Tài liệu Hoàn thiện cơ chế tín dụng của ngân hàng phát triển việt nam, chi nhánh ninh bình

  • Số trang: 102 |
  • Loại file: DOC |
  • Lượt xem: 48 |
  • Lượt tải: 0
nhattuvisu

Đã đăng 27125 tài liệu

Mô tả:

LỜI MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Mỗi tổ chức kinh tế, xã hội được thành lập và hoạt động đều phải có cơ chế quy định phương thức, đối tượng, mục tiêu hoạt động; thông qua cơ chế để Nhà nước điều chỉnh, tác động vào tổ chức theo định hướng của Nhà nước. Ngân hàng Phát triển Việt Nam là một tổ chức kinh tế được Nhà nước thành lập do vậy phải xây dựng và luôn hoàn thiện cho mình một hệ thống các cơ chế để tổ chức hoạt động đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ Nhà nước giao cho. Ngân hàng Phát triển Việt Nam được Thủ tướng Chính phủ thành lập năm 2006, theo đó các chi nhánh được thành lập ở các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và đi vào hoạt động. Ngân hàng Phát triển Việt Nam là một tổ chức tài chính – tín dụng của Nhà nước. Năm năm hoạt động với NHPT Việt Nam ( tên giao dịch quốc tế: Viet Nam Development Bank, viết tắt là VDB ) mới chỉ là bắt đầu hình thành, xây dựng hệ thống tổ chức bộ máy, cơ chế hoạt động, xây dựng cơ sở vật chất kinh tế, kỹ thuật; tất cả đang còn rất mới mẻ. Cơ chế hoạt động nói chung của VDB trong đó cơ chế tín dụng là chủ yếu, trong giai đoạn đầu còn nhiều hạn chế phải luôn được hoàn thiện để đáp ứng yêu cầu cấp bách của sự nghiệp đổi mới phát triển kinh tế - xã hội của Đảng, Nhà nước ta và sự tồn tại, phát triển của Ngân hàng Phát triển Việt Nam. Hoạt động tín dụng của NHPT Việt Nam mang tính đặc thù: không vì mục đích lợi nhuận, thực hiện cho vay ưu đãi để phát triển kinh tế - xã hội, nên cần phải có cơ chế đặc thù; do vậy phải xây dựng và hoàn thiện cơ chế tín dụng là yêu cầu cấp thiết đối với NHPT Việt Nam nói chung và chi nhánh Ninh Bình. Từ những lý do trên tôi chọn đề tài : “ Hoàn thiện cơ chế tín dụng của Ngân hàng Phát triển Việt Nam, Chi nhánh Ninh Bình” làm đề tài nghiên cứu cho luận văn. 1 2. Tình hình nghiên cứu Đã có một số công trình nghiên cứu ở trong nước về tiền tệ, tín dụng, ngân hàng phát triển; song mới nghiên cứu các vấn đề chung về lý thuyết tiền tệ, tín dụng, ngân hàng, hoặc về kỹ thuật nghiệp vụ tín dụng ngân hàng, mà ch ưa có nghiên cứu một cách có hệ thống về cơ chế tín dụng của ngân hàng phát triển. Tiến sĩ Phan Thị Thu Hà với “ Ngân hàng phát triển” ( giáo trình- 2005 ) đã giới thiệu một cách chung nhất về ngân hàng phát triển, vai trò, hoạt động của NHPT và phương pháp phân tích tài chính của dự án phát triển. TS. Nguyễn Kim Anh, Ths. Đỗ Kim Hảo trong “ Những kiến thức cơ bản về tín dụng, phương pháp quản lý cấp tín dụng” (2006) đã đi sâu hướng dẫn cụ thể các phương pháp, kỹ thuật quản lý cấp tín dụng. Tiến sỹ Trần Công Hòa đã có những nghiên cứu về “ Chiến lược hoạt động của Ngân hàng Phát triển Việt Nam” đề xuất những định hướng hoạt động trên các mặt nghiệp vụ của VDB. Một số bài viết của các đồng nghiệp trên tạp chí Hỗ trợ phát triển thảo luận về kỹ thuật các nghiệp vụ của VDB hay một số đề tài nghiên cứu khoa học trong hệ thống VDB để giải quyết những vấn đề cụ thể của nghiệp vụ: Bảo đảm tiền vay; Phát triển nguồn nhân lực; Cho vay vốn lưu động đối với các dự án đầu tư phát triển… Một số luận văn cao học nghiên cứu về vai trò của tín dụng ngân hàng đối với chuyển dịch cơ cấu kinh tế. 3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu. - Mục đích: Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn về cơ chế tín dụng của Ngân hàng Phát triển Việt Nam, thực hiện ở chi nhánh Ninh Bình. Từ đó đề ra các giải pháp chủ yếu để hoàn thiện cơ chế tín dụng, nhằm góp phần phát triển kinh tế xã hội tỉnh Ninh Bình. - Nhiệm vụ: Làm rõ cơ sở lý luận về cơ chế tín dụng ( Tín dụng đầu tư và Tín dụng xuất khẩu) của Nhà nước ở Ngân hàng Phát triển Việt Nam, thực hiện ở chi nhánh Ninh Bình. 2 Phân tích thực trạng thực hiện cơ chế tín dụng ở Chi nhánh NHPT Ninh Bình. Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm hoàn thiện cơ chế tín dụng. Một số kiến nghị với các cơ quan có thẩm quyền về chính sách, cơ chế có liên quan đến Tín dụng đầu tư và Tín dụng xuất khẩu của Nhà nước. 4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu: Cơ chế tín dụng của Ngân hàng Phát triển Việt Nam, thực hiện tại chi nhánh Ninh Bình. Phạm vi nghiên cứu: do điều kiện khuôn khổ luận văn và thời gian nghiên cứu bị hạn chế, mà cơ chế tín dụng nói chung của NHPT Việt Nam rất rộng. Vì vậy tác giả tập trung nghiên cứu cơ chế Cho vay đầu tư và Cho vay xuất khẩu là hai hoạt động nghiệp vụ chính, chủ yếu đã triển khai thực hiện ở NHPT Việt Nam nói chung và Chi nhánh NHPT Ninh Bình nói riêng. Luận văn sử dụng tư liệu về thực hiện cơ chế tín dụng ở Chi nhánh NHPT Ninh Bình giai đoạn 2006 – 2010. 