Tài liệu Giảm nghèo theo hướng bền vững ở việt nam luận văn ths. kinh tế

  • Số trang: 95 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 98 |
  • Lượt tải: 0
nguyetha

Đã đăng 8489 tài liệu

Mô tả:

HÀ NỘI - 2011 ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ _________________________ ĐẶNG THỊ HOÀI GIẢM NGHÈO THEO HƯỚNG BỀN VỮNG Ở VIỆT NAM Chuyên ngành: Kinh tế chính trị Mã số : 60 31 01 LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ CHÍNH TRỊ Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS. TRẦN ĐÌNH THIÊN MỤC LỤC MỞ ĐẦU ................................................................................................................................... 1 Chƣơng 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA GIẢM NGHÈO THEO HƢỚNG BỀN VỮNG ............................................................................................ 7 1.1. Lý luận chung về đói nghèo ........................................................................... 7 1.1.1. Quan niệm về vấn đề đói nghèo, ngưỡng nghèo và các chỉ tiêu về mức độ nghèo......................................................................................... 7 1.1.2. Nguyên nhân đói nghèo ....................................................................... 13 1.2. Những vấn đề chung về giảm nghèo bền vững ............................................ 17 1.2.1. Quan niệm về giảm nghèo bền vững ................................................... 17 1.2.2. Các chỉ tiêu đánh giá mức độ bền vững trong giảm nghèo ................. 19 1.2.3. Những nhân tố ảnh hưởng tới giảm nghèo bền vững .......................... 20 1.2.4. Sự cần thiết phải giàm nghèo bền vững trong quá trình phát triển kinh tế xã hội ....................................................................................... 23 1.3. Kinh nghiệm giảm nghèo ở một số nước và khả năng áp dụng đối với Việt Nam .............................................................................................. 28 1.3.1. Kinh nghiệm giảm nghèo ở một số nước trong khu vực và trên thế giới ....................................................................................................... 28 1.3.2. Bài học và khả năng vận dụng đối với Việt Nam ................................ 31 Chƣơng 2. TÌNH HÌNH THỰC HIỆN CÔNG TÁC GIẢM NGHÈO THEO HƢỚNG BỀN VỮNG Ở VIỆT NAM ....................................................... 34 2.1. Tình hình thực hiện công tác giảm nghèo theo hướng bền vững ở Việt Nam từ 1998-2010 ............................................................................... 34 2.1.1. Tình hình giảm nghèo giai đoạn 1998 - 2000 ...................................... 34 2.1.2. Tình hình giảm nghèo giai đoạn 2001 - 2005 ...................................... 34 2.1.3. Tình hình giảm nghèo giai đoạn 2006 - 2010 ...................................... 40 2.2. Những đánh giá kết quả thực hiện giảm nghèo theo hướng bền vững ................ 49 2.2.1. Những kết quả tích cực và nguyên nhân .............................................. 49 2.2.2. Những hạn chế, tồn tại và nguyên nhân............................................... 57 Chƣơng 3. QUAN ĐIỂM, ĐỊNH HƢỚNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP GIẢM NGHÈO THEO HƢỚNG BỀN VỮNG Ở VIỆT NAM .............................. 62 3.1. Quan điểm và mục tiêu giảm nghèo theo hướng bền vững đến năm 2020 .. 62 3.2. Định hướng giảm nghèo đến năm 2020 ....................................................... 66 3.2.1. Dự báo xu hướng giảm nghèo trong thời gian tới ............................... 66 3.2.2. Những định hướng giảm nghèo đến năm 2020 ................................... 69 3.3. Những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả trong công tác giảm nghèo và thực hiện giảm nghèo bền vững........................................................... 71 3.3.1. Nhóm giải pháp nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tạo nguồn lực xóa đói giảm nghèo .............................................................................. 72 3.3.2. Nhóm giải pháp trực tiếp hỗ trợ người nghèo ..................................... 