, các chế độ, chính sách của nhà nước; Có cơ sở khoa học, khách quan, trung thực; Đề cao trách nhiệm trong công tác tham mưu; Nguyên tắc toàn diện, tổng hợp. 2.4. Tổ chức bộ máy, đội ngũ nhân sự tham mưu trong cơ quan hành chính NN ở trung ương 10 2.4.1. Tổ chức bộ máy tham mưu trong cơ quan hành chính nhà nước Vấn đề xây dựng hệ thống văn bản pháp luật về tham mưu, xác định vị trí tham mưu, phân lập chức năng tham mưu và thực thi;Thiết kế, phân tích và phân công công việc trong bộ máy tham mưu. Xét về quy mô, vị trí của chủ thể lãnh đạo quản lý, đối tượng phục vụ của tham mưu, ta có thể thấy quy mô đội ngũ tham mưu có thể không giống nhau. Có 3 cấp độ về quy mô bộ máy tham mưu: từ quy mô nhỏ nhất đến quy mô lớn nhất. Xét về nội dung lĩnh vực tham mưu, có thể chia ra loại tham mưu tổng hợp và tham mưu lĩnh vực chuyên ngành. Bên cạnh đó, tiến hành tổ chức quy trình kỹ thuật tham mưu, đảm bảo cơ sở xác định trách nhiệm tham mưu. 2.4.2. Tổ chức, quản lý đội ngũ nhân sự tham mưu hành chính Nội dung kỹ năng của đội ngũ chuyên viên tham mưu cơ quan hành chính NN: liên quan đến các kỹ năng thu thập, xử lý thông tin, phân tích, tổng hợp thông tin, phát hiện vấn đề, đề xuất, xây dựng và trình bày ý tưởng… cũng như các kỹ năng mềm liên quan như: khả năng giao tiếp, phối hợp…Nói đến thực trạng đội ngũ cần tính toán đến 2 mặt: số lượng và chất lượng.Về tổ chức đội ngũ tham mưu: công tác tổ chức nhân sự tham mưu tập trung vào các nhiệm vụ: Lập kế hoạch, thực hịên, kiểm tra, đánh giá các nội dung: đào tạo, bổ nhiệm, tuyển dụng, xây dựng lực lượng; phân công nhiệm vụ, đánh giá, đảm bảo chính sách, chế độ, xây dựng quy trình thực hiện, phương pháp phối hợp thực hiện Xây dựng năng lực đội ngũ tham mưu trong tổ chức làm việc với lãnh đạo. 2.5. Phương tiện kỹ thuật, công nghệ tham mưu 2.5.1. Khái niệm kỹ thuật,phương pháp kỹ thuật Cán bộ tham mưu thực hiện nhiệm vụ xử lý thông tin, xây dựng phương án đề xuất trình lãnh đạo thông qua hệ thống các công cụ kỹ thuật và công nghệ, bao gồm: hệ thống trang thiết bị, cơ sở kỹ thuật phục vụ tham mưu; Tổ chức cơ sở dữ liệu, thông tin, hồ sơ tài liệu; các công cụ, phương tiện cơ bản thực thi nhiệm vụ tham mưu. 2.5.2. Trang thiết bị kỹ thuật tham mưu Cũng như các vị trí trong bộ máy hành chính, trang thiết bị kỹ thuật cơ bản phục vụ tham mưu thường bao gồm: 11 - Trang thiết bị kỹ thuật, máy móc phục vụ tham mưu trong tổ chức xử lý thông tin, chia sẻ dữ liệu; - Trang thiết bị máy móc phục vụ hội nghị, thực hịên các nhiệm vụ tham mưu; - Trang thiết bị liên kết, phối kết hợp trong họat động tham mưu; - Trang thiết bị phục vụ kiểm soát hệ thống; - Dịch vụ kỹ thuật trong tham mưu ; - Công cụ thuộc về tính năng máy móc,kỹ thuật như máy tính, phần mềm chuyên dụng, các thiết bị tuyền thông, liên lạc… 2.6. Quy trình, phương pháp thực hiện hoạt động tham mưu 2.6.1. Phương pháp xác định vấn đề Phương pháp xác định vấn đề một cách chính xác đòi hỏi dựa trên việc xây dựng nguồn tin, kênh thông tin, đảm bảo tính kịp thời của thông tin. Đặc biệt cần coi trọng tính chính xác, đầyđủ của thông tin và một yêu cầu nữa là