5. Phương pháp nghiên cứu: - Dựa trên cơ sở lý luận kinh tế Mác – Lê Nin và các học thuyết kinh tế - tiền tệ, tín dụng hiện đại. - Sử dụng phương pháp duy vật biện chứng, phương pháp lô gic và lịch sử kết hợp các phương pháp phân tích, tổng hợp, thống kê, trong quá trình nghiên cứu đề tài. 6. Những đóng góp của luận văn: - Làm rõ cơ sở lý luận về cơ chế tín dụng của NHPT Việt Nam và việc thực hiện ở chi nhánh NHPT Ninh Bình. - Thông qua phân tích tình hình thực hiện cơ chế tín dụng của NHPT Việt Nam ở chi nhánh NHPT Ninh Bình, phát hiện những hạn chế và nguyên nhân của hạn chế; từ đó đề ra được những giải pháp sát thực và khả thi để hoàn thiện cơ chế 3 tín dụng của NHPT Việt Nam và thực hiện cơ chế đó ở Chi nhánh NHPT Ninh Bình. 7. Kết cấu của luận văn: Ngoài Lời Mở đầu và Kết luận, luận văn có 3 chương: - Chương I: Những vấn đề cơ bản về cơ chế tín dụng của NHPT Việt Nam. - Chương II: Thực trạng cơ chế tín dụng ở Chi nhánh NHPT Ninh Bình, giai đoạn 2006 – 2010 - Chương III: Phương hướng và giải pháp hoàn thiện cơ chế tín dụng của NHPT Việt Nam, Chi nhánh NHPT Ninh Bình. 4 CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CƠ CHẾ TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG PHÁT TRIỂN VIỆT NAM 1.1.Những vấn đề cơ bản về tín dụng của NHPT Việt Nam 1.1.1.Tổng quan về tín dụng 1.1.1.1.Quan niệm về tín dụng Tín dụng có nhiều khái niệm dưới các góc độ khác nhau; từ thời xưa theo tiếng La tinh: Creditum có nghĩa là sự tin tưởng, tín nhiệm lẫn nhau, là lòng tin. Theo K. Mác, tín dụng là sự chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị từ người sở hữu sang người sử dụng, sau một thời gian nhất định lại quay về với một lượng giá trị lớn hơn lượng giá trị ban đầu. Theo Kinh tế chính trị: Tín dụng là một yếu tố trong hệ thống tài chính, gắn liền với kinh tế hàng hoá và kinh tế thị trường, là một hình thức vận động của vốn tiền tệ. Tín dụng là mối quan hệ kinh tế giữa chủ thể sở hữu vốn ( người cho vay ) với chủ thể sử dụng vốn nhàn rỗi ( người vay ) trong nền kinh tế theo nguyên tắc tạm thời chỉ chuyển quyền sử dụng, có thời hạn và hoàn trả cả vốn gốc lẫn lợi tức. Như vậy tín dụng có 3 nội dung chủ yếu là: Tính chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị, tính thời hạn và tính hoàn trả. Với quan niệm tín dụng như trên, tín dụng có những đặc trưng sau: - Tín dụng là sự cung cấp một lượng giá trị dựa trên cơ sở lòng tin, trong quan hệ này người chủ sở hữu vốn tin tưởng người sử dụng vốn có hiệu quả sau một thời gian nhất định và do đó có khả năng trả nợ đầy đủ. - Tín dụng là sự chuyển nhượng một lượng giá trị có thời hạn: Để đảm bảo thu hồi nợ đúng hạn, người cho vay thường xác định rõ thời hạn cho vay. Việc xác định thời hạn cho vay dựa vào chu kỳ luân chuyển vốn của đối tượng sử dụng vốn vay, dựa vào tính chất của nguồn vốn ( ngắn, trung, dài hạn ). 5 - Tín dụng là sự chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị trên nguyên tắc phải hoàn trả cả gốc và lãi. Quan hệ tín dụng biểu hiện thông qua sự vận động của vốn tiền tệ, qua 3 giai đoạn: Thứ nhất là phân phối tín dụng dưới hình thức cho vay. Ở giai đoạn này, giá trị vốn được chuyển từ người cho vay sang người vay. Thứ hai là sử dụng vốn trong quá trình tái sản xuất. Người vay sau khi nhận được giá trị vốn tín dụng, họ được quyền sử dụng lượng giá trị đó để thỏa mãn nhu cầu sản xuất hoặc tiêu dùng của mình, trong một khoảng thời gian nhất định mà không có quyền sở hữu. Thứ ba là sau khi vốn tín dụng hoàn thành một chu kỳ SXKD trở về hình thái tiền tệ ban đầu, vốn tín dụng được người vay hoàn trả người cho vay cả gốc và lợi tức. 1.1.1.2. Phân loại tín dụng: Trong nền kinh tế thị trường, hoạt động tín dụng rất đa dạng với nhiều hình thức khác nhau, phải phân loại tín dụng để có cách thức quản lý, tác nghiệp phù hợp với sự vận động của hàng hoá, có hiệu quả, an toàn vốn. Phân loại tín dụng thường dựa trên một số tiêu thức chủ yếu: theo thời hạn; theo đối tượng sử dụng vốn; theo giai đoạn quá trình tái sản xuất; theo tính chất của quan hệ tín dụng. * Theo thời hạn tín dụng được chia thành 3 loại: - Tín dụng ngắn hạn; - Tín dụng trung hạn; - Tín dụng dài hạn. * Theo đối tượng sử dụng vốn, tín dụng được phân thành 2 loại chính: - Tín dụng vốn lưu động; - Tín dụng vốn cố định. 6 * Theo giai đoạn quá trình tái sản xuất: - Tín dụng sản xuất và lưu thông hàng hóa: cung cấp vốn cho doanh nghiệp, chủ thể SXKD. - Tín dụng tiêu dùng: Cho vay