Tài liệu Hoàn thiện chiến lược quảng cáo tại công ty giày bq

  • Số trang: 72 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 89 |
  • Lượt tải: 0
bangnguyen-hoai

Đã đăng 3509 tài liệu

Mô tả:

Khóa Luận Tốt Nghiệp GVHD: Th.S Đỗ Văn Tính MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Đất nƣớc ta đang trong giai đoạn phát triển nền kinh tế thị trƣờng định hƣớng Xã Hội Chủ Nghĩa. Phát triển nền kinh tế thị trƣờng và việc hội nhập vào nền kinh tế thế giới là một tất yếu. Trải qua suốt chặng đƣờng đổi mới nền kinh tế nƣớc ta đã và đang hình thành một thị trƣơng kinh tế có sự cạnh tranh lành mạnh giữa các doanh nghiệp. Thị trƣờng quảng cáo của Việt Nam đƣợc dự đoán trong năm 2009 có mức tăng trƣởng 37%, một mức tăng trƣởng gấp 6 lần mức tăng trƣởng trung bình của thị trƣờng quảng cáo thế giới (6%), sự cạnh tranh trên thị trƣơng này sẽ trở nên gay gắt hơn bao giờ hết, sự xâm nhập của các công ty quảng cáo nƣớc ngoài sẽ càng làm thị trƣờng này nóng bỏng hơn. Điều này cũng cho thây những thay đổi trong nhận thức của các doanh nghiệp Việt Nam đối với quảng cáo. Công cụ quảng cáo ngày càng đƣợc khai thác mạnh mẽ, triệt để và trở thành công cụ quan trọng, hiệu quả để các doanh nghiệp quảng bá cho thƣơng hiệu của mình trên thị trƣờng, tạo dựng một chỗ đứng vững chắc cho thƣơng hiệu của doanh nghiệp trong tâm trí khách hàng. Mặt khác nhận thức của ngƣời tiêu dùng Việt Nam đối với các thông tin quảng cáo cũng đã có những thay đổi rất lớn. Vì vậy yêu cầu đặt ra cho các thông tin quảng cáo để có thể đạt đƣợc các mục tiêu của doanh nghiệp càng khắt khe hơn, đòi hỏi các doanh nghiệp khi xây dựng và thực hiện các chƣơng trình quảng cáo phải đầu tƣ có tính chiến lƣợc và hợp lý hơn. Công ty giày BQ là công ty 100% vốn sở hửu tƣ nhân có bề dày hơn 5 năm hoạt động trong lỉnh vực sản xuất kinh doanh chủ yếu các sản phẩm da giày tiêu thụ trong nƣớc và xuất khẩu, đã phần nào có đƣợc chỗ đứng vững trên thị trƣờng Việt Nam và dành đƣợc tình cảm yêu mến của khách hàng. Quảng cáo đã đóng góp không nhỏ cho quá trình phát triển đi lên, cho việc quảng bá sản phẩm- thƣơng hiệu, lôi kéo và duy trì lòng trung thành của khách hàng trong nhiều năm qua của công ty, chúng ta phải thừa nhận rằng quảng cáo luôn mang lại giá trị lan truyền vô cùng to lớn cho doanh nghiệp. Tuy vậy các chƣơng trình quảng cáo của công ty BQ vẫn chƣa thực sự tạo đƣợc những ấn tƣợng sâu sắc cho khách hàng, chƣa có tính sáng tạo và còn nhiều SVTH: Nguyễn Thanh Hải Trang 1 Lớp B13QTH Khóa Luận Tốt Nghiệp GVHD: Th.S Đỗ Văn Tính điểm còn bất cập trong suốt quá trình xây dựng và thực hiện các chƣơng trình quảng cáo. Hơn nữa, sang năm 2010 này, khi mà quảng cáo càng bùng nổ hơn bao giờ hết cả về số lƣợng và chất lƣợng, xu hƣớng tiêu dùng hàng hoá vì thƣơng hiệu là một tất yếu. Các chƣơng trình quảng cáo cần phải có chất lƣợng, độc đáo, sáng tạo, thu hút đƣợc sự chú ý của khách hàng và cuối cùng là tạo niềm tin thôi thúc khác hàng sử dụng sản phẩm giày dép của công ty BQ. Trong thời gian thực tập tại công ty TNHH SX-TM BQ đƣợc sự hƣớng dẫn của anh Phan Hải, hiện nay là thành viên hiệp hội marketing Việt Nam, giám đốc công ty đồng thời là ngƣời sáng lập thƣơng hiệu BQ và thấy giáo hƣớng dẫn TH.S Đỗ Văn Tính em đã chọn đề tài “Hoàn thiện chiến lược quảng cáo tại công ty giày BQ” làm chuyên đề thực tập. Trong chuyên đề em chủ yếu tập trung nghiên cứu đến thực trạng hoạt động Quảng cáo của công ty giày BQ. Từ đó đƣa ra một số giải pháp giúp cho việc hoàn thiện chiến lƣợc quảng cáo của công ty BQ để quảng cáo có thể có những đóng góp hơn nữa trong việc quảng bá thƣơng hiệu và phát triển của công ty giày BQ. 2. Mục đích nghiên cứu Có thể nói đối với mỗi doanh nghiệp thì hoạt động quảng cáo đóng vai trò rất quan trọng và cần thiết, tuy nhiên nhiều năm qua, có nhiều doanh nghiệp chƣa đƣa ra các kế hoạch và phƣơng pháp quảng cáo mang lại hiệu quả nhƣ mong muốn, vì vậy hoàn thiện chiến lƣợc quảng cáo trong mọi doanh nghiệp có lẻ là điều mà nhiều lãnh đạo doanh nghiệp mong muốn, vì vậy đề tài này sẽ góp phần cải thiện các chiến lƣợc quảng cáo của công ty giày BQ. 3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu Trong phạm vi thời lƣợng cho phép và kiến thức hạn chế nên đề tài này chỉ áp dụng cho các hoạt động quảng cáo tại công ty giày BQ mà thực tế đã tìm hiều và có sự đồng ý của lãnh đạo công ty. 4. Phƣơng pháp nghiên cứu Trong đề tài này em chủ yếu sử dụng phƣơng pháp thống kế, phân tích và mô hình toán... SVTH: Nguyễn Thanh Hải Trang 2 Lớp B13QTH Khóa Luận Tốt Nghiệp GVHD: Th.S Đỗ Văn Tính 5. Ý nghĩa thực tiển của đề tài Trong đề tài này em chủ yếu phân tích và đánh giá các hoạt động quảng cáo của công ty giày BQ trong những năm vừa qua, đồng thời qua đó rút ra những ƣu và nhƣợc điểm, điều gì cần đƣợc phát huy và loại bỏ để nhằm có các chiến lƣợc quảng cáo hiệu quả