Tài liệu Hiện tượng mơ hồ nghĩa câu trong tiếng việt và tiếng pháp (tóm tắt)

  • Số trang: 37 |
  • Loại file: DOCX |
  • Lượt xem: 236 |
  • Lượt tải: 0
dangvantuan

Tham gia: 02/08/2015

Mô tả:

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN ----------------- NGUYỄN TUẤN ĐĂNG HIỆN TƯỢNG MƠ HỒ NGHĨA CÂU TRONG TIẾNG VIỆT VÀ TIẾNG PHÁP Chuyên ngành: Lý luận ngôn ngữ Mã số: 62.22.01.01 TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN Thành phố Hồ Chí Minh – năm 2016 Công trình đã được hoàn thành tại: Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Người hướng dẫn khoa học: GS. TS. Nguyễn Đức Dân Phản biện 1: …………………………………………… Phản biện 2: …………………………………………… Phản biện 3: …………………………………………… Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp cơ sở đào tạo họp tại: ……………………………………………………………………………… ……………………………………………………………… vào hồi …….. giờ……. ngày….… tháng… .năm……… Phản biện độc lập 1………………………………………. Phản biện độc lập 2……………………………………… Có thể tìm hiểu luận án tại thư viện: ……………………………………………………………………………… ……………………………………………………………………………… ……………………… DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ (Có liên quan đến luận án) 1. Nguyễn Tuấn Đăng (2009), “So sánh hiện tượng mơ hồ nghĩa câu trong tiếng Việt và tiếng Pháp”, Ngôn ngữ, 4 (239), tr. 52-66. 2. Nguyễn Tuấn Đăng (2014), “Phạm vi và tác động của mơ hồ cú pháp đối với nghĩa của câu tiếng Việt”, Ngôn ngữ, 3 (298), tr. 5566. 3. Nguyễn Tuấn Đăng (2016), “Thuyết giải một số trường hợp mơ hồ nghĩa câu tiếng Việt trên cơ sở logic nội hàm”, Tạp chí Khoa học, Trường Đại học Sư phạm TP Hồ Chí Minh, 5(83), tr. 11-24. 1 DẪN NHẬP 1. Lý do chọn đề tài và mục đích nghiên cứu 1.1 Lý do chọn đề tài: Các hiện tượng mơ hồ đã được nhận thấy từ rất lâu trong Ngôn ngữ học cũng như trong những lĩnh vực khác (x. Trần Thủy Vịnh 2006, 2008). Dù vậy, những công trình nghiên cứu chuyên khảo về các hiện tượng mơ hồ cũng không nhiều, đặc biệt là trong tiếng Việt và tiếng Pháp. Nhìn chung, những công trình nghiên cứu trước đây thường thiên về quan điểm ngữ pháp hay ngữ dụng khi phân tích và giải thích các hiện tượng mơ hồ trong ngôn ngữ (x. Nguyễn Đức Dân và Trần Thị Ngọc Lang 1993; Nguyễn Tuấn Đăng 2005, 2006, 2009, 2014, 2016; Trần Thủy Vịnh 2006]; Brendan S. Gillon 1990; Catherine Fuchs 1987, 1996, 2009). Cho đến nay, các hiện tượng mơ hồ hầu như chưa được đặt trên cơ sở các lý thuyết Ngữ nghĩa học để nghiên cứu. Do đó, vấn đề vận dụng các lý thuyết Ngữ nghĩa học hiện đại vào việc nghiên cứu các hiện tượng mơ hồ là một hướng nghiên cứu mới, có nhiều ý nghĩa về lý luận và thực tiễn. 1.2 Mục đích nghiên cứu: Luận án nghiên cứu các biểu hiện hình thức, nguyên nhân và cơ chế của những hiện tượng mơ hồ nghĩa câu trong tiếng Việt và tiếng Pháp. Từ đó, luận án thuyết giải các hiện tượng mơ hồ nghĩa câu trên cơ sở Logic Nội hàm (Richard Montague 1974). 2. Phạm vi và đối tượng nghiên cứu 2.1 Phạm vi nghiên cứu của luận án: - Các hiện tượng mơ hồ nghĩa được nghiên cứu được nghiên cứu ở cấp độ nghĩa của câu. - Nghĩa của câu được nghiên cứu trên cơ sở nghĩa nội hàm. 2 2.2 Giới hạn nghiên cứu các mơ hồ nghĩa câu do nguyên nhân từ vựng và cú pháp. Đối tượng nghiên cứu của luận án: - Các hiện tượng mơ hồ nghĩa câu trong tiếng Việt và tiếng Pháp. - Các cơ sở lý luận của Logic Nội hàm (Richard Montague 1974). - Phương pháp vận dụng Logic Nội hàm vào việc thuyết giải các hiện tượng mơ hồ nghĩa câu trong tiếng Việt và tiếng Pháp. 3. Phương pháp nghiên cứu Để thực hiện đề tài nghiên cứu này, bước đầu luận án tiến hành