các cá nhân đáp ứng nhu cầu tiêu dùng, như: mua sắm nhà, xe, hàng hóa khác… * Theo tính chất của quan hệ tín dụng: - Tín dụng thương mại: Là quan hệ mua – bán chịu hàng hóa, dịch vụ, với kỳ hạn trả ( thanh toán bằng tiền hoặc hàng hóa ) và lợi tức nhất định. - Tín dụng ngân hàng: Là quan hệ tín dụng được thực hiện thông qua vai trò trung gian của các ngân hàng. Ngân hàng vừa là người đi vay để tập trung nguồn vốn nhàn rỗi rồi cho vay lại và được hưởng phần chênh lệch lợi tức, bù đắp cho chi phí hoạt động, có lãi. - Tín dụng tập thể: là hình thức tự nguyện góp vốn của các thành viên trong một tập thể để cho nhau vay hoặc cùng nhau kinh doanh tín dụng, như các hiệp hội, các HTX tín dụng. - Tín dụng nhà nước được thực hiện thông qua các hình thức: + Nhà nước chuyển một phần ngân sách, vay nợ từ nền kinh tế rồi chuyển cho các tổ chức tài chính, tín dụng của nhà nước để cho vay phát triển kinh tế - xã hội theo định hướng của Nhà nước, như các hình thức tín dụng ở Ngân hàng phát triển. + Nhà nước vay nợ các chủ thể của nền kinh tế: phát hành công trái, trái phiếu, để bù đắp thiếu hụt ngân sách nhà nước. 1.1.2.Tín dụng ngân hàng phát triển Việt Nam 1.1.2.1. Khái quát về ngân hàng phát triển Hiện nay hệ thống ngân hàng ở các nước trên thế giới thường bao gồm: ngân hàng thương mại, ngân hàng đầu tư ( kinh doanh trong lĩnh vực chứng khoán ), ngân hàng phát triển. Do nhu cầu khách quan về nguồn vốn trung, dài hạn và mục 7 tiêu đặc biệt của chiến lược phát triển kinh tế, xã hội của quốc gia, cần phải thực hiện đầu tư phát triển thông qua việc đầu tư các dự án phát triển mà ở đó các NHTM, các doanh nghiệp khó có khả năng đáp ứng. Vì vậy chính phủ các nước thường thành lập ngân hàng phát triển là một định chế của nhà nước để thực hiện đầu tư hoặc hỗ trợ đầu tư cho các dự án phát triển. Ngoài ra ngân hàng phát triển còn thực hiện một số hoạt động hỗ trợ khác: tín dụng xuất khẩu; bảo lãnh tín dụng đầu tư… Ngân hàng Phát triển là một tổ chức tín dụng, hoạt động chủ yếu là tài trợ trung và dài hạn cho các dự án phát triển. Đã có những ngân hàng phát triển trên thế giới được sớm thành lập và hoạt động có hiệu quả, đóng vai trò quan trọng vào sự phát triển kinh tế xã hội, như: Ngân hàng phát triển châu Á; Ngân hàng phát triển cộng đồng Mỹ; Ngân hàng Phát triển Nhật Bản; Ngân hàng Phát triển Hàn Quốc; Ngân hàng Phát triển Trung Quốc; Ngân hàng tái thiết Đức… - Đặc điểm của Ngân hàng Phát triển: + NHPT là một tổ chức tín dụng có nhiệm vụ tập trung các nguồn vốn trung , dài hạn để đầu tư có trọng điểm và ưu đãi cho các dự án phát triển; thông qua đó thực hiện chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của nhà nước; góp phần tích cực chuyển đổi cơ cấu kinh tế, tăng trưởng và phát triển bền vững. + NHPT khuyến khích và duy trì hiệu quả kinh tế của các dự án, để có thể thu hồi đủ vốn cho vay và có lãi, qua đó thực hiện có hiệu quả mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội: cho vay vốn lưu động đối với các dự án đầu tư phát triển đã được vay vốn đầu tư. + NHPT hỗ trợ các DN và các vùng kinh tế thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá: cho vay nhập khẩu thiết bị và công nghệ tiên tiến; cho vay các dự án phát triển cơ sở hạ tầng: điện, nước sạch, đường giao thông…để phát triển các vùng, miền, lĩnh vực còn khó khăn, lạc hậu. + NHPT là tổ chức tín dụng của nhà nước hoặc được nhà nước hỗ trợ, hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận của bản thân mà nhằm thực hiện chính sách hỗ 8 trợ của nhà nước đối với nền kinh tế, là công cụ để nhà nước tác động, điều chỉnh hoạt động đầu tư, hoạt động của thị trường theo định hướng của nhà nước. 1.1.2.2.Tín dụng Ngân hàng Phát triển Việt Nam - Giới thiệu khái quát về NHPT Việt Nam: Ngân hàng Phát triển Việt Nam được thành lập trên cơ sở chuyển đổi mô hình hoạt động từ Qũy Hỗ trợ phát triển. Qũy Hỗ trợ phát triển được Thủ tướng Chính phủ thành lập và hoạt động từ ngày 01 tháng 01 năm 2000, với chức năng nhiệm vụ là một tổ chức tài chính nhà nước thuộc Chính phủ, thực hiện chính sách hỗ trợ tín dụng đầu tư và tín dụng xuất khẩu của Nhà nước. Trong hoàn cảnh nước ta hội nhập kinh tế ngày càng sâu rộng với kinh tế quốc tế, thì mô hình tổ chức tài chính nhà nước như Qũy Hỗ trợ phát triển gặp nhiều khó khăn trong quan hệ kinh tế quốc tế và hình thức bảo hộ của nhà nước đã không còn phù hợp với yêu cầu quốc tế hóa về thương mại, đầu tư, thuế… Vì vậy Ngân hàng Phát triển được thành lập để đáp ứng yêu cầu đó. Ngân hàng Phát triển Việt Nam là một tổ chức tài chính - tín dụng của nhà nước, do Chính phủ thành lập theo quyết định số 108/2006/QĐ-TTg, ngày 