hơn, góp phần nâng cao hình ảnh thƣơng hiệu của doanh nghiệp, tăng khả năng bán hàng cho công ty. 6. Kết cấu của đề tài Ngoài phần mở đầu và kết luận, đề tài đƣợc cấu trúc thành 3 chƣơng: Chƣơng I: Một số vấn đề lý luận cơ bản của hoạt động Quảng Cáo Chƣơng II: Tổng quan về công ty và thực trạng hoạt động Quảng Cáo Chƣơng III: Các giải pháp hoàn thiện hoạt động Quảng Cáo tại Công ty giày BQ. SVTH: Nguyễn Thanh Hải Trang 3 Lớp B13QTH Khóa Luận Tốt Nghiệp GVHD: Th.S Đỗ Văn Tính CHƢƠNG I MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN CỦA HOẠT ĐỘNG QUẢNG CÁO 1.1 Khái niệm về Marketing và quảng cáo 1.1.1 Khái niệm về Marketing Có nhiều khái niệm xoay quanh đề tài này và có thể nói khái niệm nào cũng nói lên đúng bản chất vốn có của nó, và chúng ta đi vào từng khái niệm của các tác giả đã định nghĩa về marketing :  Tạo ra khách hàng Chuyển từ quan điểm theo đuổi việc bán hàng sang quan điểm tạo ra khách hàng. Trƣớc kia, nhà sản xuất hay cung ứng dịch vụ chỉ chạy theo khách hàng, nay họ biết đi trƣớc, đón đầu để nắm bắt thị hiếu khách hàng, chủ động đáp ứng nhu cầu này. Thậm chí họ chủ động khơi gợi nhu cầu của khách hàng.  Chú trọng các mối quan hệ Marketing truyền thống chỉ chú ý đến các giao dịch còn marketing hiện đại chú trọng không chỉ giao dịch mà còn là các mối quan hệ với khách hàng. Quan điểm cũ làm cho việc kinh doanh trở nên thô thiển và thực dụng song không có chiều sâu và sự bền lâu. Quan điểm mới chú ý xây dựng, vun đắp các quan hệ với khách hàng nên tổng đầu tƣ cho giao dịch lại giảm xuống mà hiệu quả tăng lên.  Chú trọng giành và giữ khách hàng Nhƣ chính Philip Kotler đã nhấn mạnh: "Trong marketing hiện đại, song song với việc thiết kế một hỗn hợp marketing tốt nhất để bán đƣợc hàng, ngày càng có xu hƣớng chú trọng hơn đến việc thiết kế hệ thống các mối quan hệ khách hàng tốt nhất để giành lấy và giữ khách hàng"  Thỏa mãn và duy trì sự trung thành của khách hàng Thay vì đánh giá hiệu quả marketing là phục vụ cho bán đƣợc nhiều hàng, ngày nay các tiêu chí đánh giá quan trọng nhất với marketing hiện đại lại là những nhân tố vô hình, đó là "thỏa mãn tốt nhất các nhu cầu của khách hàng" và "duy trì tối đa lòng trung thành của khách hàng". SVTH: Nguyễn Thanh Hải Trang 4 Lớp B13QTH Khóa Luận Tốt Nghiệp GVHD: Th.S Đỗ Văn Tính  Ảnh hƣởng của tƣ tƣởng Marketing hiện đại Tƣ tƣởng marketing hiện đại đã ảnh hƣởng đến nhận thức, hành xử của toàn bộ ngành marketing. Trận chiến mới của các công ty là trạn chiến để giành chỗ trong tâm trí khách hàng, giành lấy "top of mind" của khách hàng. Từ thay đổi này đã dẫn đến các phƣơng pháp làm việc mới, các cách tiếp cận mới, nhân bản và cũng tinh vi hơn. Hơn thế nữa, tƣ tƣởng marketing hiện đại còn tác động đến cả hành xử của nhà sản xuất hay cung ứng dịch vụ với các nhà thầu phụ và nhà phân phối của mình. Họ bắt đầu coi nhà thầu phụ và nhà phân phối là đối tác thay vì coi là khách hàng và đối xử tƣơng ứng theo nguyên tắc win - win.  Cách đo lƣờng Chính vì marketing hiện đại hƣớng đến và chú trọng các nhân tố vô hình trong khi thực thi các hành vi marketing nên cũng có những công cụ đo lƣờng mới đƣợc áp dụng để đo đếm mức độ thành công của các chiến dịch marketing. Một vài công cụ vẫn đƣợc nhắc đến là:  Rating Do các hãng chuyên nghiên cứu thị trƣờng thực hiện. Ở Việt Nam có TNS và AcNielsen thực hiện các dịch vụ này. Mục tiêu đo đếm và xếp hạng để đánh giá hiệu quả của các chiến dịch tài trợ, quảng cáo.  Monitoring Theo dõi thông tin theo một chuyên đề nào đó đƣợc đặt hàng. Các monitoring này cũng có thể đƣợc thực hiện và bán đại trà.  Phỏng vấn và Điều tra Thực hiện theo đơ đặt hàng nhằm vào một mục tiêu, chủ đề rõ rệt. Các phỏng vấn và điều tra này thƣờng đòi hỏi chi phí cao và một lƣợng lớn nhân lực thực hiện cũng nhƣ phân tích, lập báo cáo. 1.1.2 Khái niệm về quảng cáo Quảng cáo là hình thức tuyên truyền, giới thiệu thông tin về sản phẩm, dịch vụ, công ty hay ý tƣởng, quảng cáo là hoạt động truyền thông phi trực tiếp giữa ngƣời với ngƣời mà trong đó ngƣời muốn truyền thông phải trả tiền cho các phƣơng tiện SVTH: Nguyễn Thanh Hải Trang 5 Lớp B13QTH Khóa Luận Tốt Nghiệp GVHD: Th.S Đỗ Văn Tính truyền thông đại chúng để dƣa thông tin đến thuyết phục hay tác động đến ngƣời nhận thông tin Quảng cáo là những nỗ lực nhằm tác động tới hành vi, thói quen mua hàng của ngƣời tiêu dùng hay khách hàng bằng cách cung cấp những thông điệp bán hàng theo cách thuyết phục về sản phẩm hay dịch vụ của ngƣời bán. Trên thế giới, quảng cáo hiện nay đã phát triển tới những trình độ cao, tuy nhiên ở Việt Nam - do còn nhiều hạn chế - nên đa số các sản phẩm quảng cáo vẫn còn ở trình độ thấp. Các sản phẩm quảng cáo để có thể đến với khách hàng tiềm năng cần phải đƣợc truyền tải qua cac hƣơng tiện truyền thông, nhƣ: báo in, tạp chí, đài phát thanh, truyền hình, báo điện tử. Trong số các phƣơng tiện truyền thông kể trên, có thể nói báo điện tử là loại hình bắt nhịp đƣợc nhanh nhất những biến đổi của làng quảng cáo thế giới trên mạng Internet. Bên cạnh những tờ báo lớn nhƣ VnExpress, Dân trí, VietNamNet, Thanh Niên,... Hiện Việt Nam còn rất hiếm những trang quảng cáo gián tiếp. Đây là hình thức quảng cáo mà ngƣời thực hiện đóng vai trò trung gian cung cấp thông điệp quảng cáo từ nhà sản xuất, cung ứng (các công ty bán sản phẩm) tới ngƣời tiêu dùng. Quảng cáo gián tiếp ở đây có thể ví dụ nhƣ Adsense của Google hay là Adbride... 