thu thập ngữ liệu về các hiện tượng mơ hồ trong tiếng Việt và tiếng Pháp. Những ngữ liệu này được thu thập từ nhiều nguồn khác nhau như: báo chí điện tử, tác phẩm văn học hoặc trích dẫn lại các thí dụ từ những công trình nghiên cứu của các tác giả khác. Từ những ngữ liệu này, luận án chọn lựa ra những hiện tượng “mơ hồ thực” (x. C. Fuchs 1996) trong mỗi ngôn ngữ để tiến hành nghiên cứu. Trong bước thứ hai, luận án tiến hành phân tích các ngữ liệu đã thu thập để nhận diện và phân loại các hiện tượng mơ hồ. Nguyên nhân và cơ chế của các hiện tượng mơ hồ sẽ được luận án giải thích và đối chiếu giữa tiếng Việt với tiếng Pháp. Trong bước thứ ba, luận án nghiên cứu các cơ sở lý thuyết của Logic Nội hàm (Richard Montague 1974), từ đó mở rộng lý thuyết này để áp dụng cho tiếng Việt và tiếng Pháp. Trong bước thứ tư, luận án vận dụng Logic Nội hàm đã được mở rộng để thuyết giải các hiện tượng mơ hồ nghĩa trong hai ngôn ngữ đang được nghiên cứu. Cuối cùng, luận án nhận định và đánh giá các kết quả nghiên cứu. 4. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án 4.1 Ý nghĩa khoa học Đề tài nghiên cứu của luận án đã có những đóng góp mới về lý luận như sau: 3 4.2 5. - Phân tích các hiện tượng mơ hồ từ vựng và mơ hồ cú pháp để giải thích tác động của chúng đối với nghĩa của câu trong tiếng Việt và tiếng Pháp. - Phân loại các hiện tượng mơ hồ, từ đó phân tích những đặc điểm về nguyên nhân và cơ chế của chúng trong tiếng Việt và tiếng Pháp. - Nghiên cứu và mở rộng Logic Nội hàm (Richard Montague 1974) để áp dụng cho câu tiếng Việt và tiếng Pháp. - Thuyết giải các hiện tượng mơ hồ nghĩa câu trong tiếng Việt và tiếng Pháp dựa trên Logic Nội hàm. Ý nghĩa thực tiễn - Những kết quả khoa học của luận án về các vấn đề nhận diện, phân tích và thuyết giải mơ hồ nghĩa câu cung cấp những cơ sở lý luận cho việc nghiên cứu, giảng dạy tiếng Việt và tiếng Pháp. - Những kết quả khoa học của luận án trong việc mở rộng Logic Nội hàm có thể được ứng dụng trong chuyên ngành Ngôn ngữ học Tính toán để phát triển các phương pháp tính toán ngữ nghĩa hình thức cho tiếng Việt và tiếng Pháp. Bố cục của luận án Luận án gồm có phần dẫn nhập, bốn chương chính, phần kết luận và danh mục tài liệu tham khảo. Dẫn nhập: Phần này giới thiệu tổng quan về đề tài nghiên cứu. Các nội dung được trình bày trong phần này gồm: lý do chọn đề tài và mục tiêu nghiên cứu, phạm vi và đối tượng nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, những đóng góp khoa học mới của luận án và bố cục luận án. Chương 1: Tổng quan về mơ hồ nghĩa câu. Chương này giới thiệu lịch sử nghiên cứu các hiện tượng mơ hồ, xác định quan điểm nghiên cứu của luận án về “nghĩa của câu” và “mơ hồ nghĩa câu”, 4 trình bày các cơ sở lý luận về mơ hồ trong ngôn ngữ và nghiên cứu ảnh hưởng của loại hình ngôn ngữ đối với các hiện tượng mơ hồ. Chương 2: Mơ hồ cú pháp và nghĩa của câu. Chương này khảo sát các hiện tượng mơ hồ nghĩa câu trong trong ngữ liệu nghiên cứu, sau đó phân tích và phân loại chúng. Nội dung của chương này tập trung vào các hiện tượng mơ cú pháp. Chương 3: Diễn dịch nghĩa câu trong Logic Nội hàm. Chương này nghiên cứu các cơ sở lý thuyết của Logic Nội hàm, từ đó mở rộng các quy tắc cấu tạo cú pháp và các quy tắc biến đổi nội hàm để áp dụng cho câu tiếng Việt và tiếng Pháp. Chương 4: Thuyết giải mơ hồ nghĩa câu trong Logic Nội hàm. Chương này vận dụng Logic Nội hàm để thuyết giải các mơ hồ nghĩa câu trong tiếng Việt và tiếng Pháp. Kết luận: Phần này tổng kết các nội dung và kết quả nghiên cứu của luận