75 3.3.3. Nhóm giải pháp đối với các chương trình, dự án, chính sách hỗ trợ giảm nghèo đặc thù .............................................................................. 79 3.3.4. Giải pháp đối với khâu tổ chức thực hiện và kiểm tra, đánh giá............. 84 KẾT LUẬN ........................................................................................................... 87 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO .................................................................. 90 NHỮNG TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN ĐBKK: Đặc biệt khó khăn NN và PTNT: Nông nghiệp và Phát triển nông thôn LĐTB và XH: Lao động - Thương binh và Xã hội WB: Ngân hàng Thế giới XĐGN: Xóa đói giảm nghèo MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu Quan tâm đến việc trợ giúp nhân dân thoát khỏi đói nghèo là một nhiệm vụ quan trọng mà Đảng và Nhà nước ta luôn đặt lên hàng đầu trong suốt gần 70 năm qua (từ tháng 9 năm 1945). Trải qua hai cuộc chiến tranh, sau một thời gian mắc một số sai lầm chủ quan, đất nước bước vào thời kỳ đổi mới (năm 1986) với nhiều khó khăn, thách thức. Trong đó phải kể đến tình trạng một bộ phận nhân dân liên tục bị thiếu lương thực, bị đói trong thời gian dài. Trước thực tế đó, nhiều địa phương đã chủ động tìm cách cải thiện đời sống người dân mà đi đầu là Thành phố Hồ Chí Minh (năm 1991), sau đó được triển khai trên diện rộng, lan tỏa ra nhiều địa phương khác và trở thành phong trào xóa đói giảm nghèo trên phạm vi cả nước. Từ thực tiễn phong trào xóa đói giảm nghèo ở các địa phương, đến năm 1998, Chương trình mục tiêu quốc gia về xóa đói giảm nghèo được Chính phủ phê duyệt. Đây là lần đầu tiên xóa đói giảm nghèo trở thành một chính sách được đưa vào lập kế hoạch thường kỳ và được thực hiện như một phần quan trọng của kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội đất nước cũng như của các địa phương. Từ đó đến nay, công cuộc xóa đói giảm nghèo của Việt Nam đã trải qua ba giai đoạn: 1998 - 2000, 2001 - 2005 và 2006 - 2010 với những thành công nhất định, tỷ lệ hộ đói nghèo của cả nước giảm xuống còn 13% năm 2000, 7% năm 2005 với chuẩn nghèo tương ứng. Từ 2006 đến nay với việc thực hiện nhiều chương trình xóa đói giảm nghèo như Chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2006 - 2010, Chương trình 135, Nghị quyết 30a của Chính phủ… chúng ta đã thu được nhiều kết quả đáng khích lệ trong công tác xóa đói giảm nghèo, được cộng đồng quốc ghi nhận và đánh giá cao; đã nâng cao đáng kế đời sống nhân dân nói chung và người nghèo nói riêng. 1 Tuy nhiên, công cuộc giảm nghèo ở Việt Nam vẫn đang đứng trước nhiều khó khăn, thách thức, trong đó đặc biệt kể đến tính không bền vững của công tác giảm nghèo. Nguy cơ tái nghèo rất cao, hơn nữa có nhiều hộ gia đình không thuộc nhóm hộ nghèo nhưng thu nhập bình quân của họ nằm sát ngay trên chuẩn nghèo, chỉ cần một rủi ro như ốm đau, dịch bệnh, thiên tai, lạm phát… Thì ngay lập tức có hàng vạn hộ “rơi” vào nhóm hộ nghèo. Điều này đặt ra vấn đề phải làm thế nào để tăng tính bền vững trong công tác giảm nghèo và đảm bảo sự bền vững của kết quả nghèo trong thời gian tới, tính theo giai đoạn 2010 - 2015 và giai đoạn 2015 - 2020 khi nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp. Thực tế trên đặt ra yêu cầu cấp thiết về việc cần phải tiếp tục nghiên cứu cả về lý luận và thực tiễn nhằm hoàn thiện và tăng cường tính bền vững trong xây dựng, thực hiện các chương trình, dự án, chính sách giảm nghèo, cũng như công tác triển khai, tổ chức thực hiện. Cần có những phân tích, đánh giá để tìm nguyên nhân của những thành công, thất bại trong quá trình thực hiện công tác giảm nghèo để từ đó nâng cao tính bền vững của công cuộc xóa đói giảm nghèo ở Việt Nam. Hơn thế nữa, mặc dù ở Việt Nam đã có một số công trình nghiên cứu về các vấn đề lien quan đến xóa đói giảm nghèo nhưng các công trình chưa hoặc không nhấn mạnh vào giảm nghèo theo hướng bền vững. Vì vậy, “Giảm nghèo theo hướng bền vững ở Việt Nam” được tác giả chọn làm đề tài nghiên cứu của