Tài liệu Giải pháp thúc đẩy ứng dụng kết quả nghiên cứu và phát triển của đại học bách khoa hà nội vào sản xuất, kinh doanh

  • Số trang: 87 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 563 |
  • Lượt tải: 0
dangvantuan

Tham gia: 02/08/2015

Mô tả:

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC Xà HỘI VIỆT NAM HỌC VIỆN KHOA HỌC Xà HỘI BỘ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ VIỆN CHIẾN LƯỢC VÀ CHÍNH SÁCH KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ NGUYỄN BÁ HÙNG GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY ỨNG DỤNG KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ PHÁT TRIỂN CỦA ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI VÀO SẢN XUẤT, KINH DOANH Chuyên ngành: Quản lý Khoa học và Công nghệ Mã số: 60.34.04.12 LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC TS. NGUYỄN QUANG TUẤN HÀ NỘI, 2016 LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan: Luận văn này là công trình nghiên cứu thực sự của cá nhân tôi, được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Nguyễn Quang Tuấn. Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong luận văn đảm bảo độ tin cậy, chính xác và trung thực. Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình khoa học nào khác. Tác giả luận văn NGUYỄN BÁ HÙNG MỤC LỤC MỞ ĐẦU .................................................................................................................... 1 Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN ỨNG DỤNG, NGHIÊN CỨU PHÁT TRIỂN, SẢN XUẤT KINH DOANH ..................................................................................... 7 1.1. Các khái niệm cơ bản ........................................................................................... 7 1.2. Ứng dụng kết quả nghiên cứu vào sản xuất kinh doanh hay thương mại hóa kết quả nghiên cứu ......................................................................................................... .23 1.3. Các yếu tố tác động đến thương mại hóa kết quả nghiên cứu ........................... 27 Kết luận chương 1 ..................................................................................................... 30 Chương 2. THỰC TRẠNG ỨNG DỤNG KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ PHÁT TRIỂN VÀO SẢN XUẤT, KINH DOANH CỦA ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI. ...................................................................................................... 32 2.1. Giới thiệu chung về Trường Đại học Bách khoa Hà Nội................................... 32 2.2. Thực trạng ứng dụng kết quả nghiên cứu tại một số viện lớn của trường Đại học Bách Khoa Hà Nội ................................................................................................... 40 2.3. Đánh giá chung về thực trạng ứng dụng kết quả nghiên cứu và phát triển của Đại học Bách Khoa Hà Nội vào sản xuất kinh doanh ............................................... 50 Kết luận chương 2 .................................................................................................... .55 Chương 3. MỘT SỐ GẢI PHÁP THÚC ĐẨY ỨNG DỤNG KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ PHÁT TRIỂN CỦA ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI VÀO SẢN SUẤT KINH DOANH .......................................................................... 57 3.1. Nhóm giải pháp về cơ chế chính sách của Nhà nước ........................................ 57 3.2. Đề xuất nhóm giải pháp tại Đại học Bách Khoa Hà Nội ................................... 64 Kết luận chương 3 ..................................................................................................... 78 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ ...................................................................... 79 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO. .................................................... 