án, từ đó nhận định và đánh giá các kết quả đạt được, cuối cùng nêu lên những vấn đề có thể được tiếp tục nghiên cứu trong tương lai. 5 CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ MƠ HỒ NGHĨA CÂU 1.1 Lịch sử nghiên cứu các hiện tượng mơ hồ 1.1.1 Trong giai đoạn từ cuối thế kỷ 19 đến đầu thế kỷ 20, các nghiên cứu về mơ hồ chủ yếu tập trung vào những mơ hồ từ vựng và những mơ hồ xuất hiện trong các hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ nói hoặc viết (x. M. Bréal 1897; B. de Cornulier 1985; O. Ducrot 1997, 2003; M. Galmiche 1991; A. J. Greimas 2002; G. Kleiber, 1999a, 199b). Nhìn chung, đến hơn nửa thế kỷ 20 thì các hiện tượng mơ hồ mới bắt đầu được nghiên cứu một cách tường tận trong các lý thuyết ngữ pháp. Mặc dù các tác giả trước đó cũng dựa trên những quan điểm của Ngữ pháp truyền thống để giải thích các hiện tượng mơ hồ, nhưng những viện dẫn ngữ pháp như vậy thường thiếu tính hệ thống, ít dựa trên các tiêu chí hình thức và cũng chỉ được xem như là một phương tiện thứ yếu so với ngữ nghĩa để nghiên cứu các hiện tượng mơ hồ trong ngôn ngữ (mặc dù ở thời kỳ đó khái niệm “ngữ nghĩa” vẫn chưa được lý thuyết hóa một cách hoàn chỉnh). 1.1.2 Dấu ấn của ngữ pháp trong các nghiên cứu về mơ hồ đã được ghi nhận khá rõ kể từ khi N. Chomsky (1957) công bố cuốn “Syntactic Structures”. Vào cuối thập niên 1960, trong cuốn “Introduction to Theoretical Linguistics”, J. Lyons (1968) đã bàn luận về nhiều khía cạnh có liên quan đến các mơ hồ cú pháp trong tiếng Anh và chia mơ hồ cú pháp thành các tiểu loại: những mơ hồ do “cấu trúc thành tố” và những mơ hồ do “sự phân bố về lớp cú pháp của các thành tố”. Những mơ hồ cú pháp không thể giải thích bằng hai tiểu loại trên thì được tác giả này đưa vào một tiểu loại thứ ba, đó là những mơ hồ do các qui tắc cải biến từ cấu trúc sâu. Những gì mà J. Lyons (1968) đã trình bày và phân tích cho phép rút ra một nhận xét tổng quát: ngữ pháp hình thức đã làm thay đổi về căn bản cách thức nghiên cứu truyền thống; các nghiên cứu từ đây đã nhấn mạnh đến tính qui luật và phổ quát về mặt cơ chế hình thức của các hiện tượng mơ hồ thay vì chỉ chú trọng vào việc mô tả và 6 giải thích cho từng hiện tượng đơn lẻ. Nhìn chung, ảnh hưởng của ngữ pháp hình thức đến quan điểm nghiên cứu về mơ hồ đã trải dài qua các giai đoạn từ 1957 cho đến ngày nay. 1.1.3 Các nghiên cứu sơ khởi về ngữ nghĩa của J. J. Katz và J. A. Fodor (1963), J. J. Katz và P. M. Postal (1964) đã cung cấp những ý tưởng nền tảng để N. Chomsky phát triển “Standard Theory” và sau đó lý thuyết này đã được N. Chomsky điều chỉnh, bổ sung thêm các qui tắc “diễn dịch nghĩa” để hình thành “Extended Standard Theory”. Giai đoạn 1960-1970 cũng ghi lại nhiều dấu ấn của các trường phái Ngữ nghĩa học Tạo sinh (“Generative Semantics”) của G. P. Lakoff và P. Postal (1971), Ngữ nghĩa học Diễn dịch (“Interpretive Semantics”) của R. Jackendoff (1972), Ngữ nghĩa học Hình thức (“Formal Semantics”) của R. Montague (1968, 1970a, 1970b, 1970c, 1973). Tuy nhiên, sự phát triển của các trường phái Ngữ nghĩa học trong hai thập niên 1960-1970 dường như không ảnh hưởng nhiều đến những nghiên cứu về mơ hồ như các lý thuyết Ngữ pháp Hình thức, bởi vì hầu như không có một lý thuyết Ngữ nghĩa học nào được vận dụng một cách có hệ thống trong những nghiên cứu đó. 1.1.4 Trong thập niên 1970 giới chuyên môn đã ghi nhận được một vài nghiên cứu chuyên khảo về mơ hồ như nghiên cứu của C. P. Miller (1973, 1976). C. P. Miller là người đầu tiên vận dụng Ngữ pháp Cải biến của N. Chomsky (1957, 1965) vào việc giải thích các mơ hồ về cấu trúc câu và cấu trúc mệnh đề trong tiếng Việt. Tuy nhiên, C. P. Miller đã không đề cập đến những loại mơ hồ khác trong các nghiên cứu của mình. 1.1.5 Khoảng từ cuối thập niên 1980 đến giữa thập niên 1990, C. Fuchs (1988, 1996) và một số tác giả khả đã trình bày những luận điểm nền tảng cho việc nghiên cứu các hiện tượng mơ hồ trong ngôn ngữ tự nhiên nói chung và trong tiếng Pháp nói riêng. Cuốn “Les ambiguïtés du français” của C. Fuchs (1996) là một trong những công trình hoàn chỉnh nhất từ trước đến nay về nghiên cứu mơ hồ. Trong cuốn sách này, C. Fuchs (1996) đã đề cập một cách có hệ thống về nhiều vấn đề: khái niệm về mơ hồ, phân định mơ hồ với các hiện 7 tượng ngôn ngữ khác, bản chất của mơ hồ, phân loại mơ hồ, mơ hồ theo quan điểm của người nói và người nghe trong giao tiếp ngôn ngữ, mơ hồ trong dịch thuật ... C. Fuchs (1996) phân biệt mơ hồ cú pháp thành tiểu hai loại: mơ hồ do phân giới các ngữ đoạn và mơ hồ về chức năng ngữ pháp. Ngoài mơ hồ cú pháp, C. Fuchs (1996) còn phân biệt nhiều loại mơ hồ sau: mơ hồ hình thái học và từ vựng, mơ hồ liên quan đến việc xác định vị từ và các tham tố, mơ hồ ngữ nghĩa (thực chất là mơ hồ về logic ngữ nghĩa) và mơ hồ ngữ dụng. 1.1.6 Lần đầu tiên, các hiện tượng mơ hồ trong tiếng Việt đã được nghiên cứu một cách hệ thốn và toàn diện trong cuốn sách “Câu sai và câu mơ hồ” của Nguyễn Đức Dân và Trần Thị Ngọc Lang (1993). Các tác giả này đã phân chia những hiện tượng mơ hồ trong tiếng Việt thành: mơ hồ từ vựng, mơ hồ cú pháp, mơ hồ logic và mơ hồ ngữ dụng. 1.1.7 Một số nghiên cứu khác về mơ hồ trong tiếng Việt cũng đã được thực hiện trong khoảng thời gian 15 năm trở lại đây. Dựa trên sự công trình của C. Fuchs (1996) về các kiểu mơ hồ trong tiếng Pháp, Nguyễn Tuấn Đăng (2005) đã so sánh các hiện tượng mơ hồ trong tiếng Pháp và tiếng Việt và vận dụng lý thuyết về cấu trúc ngữ nghĩa câu của W. L. Chafe (1970) để thuyết giải các hiện tượng mơ hồ trong cả hai ngôn ngữ. Trần Thủy Vịnh (2006) đã so sánh các kiểu mơ hồ từ vựng, mơ hồ cú pháp trong câu tiếng Anh và tiếng Việt, đồng thời cũng đề cập đến một số phương pháp loại bỏ mơ hồ trong ngôn ngữ. 1.2 Quan điểm của luận án về “nghĩa của câu” và “mơ hồ nghĩa câu” 1.2.1 Vào những năm đầu thập niên 1960, các công trình của J. J. Katz và J. A. Fodor (1963), J. J. Katz và P. M. Postal (1964) đã bắt đầu tiếp cận vấn đề “nghĩa của câu”. Tiếp sau đó, các trường phái Ngữ nghĩa học Tạo sinh và Ngữ nghĩa học Diễn dịch cũng đã xây dựng các hệ thống lý thuyết của họ dựa trên cách tiếp cận “mô tả” hay “biểu diễn” nghĩa của câu. (x. P. Portner và B. H. Partee 2002). Cách tiếp cận “mô tả nghĩa của câu” cũng là cơ sở cho các lý thuyết về “cấu trúc nghĩa của câu”. Khởi thủy của khái niệm “cấu trúc 8 nghĩa của câu” là từ “Lý thuyết diễn trị” của L. Tesnière. Trong lý thuyết này L. Tesnière đã trình bày những quan điểm về vai trò trung tâm của vị từ và quan hệ của nó với các “diễn tố”. Vào cuối thập niên 1960, C. J. Fillmore (1968) đã khái quát hóa các quan hệ của vị từ với các “tham tố” bằng cách đề xuất một hệ thống “quan hệ cách” cho các danh từ. Các “quan hệ cách” sẽ được xác định dựa trên những đặc điểm hình thái của từ và ngữ pháp. Từ đó, Fillmore đã phân loại các vị từ dựa trên những quan hệ cách này. Đối lập với Fillmore về vai trò trung tâm của danh từ trong các “quan hệ cách”, W. Chafe (1970) đưa ra quan điểm mới về vai trò trung tâm của vị từ trong những mối quan hệ của nó với các danh từ và điều chỉnh danh sách các “vai nghĩa”. Chafe phân chia “cấu trúc nghĩa của câu” thành các loại: trạng thái, hành động, quá trình và hành động – quá trình. Chafe định nghĩa các “phép chuyển hóa” để sản sinh ra những cấu trúc nghĩa mới từ những cấu trúc nghĩa ban đầu. (x. Cao Xuân Hạo 2004). 