tính dự báo cao của thông tin quản lý, cần có cơ sở dữ liệu về diễn biến, quá trình lịch sử của vấn đề để xác định mức độ tất yếu vấn đề sẽ phát sinh, giúp cho việc đầu tư giải quyết vấn đề được hiệu quả, tránh lãng phí. Đồng thời phát hiện vấn đề cần mang tính kịp thời để giúp cho các cấp quản lý chủ động ứng phó. 2.6.2. Tổ chức hệ thống cơ sở dữ liệu, thông tin cho tham mưu Theo đặc thù của hoạt động quản lý hành chính, hoạt động đảm bảo thông tin trong công tác tham mưu cũng bao gồm các nội dung sau:Tổ chức nguồn tin, xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu, dịch vụ cung cấp thông tin, công tác quản lý hồ sơ, tài liệu trong tham mưu. Nội dung công tác xử lý thông tin trong tham mưu bao gồm: - Thu thập, đánh giá, phân loại, kiểm tra, chọn lọc, sắp xếp; - Xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu, lưu giữ, tra tìm; - Tổng hợp, phân tích, xây dựng phương án; - Xây dựng nguồn tin, tổ chức nguồn tin; - Phân tích hoàn cảnh, tình huống. Tính kịp thời và bảo mật: Một trong những vấn đề quan trọng trong quá trình xử lý thông tin mà người tham mưu cần đảm bảo đó là tính kịp thời và bảo mật của thông tin. Thông tin tham mưu đặc biệt quan trọng do nó phục vụ cho việc đề ra chiến lược chỉ đạo, điều hành. Nguyên tắc làm việc của bộ máy tham mưu cần được xây dựng trên cơ sở cơ chế bảo mật mang tính yêu 12 cầu cá nhân nhưng cần kết hợp một cách tối ưu với phương án chia sẻ thông tin giữa các ngành, lĩnh vực. 2.6.3. Phương pháp, xây dựng phương án, chiến lược, kế hoạch, quy hoạch Xây dựng phương án trong tham mưu là bước tiếp theo trong quy trình tham mưu sau các hoạt động xác định vấn đề và xử lý thông tin trong tham mưu. Xây dựng phương án trong tham mưu là xây dựng giải pháp nhằm giải quyết vấn đề được xác định. Yêu cầu đối với việc xây dựng phương án trong tham mưu cần được đảm bảo tính khách quan, hợp lý, khả thi, kịp thời, phù hợp với mục tiêu, mục đích quản lý, tiết kiệm, hiệu quả, đúng căn cứ, đúng thẩm quyền và các yêu cầu cụ thể cần đặt ra 2.6.4. Phương pháp trình bày đề xuất, là, việc với lãnh đạo: Nhóm kỹ năng làm việc với lãnh đạo có thể có 2 khía cạnh: - Kỹ năng làm việc trực tiếp với lãnh đạo; - Kỹ năng làm việc gián tiếp với lãnh đạo, thông qua việc thực thi các nhiệm vụ phục vụ lãnh đạo. 2.7. Kinh nghiệm công tác tham mưu hành chính trên thế giới Kinh nghiệm một số quốc gia như Pháp tuyển chọn rất khắt khe 200/ hàng ngàn người. Mô hình tổ chức cơ chế tham mưu độc lập, mô hình đổi mới tổ chức, hoạt động của Chính phủ. Một số nước trên thế giới xây dựng quy trình tham mưu theo hướng tăng cường trách nhiệm tham mưu trong thẩm định tính hợp pháp của văn bản. Mô hình phát triển các viện chính sách ( Châu Á, Mỹ..). 