81 DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT CGCN Chuyển giao công nghệ CN Công nghệ DN Doanh Nghiệp CNH-HĐH Công nghiệp hóa, hiện đại hóa ĐH Đại học ĐH BKHN Đại học Bách Khoa Hà Nội KH&CN Khoa học và Công nghệ KQNC Kết quả nghiên cứu NCCB Nghiên cứu cơ bản NCƯD Nghiên cứu ứng dụng NCTK Nghiên cứu triển khai PTCN Phát triển công nghệ R&D Nghiên cứu và triển khai SHTT Sở hữu trí tuệ TLO Technology License Offce (Văn phòng chuyển giao quyền sử dụng công nghệ) TTO Techology Transfer Office (Văn phòng chuyển giao công nghệ) TTC Techology Transfer Center (Trung tâm chuyển giao công nghệ) DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU Hình/Bảng biểu Trang Hình 1.1 Chuyển đổi một ý tưởng khoa học thành sản phẩm sử dụng công nghệ 23 Hình 1.2 Cung cầu trên thị trường 28 Hình 2.1 Sơ đồ cơ cấu tổ chức hoạt động trường ĐHBK Hà Nội 33 Bảng 2.2 Tổng hợp kết quả hoạt động KH&CN của trường 2011-2015 36 Bảng 2.3 Thống kê các công trình công bố trong 5 năm gần đây 37 Hình 2.4 Đường chuyển giao công nghệ 41 Hình 2.5 Mô hình tổ chức của viện kỹ thuật hóa học 48 Bảng 2.6 Kết quả hoạt động nghiên cứu 49 MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Tại Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá X tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng trong phương hướng và nhiệm vụ có nêu rõ (đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế; đẩy mạnh công nghiệp hóa hiện đại hóa, phát triển nhanh, bền vững). Phát triển năng lực nghiên cứu, thiết kế, chế tạo các sản phẩm công nghiệp có công nghệ tiên tiến, giá trị gia tăng cao, nhất là các máy điều khiển kỹ thuật số, hệ thống tự động hoá, có khả năng xuất khẩu, thay thế nhập khẩu, nâng cao tỉ lệ nội địa hoá sản phẩm...; nhanh chóng hình thành một số viện công nghệ công nghiệp, viện công nghệ thăm dò và khai thác khoáng sản nước ta có thế mạnh, viện công nghệ nông nghiệp, đủ sức nghiên cứu, phát minh, sáng chế kỹ thuật, công nghệ; gắn kết chặt chẽ các cơ sở nghiên cứu khoa học, cơ sở đào tạo với các đơn vị sản xuất kinh doanh. Từ năm 2010 đến nay, Chính phủ và các bộ ban nghành đã xây dựng, ban hành hệ thống các bộ luật, các văn bản dưới luật, tạo hành lang pháp lý hoàn chỉnh cho phù hợp với tình hình phát triển của đất nước nói chung và sự phát triển của nghành Khoa học và Công nghệ nói riêng như: Luật khoa học và công nghệ số: 29/2013/QH13 (Luật này quy định về tổ chức, cá nhân hoạt động khoa học và công nghệ; việc tổ chức thực hiện hoạt động khoa học và công nghệ; biện pháp bảo đảm phát triển khoa học và công nghệ; quản lý nhà nước về khoa học và công nghệ); nghị định 120/2014/NĐ-CP ngày 17 tháng 12 năm 2014 Sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 133/2008/NĐ-CP ngày 31 tháng 12 năm 2008 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Chuyển giao công nghệ…Thực trạng các kết quả nghiên cứu trong những năm gần đây thực tế ứng dụng vào sản xuất, kinh doanh đòi hỏi phải có sự can thiệp của Nhà Nước. Sứ mạng của Đại học Bách khoa Hà Nội là đem lại cho xã hội và cộng đồng các lợi ích với chất lượng tốt nhất từ các hoạt động đào tạo, nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ và dịch vụ, góp phần đắc lực vào công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hóa đất nước, giữ gìn an ninh quốc phòng và phát triển Hệ thống Giáo 1 dục Đại học Việt Nam. Mục tiêu phát triển: Xây dựng trường Đại học Bách khoa Hà Nội thành trường đại học đào tạo trình độ cao, đa ngành, đa lĩnh vực; một trung tâm nghiên cứu khoa học công nghệ hàng đầu của đất nước, với một số lĩnh vực đạt trình độ tiên tiến trong khu vực và trên thế giới; một địa chỉ tin cậy, hấp dẫn đối với các nhà đầu tư phát triển công nghệ, giới doanh nghiệp trong và ngoài nước. (nguồn: http://www.hust.edu.vn) Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội trong quá trình xây dựng và phát triển đã có những mối liên kết đáng kể trong việc chuyển giao công nghệ với các doanh nghiệp và xã hội.Với các công trình NC trong các lĩnh vực như vật liệu mới, cơ khí, điện tử, tự động hoá, nhiệt-lạnh, các sản phẩm hoá học vô cơ, hữu cơ, các chế phẩm sinh học, các sản phẩm phục vụ nuôi trồng thuỷ sản, phục vụ môi trường... Bên cạnh đó hệ thống doanh nghiệp cũng góp phần không nhỏ cho thành tích của nhà trường trong các lĩnh vực: Đầu tư góp vốn liên doanh, liên kết, ươm tạo các doanh nghiệp; Huy động và quản lý vốn phục vụ cho quá trình ươm tạo và thương mại hoá các sản phẩm khoa học công nghệ từ trường Đại học Bách Khoa Hà Nội; Cung cấp các dịch vụ đào tạo thích nghi và cập nhật kiến thức theo yêu cầu xã hội; Cung cấp các dịch vụ: tư vấn và chuyển giao công nghệ, tư vấn đầu tư, tư vấn về quản lý, tư vấn về tài chính, nhận uỷ thác các nguồn vốn đầu tư từ các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước, triển khai các hoạt động sản xuất kinh doanh. Mặc dù từ chủ trương của Đảng và những chính sách của Nhà nước có rất nhiều thuận lợi với các tổ chức cá nhân hoạt động trong lĩnh vực Khoa học và Công nghệ nói chung và trường Đại học Bách Khoa Hà Nội nói riêng chưa có chính sách và biện pháp tốt để huy động và sử dụng có hiệu quả nguồn lực nhà nước đầu tư cho khoa học và công nghệ; thiếu cơ chế gắn kết nghiên cứu khoa học và công nghệ với hoạt động sản xuất, kinh doanh; chưa phát huy tác dụng tích cực đối với phát triển kinh tế - xã hội. Thị trường khoa học và công nghệ chậm được hình thành, hiệu quả ứng dụng các công trình nghiên cứu khoa học thấp; thiếu chính sách và biện pháp thúc đẩy các doanh nghiệp quan tâm đầu tư nghiên cứu và đổi mới công nghệ để nâng cao năng suất, chất lượng và khả năng cạnh tranh. 2 Xuất phát từ những thực tế nêu trên tôi đã lựa chọn nghiên cứu đề tài: “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng kết quả nghiên cứu và phát triển của Đại học Bách Khoa Hà Nội vào sản xuất, kinh doanh” để viết luận văn thạc sỹ với mong muốn cung cấp cái nhìn tổng quát từ cơ sở lý luận đến thực tiễn ứng dụng các đề tài nghiên cứu vào sản xuất, kinh doanh trong trường Đại học Bách Khoa Hà Nội. Đề tài sẽ phân tích và trả lời cho một số câu hỏi lớn sau: (1) thế nào là một đề tài nghiên cứu được xem như là ứng dụng vào sản xuất kinh doanh, (2) hiện nay việc ứng dụng các kết quả nghiên cứu của trường Đại học Bách Khoa Hà Nội đang gặp những khó khăn vướng mắc nào; và làm thế nào để thúc đẩy và ứng dụng các kết quả nghiên cứu và phát triển vào sản xuất, kinh doanh? 2. Tình hình nghiên cứu đề tài Thực hiện chủ trương của Đảng và nhà nước về phát triển Khoa học Công nghệ, trong những năm gần đây, trường Đại học Bách Khoa Hà Nội đã có bước phát triển vượt bậc về quy mô chất lượng đào tạo cũng như các đề tài NCKH. “Hiện nay Trường đã và đang nỗ lực hơn nữa đem lại cho xã hội và cộng đồng các lợi ích với chất lượng tốt nhất từ các hoạt động đào tạo, nghiên cứu khoa học, và một phần vô cùng quan trọng là chuyển giao công nghệ và dịch vụ, góp phần đắc lực vào công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hóa đất nước, giữ gìn an ninh quốc phòng và phát triển Hệ thống Giáo dục Đại học Việt Nam”. (nguồn: http://www.hust.edu.vn) Tuy nhiên tình hình thực tế hoạt động nghiên cứu khoa học tại Đại học Bách khoa Hà Nội hiện nay cho thấy phần lớn kết quả nghiên cứu chưa được ứng dụng vào sản xuất, kinh doanh. Vì vậy việc nghiên cứu thực trạng đánh giá và đưa ra các giả pháp tăng cường ứng dụng kết quả nghiên cứu (KQNC) vào sản xuất kinh doanh là thực sự cần thiết. Tình hình chuyển giao công nghệ và thương mại hóa KQNC là những vấn đề được rất nhiều các nhà nghiên cứu, cơ quan nghiên cứu trong nước và quốc tế quan tâm. Các nghiên cứu liên quan đến lĩnh vực ứng dụng kết quả nghiên cứu hay chuyển giao công nghệ và thương