1.1.3 Lịch sử ra đời của quảng cáo Theo các tài liệu còn ghi lại thì cha đẻ của hình thức quảng cáo là một ngƣời Ai Cập cổ. Ông ta đã dán tờ thông báo đầu tiên trên tƣờng thành Thebes vào khoảng năm 3000 trƣớc Công nguyên. -Vài thế kỷ sau đó, ở Hy Lạp hình thức thông báo này trở nên rất phổ biến khi các thông tin dành cho công chúng đƣợc vẽ lên các tấm bảng gỗ trƣng bày ở quảng trƣờng thành phố. -Nếu nhƣ các bảng quảng cáo đã phát triển nhanh sau sự ra đời của phƣơng pháp in (bức áp phích đầu tiên do Caxton, ngƣời Anh, in từ năm 1477), thì họa sĩ Pháp J.Chéret (1835-1932) lại là ngƣời phát minh ra hình thức quảng cáo hiện đại. Đó là tờ quảng cáo một buổi biểu diễn năm 1867, gồm một câu ngắn và một hình ảnh màu mè gây ấn tƣợng mạnh. -Tuy nhiên, chính họa sĩ Italy L.Cappiello (1875-1942) mới là ngƣời đầu tiên thực sự đề cập tới áp phích quảng cáo với tấm biển quảng cáo kẹo chocolate "Klaus" của ông năm 1903. SVTH: Nguyễn Thanh Hải Trang 6 Lớp B13QTH Khóa Luận Tốt Nghiệp GVHD: Th.S Đỗ Văn Tính 1.1.4 Các phƣơng tiện quảng cáo phổ biến  Truyền hình  Báo chí  Internet  Phát thanh  Quảng cáo trực tuyến  Quảng cáo qua bƣu điện  Quảng cáo trên các phƣơng tiện vận chuyển  Quảng cáo qua các trang vàng  Quảng cáo trên tờ rơi, áp phích, pano hay băng-rôn  Quảng cáo trên bao bì sản phẩm  Quảng cáo qua gửi thƣ trực tiếp  Quảng cáo truyền miệng  Quảng cáo từ đèn LED 1.1.5 Đánh giá về môi trƣờng quảng cáo tại Việt Nam 1.1.5.1Nhận thức của ngƣời tiêu dùng Việt Nam với quảng cáo Tuy Quảng cáo chỉ mới xuất hiện trở lại ở Việt Nam từ năm 1990 trở lại đây trong đời sống kinh tế tiêu dùng của ngƣời Việt Nam nhƣng theo nghiên cứu mới nhất của giới chuyên nghành, ngƣời tiêu dùng Việt Nam đã hội nhập rất nhanh với xu thế thời đại. Theo kết quả nghiên cứu của 1000 ngƣời tiêu dùng Việt Nam thuộc mọi giới tính, tuổi tác, nghề nghiệp, trình độ ở Hà Nội, Thành Phố Hồ Chí Minh, Hải Dƣơng và Vĩnh Long tiến hành vào cuối năm 2007 đến đầu tháng 2/2008 bởi công ty Quảng cáo Leo Burnett Việt Nam phối hợp với công ty nghiên cứu thị trƣờng NFO Viet Nam cho thấy một số nhóm ngƣời tiêu dùng lĩnh hội và cảm nhận các bản tin, hình thức quảng cáo ở ngang mức giới tiêu dùng ở vài thị trƣờng láng giềng đã quá quen thuộc với Quảng cáo từ nhiều thập niên trƣớc nhƣ Malaysia và Thái Lan. Trong cuộc nghiên cứu này ngƣời ta phát hiện ra 3 đặc điểm về ngƣời tiêu dùng Việt Nam liên quan đến Quảng cáo: Sự tiếp nhận nhanh thông tin Quảng cáo: Ngƣời tiêu dùng Việt Nam khi đƣợc xem khoảng 50 khúc phim Quảng cáo ngắn trên truyền hình thuộc mọi nguồn gốc sản xuất nội địa và ngoại quốc, giới thiệu sản phẩm bằng những hình ảnh, lời Quảng cáo SVTH: Nguyễn Thanh Hải Trang 7 Lớp B13QTH Khóa Luận Tốt Nghiệp GVHD: Th.S Đỗ Văn Tính từ mức bình thƣờng đến mức rất chìu tƣợng thì kết quả cho thấy 6/10 ngƣời tiêu dùng Việt Nam đều nắm trọn bản tin. Hai là, Ngƣời tiêu dùng Việt Nam thƣờng yêu nhân vật trong các đoạn phim Quảng cáo sau đó mới dùng lý lẽ để giải thích tại sao họ thích khúc Quảng cáo ấy và sản phẩm ấy. Ba là, Ngƣời tiêu dùng Việt Nam bắt đầu mua sản phẩm vì biết đến thƣơng hiệu. Họ tỏ ra sành sỏi hơn trong chuyện mua sắm, trong việc cảm nhận các Quảng cáo vì họ đã bắt đầu sành điệu hơn về thƣơng hiệu. Ngoài ra nghiên cứu cũng cho thấy sự nhận thức về Quảng cáo giữa ngƣời miền Bắc và miền Nam không có sự khác biệt nhiều mà chỉ có sự khác biệt giữa nông thôn và thành thị khi mà ngƣời thành thị nhận thức tốt hơn ngƣời nông thôn rất nhiều. Trong giai đoạn hiện nay những Quảng cáo ít lời nhƣng thú vị thƣờng gây đƣợc sự chú ý của ngƣời tiêu dùng Việt Nam hơn là các Quảng cáo dùng quá nhiều lời thuyết minh, phóng đại quá mức về sản phẩm. Những Quảng cáo đƣợc ngƣời tiêu dùng Việt Nam cảm nhận và thích thú nhất là quảng cáo của Heineken( trong nhà hàng Nhật), Tiger beer( cuộc tìm kiếm), Nescafe (Cuộc sống hàng ngày của một thành viên trong xã hội), Ercsson( Buổi hoà nhạc) và YoMost ( đi cắm trại), đó là những đánh giá của ông Richard Burrage giám đốc điều hành của công ty NFO Vietnam. Còn theo ông Phil McDonald thì “ Ngƣời tiêu dùng Việt Nam biết thƣởng thức các khúc Quảng cáo hay và dƣ khả năng nắm bắt bất cứ kiểu cấu trúc sáng tạo quảng cáo nào”. Cũng theo các chuyên gia này thì chỉ sau 10 năm nữa thì ngƣời tiêu dùng Việt Nam sẽ đạt mức