luận văn cao học. 2. Tình hình nghiên cứu Cho đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu về công tác xóa đói giảm nghèo nói chung, đề ra các cơ chế, chính sách cũng như tổ chức thực hiện các chương trình giảm nghèo. Một số công trình như sau: Những giải pháp nhằm nâng cao thu nhập của hộ nông dân nghèo vùng bằng Sông Hồng, luận án TS của nghiên cứu sinh Lê Thị Nghệ, Bộ NN và PTNT bảo vệ năm 1995 tại Đại học Kinh tế Quốc dân Hà nội. 2 Đóng góp: Đã đưa ra những giải pháp giảm nghèo mang tính vùng miền dầu tiên ở nước ta. Nâng cao hiệu quả sử dụng lao động để góp phần xóa đói giảm nghèo ở nông thôn Việt Nam, luận án TS của nghiên cứu sinh Vũ Thị Biểu, Bộ LĐTB và XH, bảo vệ năm 1996 tại Đại học Kinh tế Quốc dân Hà Nội. Đóng góp: Đã đưa ra những đề xuất giảm nghèo thông qua việc nâng cao hiệu quả sử dụng lao động. Tín dụng cho người nghèo các quỹ xóa đói giảm nghèo ở nướ ta hiện nay, luận án tiến sĩ của NCS Nguyễn Trung Tăng, bảo vệ tại Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, năm 2002. Đóng góp: Đưa ra những đề xuất nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tín dụng cho nông dân nghèo. Shanks, Edwin, và Carrie Turk, 2002, "Policy Recommendations from the Poor", tổng hợp các kết quả điều tra, báo cáo khoa học chuẩn bị cho Nhóm hành động chống nghèo đói, đưa ra các khuyến nghị chính sách ban đầu cho việc xây dựng Chiến lược Toàn diện về Tăng trưởng và Xoá đói giảm nghèo (CPRGS) của Việt Nam. Một số giải pháp chủ yếu nhằm xóa đói giảm nghèo ở vùng Tây bắc giai đoạn 2006 - 2010, luận văn Thạc sĩ của học viên cao học Ngô Xuân Quyết, bảo vệ tại Đại học Kinh tế Quốc dân, năm 2006. Đóng góp: Đã đưa ra những giải pháp xóa đói giảm nghèo mang tính khu vực. Ngoài ra, còn có một số công trình nghiên cứu, bài báo, tạp chí, đề tài nghiên cứu khác bàn về nhiều khía cạnh khác nhau của XĐGN. Cho đến nay, đã có nhiều công trình khoa học nghiên cứu về vấn đề xóa đói, giảm nghèo, tuy nhiên các công trình đó đều nghiên cứu hoặc một phạm vi rất rộng hoặc đi vào nghiên cứu một lĩnh vực rất cụ thể của đói nghèo hay nghiên cứu đưa ra giải pháp mang tính đặc thù ở một vùng kinh tế hoặc tại một địa phương. Tuy nhiên, chưa có một công trình nào nghiên cứu một 3 cách tổng thể về công cuộc giảm nghèo, trên cơ sở đó đề xuất những giải pháp mang tính bền vững cao và định hướng chúng phục vụ những định hướng xuyên suốt, lâu dài phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế - xã hội đất nước từ nay đến năm 2020. Đặc biệt, quan niệm, nội dung của thuật ngữ “giảm nghèo bền vững” cho đến nay vẫn là một khoảng trống trong nghiên cứu khoa học, mặc dù nó đã được sử dụng khá phổ biến và rộng rãi trên các phương tiện thông tin đại chúng và tại nhiều cuộc hội thảo, hội nghị và các nghiên cứu khoa học bàn về vấn đề nghèo đói. 3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu * Mục đích nghiên cứu: Làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của công cuộc giảm nghèo và giảm nghèo theo hướng bền vững ở Việt Nam trong thời gian qua. Tổng kết, đánh giá, phân tích tình hình thực hiện công tác xóa đói giảm nghèo, đặc biệt là giảm nghèo theo hướng bền vững ở Việt Nam thời gian qua. Từ đó đề xuất một số giải pháp tác động đến công tác giảm nghèo ở Việt Nam nhằm đạt hiệu quả giảm nghèo cao và bền vững trong thời gian tới. * Nhiệm vụ nghiên cứu: - Làm rõ một số vấn đề lý luận chung về giảm nghèo và giảm nghèo bền vững. - Làm rõ sự cần thiết và tính tất yếu phải giảm nghèo và giảm nghèo theo hướng bền vững; những nhân tố ảnh hưởng đến giảm việc thực hiện công tác giảm nghèo và mục tiêu giảm nghèo bền vững. - Tìm hiểu kinh nghiệm giảm nghèo ở một số quốc gia trên thế giới, từ đó rút ra bài học cho Việt Nam. - Phân tích, đánh giá tình hình thực hiện công tác giảm nghèo và giảm nghèo theo hướng bền vững ở Việt Nam trong thời gian qua. Trên cơ sở đó tổng kết những thành tựu đạt được cũng như những hạn chế tồn tại và nguyên nhân. - Đề xuất một số giải pháp để công tác giảm nghèo đạt hiệu quả cao và đảm bảo mục tiêu giảm nghèo bền vững trong thời gian tới. 4 