13 Chương 3 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC THAM MƯU CỦA CƠ QUAN HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC Ở TRUNG ƯƠNG 3.1. Khái quát về cơ quan hành chính nhà nước ở trung ương Luận án giới thiệu khái quát tổ chức hoạt động, cơ cấu tổ chức, chức năng nhiệm vụ của cơ quan hành chính nhà nước ở trung ương gồm Chính phủ, các bộ, cơ quan ngang bộ, các cơ quan, đơn vị sự nghiệp thuộc bộ. 3.2. Hệ thống văn bản quy định hiện hành và thực trạng cơ cấu tổ chức bộ máy tham mưu hành chính nhà nước 3.2.1. Hệ thống văn bản quy định hiện hành của nhà nước về công tác tham mưu Thời gian qua, những nội dung những văn bản trên đã được áp dụng đem lại hiệu quả to lớn trong việc ban hành chính sách thiết thực, phù hợp với các tiêu chí hội nhập. Tuy nhiên, những yêu cầu về cải cách bộ máy và xây dựng thể chế trong tình hình mới về hội nhập sâu vào nền kinh tế thế giới, phá vỡ thế khó khăn, trì trệ hiện nay cũng như những lúng túng trong vận dụng chính sách xây dựng nền hành chính với hàm lượng tri thức cao đặt ra cho việc cải cách thể chế một cách linh hoạt hơn, đặc biệt là trong xây dựng đội ngũ chuyên gia, thu hút nhân tài trong bộ máy công chức hành chính và trách nhiệm đối với chất lượng tham mưu. Vẫn còn nhiều bất cập trong các nội dung văn bản quy định hiện hành như: chưa xác định rõ và thẩm quyền, trách nhiệm phân cấp quản lý ở trung ương và chế độ trách nhiệm của người đứng đầu trong hệ thống cơ quan hành chính.... 3.2.2. Thực trạng cơ cấu tổ chức bộ máy tham mưu HCNN Thời gian qua, Chính phủ đã rà soát lại chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của từng cơ quan, đơn vị, tiếp tục xây dựng, sửa đổi, bổ sung các văn bản, như Luật Tổ chức Chính phủ, Luật Tổ chức chính quyền địa phương. Đã ban hành các nghị định quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ. Tuy về cơ bản, bộ máy tham mưu hành chính đã được cơ cấu lại tương đối hợp lý, song vẫn còn nhiều vấn đề bất cập chưa được giải quyết đặt ra nhiệm vụ cho thời gian tới. 14 3.2.3. Thực trạng đội ngũ nhân sự tham mưu của cơ quan HCNN ở TƯ Kết quả khảo sát cho thấy có đặc điểm năng lực đội ngũ tham mưu hành chính có nhiều thay đổi tích cực theo định hướng cải cách hành chính. Những thay đổi này có liên quan trực tiếp đến những đổi mới trong công tác tuyển dụng, bố trí cán bộ tham mưu. Bên cạnh những thành tựu đạt được, năng lực đội ngũ tham mưu cũng nảy sinh nhiều bất cập. Từ đây đặt ra yêu cầu đổi mới mạnh mẽ hơn nữa công tác tuyển dụng, bố trí cán bộ tham mưu. 3.3. Thực trạng quy trình thực hiện công tác tham mưu hành chính NN ở trung ương 3.3.1. Thực trạng kỹ năng phát hiện vấn đề Những vấn đề do tham mưu phát hiện thường được tiến hành thông qua các cuộc họp giao ban, tiếp xúc với đại diện các cục thực thi: các cục thực thi báo cáo những trường hợp chưa giải quyết, chậm giải quyết, những vướng mắc do quy định pháp luật chưa rõ ràng, đầy đủ. Việc thực hiện nội dung này còn nhiều bất cập như xác định vấn đề chưa trúng, chưa sâu, chưa kịp thời. 3.3.2. Thực trạng tổng hợp, phân tích thông tin Khảo sát sơ bộ thì trong 3 năm gần đây, hầu như tất cả những đề xuất chính sách, ban hành văn bản quy phạm pháp luật đều có lấy ý kiến. Tuy nhiên, mức độ thực hiện thì có sự khác nhau. Trách nhiệm của tham mưu trong vấn đề này là chưa xây dựng được danh mục hệ thống các tổ chức, cá nhân cần lấy ý kiến. Hồ sơ đánh giá tác động trong 1-2 năm gần đây có được chú ý đảm bảo thực hiện, song còn mang tính hình thức và sơ sài. 3.3.3. Thực trạng xây dựng nội dung báo cáo Trên thực tế, các báo cáo của cơ quan hành chính nhà nước vẫn chưa thực sự đầy đủ khi thiếu phần phân tích hiệu quả. Các con số thống kê trong báo cáo chưa đủ làm căn cứ, dữ liệu để đánh giá một cách khách quan và đầy đủ tình hình và năng lực quản lý nhà nước của các cấp các ngành. 