tự vệ chống lại các cơn mƣa quảng cáo. Tức là ngƣời tiêu dùng Việt Nam sẽ có khả năng tự chủ trƣớc các Quảng cáo. 1.1.5.2 Nhận thức của các doanh nghiệp Việt Nam về Quảng cáo Nhìn tổng quan trặng đƣờng phát triển của hơn một thập ký qua của quảng cáo Việt Nam ta có thể thấy đƣợc sự phát triển rất nhanh của thị trƣờng này, điều này cho phần nào thể hiện đƣợc sự quan tâm và nhận thức của các doanh nghiệp Việt Nam đối với hoạt độn quảng cáo trong việc quảng bá thƣơng hiệu và sản phẩm của các doanh nghiệp. Sự đầu tƣ vào hoạt động quảng cáo của các doanh nghiệp Việt Nam trong 5 năm trở lại đây cảng trở nên mạnh tay hơn bao giờ hết khi mà trong năm 2004 hai công ty Việt Nam lọt vào tốp 10 doanh nghiệp có chi phí khuyến mãi lớn nhất Việt Nam là Tân Hiệp Phát đứng thƣ 5 với chi phí là 4,9 triệu USD và Vinamilk đứng thứ SVTH: Nguyễn Thanh Hải Trang 8 Lớp B13QTH Khóa Luận Tốt Nghiệp GVHD: Th.S Đỗ Văn Tính 8 với chi phí 3,8 triệu USD, nhiều doanh nghiệp Việt Nam sẵn sàng bỏ ra vài chục triệu/1lần để thực hiện một đoạn Quảng cáo trên Tivi và đƣợc duy trì với tần số cao trong thời gian vài tháng, có doanh nghiệp còn thực hiện cả một đoạn phim ngắn 5 phút giới thiệu về doanh nghiệp trên truyền hình. Từ đó có thể thấy các doanh nghiệp Việt Nam đã bắt đầu nhận thức đƣợc sức mạnh và tầm quan trọng của Quảng cáo và trên thực tế cũng đã có rất nhiều các doanh nghiệp Việt Nam đã có những mẫu Quảng cáo hay nhƣ của Biti’s hay Bita's… Tuy vậy cũng phải thừa nhận rằng các doanh nghiệp của Việt Nam đại đa số họ vẫn chỉ coi Quảng cáo là một cái gì đó thứ yếu trong doanh nghiệp và việc Quảng cáo có cũng đƣợc và không có cũng không sao, đa phần các doanh nghiệp Việt Nam thực hiện các quảng cáo chỉ nhằm mục đích gây dựng sự chú y, bắt mắt, thú vị chứ chƣa thực sự đi vào bản chất của vấn đề là tạo một chỗ đứng trong tâm trí ngƣời khách hàng tiềm năng. Với các doanh nghiệp Việt Nam thì đa số họ cho rằng việc tạo chỗ đứng trong tâm trí khách hàng không quan trọng bằng việc tạo chỗ đứng trên thị trƣờng vì vậy các doanh nghiệp Việt Nam khi thiết kế các chƣơng trình Quảng cáo thƣờng có các lỗi sau: Chọn phƣơng tiện tuỳ tiện: ví dụ nhƣ nhiều doanh nghiệp kinh doanh hàng công nghiệp nhằm tới khách hàng là các doanh nghiệp mà vẫn chạy các Quảng cáo trên truyền hình, điều này thật quá lãng phí khi phải bỏ ra vài chục triệu đồng cho 30 giây Quảng cáo mà khách hàng mục tiêu lại không nhiêu ngƣời xem truyền hình Tần suất Quảng cáo: các doanh nghiệp Việt Nam thƣờng thích hoặc làm ăn đƣợc thì tung ra nhiều Quảng cáo còn nếu không hoạc hết thì bỏ ngay mà không quan tâm đến tác động của Quảng cáo, họ ít có các chiến lƣợc rõ ràng. Thông điệp Quảng cáo: Thông điệp quảng cáo thì mơ hồ, dài dòng hoặc quá thô sơ. Ví dụ nhƣ trên tấm biển lớn chỉ có tên nhãn hiệu và một câu khẩu hiệu biểu tƣợng gây khó hiểu hoặc hình mầu nền quá màu mè làm loãng hình ảnh thƣơng hiệu trong khi lại có địa chỉ và số điện thoại liên hệ không ai đọc đƣợc và nhớ nổi khi đi qua đƣờng. Nội dung quảng cáo: Nội dung thì quá ôm đồm, thiếu đồng bộ, tản mạn, ý tƣởng không mạnh, không mạch lạc, không có điểm nhấn. Ví dụ hình ảnh, nhân vật quảng cáo không thống nhất khi quảng cáo trên báo và truyền hình, kịch bản lãng SVTH: Nguyễn Thanh Hải Trang 9 Lớp B13QTH Khóa Luận Tốt Nghiệp GVHD: Th.S Đỗ Văn Tính mạn không nhấn vào đƣợc ý đồ cần quảng cáo khiến ngƣời tiêu dùng không tiếp thu và ghi nhớ đƣợc. Kết quả không tạo đƣợc hiệu ứng cộng hƣởng trong Quảng cáo. Tóm lại trên đây là những lỗi mà các doanh nghiệp Việt Nam thƣờng gặp phải trong quá trình thiết lập các chƣơng trình Quảng cáo nên các chƣơng trình Quảng cáo của các doanh nghiệp Việt Nam thƣơng kém hiệu quả. Do vậy trong tƣơng lai các doanh nghiệp Việt Nam cần phải có đƣợc cái nhìn sâu sắc hơn nữa về quảng cáo và đƣa ra các chiến lƣợc quảng cáo lâu dài, phù hợp với khách hàng mục tiêu hơn. 1.1.5.3 Đóng góp của quảng cáo Từ những phân tích trên cho thấy trải qua suốt trạng đƣờng lịch sử phát triển của mình Quảng cáo đã có những đóng góp vô cùng quan trọng đối với sự phát triển của các doanh nghiệp Việt Nam. Sự đóng góp của Quảng cáo đối với các doanh nghiệp Việt Nam thể hiện rất rõ thông qua tốc độ phát triển của thị trƣờng trong những năm gần đây khi và tống độ tăng trƣởng của thị trƣờng quảng cáo luôn ở mức cao và năm 2010 tốc độ tăng của thị trƣờng Quảng cáo dự đoán đạt mức 38%. Quảng cáo đã giúp cho các doanh nghiệp Việt Nam nhanh chóng hơn trong việc quảng bá thƣơng hiệu, sản phẩm tới khách hàng mục tiêu, giúp cho việc nhắc nhở duy trì sự ghi nhớ của khách hàng về các thƣơng hiệu của các doanh nghiệp, duy trì lòng trung thành của khách hàng cũ và tìm kiếm khách hàng mới… Chúng ta có thể nhận thấy 80% thị phần đang nằm trong tay hơn 20 công ty quảng cáo nƣớc ngoài. Con số thống kê mà Hiệp hội Quảng cáo đƣa ra sáng nay không làm ngƣời