4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu * Đối tượng nghiên cứu: Vấn đề giảm nghèo và giảm nghèo theo hướng bền vững ở Việt Nam. Nghiên cứu tình hình thực hiện công tác xóa đói giảm nghèo ở Việt Nam nói chung. Nghiên cứu tính bền vững trong công tác giảm nghèo của Việt Nam. Nghiên cứu nguyên nhân tác động đến tính bền vững trong công tác giảm nghèo ở Việt Nam và những giải pháp để có thể thực hiện mục tiêu giảm nghèo bền vững. * Phạm vi nghiên cứu: Công tác giảm nghèo (qua việc thực hiện các chính sách, chương trình, dự án) cấp Trung ương. Trong đó tập trung vào việc giảm nghèo hướng đến đảm bảo tính bền vững, phù hợp với quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. * Thời gian nghiên cứu: Từ năm 1998 đến năm 2010 và xu hướng của công tác giảm nghèo đến năm 2015, 2020. 5. Phƣơng pháp nghiên cứu Sử dụng phương pháp lịch sử kết hợp chặt chẽ với phương pháp logic; phương pháp thống kê, phân tích và tổng hợp. Ngoài ra, phương pháp so sánh, hệ thống hóa cũng được sử dụng để thực hiện mục đích của luận văn. 6. Đóng góp của luận văn - Hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản về giảm nghèo, giảm nghèo theo hướng bền vững. - Phân tích, đánh giá tổng thể tình hình thực hiện công tác giảm nghèo theo hướng bền vững của Việt Nam từ năm 1998 đến nay và rút ra những thành tựu đạt được, hạn chế còn tồn tại và nguyên nhân của nó. - Đề xuất một số giải pháp để công tác giảm nghèo trong thời gian tới đạt hiệu quả cao và đảm bảo mục tiêu giảm nghèo bền vững. 5 7. Kết cấu của luận văn Ngoài phần mở đầu, kết luận, luận văn gồm 3 chương sau: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của giảm nghèo theo hướng bền vững. Chƣơng 2: Tình hình thực hiện công tác giảm nghèo theo hướng bền vững ở Việt Nam. Chƣơng 3: Quan điểm, định hướng và một số giải pháp giảm nghèo theo hướng bền vững ở Việt Nam. 6 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA GIẢM NGHÈO THEO HƢỚNG BỀN VỮNG 1.1. Lý luận chung về đói nghèo 1.1.1. Quan niệm về vấn đề đói nghèo, ngưỡng nghèo và các chỉ tiêu về mức độ nghèo 1.1.1.1. Quan niệm của một số tổ chức quốc tế và Việt Nam về vấn đề nghèo đói Mặc dù trên thế giới hiện nay có rất nhiều quan niệm về nghèo đói được các thiết chế kinh tế quốc tế, tổ chức quốc tế, tổ chức phi chính phủ đưa ra. Mỗi một quan niệm đưa ra đều dựa trên những nguyên tắc và cách tiếp cận riêng về nghèo đói, song nhìn chung có thể chú ý vào một số quan niệm chủ yếu sau: Hội nghị Thượng đỉnh Thế giới về phát triển xã hội tổ chức tại Copenhagen (Đan Mạch) năm 1995 đã đưa ra một định nghĩa về nghèo đói như sau: "Người nghèo là tất cả những ai mà thu nhập thấp hơn dưới 1 đô la (USD) mỗi ngày cho mỗi người, số tiền được coi như đủ mua những sản phẩm thiết yếu để tồn tại" - đây được coi là quan niệm đói nghèo tuyệt đối. Bảng 1.1: Tỷ lệ dân số sống dƣới 1 đô la Mỹ một ngày ở một số nƣớc Trung Quốc Mông Cổ Hàn Quốc Cam- pu- chia Indonesia Lào Malaysia Philipines Thái Lan Việt Nam Ấn Độ Đầu những năm 90 (%) 31.3 (90) 48.3 (90) 20.6 (90) 53 (90) 0.5 (90) 19.1 (90) 12.5 (90) 50.8 (90) 52.5 (92) Nguồn: Báo cáo năm 2002 của Liên hiệp quốc. 7 Cuối những năm 90 (%) 15.3 (2000) 13.9 (95) dưới 2 (2000) 35.5 (2000) 8.3 (2000) 34.6 (2000) 0.0 (2000) 13.2 (2000) 5.2 (2000) 9.6 (2000) 44.2 (97) Tuy vậy, cũng có quan niệm khác về nghèo đói mang tính kinh điển hơn, triết lý hơn của chuyên gia hàng đầu của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) - ông AbapiSen, người được giải thưởng Nobel về kinh tế năm 1998 cho rằng: "Nghèo đói là sự thiếu cơ hội lựa chọn tham gia vào quá trình phát triển của cộng đồng". Ngân hàng Thế giới (WB) đưa ra quan điểm: Nghèo là một khái niệm đa chiều vượt khỏi phạm vi túng thiếu về vật chất. Nghèo không chỉ gồm các chỉ số dựa trên thu nhập mà còn bao gồm các vấn đề liên quan đến năng lực như dinh dưỡng, sức khoẻ, giáo dục, khả năng dễ bị tổn thương, không có quyền phát ngôn và không có quyền lực. Theo Hội nghị chống đói nghèo khu vực châu Á - Thái Bình Dương do ESCAP tổ chức tại Băng Cốc, Thái Lan tháng 9/1993, "Nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và