1.2.2 Từ khi G. Frege (1892) phân biệt giữa “nghĩa” với “sở chỉ”, Ngôn ngữ học đã có sự nhìn nhận chính xác hơn về mối liên hệ giữa ngôn ngữ với thế giới thực. Trường phái Ngữ nghĩa học về Điều kiện Chân lý (“Truth-Conditional Semantics”) đã tiếp cận vấn đề “nghĩa của câu” dựa trên một định đề: “Để hiểu được nghĩa của một câu (trần thuật) thì cần phải biết câu đó sẽ đúng trong một thế giới như thế nào?” Điều đó cũng có nghĩa rằng một câu sẽ có những chân trị khác nhau ở những thế giới khác nhau và nghĩa của một câu có thể được xác định nếu có thể xác định được tất cả chân trị của nó ở mọi thế giới. Những cái thế giới mà ở đó chân trị của một câu được xác lập có thể là những cái thế giới thực hoặc những cái thế giới giả định. Cách tiếp cận của Ngữ nghĩa học về Điều kiện Chân lý cho rằng cái thế giới đó có thể được xác định bằng các điều kiện chân lý. (x. D. R. Dowty et al. 1981). Theo Ngữ nghĩa học về Điều kiện Chân lý, “nghĩa của câu” chính là “nội hàm” của nó và những chân trị của nó ở các thế giới xác định chính là các “sở chỉ” hay “ngoại diên” của nó ở đó. Mối liên hệ giữa một câu với những chân trị của nó ở các thế giới chính là mối liên hệ giữa nghĩa (nội hàm) và nghĩa sở chỉ (ngoại diên). Do vậy, 9 Ngữ nghĩa học về Điều kiện Chân lý là một cơ sở lý thuyết có khả năng giải thích được những mối quan hệ giữa nghĩa (nội hàm) với sở chỉ (ngoại diên) của câu. 1.2.3 Trong luận án này, vấn đề “nghĩa của câu” sẽ được nghiên cứu dựa trên các cơ sở lý luận của Ngữ nghĩa học về điều kiện chân lý, thông qua Logic Nội hàm của R. Montague (1974). Do đó, các hiện tượng “mơ hồ nghĩa câu” sẽ được luận án nghiên cứu trên cơ sở của “nghĩa nội hàm”. Logic Nội hàm sẽ được luận án vận dụng để thuyết giải cơ chế hình thành nghĩa nội hàm của những hiện tượng mơ hồ nghĩa câu trong tiếng Việt và tiếng Pháp. Logic Nội hàm là một lý thuyết kết hợp quan điểm tiếp cận của Ngữ nghĩa học về Điều kiện Chân lý với cách tiếp cận của Ngữ nghĩa học Lý thuyết Mô hình (“Model-Theoretic Semantics”). Cách tiếp cận của Ngữ nghĩa học Lý thuyết Mô hình là diễn dịch nghĩa của câu thành các thành tố trong một mô hình lý thuyết và tiến hành nghiên cứu những mối quan hệ giữa câu với các thế giới trong mô hình lý thuyết đó. (x. P. Portner và B. H. Partee 2002). Các thế giới được mô hình hóa trong một mô hình lý thuyết được gọi là các “thế giới khả thuyết” (“possible world”). 1.3 Những vấn đề liên quan đến mơ hồ 1.3.1 C. Fuchs (1987) định nghĩa các hiện tượng mơ hồ bằng một phát biểu: “Mơ hồ là một biểu đạt có nhiều ý nghĩa”. Sau đó, phát biểu này đã được C. Fuchs (1996) diễn đạt lại một cách rõ ràng hơn: “Mơ hồ là một biểu đạt ngôn ngữ có nhiều ý nghĩa phân biệt và nó có thể được người tiếp nhận hiểu theo nhiều cách khác nhau”. Định nghĩa của C. Fuchs (1987, 1996) về “mơ hồ ngôn ngữ” cũng tương đồng với định nghĩa của các tác giả khác trước và sau đó, như Brendan S. Gillon (1990), Nguyễn Đức Dân và Trần Thị Ngọc Lang (1993), v.v. 1.3.2 C. Fuchs (1996) đã xác định rõ ràng phạm vi của những hiện tượng ngôn ngữ được gọi là “mơ hồ” và loại ra khỏi phạm vi nghiên cứu những hiện tượng “không mơ hồ”. Theo C. Fuchs (1996), những trường hợp sau đây không phải là mơ hồ trong ngôn ngữ: sai nghĩa, 10 thông tin không được thông