mại hóa kết quả nghiên cứu đã có rất nhiều tác giả, công trình nghiên cứu liên quan đến CGCN và Thương mại hóa KQNC; nghiên 3 cứu về chính sách thương mại hóa kết quả nghiên cứu, đặc biệt từ trường đại học vào doanh nghiệp như “Chính sách nhà nước thúc đẩy thương mại hóa KQNC khoa học và phát triển công nghệ sử dụng ngân sách nhà nước” (Nguyễn Quang Tuấn, 2014);”Đại học Quốc gia Hà Nội thương mại hóa sản phẩm KH&CN” (Hồng Hạnh, Dân trí ngày 02/12/2013); Đề tài cấp Bộ “Thúc đẩy ứng dụng và thương mại hóa các kết quả R&D” (Cục Ứng dụng và Phát triển công nghệ, Bộ Khoa học và Công nghệ, 2014) Các công trình nghiên cứu liên quan đến CGCN và Thương mại hóa KQNC như:“Khoa học và công nghệ hướng tới thế kỷ XXI – Định hướng và chính sách” (Vũ Đình Cự, 2000) và nhiều công trình khác. Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu này mới đề cập đến một số chính sách cơ bản thúc đẩy hoạt động thương mại hóa kết quả nghiên cứu, chưa đi sâu vào thúc đẩy hoạt động thúc đẩy thương mại hóa KQNC của một tổ chức KH&CN cụ thể vào Doanh nghiệp. Các chính sách đưa ra mang tính vĩ mô, khó áp dụng cho một tổ chức KH&CN cụ thể như Đại học Bách Khoa Hà Nội. Ngoài ra còn có các bài viết trên tạp trí như: “Đẩy mạnh thương mại hóa KQNC trong trường đại học” (Chương trình Đối tác Đổi mới sáng tạo – IPP, 2012); “Thúc đẩy thương mại hóa KQNC và phát triển ở Việt Nam” , Nguyễn Quang Tuấn (2010), Tạp chí Cộng sản); “Thương mại hóa công nghệ, đại học - doanh nghiệp còn nhiều hạn chế” (Truyền thông Khoa học và Công nghệ, cập nhật 21/02/2014); “Đẩy mạnh ứng dụng KQNC trong trường đại học” (Báo Đất Việt). Các công trình nghiên cứu trên đã đề cập đến nhiều vấn đề về lý luận và thực tiễn trong CGCN ở Việt Nam nói chung và hoạt động CGCN, Thương mại hóa KQNC từ trường ĐH vào DN nói riêng. Một số nghiên cứu đã đề suất một số giải pháp và chính sách thúc đẩy hoạt động thương mại hóa và CGCN từ nơi nghiên cứu vào doanh nghiệp sản xuất. Tuy nhiên, các hoạt động CGCN, thương mại hóa KQNC đó vẫn tồn tại nhiều hạn chế và chưa đồng bộ, chưa có chính sách thích hợp, đặc biệt các chính sách thúc đẩy thương mại hóa KQNC từ Trường đại học vào Doanh nghiệp. Do đặc thù của mỗi đơn vị khảo sát là khác nhau, vì vậy những giải pháp thúc đẩy ứng dụng các kết quả nghiên cứu và phát triển vào sản xuất kinh doanh được 4 đưa ra phân tích tại Đại học Bách Khoa Hà Nội trong luận văn này là chưa từng được thực hiện. 3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 3.1. Mục đích nghiên Đề xuất được các giải pháp tăng cường ứng dụng kết quả các đề tài nghiên cứu trong trường Đại học Bách Khoa Hà Nội vào sản xuất, kinh doanh. 3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu Để thực hiện được mục tiêu trên, nhiệm vụ nghiên cứu đặt ra là: - Một là hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về ứng dụng kết quả nghiên cứu khoa học vào sản xuất, kinh doanh. - Hai là phân tích thực trạng ứng dụng các kết quả nghiên cứu khoa học vào sản xuất, kinh doanh của trường Đại học Bách Khoa Hà Nội trong năm năm trở lại đây. - Ba là đề xuất giải pháp tăng cường ứng dụng các kết quả nghiên cứu khoa học vào sản xuất, kinh doanh của trường Đại học Bách Khoa Hà Nội. 4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4.1. Đối tượng nghiện cứu - Trong năm năm trở lại đây, do số lượng các đề tài nghiên cứu của Đại học Bách khoa Hà Nội rất lớn. Nhiều đề tài nghiên cứu là những nghiên cứu mang tính chất của nghiên cứu cơ bản. Vì vậy, đề tài chỉ tập trung phân tích các KQNC của các đề tài nghiên cứu cấp bộ, cấp nhà nước, cấp trường đã nghiệm thu và quá trình ứng dụng các kết quả nghiên cứu và phát triển vào sản xuất, kinh doanh. 