thỏa mãn các nhu cầu cơ bản của con người mà những nhu cầu này đã được xã hội thừa nhận tùy theo trình độ phát triển kinh tế - xã hội và phong tục tập quán của địa phương". Đây có thể coi là một định nghĩa chung nhất về nghèo, có tính chất hướng dẫn về phương pháp đánh giá, nhận diện những nét chính phổ biến về nghèo. Từ những quan niệm nói trên, có thể thấy rõ đói nghèo gồm những khía cạnh cơ bản như sau: - Đầu tiên và trên hết là sự khốn cùng về vật chất, được đo lường theo một tiêu chí thích hợp về thu nhập hoặc tiêu dùng. - Đi kèm với sự khốn cùng về vật chất là sự hưởng thụ thiếu thốn về giáo dục và y tế. - Nguy cơ dễ bị tổn thương và dễ gặp rủi ro, tức là khả năng một hộ gia đình hay cá nhân bị rơi vào cảnh đói nghèo về thu nhập hay sức khoẻ. - Cuối cùng là tình trạng không có tiếng nói, không được tham gia và không có quyền lực của người nghèo. 8 Đối với Việt Nam, theo quan niệm thông thường thì nghèo đói dùng để chỉ cả tình trạng nghèo và tình trạng đói. Nhưng thực ra vấn đề nghèo và đói là hai vấn đề khác nhau: đói được hiểu là tình trạng không đủ nhu cầu về ăn; còn nghèo là nói đến tình trạng khó khăn chung về việc không có khả năng đáp ứng các nhu cầu cơ bản, song chủ yếu lại là các nhu cầu về phi lương thực thực phẩm như nhà ở, mặc, y tế, giáo dục, văn hoá, đi lại và giao tiếp xã hội. Khi nghiên cứu về vấn đề nghèo theo cấp độ để xây dựng và ban hành các chính sách, chương trình giảm nghèo cụ thể, chúng ta còn đưa ra và sử dụng các thuật ngữ như: hộ nghèo, xã nghèo, huyện nghèo. Các nhà nghiên cứu và quản lý ở nước ta hiện nay cũng thừa nhận và sử dụng khái niệm nghèo do Uỷ ban Kinh tế - xã hội khu vực châu Á - Thái Bình Dương (ESCAP) đưa ra nói trên và đây cũng là quan điểm của tác giả luận văn. Theo tác giả luận văn, đây là định nghĩa chung nhất về đói nghèo vì vậy khái niệm nghèo trong luận văn này được hiểu là: tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và thỏa mãn các nhu cầu cơ bản của con người mà những nhu cầu này đã được xã hội thừa nhận tùy theo trình độ phát triển kinh tế - xã hội và phong tục tập quán của địa phương. 1.1.1.2. Quan niệm về ngưỡng nghèo Khi nghiên cứu về vấn đề nghèo, cần có một thước đo cụ thể và phải bao hàm 3 yếu tố: Lựa chọn tiêu chí nghiên cứu và chỉ số phúc lợi; Cần lựa chọn một ngưỡng nghèo: là mức giới hạn mà cá nhân hay hộ gia đình nằm dưới mức đó sẽ bị coi là nghèo; Chọn ra một thước đo đói nghèo được sử dụng để phản ánh cho tổng thể hoặc một nhóm dân cư. Về tiêu chí nghiên cứu, khía cạnh tiền tệ của nghèo đói được phản ánh qua mức chi tiêu bình quân đầu người hoặc thu nhập bình quân đầu người. Tuy vậy, hiện tại số liệu về chi tiêu được xem là ưu việt hơn vì thu nhập chỉ làm tăng phúc lợi khi nó được sử dụng cho tiêu dùng chứ không phải tiết 9 kiệm hay trả nợ. Mặt khác, số liệu về thu nhập thường không chính xác, đặc biệt đối với Việt Nam. Về ngưỡng nghèo (hay còn gọi là chuẩn nghèo): Là ranh giới để phân biệt giữa người nghèo và người không nghèo. Hiện tại ở nước ta, ngưỡng nghèo được tính bằng tiền. Có hai cách chính để xác định ngưỡng nghèo: - Ngưỡng nghèo (chuẩn nghèo) tuyệt đối: Là chuẩn tuyệt đối về mức sống được coi là tối thiểu cần thiết để cá nhân hoặc hộ gia đình có thể tồn tại. Phương pháp chung để xác định ngưỡng nghèo này là sử dụng một rổ các loại lương thực được coi là cần thiết để đảm bảo mức độ dinh dưỡng tối thiểu cho con người. Do vậy ngưỡng nghèo này gọi là ngưỡng nghèo lương thực, thực phẩm và thường là thấp vì nó không tính đến chi tiêu cho các sản phẩm phi lương thực khác. - Ngưỡng nghèo tương đối (chuẩn nghèo chung): Được xác định theo phân phối thu nhập hoặc tiêu dùng chung trong cả nước để phản ánh tình trạng của một bộ phận dân cư sống dưới mức trung bình của cộng đồng (ví dụ ngưỡng nghèo tương đối có thể là 50% mức thu nhập trung bình của cả nước). Trên bình diện quốc tế, Ngân hàng Thế giới (WB) đã tính toán ngưỡng nghèo tuyệt đối quốc tế cho các nước có thu nhập thấp là 1USD/ngày và cho các nước có thu nhập trung bình là 2 USD/ngày. Còn ở Việt Nam, để phân tích, đánh giá đói