19/5/2006, để thực hiện chính sách Tín dụng đầu tư phát triển và Tín dụng xuất khẩu của Nhà nước và các nhiệm vụ khác theo quyết định của Thủ tướng Chinh phủ. Theo đó, hoạt động của NHPT không vì mục đích lợi nhuận, tỷ lệ dự trữ bắt buộc là 0%, được Chính phủ bảo đảm khả năng thanh toán, miễn nộp thuế. Vốn điều lệ là 5000 tỷ đồng, nay là 10.000 tỷ đồng. Thời hạn hoạt động là 99 năm. Nguồn vốn hoạt động của NHPT Việt Nam: cũng theo QĐ 108/ TTg nói trên, nguồn vốn của NHPT, bao gồm: nguồn vốn từ ngân sách, có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước; nguồn vốn huy động: phát hành trái phiếu, chứng chỉ tiền gửi từ các tổ chức kinh tế - xã hội; vay các tổ chức tài chính… nhận uỷ thác của các tổ chức trong và ngoài nước; vốn đóng góp tự nguyện không hoàn trả của các cá nhân, tổ chức trong và ngoài nước; vốn nhận uỷ thác cấp phát, cho vay của chính quyền địa phương, các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước. Các nguồn vốn khác theo quy định của pháp luật. 9 Về Cơ cấu tổ chức của NHPT Việt Nam gồm: + Hội đồng quản lý: do Thủ tướng Chính phủ quyết định, có các bộ, ngành là thành viên: Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Ngân hàng nhà nước và Ngân hàng Phát triển. + Ban Kiểm soát; + Bộ máy điều hành gồm: Hội sở chính: Ban Tổng giám đốc, các ban, trung tâm thực hiện quản lý và điều hành hệ thống NHPT Việt Nam. Các sở giao dịch, các chi nhánh, văn phòng đại diện trong và ngoài nước; thực hiện tác nghiệp theo chức năng, nhiệm vụ được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Điều lệ về tổ chức và hoạt động. Về chức năng và nhiệm vụ của NHPT Việt Nam: + Huy động, tiếp nhận vốn của các tổ chức trong và ngoài nước để thực hiện chính sách Tín dụng đầu tư phát triển và Tín dụng xuất khẩu của Nhà nước theo quy định của Chính phủ; + Thực hiện chính sách Tín dụng ĐTPT ; + Thực hiện chính sách Tín dụng xuất khẩu; + Nhận uỷ thác quản lý nguồn vốn ODA được Chính phủ cho vay lại; nhận uỷ thác, cấp phát cho vay đầu tư và thu hồi nợ của khách hàng từ các tổ chức trong và ngoài nước thông qua hợp đồng nhận uỷ thác giữa NHPT với các tổ chức uỷ thác; + Uỷ thác cho các tổ chức tài chính, tín dụng thực hiện nghiệp vụ tín dụng của NHPT; + Cung cấp các dịch vụ thanh toán cho khách hàng và tham gia hệ thống thanh toán trong nước và quốc tế phục vụ các hoạt động của NHPT theo quy định của pháp luật. + Thực hiện nhiệm vụ hợp tác quốc tế trong lĩnh vực TD ĐT và TDXK; 10 + Thực hiện một số nhiệm vụ khác do Thủ tướng Chính phủ giao. - Các hình thức tín dụng của Ngân hàng Phát triển Việt Nam: Hoạt động tín dụng của NHPT Việt Nam bao gồm hai hình thức chủ yếu: Tín dụng đầu tư và Tín dụng xuất khẩu của Nhà nước. + Về Tín dụng đầu tư: gồm 3 nghiệp vụ là Cho vay đầu tư, Bảo lãnh tín dụng đầu tư và Hỗ trợ sau đầu tư. Cho vay đầu tư: Là hình thức tín dụng trung, dài hạn của NHPT cho các chủ đầu tư vay vốn để thực hiện dự án đầu tư thuộc danh mục quy định của Chính phủ. Đây là nghiệp vụ chủ yếu trong hoạt động của NHPT. Hỗ trợ sau đầu tư: Là hình thức cấp hỗ trợ một phần lãi suất sau đầu tư của Chính phủ thông qua NHPT Việt Nam cho chủ đầu tư có dự án đầu tư thuộc đối tượng vay vốn TD ĐT của nhà nước nhưng không vay NHPT, mà đã vay vốn đầu tư của các tổ chức tín dụng hoạt động hợp pháp tại Việt Nam, sau khi dự án đầu tư đã hoàn thành đưa vào sử dụng và trả được nợ vay. Bảo lãnh tín dụng đầu tư: Là hình thức NHPT bảo lãnh cho chủ đầu tư có dự án đầu tư thuộc danh mục đối tượng vay vốn TD ĐT của nhà nước nhưng không vay ở NHPT mà có nhu cầu được bảo lãnh để vay vốn đầu tư tại các tổ chức tín dụng khác. + Về Tín dụng xuất khẩu gồm 3 hình thức như sau: Cho vay xuất khẩu: là hình thức NHPT Việt Nam cho vay vốn lưu động ( ngắn hạn ) đối với nhà xuất khẩu ở trong nước để sản xuất hoặc trong khâu thanh toán hàng hoá xuất khẩu, hoặc đối với nhà nhập khẩu ở nước ngoài nhập khẩu hàng hoá của Việt Nam, thuộc danh mục hàng xuất khẩu được vay vốn TDXK do Chính phủ quy định. Có hai hình thức cho vay xuất khẩu là cho vay nhà xuất khẩu có hợp đồng xuất khẩu và cho vay nhà nhập khẩu có hợp đồng nhập khẩu thuộc danh mục hàng hoá xuất khẩu do Chính phủ quy định trong từng thời kỳ. Cho vay xuất khẩu cũng là hình thức nghiệp vụ chủ yếu của NHPT. 11 Bảo lãnh tín dụng xuất khẩu: Là hình thức NHPT Việt Nam bảo lãnh cho nhà xuất khẩu có hợp đồng XK hàng hoá thuộc danh mục mặt hàng vay vốn TDXK, nhưng không vay vốn TDXK của Nhà nước mà có nhu cầu bảo lãnh để vay vốn TDXK ở các tổ chức tín dụng khác hoạt động hợp pháp tại Việt Nam. Bảo lãnh dự thầu và Bảo lãnh thực hiện hợp đồng xuất khẩu: Là việc NHPT Việt