trong cuộc ngạc nhiên mà đặt ra câu hỏi: Làm gì để tháo gỡ khó khăn và giúp 1.000 doanh nghiệp trong nƣớc trụ vững ngay trên sân nhà. Theo giới chuyên môn, ngành quảng cáo Việt Nam hình thành từ 10 năm nay, khi Mỹ bắt đầu bãi bỏ cấm vận. Lúc đó, các công ty quảng cáo nƣớc ngoài đã đi cùng với những tập đoàn sản xuất hàng hoá lớn nhƣ Unilever, CocaCola, Pepsi và thổi một luồng sinh khí mới vào ngành công nghiệp non trẻ này. Các công ty quảng cáo Việt Nam khi ấy chỉ nhận gia công lại các chƣơng trình nhƣ sản xuất và lên kế hoạch truyền hình, phát sóng. Dần dần, thông qua học hỏi kinh nghiệm từ đồng nghiệp nƣớc ngoài, các công ty quảng cáo trong nƣớc lớn mạnh và bắt đầu nhận làm những hợp đồng trọn gói. SVTH: Nguyễn Thanh Hải Trang 10 Lớp B13QTH Khóa Luận Tốt Nghiệp GVHD: Th.S Đỗ Văn Tính “Các công ty quảng cáo Việt Nam đang phát triển mạnh mẽ. Họ nhanh chóng tích luỹ kinh nghiệm của các đồng nghiệp nƣớc ngoài và áp dụng nhanh chóng những khái niệm về quảng cáo vào thị trƣờng Việt Nam”, Phó chủ tịch Phòng Thƣơng mại châu Âu tại Việt Nam (Eurocham) Christian De Ruty nhận định. Theo ông, thuận lợi lớn nhất của ngành quảng cáo đó là các công ty tƣ nhân ở Việt Nam ngày một hiểu rõ tầm quan trọng cũng nhƣ sức mạnh của quảng cáo đối với sự sống còn của sản phẩm. Tuy nhiên, có một thực tế là trong số hơn 1 tỷ USD doanh thu từ quảng cáo mỗi năm tại Việt Nam, các công ty trong nƣớc chỉ đóng góp 10-20%. Trên 80% còn lại thuộc về số ít những tập đoàn quảng cáo lớn trên thế giới. “Tại thị trƣờng nội địa, nếu chỉ tính mảng gia công, thực hiện những công đoạn cuối cùng của quá trình quảng cáo thì các doanh nghiệp trong nƣớc chiếm tới 90%. Nhƣng nếu tính những hợp đồng quảng cáo lớn nhất, trọn gói thì các doanh nghiệp nƣớc ngoài chiếm tới 90%”, Giám đốc Công ty cổ phần giải pháp thị trƣờng Hoàng Gia, Ông Hoàng Hải Âu thừa nhận. Nguyên nhân chính, theo Ông Âu, là do các tập đoàn quốc tế chƣa tin vào trình độ nghiệp vụ của các công ty quảng cáo Việt Nam, vì vậy họ chỉ thuê các công ty nƣớc ngoài. Rất ít doanh nghiệp Việt Nam nhận đƣợc hợp đồng quảng cáo cho những tập đoàn nhƣ vậy, và nếu có cũng chỉ là hợp đồng phụ (sub-contract) thầu lại của một đối tác nƣớc ngoài. “Trong khi đó, khách hàng chủ yếu là những doanh nghiệp sản xuất của Việt Nam, họ tin vào chất lƣợng quảng cáo trong nƣớc nhƣng lại không đủ tiền để trang trải mọi chi phí” Ông này cho biết thêm. Cũng nhƣ Ông Âu, nhiều ngƣời trong ngành đều thừa nhận trình độ chuyên môn của các doanh nghiệp quảng cáo trong nƣớc đang là một hạn chế không nhỏ. Ở Việt Nam chƣa có trƣờng lớp nào đào tạo chính quy về chuyên ngành này. Bản thân các công ty khi nhận ngƣời đều phải đào tạo lại từ đầu nên phát triển nhân sự rất chậm. Cũng vì hạn chế về chuyên môn, nhiều đơn vị chỉ dám nhận làm từng phần, và chỉ mang tính chất gia công nhiều hơn. “Rất nhiều công ty tự gọi là quảng cáo nhƣng thực chất họ chỉ đang gia công quảng cáo. Giai đoạn quan trọng trƣớc đó là nghiên cứu và xây dựng, sáng tác ra lôgô của các thƣơng hiệu thì không mấy ngƣời tham gia. Đƣa sản phẩm vào hoạt động truyền thông đơn giản hơn nhiều”, giám đốc một công ty quảng cáo khác nhận xét. Nhận thức của các doanh nghiệp sản xuất hàng hoá và dịch vụ chƣa bắt kịp với tốc độ phát triển của quảng cáo cũng là một hạn chế. Đại diện Công ty Goldsun, ông Võ Văn SVTH: Nguyễn Thanh Hải Trang 11 Lớp B13QTH Khóa Luận Tốt Nghiệp GVHD: Th.S Đỗ Văn Tính Quang cho rằng, có một thực tế là trên thị trƣờng quảng cáo Việt Nam hiện nay, nhiều khi ngƣời mua cũng không biết mình phải mua cái gì. “Lắm khi mình đến một công ty đặt vấn đề hoạch định chiến lƣợc thƣơng hiệu thì họ không hiểu gì và cứ nghĩ chuyện đó phải do công ty quảng cáo xây dựng hộ. Nếu nhƣ các công ty quảng cáo quốc tế làm việc trên cơ sở hợp đồng độc quyền và hƣởng một mức phí khoảng 17,65% thì tại Việt Nam, các khách hàng không hiểu chuyện đó, họ vẫn chỉ mua bán theo từng dịch vụ cụ thể ví dụ nhƣ một chƣơng trình PR, một đoạn phim…”, ông nói. Thuế thu nhập doanh nghiệp cũng đang trở thành một vấn đề bức xúc của các công ty làm quảng cáo. “Mức thuế áp dụng với các doanh nghiệp trong lĩnh vực này hiện rất cao (28%), nó đƣợc duy trì từ những năm 90 của thế kỷ trƣớc, khi quảng cáo còn là ngành kinh doanh siêu lợi nhuận. Hồi đó, các tập đoàn quốc tế mới vào Việt Nam, họ trả cho quảng cáo bằng mức kinh phí làm tại đất nƣớc của họ, một biển tấm lớn họ có thể tới 40.000-100.000 USD. Trong khi đó, tiền thuê đất, thuê chỗ quảng cáo chỉ vài triệu đồng mỗi năm”, ông Hoàng Hải Âu tâm sự với VnExpress. Theo ông, vào thời điểm hiện nay, một biển tấm lớn nhƣ vậy giỏi lắm cũng chỉ ký đƣợc một hai chục nghìn đôla mà tiền thuê đất đã chiếm gần hết. Vậy mà chính sách thuế vẫn không hề thay đổi. “Thuế cao, cạnh tranh gay gắt, lợi nhuận ít đi dẫn đến tái đầu tƣ kém hơn. Muốn khuyến khích quảng cáo phát