báo, nghĩa tổng thể, nghĩa mờ, nghĩa áng chừng, nghĩa hàm ý, nghĩa của các từ chế (“mot-valise”), chơi chữ. 1.3.3 Hầu hết các tác giả đương đại có ảnh hưởng lớn trong lĩnh vực nghiên cứu về mơ hồ đều thống nhất với nhau về ba loại mơ hồ căn bản: mơ hồ từ vựng, mơ hồ cú pháp và mơ hồ ngữ dụng. Trong phạm vi của luận án này, các mơ hồ ngữ dụng sẽ không được xét đến. 1.3.4 Mối liên hệ giữa mơ hồ từ vựng và mơ hồ cú pháp đã được nhiều tác giả phân tích. Các tác giả Nguyễn Đức Dân và Trần Thị Ngọc Lang (1993), Trần Thủy Vịnh (2006, 2008), C. Fuchs (1996) đã phân tích sự tác động của những mơ hồ từ vựng đến các cấu trúc cú pháp trong tiếng Việt và tiếng Pháp. 1.4 Ảnh hưởng của loại hình ngôn ngữ đối với các mơ hồ trong tiếng Việt và tiếng Pháp 1.4.1 Tiếng Việt không có mơ hồ về ranh giới giữa các hình vị trong một từ. Tuy nhiên, tiếng Việt có mơ hồ về ranh giới giữa các từ, tổ hợp từ và ngữ đoạn. Loại mơ hồ này xảy ra trong cả lời nói lẫn chữ viết. Tiếng Pháp đôi khi vẫn có hiện tượng mơ hồ về ranh giới giữa các từ. Tuy nhiên, những mơ hồ như vậy chỉ xuất hiện trong lời nói chứ không có trong chữ viết. Ngoài ra, tiếng Pháp còn có những mơ hồ về từ gốc khi có biến tố hình vị. 1.4.2 Mơ hồ đồng âm trong tiếng Việt thường xuất hiện ở các từ gốc và ít khi xuất hiện ở các tổ hợp từ hay các ngữ đoạn. Nguyên nhân gây mơ hồ trong những hiện tượng đồng âm từ, tổ hợp từ và ngữ đoạn là vấn đề ranh giới giữa chúng. Hiện tượng đồng âm từ gốc cũng phổ biến trong tiếng Pháp. Do có biến tố hình vị nên tiếng Pháp có thêm hiện tượng đồng âm giữa các từ phái sinh. Ngoài ra, tiếng Pháp cũng có hiện tượng mơ hồ do đồng âm tổ hợp từ và ngữ đoạn. Loại mơ hồ này do xảy ra hai nguyên nhân: do các biến tố hình vị hoặc do cách đọc nối âm phụ âm cuối của từ trước sang nguyên âm của từ sau. 11 1.4.3 Hiện tượng mơ hồ do từ đa nghĩa trong tiếng Việt và tiếng Pháp đều có thể liên quan đến các thực từ (danh từ, động từ, tính từ, …) hay từ chức năng (giới từ, liên từ, …). Tuy nhiên, những mơ hồ do từ chức năng đa nghĩa thì đa dạng và phổ biển hơn trong tiếng Pháp. 1.4.4 Trong tiếng Pháp có những mơ hồ do cùng chữ viết nhưng không phải đồng âm hay đa nghĩa. Tiếng Việt không có loại mơ hồ tương tự như tiếng Pháp. 1.4.5 Tiếng Pháp có một số cấu trúc cú pháp đặc thù thường gây mơ hồ, liên quan đến các ngữ động từ nguyên thể và các cấu trúc danh ngữ hóa. Mơ hồ cấu trúc Đề - Thuyết là loại mơ hồ đặc trưng của tiếng Việt. 1.5 Tiểu kết 1.5.1 Ngữ pháp Cải biến của N. Chomsky (1957, 1965) đã có những ảnh hưởng nhất định đến việc nghiên cứu mơ hồ, đặc biệt là nó đã cung cấp những cơ sở lý luận để giải thích các mơ hồ về cấu trúc ngữ đoạn và những mơ hồ do quá trình cải biến từ cấu trúc chìm lên cấu trúc nổi [Error: Reference source not found], [Error: Reference source not found]. Carolyn P. Miller (1976) là người đầu tiên vận dụng Ngữ pháp Cải biến vào việc giải thích các mơ hồ trong cấu trúc của những câu tiếng Việt có mệnh đề liên hệ. 1.5.2 Trước đây, các nghiên cứu về mơ hồ tập trung chủ yếu vào những nguyên nhân từ vựng, cú pháp và ngữ dụng. Đây cũng là những loại hiện tượng mơ hồ mà hầu hết các tác giả nghiên cứu đều đề cập đến. Việc phân chia các tiểu loại mơ hồ cho thấy có sự khác biệt giữa các tác giả, chủ yếu do quan điểm nghiên cứu và đặc điểm của ngôn ngữ được nghiên cứu. Các lý thuyết Ngữ nghĩa học vẫn chưa được vận dụng trong các nghiên cứu về mơ hồ. Trên thực tế, mặc dù các tác giả đều dựa trên nghĩa để giải thích các hiện tượng mơ hồ nhưng việc giải thích như vậy không