3.3.4. Thực trạng áp dụng công thức thống kê- dự báo Một vấn đề nữa là công thức tính để thống kê cần chính xác, thống nhất và phù hợp thực tiễn. Có nhiều quyết định dựa trên số liệu đúng nhưng công thức tham mưu tính sai hoặc quá cũ cũng gây nguy hại. 3.3.5. Thực trạng xây dựng, đề xuất phương án trình lãnh đạo Luận án đã đánh giá hiệu quả vịêc áp dụng các phương pháp tư duy ở mức trung bình: Phác thảo, xây dựng hệ thống ý tưởng, năng lực liên hệ các vấn đề tổng hợp, dự báo diễn biến của đội ngũ tham mưu;Đánh giá năng lực 15 tiếp cận lãnh đạo, trình bày ý tưởng của tham mưu, khả năng thuyết phục của tham mưu, chiêu thức PR cho chính sách. 3.4. Thực trạng đánh giá chất lượng hoạt động tham mưu của cơ quan HCNN ở trung ương 3.4.1. Thực trạng đánh giá sản phẩm tham mưu Nội dung luận án đề giới thiệu bảng tổng hợp khảo sát đánh giá sản phẩm tham mưu qua các năm. Qua kết quả báo cáo rà soát văn bản quy phạm pháp luật quy ra điểm số theo thang điểm 100 và qua khảo sát ý kiến đánh giá sự hài lòng từ phía lãnh đạo, chủ thể sử dụng cán bộ tham mưu, tổng hợp điểm trung bình có thể thấy sự đánh giá năng lực và chất lượng tham mưu tăng từ trung bình lên mức tốt qua từng năm tuy nhiên không tăng đều đặn. Việc tăng nhanh hoặc tăng chậm có thể thấy do tác động của môi trường kinh tế xã hội đòi hỏi ngày một cao đối với chất lượng tham mưu. Sự cải tiến chất lượng tham mưu nếu không ngày càng quyết liệt và có chiến lược cụ thể thì sẽ không đáp ứng đươc sự thay đổi rất nhanh của xã hội. 3.4.2. Thực trạng công tác đánh giá công chức tham mưu Việc đánh giá còn dễ dãi, nhiều khi mang tính cào bằng và tạo nên tâm lý chán nản cho những nhân sự tốt, có năng lực và nhiệt huyết trong bộ máy. Tiêu chí đánh giá kết quả công tác hàng năm đối với đội ngũ tham mưu chưa rõ ràng. Thiếu thông tin về hiệu quả thực tế của phương án do tham mưu tổng hợp, đề xuất. Thời gian vừa qua cũng ghi nhận những cải tiến nhất định của cơ quan hành chính NN trong quản lý nhân sự có trình độ, bằng các văn bản quy đinh và các biện pháp triển khai thực hiện, giúp cho đội ngũ tham mưu giúp việc có sự điều chỉnh, thanh lọc, có thái độ làm việc nghiêm túc, tập trung hơn. 3.4.3. Định giá sản phẩm tham mưu Tính chi phí và đánh giá các đề xuất chính sách là 2 nội dung hoạt động khác nhau với các mục tiêu khác nhau. Tính chi phí để định giá chi trả cho những đề xuất. Các quyết định sách lược và giải quyết sự vụ cũng không được đánh giá đề đánh giá chất lượng tham mưu. Luận án xây dựng phương pháp định giá sản phẩm tham mưu, làm tiền đề xây dựng thị trường ý tưởng. 