Nam bảo lãnh cho nhà xuất khẩu tham gia dự thầu hoặc thực hiện hợp đồng xuất khẩu hàng hoá thuộc danh mục mặt hàng vay vốn TDXK của nhà nước. 1.1.2.3. Đặc điểm của tín dụng NHPT Việt Nam - Tín dụng Ngân hàng Phát triển Việt Nam có những đặc điểm của tín dụng ngân hàng phát triển nói chung trên thế giới: Một là: Tín dụng NHPT chủ yếu là huy động nguồn vốn trung, dài hạn để cho vay đầu tư các dự án, chương trình phát triển kinh tế ngành, vùng, quốc gia ( gọi tắt là các dự án phát triển: là dự án trực tiếp tạo ra các sản phẩm chiến l ược thúc đẩy sự phát triển kinh tế của ngành, vùng, quốc gia, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế hoặc cơ cấu thu nhập của nhiều bộ phận dân cư ). Từ đặc điểm trên nên các chính phủ của các quốc gia thường thành lập NHPT để thực hiện tín dụng đầu tư trung, dài hạn tài trợ cho các dự án phát triển như là một công cụ hỗ trợ (ưu đãi ) để phát triển kinh tế ngành, vùng, quốc gia. Hai là: NHPT còn thực hiện cho vay ngắn hạn các đối tượng được ưu đãi theo quy định của chính phủ: cho vay vốn lưu động đối với các dự án phát triển đã được vay đầu tư, hoặc cho vay hỗ trợ đối với sản xuất kinh doanh các mặt hàng xuất khẩu cần khuyến khích xuất khẩu. Ba là: Đặc điểm khác biệt nhất của tín dụng NHPT là phải huy động vốn với lãi suất thị trường để cho vay lãi suất ưu đãi thấp hơn lãi suất huy động, để thực hiện chính sách hỗ trợ phát triển kinh tế, xã hội của nhà nước. Do đó nhà nước có sự hỗ trợ cho NHPT về nguồn vốn, cấp bù chênh lệch lãi suất, bảo đảm khả năng thanh toán... Bốn là: Đối tượng của tín dụng ngân hàng phát triển thường được nhà nước quy định, trong phạm vi nhất định; các đối tượng được vay vốn NHPT là các dự án đầu tư phát triển, các mặt hàng xuất khẩu gặp khó khăn trên thị trường cần hỗ trợ 12 phát triển, hoặc là các dự án đầu tư trọng điểm, có tác động lớn đến sự phát triển cân đối bền vững nền kinh tế, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế. NHPT không được cho vay các đối tượng ngoài phạm vi quy định. Năm là: Nguồn vốn tín dụng NHPT chủ yếu là nguồn trung dài hạn, thường khan hiếm trên thị trường nhất là ở các nước đang phát triển như Việt Nam. Do vậy vấn đề nguồn vốn luôn là yếu tố quan trọng, có ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động tín dụng và cả sự tồn tại, phát triển của NHPT. Do đặc điểm của NHPT là thực hiện chính sách hỗ trợ của nhà nước vì vậy tín dụng NHPT phải huy động nguồn vốn trên thị trường với lãi suất cao để cho vay với lãi suất thấp hơn lãi suất huy động ( ưu đãi ). Nên càng cho vay nhiều càng mất cân đối tài chính, nhà nước càng phải cấp bù chênh lệch lãi suất cho NHPT. Sáu là: Do tín dụng NHPT là sự hỗ trợ của nhà nước đối với nền kinh tế, vì vậy tín dụng NHPT phải chịu sự hạn chế mạnh của nhà nước(các quy định quản lý, giám sát chặt chẽ ): đối tượng, mức cho vay, lãi suất huy động, lãi suất cho vay; thủ tục và phương thức quản lý cho vay, thu nợ; xử lý rủi ro và có thể có cả sự tác động của nhà nước đối với các quyết định tín dụng của NHPT. Do đó ảnh hưởng rất lớn đến kết quả, hiệu quả kinh tế của tín dụng NHPT. - Ngoài các đặc điểm chung của tín dụng NHPT đã nêu ở trên, tín dụng NHPT Việt Nam còn có những đặc điểm riêng như sau: Thứ nhất là: Chính phủ giao cho NHPT Việt Nam thực hiện đồng thời nhiều nhiệm vụ hỗ trợ phát triển cho nền kinh tế: Tín dụng đầu tư gồm cho vay đầu tư, bảo lãnh TD ĐT, hỗ trợ sau đầu tư; Tín dụng xuất khẩu gồm cho vay xuất khẩu, bảo lãnh cho vay xuất khẩu, bảo lãnh dự thầu và thực hiện hợp đồng; Hỗ trợ lãi suất 4%. Thứ hai là: Tín dụng NHPT Việt Nam có nhiều hình thức nghiệp vụ nên có một hệ thống các cơ chế tín dụng để vận hành các hình thức tín dụng; vì vậy rất phức tạp và gặp nhiều khó khăn trong xây dựng, triển khai thực hiện. Thứ ba là: Tín dụng NHPT Việt Nam là công cụ của Nhà nước để thực hiện chính sách hỗ trợ đầu tư, hỗ trợ xuất khẩu đối với nền kinh tế; vì vậy mang đậm tính chất ưu đãi, bảo hộ, mục tiêu xã hội và chịu sự điều tiết, hạn chế mạnh của Nhà nước. Tính hiệu quả kinh tế còn có lúc chưa được xem là điều kiện tiên quyết khi 13 xét duyệt cho vay, thể hiện trong các chương trình mục tiêu của Chính phủ ( mía đường, đánh bắt xa bờ…). Thứ tư là: Tín dụng NHPT Việt Nam chỉ thực hiện với một số đối tượng hạn chế trong phạm vi được Chính phủ quy định; hầu hết các đối tượng tín dụng này đều gặp khó khăn trong sản xuất kinh doanh, khả năng cạnh tranh thấp, và ở các vùng, khu vực khó khăn hoặc đặc biệt khó khăn. Do vậy hiển nhiên tín dụng NHPT Việt Nam phải có cơ chế đặc biệt để thực hiện và luôn phải đối mặt với rủi ro tín dụng. Thứ năm là: Tín dụng NHPT Việt