triển thành một ngành công nghiệp quan trọng thì đào tạo phải tốt, chính sách đúng”, ông kiến nghị. Ở tầm vĩ mô, Tổng thƣ ký Hiệp hội quảng cáo Việt Nam Trần Nguyên Đán cho rằng, ngành quảng cáo vẫn chƣa đƣợc đánh giá một cách đúng mực. “Phát triển kinh tế, đẩy mạnh xuất khẩu thì không thể thiếu quảng cáo. Lợi ích mà nó mang lại cho nền kinh tế không hề nhỏ. Ví dụ, để làm ra 1 tỷ USD, ngành thủy sản phải chi tới 60% cho tàu bè, đánh bắt, chế biến… nhƣng quảng cáo chỉ mất chƣa đến 10%.Vậy mà không ít ngƣời nghĩ nó nhƣ một tệ nạn và đặt ra những rào cản để hạn chế”, ông bức xúc. Cũng theo ông Đán, ngành quảng cáo luôn bị những khống chế về mặt chính sách, dù đã có hẳn một pháp lệnh cũng với những nghị định hƣớng dẫn riêng nhƣng các doanh nghiệp trong ngành luôn bị làm khó dễ bới những quy định riêng của mối địa phƣơng. Nếu nhƣ TP HCM có quy định cấm quảng cáo ngoài trời thì ở Đà Nẵng lại phân biệt mức phí trên không với mức phí dƣới nƣớc. “Còn ở Hà Nội, các thủ tục làm giấy phép quảng cáo đôi khi khó quá. Vì vậy, mới có chuyện các nhà quảng cáo phải tồn tại bằng cách dựng biển không phép. SVTH: Nguyễn Thanh Hải Trang 12 Lớp B13QTH Khóa Luận Tốt Nghiệp GVHD: Th.S Đỗ Văn Tính Chúng tôi chỉ mong các địa phƣơng làm đúng luật mà thôi”, ông tâm sự với VnExpress. Cùng chung nỗi bức xúc này, Tổng giám đốc Công ty Quảng cáo và Hội chợ Thƣơng mại Việt Nam (Vinexad) Nguyễn Thanh Thản cho VnExpress biết thêm, mới đây chính phủ lại có văn bản mới quy định quảng cáo thƣơng mại và hội chợ triển lãm phải do Bộ Thƣơng mại quản lý, trong khi Bộ Văn hoá Thông tin cũng đang quản lý lĩnh vực này. “Qua quá nhiều cửa, mất nhiều thời gian, chúng tôi làm sao đáp ứng đƣợc yêu cầu của khách hàng”, ông nói. Cũng theo Hiệp hội Quảng cáo Việt Nam, khung pháp lý của Việt Nam chƣa theo sát hoạt động xây dựng thƣơng hiệu và quảng cáo. Vì vậy, các nhà hoạch định chính sách cần tìm hiểu sâu hơn về bản chất, tính chuyên nghiệp cũng nhƣ đóng góp của quảng cáo đối với kinh tế để đƣa ra những quyết định sát thực hơn. SVTH: Nguyễn Thanh Hải Trang 13 Lớp B13QTH Khóa Luận Tốt Nghiệp GVHD: Th.S Đỗ Văn Tính CHƢƠNG II TỔNG QUAN VỀ CÔNG TY VÀ THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG QUẢNG CÁO 2.1 Các đặc điểm chung của Công ty 2.1.1 Qúa trình hình thành và phát triển của Công ty. Công ty TNHH SX-TM BQ đƣợc thành lập ngày 30 tháng 4 năm 2005 với tên gọi ban đầu là Công ty TNHH Bảo Quang. Công ty chuyên sản xuất và kinh doanh các sản phẩm giáy dép , túi xách, ví, thắt lƣng bằng da, quần áo... Tên giao dịch: CÔNG TY TNHH SX-TM BQ Địa chỉ trụ sở chính: 246 Ông Ích Khiêm - thành phố Đà Nẵng Slogan: “Phong cách thời trang gia” Logo: ghép hai chử BQ (Best Quality) - với ý nghĩa chất lƣợng tốt nhất Hình 1: Logo công ty BQ Bí quyết kinh doanh: “ Quý khách hài lòng xin nói với mọi ngƣời ,chƣa hài lòng hãy nói với chúng tôi” Điện thoại: 05113821789 - Fax: 05113821789 Email: bqshoes@vnn.vn Website: www.bq-vn.com Số tài khoản: 24323989 tại ngân hàng ACB Đà Nẵng - Chi Nhánh Cầu Vòng Số lƣợng nhân viên: 120 ngƣời Vốn điều lệ: 2000.000.000 đồng (hai tỷ đồng) Các địa điểm kinh doanh của công ty: - Cửa hàng BQ 209 Lê duẩn - Đà Nẵng - Cửa hàng BQ 49 Nguyễn Văn Thoại - Đà Nẵng - Cửa hàng BQ 183 Hoàng Diệu - Đà Nẵng SVTH: Nguyễn Thanh Hải Trang 14 Lớp B13QTH Khóa Luận Tốt Nghiệp GVHD: Th.S Đỗ Văn Tính - Cửa hàng BQ (Biti’s) 246 Ông Ích Khiêm - Đà Nẵng Công ty TNHH SX-TM BQ có tƣ cách pháp nhân. Đƣợc sử dụng con dấu riêng theo quy định của nhà nƣớc và hoạt động trong khuôn khổ pháp luật việt nam quy định. Nhìn chung từ khi thành lập bƣớc đầu đến nay công ty đã gặp không ít khó khăn về cơ sở vật chất kỷ thuật, máy móc thiết bị, tài chính, nguồn nhân lực...tuy nhiên công ty cũng đã sớm khắc phúc và ổn định tổ chức bộ máy sản xuất kinh doanh, triển khai mở rộng đại lý, thị trƣờng khắp các tỉnh Miền Trung và Tây Nguyên. Từ ngày đi vào hoạt động đến nay, công ty luôn chấp hành tốt những chính sách theo quy định của nhà nƣớc và địa phƣơng. Thực hiện việc nộp ngân sách khá tốt. Là một Công ty tƣ nhân chƣa có nhiều tên tuổi, trên đƣờng phát triển, ban lãnh đạo Công ty là những ngƣời có nhiều kinh nghiệm và giữ vai trò chủ chốt trong Công ty có nhiểu nhiều năm kinh nghiệm sản xuất và kinh doanh các sản phẩm giày dép nhƣ Biti’s nên bƣớc đầu nhƣng khó khăn đã đƣợc giải quyết và Công ty đang dần phát triển, doanh thu và lợi nhuận năm sau cao hơn năm trƣớc đạt mức tăng trƣởng 30%. Bên cạnh việc quan tâm đến các hoạt động quảng cáo, tiếp thị sản phẩm và mở rộng kênh phân phối ,đại lý khắp thị trƣờng Miền Trung - Tây Nguyên, Công ty cũng thƣờng xuyên chú trọng đến việc nâng cao chất lƣợng sản phẩm, cải tiến mẫu mã nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng đa dạng của khách hàng. 2.1.2 Chức năng nhiệm vụ của công ty Công ty TNHH SX-TM BQ với chức năng chủ yếu là sản xuất kinh doanh các loại giáy dép, túi xách, quần áo, ví nịt bằng da...