nghèo, chúng ta thường sử dụng 2 loại chuẩn nghèo sau: Thứ nhất, chuẩn nghèo do Tổng cục Thống kê xác định dựa trên các tiếp cận của WB. Theo cách tiếp cận này, ngưỡng nghèo về lương thực thực phẩm là 107.234 đồng/người/tháng vào năm 1998 và ngưỡng nghèo chung (được xác định trên cơ sở ngưỡng nghèo lương thực thực phẩm và coi đó là tương ứng với 70% nhu cầu cơ bản, 30% còn lại là các nhu cầu cơ bản tối thiểu khác) là 149.156 đồng/người/tháng. Thứ hai, chuẩn nghèo do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (LĐTB - XH) xác định mang tính chất tương đối hơn và tiếp cận từ khía cạnh thu 10 nhập, dựa chủ yếu vào khả năng của những tư liệu sẵn có, cụ thể là khả năng tài chính hỗ trợ cho chương trình xóa đói giảm nghèo quốc gia, trên cơ sở đó xác định chuẩn nghèo là mức thu nhập tối thiểu của từng khu vực, căn cứ vào nhu cầu chi tiêu và tình trạng và tình trạng giá cả hàng hóa tiêu dùng ở các khu vực khác nhau. Trong giai đoạn 1998- 2000, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội đã đưa ra chuẩn nghèo cho từng khu vực như sau: Nông thôn miền núi, hải đảo: 55.000 đồng/người/tháng; Nông thôn đồng bằng 70.000 đồng/người/tháng và thành thị là 90.000 đồng/người/tháng. Trong giai đoạn 2001- 2005, chuẩn nghèo với từng khu vực như trên được nâng lên là: 80.000, 100.000 và 150.000/người/tháng. Chuẩn nghèo áp dụng cho giai đoạn 2006- 2010 với 2 ngưỡng dành cho hai khu vực: Khu vực nông thôn là các hộ có thu nhập từ 200.000 đồng/người/tháng trở xuống; Khu vực thành thị là 260.000 đồng/người/tháng. Cùng với đó, Bộ LĐTB - XH cũng đề nghị các chuẩn nghèo đưa ra chỉ là mức sàn, các địa phương có thể đưa ra mức cao hơn trên cơ sở khả năng của mình. Tuy nhiên, trong bối cảnh lạm phát tăng cao từ năm 2007 và năm 2008 ước tính trên 25% cho cả hai năm, để đảm bảo nhận diện chính xác hơn về mức độ nghèo của người dân và có chính sách phù hợp, Chính phủ đã điều chỉnh chuẩn nghèo lên hai mức là: 300.000 đồng/người/tháng đối với khu vực nông thôn và 390.000 đồng/người/tháng đối với khu vực thành thị áp dụng vào đầu năm 2009. Quy đổi chuẩn nghèo nói trên theo sức mua tương đương của đồng tiền Việt Nam theo cách tính của thế giới thì chuẩn nghèo này đã sấp xỉ là 2USD/người/ngày. Đến đầu năm 2011, chúng ta đã đưa ra chuẩn nghèo áp dụng trong giai đoạn 2011 - 2015 sẽ là 400.000 đồng/người/tháng đối với khu vực nông thôn và 500.000 đồng/người/tháng đối với khu vực thành thị. 11 1.1.1.3. Các chỉ tiêu đo lường mức độ nghèo Với việc xác định được chuẩn nghèo như trên, chỉ tiêu phổ biến và tổng quát nhất để đánh giá đói nghèo hiện nay là việc đếm số người sống dưới chuẩn nghèo hay còn gọi là tỷ lệ hộ nghèo hoặc chỉ số đếm đầu người. Tỷ lệ nghèo (tỷ lệ hộ nghèo) được tính bằng tỉ lệ phần trăm của số hộ (dân số) có thu nhập dưới chuẩn nghèo trên tổng số hộ (tổng số dân). Tuy nhiên, để phản ánh được tính chất gay gắt của nghèo đói và có chính sách cần thiết, hữu hiệu, người ta còn sử dụng chỉ số “khoảng cách nghèo” hay còn gọi là chỉ số thiếu hụt (so với chuẩn nghèo). Khoảng cách nghèo là phần chênh lệch giữa mức chi tiêu của người nghèo so với ngưỡng nghèo, tính bằng phần trăm so với ngưỡng nghèo. Khi so sánh các nhóm dân cư trong một nước, khoảng cách nghèo cho biết tính chất và mức độ nghiêm trọng của nghèo khổ giữa các nhóm khác nhau. Cùng với đó, người ta còn dùng chỉ số bình phương khoảng nghèo, tức là tăng thêm trọng số cho những nhóm nghèo nhất trong dân số để thể hiện mức độ nghiêm trọng (hay cường độ) của đói nghèo cho những nhóm người có khoảng các nghèo lớn hơn trong số những người nghèo. Cả ba thước đo đói nghèo đều đang được dùng phổ biến ở nước ta và đều có một tính chất hữu ích chung là nó cho phép phân tách các thước đo tổng hợp theo vùng hoặc nhóm dân cư. Tuy nhiên, các thước đo trên mới chỉ tập trung đo lường khía cạnh thiếu thốn về vật chất của người nghèo. Bên cạnh đó còn có rất nhiều thước đo định tính khác để phản ánh sự thiếu thốn về y tế, giáo dục, nguy cơ dễ bị tổn thương và tình trạng không có tiếng nói, không có quyền lực của người nghèo. Ngoài các chỉ tiêu nói trên, trên