Nam là tín dụng của Nhà nước, nên không được phép đầu tư trực tiếp ( mua cổ phần của DN ); không được phép đầu tư mạo hiểm như kinh doanh chứng khoán. Thứ sáu là: Nhưng đặc điểm khác biệt nhất của tín dụng NHPT Việt Nam là hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận, phải huy động vốn với lãi suất thị trường để cho vay lãi suất ưu đãi thấp hơn lãi suất huy động, để thực hiện chính sách hỗ trợ phát triển kinh tế, xã hội của nhà nước. Do đó nhà nước có sự hỗ trợ cho NHPT về nguồn vốn, cấp bù chênh lệch lãi suất, bảo đảm khả năng thanh toán... 1.1.2.4.Vai trò của tín dụng NHPT Việt Nam * Tập trung huy động vốn trung dài hạn, ngắn hạn để đầu tư các dự án phát triển và tài trợ vốn lưu động cho sản xuất kinh doanh hàng xuất khẩu; thông qua đó thực hiện chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia: Chiến lược công nghiệp hoá, hiện đại hoá; Chiến lược phát triển nông nghiệp, nông thôn; Chiến lược phát triển SXKD hàng xuất khẩu, thay thế hàng nhập khẩu; Chiến lược giáo dục, đào tạo nâng cao chất lượng nguồn nhân lực; Chiến lược bảo vệ môi trường: xử lý chất thải, tái tạo tài nguyên, trồng, chăm sóc rừng… 14 * Tín dụng đầu tư là một trong những phương thức đổi mới ĐTPT của nhà nước nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế, xóa bỏ cơ chế tập trung bao cấp – xin cho trong đầu tư. Thời kỳ bao cấp, nhà nước thực hiện cấp phát 100% vốn đầu tư, trong khi nguồn vốn rất hạn chế, nảy sinh tiêu cực, tham nhũng bởi xin – cho vốn đầu tư, thời gian đầu tư kéo dài làm thất thoát vốn và không có hiệu quả…Từ khi đổi mới, thực hiện cho vay đầu tư đối với các dự án có khả năng thu hồi vốn trực tiếp với nguyên tắc cho vay, có hoàn trả vốn ( gốc, lãi) hiệu quả kinh tế đã được nâng lên: vốn đầu tư của nhà nước đã được thu hồi để tiếp tục tái đầu tư cho nền kinh tế; thời gian thực hiện đầu tư nhanh, đúng tiến độ đề ra; hạn chế cơ bản tiêu cực do xin – cho trong cấp phát vốn đầu tư; nâng cao trách nhiệm sử dụng vốn đầu tư của người vay vốn ( chủ đầu tư) và người cho vay ( NHPT Việt Nam), vì thế hiệu quả kinh tế của các dự án đầu tư được chú trọng và nâng cao rõ rệt, hầu hết các dự án được vay vốn đầu tư hoàn thành đi vào hoạt động, phát huy hiệu quả kinh tế - xã hội, trả được nợ ( gốc và lãi). * Tín dụng đầu tư và tín dụng xuất khẩu của Nhà nước là những hình thức hỗ trợ đầu tư, hỗ trợ xuất khẩu của nhà nước đối với nền kinh tế, thể hiện trên hai phương diện sau: - Nhà nước chuyển nguồn từ ngân sách để NHPT cho vay ưu đãi đối với các dự án đầu tư phát triển, các mặt hàng xuất khẩu thuộc đối tượng theo quy định của Chính phủ, thể hiện các nội dung ưu đãi : + Được vay nguồn vốn trung, dài hạn để đầu tư phù hợp với tính chất: thời gian thực hiện đầu tư, thời gian vận hành kết quả đầu tư kéo dài của các dự án đầu tư phát triển. + Cho vay đầu tư, cho vay xuất khẩu với lãi suất ưu đãi thấp hơn lãi suất thị trường, phù hợp với các dự án đầu tư cơ sở hạ tầng lợi nhuận thấp, thời gian hoàn vốn dài, tạo điều kiện thuận lợi để phát triển SXKD của các dự án này. Mặt khác tạo điều kiện hạ thấp chi phí sản xuất, tăng khả năng cạnh tranh, khuyến khích SXKD hàng xuất khẩu. + Các chủ đầu tư, nhà xuất khẩu được vay vốn tín dụng của nhà nước được phép dùng tài sản hình thành trong tương lai ( hình thành từ vốn vay ) làm tài sản 15 bảo đảm ( thế chấp) để vay vốn. Điều này đã tháo gỡ khó khăn chủ yếu về điều kiện vay vốn cho các chủ đầu tư, tạo điều kiện thuận lợi cho chủ đầu tư tiếp cận, vay vốn đầu tư. + Các dự án vay vốn đầu tư của nhà nước được vay tối đa 70% tổng mức đầu tư hình thành tài sản cố định, các chủ đầu tư phải có tối thiểu 15% vốn chủ sở hữu ( vốn tự có ) tham gia đầu tư; cho vay tối đa bằng 85% giá trị HĐXK hoặc L/C đối với cho vay XK. Đây là sự ưu đãi rất lớn của Nhà nước, tạo điều kiện rất thuận lợi cho các Chủ đầu tư, Nhà xuất khẩu có thể huy động đủ vốn để tiến hành đầu tư, SXKD hàng xuất khẩu nhất là trong điều kiện năng lực tài chính của các DN còn hạn chế. - Ngân hàng Phát triển huy động vốn trên thị trường, được Chính phủ cấp bù chênh lệch lãi suất để thực hiện cho vay ưu đãi các dự án đầu tư phát triển, thực hiện HĐXK; thông qua việc cho vay đầu tư và cho vay XK mà NHPT thực hiện chính sách hỗ trợ đầu tư phát triển, hỗ trợ SXKD hàng XK đối với nền kinh tế. - Bằng việc Chính phủ thành lập và giao cho NHPT Việt Nam, một tổ chức tín dụng có chuyên môn, kinh nghiệm về đầu tư, đã hỗ trợ nhiều về kỹ thuật, thông tin, kinh nghiệm đầu tư, để tư vấn, trợ giúp cho các chủ đầu tư trong việc lựa chọn, thực hiện, vận hành công cuộc đầu tư thu được những kết quả, hiệu quả cả kinh tế và xã hội to