đƣợc quyền mở rộng kinh doanh, liên doanh liên kết với đối tác trong và ngoài nƣớc. Tổ chức thu mua giáy dép, túi xách, ví nịt bằng da từ nguồn hàng hoá có uy tín và chất lƣợng, tiếp cận thị trƣờng để nắm bắt nhu cầu của khách hàng. Tiếp cận thị trƣờng để theo dõi tình hình tiêu thụ sản phẩm của công ty đang kinh doanh và phân phối Tổ chức chặt chẽ cơ sở vật chất, tiền vốn, nhân lực nhằm thúc đẩy hoạt động kinh doanh ngày càng phát triển, chấp hành tốt các chính sách về quản lý kinh tế, các chế độ quản lý tài chính. Công ty luôn cung cấp các sản phẩm giáy dép, ví nịt, túi xách hợp thời trang và chất lƣợng. công ty cũng luôn chú trọng các hoạt động chăm SVTH: Nguyễn Thanh Hải Trang 15 Lớp B13QTH Khóa Luận Tốt Nghiệp GVHD: Th.S Đỗ Văn Tính sóc khách hàng, khuyến mãi nhằm mục đích tăng doanh thu bán hàng, xây dựng thƣơng hiệu BQ ngày một vững mạnh không chỉ với thị trƣờng miền trung - tây nguyên, và cả nƣớc mà công ty cũng đang tính đến phƣơng án xuất khẩu đi các nƣớc trên thế giới. 2.1.3 Đặc điểm tổ chức kinh doanh. 2.1.3.1 Tổ chức mạng lƣới kinh doanh tại công ty. SƠ ĐỒ TỔ CHỨC KINH DOANH TẠI CÔNG TY Công ty TNHH BQ Cửa hàng BQ1 Cửa hàng BQ2 Ghi chú: Cửa hàng BQ3 Cửa hàng BQ4 : Quan hệ trực tuyến : Quan hệ chức năng Công ty: - Có nhiệm vụ điều hành trực tiếp mọi hoạt động kinh doanh của các cửa hàng. - Nhận xét tổng hợp tình hình hoạt động kinh doanh, nhanh chóng đƣa ra những quyết định kịp thời và hiệu quả. - Cung cấp sản phẩm cho các cửa hàng và đại lý của công ty Các cửa hàng: - Cung cấp sản phẩm của công ty đến với khách hàng, là cầu nối giữa công ty với ngƣời tiêu dùng trực tiếp. - Nghiên cứu thị trƣờng về các sản phẩm và bào về công ty để đặt hàng. - Chăm sóc khách hàng. - Nhân viên bán hàng có trách nhiệm chuẩn bị, tổ chức trƣng bày sản phẩm. SVTH: Nguyễn Thanh Hải Trang 16 Lớp B13QTH Khóa Luận Tốt Nghiệp GVHD: Th.S Đỗ Văn Tính 2.1.3.2. Đặc điểm bộ máy quản lý  Sơ đồ bộ máy quản lý Giám Đốc P.Giám Đốc P.Kế toán Cửa hàng 1 P.Kinh Doanh - MKT Cửa hàng 2 Ghi chú: Cửa hàng 3 P.Hành chính Cửa hàng 4 :Quan hệ trực tuyến :Quan hệ chức năng *. Chức năng nhiệm vụ của các đơn vị trực thuộc - Giám đốc: là ngƣời đứng đầu công ty có trách nhiệm điều hành mọi hoạt động kinh doanh, nhanh chóng đƣa ra những quyết định kịp thời và hiệu quả. Giám đốc là ngƣời chịu trách nhiệm trƣớc pháp luật và tổ chức có thẩm quyền về tất cả các hành vi của mình trong việc điều hành hoạt động của công ty. - Phó giám đốc: tham mƣu cho giám đốc, đồng thời là kế toán trƣởng, đƣợc phân công quản lý phụ trách các công việc về hoạt động kinh doanh của công ty, theo dõi và quản lý các cửa hàng, đƣợc quyền thay giám đốc giải quyết các vấn đề nằm trong giới hạn quyền lực của mình khi giám đốc đi vắng. - Phòng hành chính: giúp giám đốc về công tác hành chính, xây dựng phƣơng án bố trí, sắp xếp nhân viên, quản lý hồ sơ nhân viên, làm thủ tục tiếp nhận nghỉ hƣu, SVTH: Nguyễn Thanh Hải Trang 17 Lớp B13QTH Khóa Luận Tốt Nghiệp GVHD: Th.S Đỗ Văn Tính thôi việc, thuyên chuyển, khen thƣởng và kỷ luật nhân viên, chịu trách nhiệm tiếp khách và hội nghị trong công ty. - Phòng kinh doanh: có nhiệm vụ lên kế hoạch phân phối tiêu thụ các sản phẩm , giám sát việc bán hàng của nhân viên bán hàng, quản lý hệ thống kho hàng, lên kế hoạch phân phối sản phẩm. - Phòng marketing: có nhiệm vụ lên kế hoạch, ngân sách cho các hoạt động marketing của công ty, nghiên cứu đối thủ cạnh tranh, nghiên cứu và phát triển sản phẩm mới. - Phòng kế toán: nghiên cứu tổng hợp thông tin trên thị trƣờng các mặt hàng mà công ty đang kinh doanh, đồng thời xem xét quản lý một cách có hiệu quả đồng vốn kinh doanh của công ty, phản ánh chính xác kịp thời các nghiệp vụ kinh tế phát sinh. Tham mƣu cho giám đốc , cung cấp các thông tin quan trọng cho giám đốc kiểm tra việc sử dụng chứng từ ghi sổ, theo dõi thƣờng xuyên các khoản nợ, quản lý vốn, cơ sở vật chất ở công ty, định kỳ lập báo cáo gửi lên ban giám đốc. 2.2 Phân tích môi trƣờng kinh doanh của công ty 2.2.1 Môi trƣờng vĩ mô 2.2.1.1 Môi trƣờng kinh tế Nền kinh tế nƣớc ta sau hơn nhiều năm đổi mới từ khi chuyển sang cơ chế thị trƣờng có sự quản lý của Nhà nƣớc, đã thoát ra khỏi khủng hoảng kinh tế, ngày càng ổn định và vững chắc. Tốc độ tăng trƣởng GDP bình quân hàng năm cao (8,5% năm 2007) và bền vững trong đó ngành công nghiệp đạt mức bình quân 18% năm. Các yếu tố nhƣ lạm phát, lãi trần trong những năm qua tƣơng đối ổn định nhờ sự can thiệp của Nhà nƣớc, song tỷ giá hối đoái biến động đang là vấn đề khó khăn cho các doanh nghiệp. Năm 2008, nền kinh tế Việt nam tiếp tục hứa hẹn nhiều thành tựu mới, khi làn sóng đầu tƣ và tài trợ vốn tiếp tục đƣợc gia tăng, tình hình sản xuất và tiêu thụ có những chuyển biến tích cực, đặc biệt tình hình tăng trƣởng 6 tháng đầu năm có