3.5. Thực trạng các điều kiện đảm bảo hiệu quả cho hoạt động tham mưu của cơ quan HCNN ở trung ương 3.5.1. Thực trạng công tác nhân sự tham mưu 16 Cách thức tuyển dụng về yêu cầu kỹ thuật đặt ra là tương đối phù hợp với tiêu chí nền đối với đội ngũ chuyên môn, song việc tuyển dụng công chức nguồn vẫn chưa mang tính sáng tạo, linh hoạt, chưa đánh giá được năng lực về sự sáng tạo, kinh nghiệm, bản lĩnh. Vẫn còn thiếu những tiêu chí đánh giá về khả năng làm việc độc lập, phương pháp phân tích và xử lý thông tin để xây dựng giải pháp. Về nội dung, chương trình, công tác mở lớp và quản lý lớp: Kết quả ứng dụng kiến thức kỹ năng đào tạo vào công việc chuyên môn của đội ngũ tham mưu cũng có những đột phá, tuy vẫn còn mang tính lẻ tẻ, chưa được sâu rộng, phổ biến, chưa nâng đến tầm áp dụng công nghệ. Luận án giới thiệu bảng tổng hợp kết quả đánh giá công tác mở lớp đào tạo cán bộ tham mưu. 3.5.1. Thực trạng đảm bảo các điều kiện, tổ chức thông tin, quản lý hồ sơ, tài liệu trong tham mưu Luận án giới thiệu bảng tổng hợp đặc điểm thông tin phục vụ tham mưu chính sách. Nội dung đánh giá cho thấy: Việc tổ chức thông tin vẫn chưa áp dụng đồng đều, công tác quản lý hồ sơ, tài liêu giấy còn cẩu thả, tuỳ tịên (nhiều nơi thiếu danh mục hồ sơ, việc lựa chọn tiêu đề chưa khoa học, chưa xác định được thời hạn bảo quản tài liệu, việc nộp lưu còn rất hạn chế, thông tin chưa được phân loại); Đặc biệt, việc áp dụng công nghệ thông tin trong lưu trữ và tổng hợp, phân tích thông tin trong các vụ còn yếu. Luận án giới thiệu đặc điểm nguồn thông tin thực tiễn và hoạt động đi thực tế của tham mưu. 3.5.3. Tổng hợp điều kiện, tổ chức đảm bảo hiệu quả công tác tham mưu Luận án giới thiệu bảng tổng hợp xác định mối quan hệ giữa chất lượng tham mưu với các điều kiện, yếu tố ảnh hưởng tới hoạt động tham mưu cùng với phân tích nội dung. Luận án chỉ ra mức độ thỏa mãn yêu cầu thực tiễn các điều kiện về mặt tổ chức chưa giải quyết được các thách thức đối với hoạt động tham mưu trong giai đoạn tới. 3.6. Đánh giá chung và và phân tích nguyên nhân chất lượng hoạt động tham mưu Đánh giá chung về đặc điểm đội ngũ tham mưu cho thấy về cơ bản, đội ngũ tham mưu đáp ứng những yêu cầu, nguyên tắc chung của công tác này. Tuy nhiên, đối chiếu với nhiệm vụ và yêu cầu cải cách hành chính trong tình hình mới, thực trạng đội ngũ chưa thể đáp ứng được yêu cầu đổi mới, cụ thể là những yêu cầu về tính linh hoạt, tập trung trí tuệ, tổ chức xử lý thông tin kịp thời và đưa ra các dự báo tầm xa. 17 Nguyên nhân chủ quan trong khâu tổ chức, quản lý, đào tạo bồi dưỡng bộ máy, nhân sự tham mưu: Đội ngũ tham mưu chưa có nhiều cải tiến trong hoạt động xuất phát từ chính năng lực của đội ngũ này, bắt đầu từ khâu tuyển dụng, đào tạo và sử dụng cán bộ. Tiêu chuẩn sử dụng, đánh giá năng lực đội ngũ tham mưu vẫn còn chung chung, từ đó chưa có cơ sở đổi mới hoạt động tuyển dụng, đào tạo, cũng như khó xây dựng cơ chế khuyến khích đặc biệt đối với đội ngũ này. Về tổ chức bộ máy, các viện nghiên cứu còn tản mát, hoặc mang tính hình thức, chưa phát huy hiệu quả nghiên cứu khoa học ứng dựng vào thực tiễn xây dựng chính sách. Các nguyên nhân trên có mối quan hệ hữu cơ với nhau đòi hỏi xây dựng giải pháp đồng bộ, có kế hoạch trước mắt và lâu dài tăng cường năng lực đội ngũ tham mưu. 18
- Xem thêm -