lớn; góp phần quan trọng vào thực hiện thắng lợi chiến lược phát triển KT – XH của Đảng và nhà nước ta trong những năm qua. 1.2. Các yếu tố cấu thành, nhân tố ảnh hưởng và sự cần thiết hoàn thiện cơ chế tín dụng của NHPT Việt Nam 1.2.1. Quan niệm về cơ chế tín dụng Khái niệm về cơ chế nói chung: Là cách thức tổ chức vận hành các yếu tố, quan hệ, môi trường của một tổ chức, hoạt động kinh tế - xã hội theo các quy luật khách quan, nhằm đạt được mục tiêu hay kết quả mà các chủ thể tham gia mong muốn. Khái niệm về Cơ chế tín dụng dưới góc độ kinh tế chính trị học: cơ chế tín dụng là bộ máy kinh tế bao gồm tổng thể các yếu tố, các quan hệ, các quy tắc, luật lệ, môi trường để điều tiết toàn bộ sự vận động vốn tiền tệ theo hình thức tín dụng. 16 Như vậy cơ chế tín dụng bao gồm các yếu tố: chủ thể tham gia quan hệ tín dụng, đối tượng, điều kiện tín dụng, hàng hóa tín dụng là tiền tệ, giá cả tín dụng là lãi suất, tổ chức bộ máy quản lý, thực hiện, các quy tắc, luật lệ hoạt động tín dụng… Khái quát nội dung cơ chế tín dụng: Để xây dựng một cơ chế tín dụng, phải xác định đầy đủ hệ thống các yếu tố, các chủ thể tham gia trong quan hệ tín dụng, mục tiêu, động lực của hoạt động tín dụng; các quy tắc, luật lệ điều tiết, vận hành hoạt động tín dụng. 1.2.2. Các yếu tố cấu thành cơ chế tín dụng của ngân hàng 1.2.2.1. Hệ thống chính sách, các quy định của Nhà nước về tín dụng của ngân hàng Mỗi tổ chức kinh tế, xã hội khi tham gia vào thị trường hay hoạt động xã hội đều phải được nhà nước xác lập vị trí pháp lý bằng các văn bản pháp quy như luật, văn bản dưới luật và bản thân tổ chức cũng phải ban hành các quy định về quy chế, quy trình để tổ chức hoạt động. Đối với ngân hàng trung ương ( ở Việt Nam là Ngân hàng Nhà nước Việt Nam) được nhà nước quyết định thành lập và chịu sự điều chỉnh của các luật: Luật Ngân hàng nhà nước; Luật Tổ chức Chính phủ; dưới luật có các nghị định của Chính phủ hướng dẫn thi hành luật; các quy định của Thống đốc ngân hàng nhà nước để tổ chức hoạt động. Các ngân hàng chuyên doanh là các tổ chức tín dụng dưới hình thức các doanh nghiệp đặc biệt, hoạt động trong lĩnh vực tiền tệ. Vì vậy các ngân hàng được điều chỉnh bởi các luật: Luật các Tổ chức tín dụng; Luật Doanh nghiệp; các Luật Thuế và các luật khác có liên quan đến hoạt động kinh tế, thương mại, đầu tư. Các nghị định của Chính phủ, quyết định của Thủ tướng Chính phủ thành lập và tổ chức hoạt động các ngân hàng. Trong mỗi hệ thống ngân hàng ban hành các quy chế, quy trình các mặt nghiệp vụ: tín dụng, thanh toán, ngân quỹ, tổ chức, tiền lương… Hệ thống các văn bản pháp luật trên nhìn chung quy định các vấn đề tổ chức hoạt động tín dụng của các ngân hàng chuyên doanh như sau: 17 Quy định về hệ thống tổ chức: bộ máy quản lý và tác nghiệp từ trung ương tới địa phương ( Hội đồng quản trị hoặc Hội đồng thành viên hoặc Hội đồng quản lý; Ban điều hành; các ban, trung tâm ở hội sở chính; các sở giao dịch và các chi nhánh, phòng nghiệp vụ ở địa phương, khu vực…). Quy định chức năng, nhiệm vụ; quy định về quyền hạn và nghĩa vụ, trách nhiệm của mỗi hệ thống; đây cũng chính là giới hạn phạm vi hoạt động tín dụng của mỗi ngân hàng. Quy định mục tiêu hoạt động tín dụng; phương thức hoạt động; các yếu tố của cơ chế tín dụng và cả quy trình tổ chức hoạt động tín dụng ngân hàng. Quy định về cơ chế tài chính để phân phối kết quả từ hoạt động tín dụng mang lại: nghĩa vụ với nhà nước; nghĩa vụ đối với các thành viên của tổ chức; tích lũy đầu tư phát triển tổ chức và dự phòng rủi ro. 1.2.2.2. Quy trình tín dụng của ngân hàng Quy trình nghiệp vụ tín dụng là những quy định về nội dung, trình tự các bước thực hiện các công việc nghiệp vụ tín dụng thống nhất trong một hệ thống ngân hàng, nhằm mục đích đạt được những kết quả đã đề ra trong chiến lược, kế hoạch hoạt động của hệ thống. Trong mỗi hệ thống ngân hàng có thể ban hành quy trình nghiệp vụ tín dụng theo các hình thức khác nhau, như: Quy trình nghiệp vụ cho vay thu nợ; quy trình nghiệp vụ thẩm định; sổ tay nghiệp vụ tín dụng… Nhưng đều có các nội dung chung là quy định trình tự các bước, nội dung công việc của hoạt động tín dụng; để thực hiện cho vay một dự án đầu tư hoặc cho vay một phương án sản xuất kinh doanh hàng hóa, dịch vụ. Nội dung khái quát quy trình nghiệp vụ tín dụng của một ngân hàng gồm các bước như sau: - Ngân hàng tổ chức bộ máy nhân lực, công nghệ trong hệ thống, phân cấp, phân quyền, quy định trình tự các bước, các nội dung công việc và trách nhiệm của từng cá nhân, bộ phận, các cấp trong hoạt động tín dụng. - Lập hồ sơ vay vốn: Trên cơ sở những quy định của pháp luật nhà nước, của Ngân hàng