thế giới hiện có nhiều chỉ tiêu khác dùng để đánh giá tình trạng nghèo đói và bất bình đẳng về kinh tế với các nội dung và ý nghĩa khác nhau: 12 - Chỉ số nghèo khổ con người (nghèo khổ tổng hợp - HPI), được Liên Hiệp Quốc đưa ra năm 1997. Chỉ số này nói lên rằng, sự nghèo khổ của con người ảnh hưởng đến bao nhiêu phần trăm dân số của nước đó. So sánh các giá trị HDI (chỉ số phát triển con người) và HPI cho thấy sự phân phối thành tựu của tiến bộ con người. - Chỉ tiêu hệ số giãn cách thu nhập xác định mức chênh lệnh thu nhập giữa bộ phận dân cư giàu và nghèo trong xã hội (Ví dụ: Chênh lệch thu nhập của 20% dân số có thu nhập cao nhất với thu nhập của 20% dân số có thu nhập thấp nhất). - Tiêu chuẩn “40” do WB đề xuất năm 2002 xác định tỉ lệ thu nhập chiếm trong tổng thu nhập dân cư của 40% dân số có mức thu nhập thấp nhất trong xã hội. Theo chỉ tiêu này, nếu nước nào có thu nhập của 40% dân số có thu nhập thấp nhất chiếm trên 17% thì đạt mức độ bình đẳng xã hội cao, tương ứng nếu chiếm từ 12 - 17% thì ở mức tương đối bất bình đẳng lớn. - Tỉ số Kuznets là chỉ tiêu do nhà kinh tế học người Mỹ gốc Nga đề xuất trong tác phẩm “Sự tăng trưởng kinh tế của các dân tộc” (năm 1971) khi nghiên cứu thực nghiệm sự biến động thu nhập của các nước phát triển và đang phát triển. Tỉ số này được xác định bằng phép chia giữa tỉ trọng thu nhập của X% dân số giàu và Y% thu nhập của dân số nghèo nhất, nếu tỉ số này nhận giá trị càng cao thì thể hiện mức độ bất công bằng xã hội cao. Để đánh giá mức độ nghèo đói và bất bình đẳng kinh tế, bên cạnh các chỉ tiêu nêu trên, người ta còn sử dụng một số phương pháp khác như: phân tích đường cong Lozenz (của nhà thống kê học người Mỹ năm 1905), hệ số GINI (của nhà thống kê học người Ý năm 1912), hệ số bất bình đẳng Theil L v.v… 1.1.2. Nguyên nhân đói nghèo 1.1.2.1. Nhóm các nguyên nhân khách quan Đầu tiên, phải kể đến là do xuất phát điểm của nền kinh tế nước ta. Là một nước nông nghiệp lạc hậu, lại phải trải qua hơn 30 năm chiến tranh, bị tàn phá nặng nề, cơ sở vật chất, hạ tầng kỹ thuật và nguồn lực của Nhà nước chưa 13 đáp ứng ngay được nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của các địa phương cũng như việc đảm bảo đầy đủ các nguồn lực để hỗ trợ người nghèo. Điều này dẫn đến một số vùng, tỉnh, huyện, xã nghèo không tự tạo ra được những điều kiện cũng như phát huy tiềm năng của mình để phát triển, do đó làm cho người dân ở địa bàn cũng phải gánh chịu những khó khăn đó và không thể tự thoát ra khỏi tình trạng nghèo đói. Thứ hai, người nghèo ở nước ta bị hạn chế về nguồn lực và các yếu tố của sản xuất. Nguồn vốn nhân lực bị hạn chế cản trở họ thoát khỏi nghèo đói; Khả năng tiếp cận các nguồn vốn tín dụng là một trong những nguyên nhân trì hoãn khả năng đổi mới sản xuất, áp dụng khoa học công nghệ, giống mới...; Thiếu đất sản xuất ảnh hưởng đến phát triển nông nghiệp và bảo đảm an ninh lương thực của người nghèo cũng như khả năng đa dạng hoá sản xuất, hướng tới sản xuất các loại cây trồng, vật nuôi với giá trị cao hơn. Do vậy, đa số người nghèo bắt buộc phải lựa chọn phương án sản xuất tự cung, tự cấp; thiếu cơ hội thực hiện các phương án sản xuất mang lợi nhuận cao hơn. Vì vẫn theo phương pháp sản xuất truyền thống nên giá trị sản phẩm và năng suất các loại cây trồng, vật nuôi không cao, thiếu tính cạnh tranh trên thị trường và vì vậy đã đưa họ vào vòng luẩn quẩn của sự nghèo khó. Thứ ba, người nghèo còn bị hạn chế trong việc tiếp cận với các dịch vụ xã hội cơ bản, chưa được bảo vệ quyền lợi và lợi ích hợp pháp. Người nghèo, hộ nghèo thường không có tiền để trang trải chi phí đi học. Mặc dù đã có chính sách hỗ trợ về giáo dục cho người nghèo và con em họ song các khoản chi phí khác ngoài học phí hay việc đi học làm mất đi nguồn lao động nuôi sống gia đình cũng đang là những vấn đề cản trở họ với các dịch vụ giáo dục, dạy nghề. Cùng với đó, do nhiều văn bản pháp luật có cơ chế thực hiện phức tạp, người nghèo khó nắm bắt; mạng lưới các dịch vụ pháp lý, phí dịch vụ pháp lý cao khiến người nghèo, đồng bào dân tộc ít người và các đối tượng