dựa trên nền tảng của các lý thuyết Ngữ nghĩa học. 1.5.3 Những quan điểm của C. Fuchs (1996) về định nghĩa “mơ hồ” và phân định ranh giới giữa “mơ hồ” với “không mơ hồ” đã cung cấp 12 những cơ sở lý luận hoàn chỉnh cho chuyên ngành nghiên cứu. C. Fuchs (1996) đã minh định được nhiều hiện tượng vốn không phải mơ hồ nhưng thường bị nhầm lẫn với mơ hồ, chẳng hạn như: sai nghĩa, nghĩa mờ, nghĩa hàm ý, chơi chữ, ... Đặc biệt, sự phân biệt của C. Fuchs (1996) về “mơ hồ ảo” và “mơ hồ thực” cho phép nhận diện những mơ hồ trên lý thuyết và những mơ hồ có thực trong giao tiếp ngôn ngữ. Các “mơ hồ thực” sẽ là đối tượng nghiên cứu của luận án. 1.5.4 Vấn đề “mơ hồ nghĩa câu” được luận án nghiên cứu trên cơ sở nghĩa nội hàm, dựa trên các quan điểm tiếp cận của Truth-Conditional Semantics và Model-Theoretic Semantics, thông qua lý thuyết Logic Nội hàm của R. Montague (1974). 1.5.5 Sự khác biệt giữa hai loại hình ngôn ngữ đơn lập và biến hình tác động nhiều đến các hiện tượng mơ hồ từ vựng hơn là các hiện tượng mơ hồ cú pháp. 13 CHƯƠNG 2. MƠ HỒ CÚ PHÁP VÀ NGHĨA CÂU Trong chương này, luận án tiến hành khảo sát và phân tích các cấu trúc cú pháp mơ hồ trong tiếng Việt và tiếng Pháp. Luận án phân thành hai loại mơ hồ chính: những mơ hồ có liên quan đến cấu trúc danh ngữ và những mơ hồ có liên quan đến cấu trúc động ngữ. 2.1 Mơ hồ trong các cấu trúc danh ngữ 1. Cấu trúc danh ngữ mơ hồ NP.01: N(P)1^N(P)2^N(P)3 Cấu trúc danh ngữ NP.01 gồm có ba N(P) i kết hợp với nhau mà không có giới từ hay liên từ nối giữa chúng. Cấu trúc danh ngữ này chỉ có trong tiếng Việt và không có trong tiếng Pháp. 2. Cấu trúc danh ngữ mơ hồ [NP.02]: N(P)1^N(P)2^…^N(P)n^PN Cấu trúc danh ngữ NP.02 gồm có một cấu trúc N(P) 1^N(P)2^… ^N(P)n kết hợp với một danh từ riêng (PN). Cấu trúc danh ngữ này chỉ có trong tiếng Việt và không có trong tiếng Pháp. Trong tiếng cấu trúc danh ngữ này, PN có thể kết hợp với N(P)n đứng ngay trước nó, hay kết hợp với cả cụm N(P) 1^N(P)2^…^N(P)n phía trước. Cấu trúc danh ngữ này có thể mơ hồ giữa hai cách phân tích: [[N(P)1^N(P)2^…^N(P)n-1]^[N(P)n^PN]] hay [[N(P)1^N(P)2^… ^N(P)n]^[PN]] 3.Cấu trúc danh ngữ mơ hồ [NP.03]: N(P)1^N(P)2^…^N(P)n^Adj(P) Cấu trúc danh ngữ NP.03 gồm có một cấu trúc N(P) 1^N(P)2^… ^N(P)n kết hợp với một Adj(P). Cấu trúc danh ngữ này chỉ có trong tiếng Việt và không có trong tiếng Pháp. 4. Cấu trúc danh ngữ mơ hồ [NP.04]: N(P)^PP Trong tiếng cấu trúc danh ngữ NP.04 của tiếng Việt, N(P) có thể độc lập hoặc kết hợp với PP đứng sau nó. Trong tiếng Việt, cấu trúc danh ngữ này có thể mơ hồ giữa hai cách phân tích: 14 [N(P)^PP] hay [N(P)]^[PP]. Cấu trúc danh ngữ này không gây mơ hồ trong tiếng Pháp. 5. Cấu trúc danh ngữ mơ hồ [NP.05]: N(P)^PP1^PP2 Trong tiếng Việt và tiếng Pháp, cấu trúc danh ngữ NP.05 có thể mơ hồ theo hai trường hợp: - Trường hợp 1 (NP.05.01): PP2 có thể kết hợp với N(P) hay một thành tố X trong PP1. Trong trường hợp này, cấu trúc cú pháp NP.05 có thể mơ hồ giữa hai cách phân tích: [[N(P)^PP1]^PP2] hay [N(P)^[PP1^PP2]] - Trường hợp 2 (NP.05.02): PP2 có thể kết hợp với một thành tố X trong PP1 hay độc lập với cả N(P) và PP 1. Trong trường hợp này, cấu trúc cú pháp NP.05 có thể mơ hồ giữa hai cách phân tích: [N(P)^[PP1^PP2]] hay [N(P)^PP1]^[PP2] 6. Cấu trúc danh ngữ mơ hồ [NP.06]: N(P)^ADJ(P)^V(P) Trong cấu trúc danh ngữ NP.06 của tiếng Việt, ADJ(P) có thể kết hợp với N(P) hay V(P). Cấu trúc danh ngữ này có thể mơ hồ giữa hai cách phân tích: [[N(P)^ADJ(P)]^V(P)] hay [N(P)^[ADJ(P)^V(P)]] Cấu trúc danh ngữ NP.06 không gây mơ hồ trong tiếng Pháp. 7. Cấu trúc danh ngữ mơ hồ [NP.07]: N(P)^V(P)^ADV(P) Trong cấu trúc cú pháp NP.07 của tiếng Việt và tiếng Pháp, ADV(P) có thể kết hợp với V(P) hoặc làm trạng ngữ cho câu. Cấu trúc danh ngữ này có thể mơ hồ giữa hai cách phân tích: [N(P)^[V(P)^ADV(P)]] hay [N(P)^V(P)]^[ADV(P)] 8. Cấu trúc danh ngữ mơ hồ [NP.08]: N(P)^ADJ(P)^PP 15 Trong cấu trúc danh ngữ NP.08 của tiếng Việt và tiếng Pháp, PP có thể kết hợp với ADJ(P) nhưng cũng có thể độc lập với [N(P)^ADJ(P)]. Cấu trúc danh ngữ này có thể mơ hồ giữa hai cách phân tích: [N(P)^ADJ(P)]^[PP] hoặc [N(P)^[ADJ(P)^PP]] 9. Cấu trúc danh ngữ mơ hồ [NP.09]: N(P)^PP^ADJ(P) Cấu trúc danh ngữ NP.09 của tiếng Việt và tiếng Pháp, ADJ(P) có thể kết hợp với [N(P)^PP] hay N(P) trong PP. Cấu trúc danh ngữ này có thể mơ hồ giữa hai cách phân tích: [[N(P)^PP]^ADJ(P)] hay [N(P)^[PP^ADJ(P)]] 10. Cấu trúc danh ngữ mơ hồ [NP.10]: N(P)1^N(P)2^PP Cấu trúc danh ngữ NP.10 là một cấu trúc cú pháp đặc thù của tiếng Việt, không có trong tiếng Pháp. Trong cấu trúc danh ngữ này, N(P)1 và N(P)2 kết hợp với nhau mà không có giới từ hay liên từ ở giữa. Cấu trúc danh ngữ này có thể mơ hồ giữa hai cách phân tích: [N(P)1^[N(P)2^PP]] hay [[N(P)1^N(P)2]^PP] 11. Cấu trúc danh ngữ mơ hồ [NP.11]: N(P)1^N(P)2^V(P) Cấu trúc danh ngữ NP.11 là một cấu trúc danh ngữ đặc thù của tiếng Việt, không có trong tiếng Pháp. Trong cấu trúc danh ngữ này, N(P)1 và N(P)2 có thể (nhưng không bắt buộc) kết hợp với nhau mà không có giới từ hay liên từ ở giữa. V(P) có thể làm định ngữ cho N(P)2 hoặc cấu trúc [N(P)1^N(P)2]. Cấu trúc danh ngữ này có thể mơ hồ giữa hai cách phân tích: [N(P)1^[N(P)2^V(P)]] hay [[N(P)1^N(P)2]^V(P)] 12. Cấu trúc danh ngữ mơ hồ [NP.12]: N(P)1^N(P)2^SC Cấu trúc danh ngữ NP.12 là một cấu trúc cú pháp đặc thù của tiếng Việt, không có trong tiếng Pháp. Trong cấu trúc danh ngữ này, N(P)1 và N(P)2 có thể (nhưng không bắt buộc) kết hợp với nhau mà không có giới từ hay liên từ ở giữa. Mệnh đề SC có thể làm định ngữ 16 cho N(P)2 hoặc cấu trúc [N(P)1^N(P)2]. Cấu trúc danh ngữ này có thể mơ hồ giữa hai cách phân tích: [N(P)1^[N(P)2^SC]] hay [[N(P)1^N(P)2]^SC] 13. Cấu trúc danh ngữ mơ hồ NP.13: N(P)1^C^N(P)2^N(P)3 Cấu trúc danh ngữ NP.13 là một cấu trúc cú pháp đặc thù của tiếng Việt, không có trong tiếng Pháp. Trong cấu trúc danh ngữ này, N(P)2 và N(P)3 có thể (nhưng không bắt buộc) kết hợp với nhau mà không có giới từ hay liên từ ở giữa. Cấu trúc danh ngữ này có thể mơ hồ giữa hai cách phân tích: [N(P)3^SC] hay [[N(P)1^N(P)2]^ N(P)3] 14. Cấu trúc danh ngữ mơ hồ [NP.14]: N(P)1^C^N(P)2^ADJ(P) Trong cấu trúc danh ngữ NP.14 của tiếng Việt và tiếng Pháp, ADJ(P) có thể kết hợp với N(P)2 hay cấu trúc [N(P)1^ N(P)2]. Cấu trúc danh ngữ này có thể mơ hồ giữa hai cách phân tích: [N(P)1^C^[N(P)2^ADJ(P)]] hay [[N(P)1^C^N(P)2]^ADJ(P)] 15. Cấu trúc danh ngữ mơ hồ [NP.15]: N(P)1^C^N(P)2^V(P) Cấu trúc danh ngữ NP.15 là một cấu trúc cú pháp đặc thù của tiếng Việt, không có trong tiếng Pháp. Trong cấu trúc danh ngữ này, V(P) có thể kết hợp với N(P) 2 hay cấu trúc [N(P)1^C^N(P)2]. Cấu trúc danh ngữ này có thể mơ hồ giữa hai cách phân tích: [N(P)1^C^[N(P)2^V(P)]] hay [[N(P)1^C^N(P)2]^V(P)] 16. Cấu trúc danh ngữ mơ hồ [NP.16]: N(P)1^C^N(P)2^PP Trong cấu trúc danh ngữ NP.16 của tiếng Việt và tiếng Pháp, PP có thể kết hợp với N(P)2 hay cấu trúc [N(P)1^C^N(P)2]. Cấu trúc danh ngữ này có thể mơ hồ giữa nhiều cách phân tích: [N(P)1^C^[N(P)2^PP]] hay [[N(P)1^C^N(P)2]^PP] hay … 17. Cấu trúc danh ngữ mơ hồ [NP.17]: N(P)^PP1^PP2^C^PP3
- Xem thêm -