nhà nước, của Hội sở chính ngân hàng, các Chi nhánh ngân hàng ở các địa phương phối hợp với chính quyền, các cơ quan quản lý nhà nước, các doanh nghiệp, các tổ chức tín dụng, để khảo sát, tìm kiếm, hướng dẫn cho chủ đầu tư có dự 18 án thuộc đối tượng vay vốn TDĐT theo quy định lập hồ sơ dự án đầu tư; hoặc các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh hàng hóa, dịch vụ thuộc đối tượng vay vốn theo quy định lập hồ sơ phương án SXKD để xin vay vốn; gửi đến chi nhánh ngân hàng. - Chi nhánh ngân hàng thẩm định dự án đầu tư, phương án SXKD theo các nội dung: đối tượng vay vốn; quy hoạch, kế hoạch; tính khả thi của dự án ĐT, của phương án vay vốn, hiệu quả kinh tế , xã hội, khả năng hoàn trả vốn vay ( gốc và lãi); năng lực ( pháp lý, tài chính, hoạt động kinh doanh, uy tín thị trường); xác định các định mức tín dụng, các giới hạn tín dụng, cân đối nguồn vốn, khả năng cho vay của ngân hàng, tài sản bảo đảm tiền vay…để quyết định chấp thuận hoặc không chấp thuận cho vay. Nếu không thuộc thẩm quyền quyết định tín dụng ( không được phân cấp ) thì chi nhánh ngân hàng thẩm định các nội dung nói trên rồi trình Hội sở chính thẩm định, ra quyết định tín dụng. Hai bên tiến hành thương thảo, thỏa thuận, tự nguyện ký hợp đồng tín dụng ( HĐTD ), hợp đồng bảo đảm tiền vay ( HĐBĐTV ) khi có thông báo chấp thuận cho vay của Hội sở chính ngân hàng. - Giải ngân cho vay vốn, kiểm soát sử dụng vốn vay: các chi nhánh ngân hàng hướng dẫn khách hàng vay vốn lập hồ sơ giải ngân theo tiến độ thực hiện dự án ĐT hoặc phương án SXKD hàng hóa, dịch vụ; tiến hành kiểm tra, khối lượng thực hiện, xác định số vốn vay giải ngân; giải ngân vốn vay; kiểm tra sử dụng vốn vay đúng mục đích theo HĐTD đã ký. - Dự án đầu tư hoàn thành đưa vào hoạt động, phương án kinh doanh hàng hóa, dịch vụ hoàn thành và thực hiện tiêu thụ, chi nhánh ngân hàng bám sát các khách hàng để nắm bắt tình hình SXKD, hiệu quả hoạt động của dự án đầu tư, phương án SXKD, nắm nguồn thu, tiến hành thu nợ vốn vay theo HĐTD đã ký. Thu thập thông tin về kết quả, hiệu quả kinh tế, xã hội, tình hình thu hồi nợ… của dự án hay phương án SXKD vay vốn; đánh giá hiệu quả của cho vay đầu tư, cho vay vốn SXKD, rút kinh nghiệm cho công tác tín dụng của ngân hàng. - Quản trị rủi ro và kiểm tra giám sát hoạt động tín dụng: Các chi nhánh ngân hàng thực hiện các biện pháp thu thập thông tin của dự án, khoản vay, tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh, tình hình tài chính doanh nghiệp, tình hình thị trường; tiến hành phân tích, đánh giá, xác định các chỉ tiêu về mục đích sử dụng vốn vay, hiệu quả kinh tế tài chính, xu hướng biến động của thị 19 trường và của doanh nghiệp, dự đoán rủi ro… để đề ra các biện pháp phòng ngừa, xử lý rủi ro. Các chi nhánh ngân hàng thực hiện kiểm tra, giám sát và chấp hành sự kiểm tra, giám sát của các cơ quan có thẩm quyền trong suất quá trình hoạt động tín dụng, nhằm đảm bảo việc thực hiện hoạt động tín dụng đúng quy định của pháp luật, của chính sách nhà nước và các quy định của ngành. - Xử lý nợ: Trường hợp dự án đầu tư, phương án SXKD gặp rủi ro khách quan làm suy giảm, hoặc mất hiệu quả kinh tế chủ đầu tư, khách hàng vay vốn SXKD không trả được một phần hoặc toàn bộ nợ vay vốn tín dụng của ngân hàng sẽ được các ngân hàng xem xét, cùng các chủ đầu tư, khách hàng tìm biện pháp tháo gỡ khó khăn, phát triển SXKD để tạo nguồn thu nợ đầy đủ theo HĐTD. Hoặc lập phương án xử lý rủi ro theo quy định của nhà nước trình cấp có thẩm quyền xử lý. Các biện pháp xử lý rủi ro thường bao gồm: giãn nợ, khoanh nợ, xóa nợ một phần hoặc toàn bộ. - Thanh lý hợp đồng tín dụng: khi dự án vay vốn đầu tư hay phương án SXKD vay vốn lưu động hoàn thành đầy đủ nghĩa vụ trả nợ của HĐTD hoặc các trường hợp khác theo quy định của pháp luật ( được xử lý nợ ), hai bên thanh lý HĐTD. 1.2.2.3. Tổ chức thực hiện hoạt động tín dụng ngân hàng - Các chủ thể trong quan hệ tín dụng: Trong quan hệ tín dụng có các chủ thể tham gia giao kết với nhau bằng hợp đồng tín dụng, hợp đồng bảo đảm tiền vay và thực hiện các hợp đồng. Các chủ thể chủ yếu trong các quan hệ tín dụng cụ thể như sau: + Hội sở chính các ngân hàng ủy quyền cho các Chi nhánh ngân hàng là bên cho vay, thu nợ; người nhận bảo đảm tiền vay; xử lý rủi ro tín dụng. Các tổ chức tín dụng khác là bên đồng tài trợ (nếu có), có thể có các quan hệ phối, kết hợp trong quản lý cấp tín dụng, quản lý tài sản đảm bảo chung, thu nợ. + Bên vay vốn nhận vốn vay, sử dụng vốn vay đúng mục đích, trả nợ vay vốn tín dụng của ngân hàng; là người bảo đảm tiền vay; được xử lý rủi ro vốn vay theo quy định của Nhà nước. 20
- Xem thêm -