có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn không tự giải quyết các vấn đề vướng mắc có liên quan đến pháp luật. 14 Thứ tư, người nghèo dễ bị tổn thương khi phải chịu ảnh hưởng của thiên tai, bão lũ và các rủi ro khác. Các hộ gia đình nghèo rất dễ bị tổn thương bởi những khó khăn hàng ngày và những biến động bất thường xảy ra đối với cá nhân, gia đình hay cộng đồng. Hàng năm số người phải cứu trợ đột xuất do thiên tai khoảng từ 1 - 1,2 triệu người. Số hộ tái đói nghèo trong tổng số hộ vừa thoát khỏi đói nghèo vẫn còn lớn, do không ít số hộ đang sống bên ngưỡng đói nghèo và rất dễ bị tác động bởi các yếu tố rủi ro như thiên tai, mất việc làm, ốm đau,... Do đó, việc tìm kiếm các giải pháp giảm nhẹ hậu quả thiên tai được coi như là một phần quan trọng của quá trình xóa đói giảm nghèo. 1.1.2.2. Nhóm các nguyên nhân chủ quan Đầu tiên, phải kể đến nguyên nhân xuất phát từ chính bản thân người nghèo. Đó là nhận thức của người nghèo về vấn đề nghèo đói còn hạn chế, bản thân nhiều người nghèo ở nước ta không thể tự mình lý giải được nguyên nhân nghèo khó của mình, hoặc họ không thừa nhận những nguyên nhân do bản thân họ gây ra như: đông con, lười biếng… mà họ “đổ vạ” cho số phận, cơ chế… Do vậy, họ không có ý thức vươn lên, tự cứu lấy bản thân và gia đình, một bộ phận người nghèo, đặc biệt là người dân tộc thiểu số còn có thói quen chây lười, ỷ lại vào sự trợ giúp của nhà nước hoặc cộng đồng khi gặp những rủi ro. Thứ hai, người nghèo thường có trình độ học vấn thấp, không có nghề, ít có cơ hội tìm được việc làm tốt, ổn định. Do vậy, mức thu nhập của họ thấp và hầu như chỉ đảm bảo nhu cầu dinh dưỡng tối thiểu và do vậy không có điều kiện để nâng cao trình độ cũng như có tiền để đi học nghề hay trang bị hoặc nâng cao kiến thức của mình trong tương lai để thoát khỏi cảnh nghèo khó. Bên cạnh đó, trình độ học vấn thấp và không có nghề sẽ ảnh hưởng đến các quyết định có liên quan đến giáo dục, sinh đẻ, nuôi dưỡng con cái... đến không những của thế hệ hiện tại mà cả thế hệ trong tương lai - nghèo dai dẳng từ thế hệ này sang thế hệ khác. 15 Thứ ba, tập quán, thói quen canh tác, sản xuất của người nghèo ở nhiều vùng còn rất lạc hậu, được truyền từ đời này sang đời khác nên rất khó thay đổi. Tập quán canh tác lạc hậu, cùng với tư tưởng bảo thủ, cổ hủ, không chịu tiếp thu kiến thức, kinh nghiệm làm ăn mới... cũng là một trong những nguyên nhân tự thân, khiến người nghèo, đồng bào dân tộc không thể vươn lên trong phát triển sản xuất, kinh doanh. Thứ tư, do quy mô hộ gia đình ở nông thôn, đây là "mẫu số" quan trọng có ảnh hưởng đến mức thu nhập bình quân của các thành viên trong hộ nghèo. Đông con vừa là nguyên nhân vừa là hệ quả của nghèo đói. Tỷ lệ sinh trong các hộ gia đình nghèo còn rất cao. Mức độ hiểu biết của các cặp vợ chồng nghèo về vệ sinh, an toàn tình dục, cũng như mối liên hệ giữa tình trạng nghèo đói, sức khoẻ sinh sản và gia tăng nhân khẩu còn hạn chế. Tỷ lệ người ăn theo cao trong các hộ nghèo còn có nghĩa là nguồn lực về lao động rất thiếu, đây cũng chính là một nguyên nhân dẫn đến tình trạng nghèo đói của họ. Thứ năm, do tình trạng bất bình đẳng giới còn tồn tại dai dẳng, làm sâu sắc hơn tình trạng nghèo đói trên tất cả các mặt. Ngoài những bất công mà cá nhân phụ nữ và trẻ em gái phải chịu đựng do bất bình đẳng thì còn có những tác động bất lợi đối với gia đình. Phụ nữ có ít cơ hội tiếp cận với công nghệ, tín dụng và đào tạo, thường gặp nhiều khó khăn do gánh nặng công việc gia đình, thiếu quyền quyết định trong hộ gia đình và thường được trả công lao động thấp hơn nam giới ở cùng một loại công việc... Điều này còn gây ra hậu quả là phụ nữ thường xuyên bị ốm đau, bệnh tật do vất vả và không được đảm bảo nhu cầu dinh dưỡng cũng như các nhu cầu chăm sóc khác… khiến cho hộ nghèo càng nghèo. Ngoài các nguyên nhân nói trên, có thể còn một số nguyên nhân khác như lười lao động, mắc phải tệ nạn xã hội, nghiện ma tuý... Theo số liệu điều tra hộ nghèo năm 2004 của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, nguyên nhân nghèo đói là do: thiếu vốn sản xuất: 79%; thiếu 16
- Xem thêm -