nhiều khả quan. SVTH: Nguyễn Thanh Hải Trang 18 Lớp B13QTH Khóa Luận Tốt Nghiệp GVHD: Th.S Đỗ Văn Tính 2.2.1.2. Môi trƣờng nhân khẩu Dân số Việt nam có khoảng 86 triệu ngƣời, là một trong 12 quốc gia đông nhất thế giới hiện nay với tốc độ tăng dân số hàng năm khá cao (0,5%) và đà tăng trƣởng kinh tế nhanh làm cho tỷ lệ dân cƣ có nhu cầu sử dụng các loại sản phẩm tiêu dùng, trong đó có giày dép ngày càng tăng. Không những thế, trong những năm gần đây với sự đầu tƣ mạnh mẽ của nhà nƣớc cho sự phát triển kinh tế. cuộc sống của con ngƣời không chỉ ăn no, mặc ấm mà phải an ngon, mặc đẹp, từ đó nhu cầu về các sản phẩm thời trang cao cấp nhƣ giày dép có xu hƣớng sử dụng tăng. Do vậy, đây thực sự là một thị trƣờng rộng lớn và có tiềm năng phát triển mạnh đối với ngành công nghiệp sản xuất giày dép. 2.2.1.3 Môi trƣờng công nghệ Sau chiến tranh thế giới thứ II, tốc độ thay đổi công nghệ tăng lên rất cao, đặc biệt là trong những năm gần đây. Sự thay đổi công nghệ có thể sẽ làm cho các sản phẩm hiện tại của Công ty bị lạc hậu chỉ sau một đêm, đồng thời nó cũng tạo ra hàng loạt về các sản phẩm mới. Một trong những tác động quan trọng nhất của sự thay đổi công nghệ đó là chiều cao của rào cản hội nhập và định hình lại cấu trúc ngành. Hiện nay, Việt Nam đã là thành viên chính thức của tổ chức WTO do đó chiều cao của các rào cản hội nhập đã bị thấp xuống. Chính vì thế đây là một thách thức rất lớn đối với những công ty có quy trình công nghệ chƣa cao, nhƣng cũng là cơ hội rất tốt đối với những công ty có khả năng cạnh tranh cao trên thƣơng trƣờng. 2.2.1.4 Môi trƣờng chính trị - pháp luật Đặc trƣng nổi bật về sự tác động của môi trƣờng chính trị pháp luật đối với các hoạt động kinh doanh thể hiện ở mục đích, thể chế chính trị hƣớng tới. Thể chế chính trị giữ vai trò định hƣớng, chi phối các hoạt động kinh doanh của công ty. Do vậy, các công ty cần phân tích cẩn thận các triết lý, các chính sách liên quan mới của quản lý nhà nƣớc nhƣ luật chống độc quyền, luật thế, các ngành lựa chọn để điều chỉnh hay ƣu tiên, luật lao động là những lĩnh ực trong đó các chính sách quản lý nhà nƣớc có thể tác động đến hoạt động và khả nang sinh lợi của công ty. Nhìn chung trong những năm gần đây, Việt Nam là một trong những quốc gia có tình hình an ninh chính trị ổn định và uy tín của nƣớc ta trên trƣờng quốc tế ngày càng đƣợc nâng cao. Đó là những điều kiện thuận lợi cho việc thu hút vốn đầu tƣ của SVTH: Nguyễn Thanh Hải Trang 19 Lớp B13QTH Khóa Luận Tốt Nghiệp GVHD: Th.S Đỗ Văn Tính nƣớc ngoài vào công ty, và tạo cơ hội để đẩy nhanh tiến trình xuất khẩu sang các thị trƣờng quốc tế. 2.2.1.5. Môi trƣờng tự nhiên Môi trƣờng tự nhiên nƣớc ta có nhiều thuận lợi cho việc thực hiện các kế hoạch kinh doanh hàng năm. Vị trí nƣớc ta rất thuân lợi cho việc phát triển kinh tế, có đƣờng giao thông đƣờng biển, đƣờng hàng không Quốc tế đi qua và là cửa ngõ ra biển của các nƣớc Đông Nam Á, vị trí này tạo điều kiện phát triển việc xuất khẩu hàng hóa. Công ty TNHH SX-TM BQ nằm ở khu vực miền Trung là một khu vực phát triển chậm, mức sống nhân dân còn thấp. Do đó ảnh hƣởng không nhỏ đến sự phát triển của Công ty. Tuy nhiên do nằm ở khu vực miền Trung nên thuận lợi cho việc mở rộng thị trƣờng ở hai miền Nam và Bắc, vì đây là trục giao thông quan trọng. 2.2.1.6 Phân tích ngành Kinh tế Việt Nam: 7 tháng, kim ngạch xuất khẩu da giày đạt hơn 2 tỷ USD Riêng trong tháng 7/2009, xuất khẩu da giày của cả nƣớc đạt 400 triệu USD.Theo Hiệp hội da giày Việt Nam, trong 7 tháng qua, tổng kim ngạch xuất khẩu da giày đạt gần 2,5 tỷ USD, giảm gần 10% so với cùng kỳ năm 2008. Nhƣ vậy, trong những tháng còn lại của năm, ngành da giày phải hoàn thành hơn 2 tỷ USD kim ngạch xuất khẩu, trung bình mỗi tháng, ngành phải đạt kim ngạch 420 triệu USD. Để đạt đƣợc mục tiêu này, hiện các doanh nghiệp sản xuất- kinh doanh da giày đang tiến hành tăng sản lƣợng trở lại. Nhiều doanh nghiệp đang đẩy mạnh phƣơng thức bán hàng Xuất khẩu da giày sang Pháp tăng 1,6% Hiện giày dép là một trong 5 mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam vào Pháp và dẫn đầu về kim ngạch xuất khẩu. Trong khi kim ngạch xuất khẩu da giày của Việt Nam trong 6 tháng đầu năm giảm 8,8% so với cùng kỳ năm ngoái thì xuất khẩu da giày sang Pháp lại tăng 1,6%, đạt gần 274 triệu USD. Hiện giày dép là một trong 5 mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam vào Pháp và dẫn đầu về kim ngạch xuất khẩu. Theo Hiệp hội Da giày Việt Nam, cơ hội xuất khẩu mặt hàng giày da của Việt Nam sang thị trƣờng Pháp trong thời gian tới là rất lớn. Gần đây, lần đầu tiên một đoàn DN thuộc Tổng Liên đoàn Da và Da sống của Pháp đã đến TP Hồ Chí Minh tìm hiểu thị trƣờng, cơ hội hợp tác với các DN ngành da giày Việt Nam. Các DN da của Pháp cho rằng, với 80% nguyên phụ liệu SVTH: Nguyễn Thanh Hải Trang 20 Lớp B13QTH
- Xem thêm -