4.2. Đối tượng khảo sát - Một số chủ nhiệm đề tài, khoa viện bộ môn, tổ chức khoa học trong trường Đại học Bách Khoa Hà Nội trong năm năm gần đây. - Công ty Đầu tư và Phát triển công nghệ Bách Khoa Hà Nội – Bkholdings. - Các doanh nghiệp thuộc trường và các tổ chức trung gian trong quá trình chuyển giao công nghệ. 4.3. Phạm vi nghiên cứu - Các hoạt động nghiên cứu khoa học từ các đề tài cấp bộ, cấp nhà nước, cấp trường trong trường Đại học Bách Khoa Hà Nội đã ứng dụng các kết quả nghiên 5 cứu và phát triển vào sản xuất kinh doanh. - Thời gian nghiên cứu từ năm 2011 đến nay - Địa bàn nghiên cứu trong trường Đại học Bách Khoa Hà Nội và một số doanh nghiệp thuộc trường. 5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu - Phương pháp phân tích tài liệu: phân tích và tổng kết các tài liệu liên quan đến nội dung của đề tài (các báo cáo tổng hợp của phòng Khoa học Đại học Bách Khoa Hà Nội về hoạt động KH&CN trong trường Đại học Bách Khoa Hà Nội, các đề tài trong năm năm trở lại đây đã ứng dụng các kết quả nghiên cứu và phát triển vào sản xuất kinh doanh). - Phương pháp điều tra khảo sát: Điều tra, khảo sát, đánh giá thực trạng hoạt động và xu hướng chuyển đổi. - Phương pháp chuyên gia. 6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn 6.1. Ý nghĩa khoa học: Tổng hợp cơ sở lý luận và thực tiễn về đối tượng nghiên cứu và vai trò của các đơn vị quản lý các hoạt động khoa học và công nghệ, các doanh nghiệp trong trường Đại học Bách Khoa Hà Nội. 6.2. Ý nghĩa thực tiễn: Tìm hiểu và tổng hợp lại những thuận lợi và khó khăn, tìm ra các nguyên nhân còn hạn chế trong ứng dụng các kết quả nghiên cứu và phát triển của trường Đại học Bách Khoa Hà Nội vào sản xuất kinh doanh (trong 5 năm qua). Từ đó tìm ra các giải pháp cụ thể để nâng cao hiệu quả trong NCKH và CGCN tại trường Đại học Bách Khoa Hà Nội. 7. Cơ cấu của luận văn Sau phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, báo cáo tổng hợp của luận văn gồm 3 chương: Chương 1. Cơ sở lý luận ứng dụng, nghiên cứu phát triển, sản xuất kinh doanh Chương 2. Thực trạng ứng dụng kết quả nghiên cứu và phát triển vào sản xuất, kinh doanh của Đại học Bách Khoa Hà Nội. Chương 3. Một số giải pháp thúc đẩy ứng dụng kết quả nghiên cứu và phát triển của Đại học Bách Khoa Hà Nội vào sản xuất kinh doanh. 6 Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN ỨNG DỤNG, NGHIÊN CỨU PHÁT TRIỂN, SẢN XUẤT KINH DOANH 1.1. Các khái niệm cơ bản 1.1.1. Các khái niệm về khoa học, công nghệ, nghiên cứu khoa học Khoa học, tiếng Latin là “Scientia”, có nghĩa là “kiến thức” hoặc “hiểu biết”, là các nỗ lực thực hiện phát minh, và tăng lượng tri thức hiểu biết của con người về cách thức hoạt động của thế giới vật chất xung quanh. Thông qua các phương pháp kiểm soát, nhà khoa học sử dụng cách quan sát các dấu hiệu biểu hiện mang tính vật chất và bất thường của tự nhiên nhằm thu thập dữ liệu, phân tích thông tin để giải thích cách thức hoạt động, tồn tại của sự vật, hiện tượng. Một trong những cách thức đó là phương pháp thử nghiệm bằng mô phỏng hiện tượng tự nhiên dưới điều kiện kiểm soát được và các ý tưởng thử nghiệm. Tri thức trong khoa học là toàn bộ lượng thông tin mà các nghiên cứu đã tích luỹ được. Như vậy, khoa học bao gồm một hệ thống tri thức về qui luật của vật chất và sự vận động của vật chất, những qui luật của tự nhiên, xã hội, và tư duy. Hệ thống tri thức này hình thành trong lịch sử và không ngừng phát triển trên cơ sở thực tiễn xã hội. Phân biệt ra 2 hệ thống tri thức: tri thức kinh nghiệm và tri thức khoa học. - Tri thức kinh nghiệm: là những hiểu biết được tích lũy qua hoạt động sống hàng ngày trong mối quan hệ giữa con người với con người và giữa con người với thiên nhiên. Quá trình này giúp con người hiểu biết về sự vật, về cách quản lý thiên nhiên và hình thành mối quan hệ giữa những con người trong xã hội. Tri thức kinh nghiệm được con người không ngừng sử dụng và phát triển trong hoạt động thực tế. Tuy nhiên, tri thức kinh nghiệm chưa thật sự đi sâu vào bản chất, chưa thấy được hết các thuộc tính của sự vật và mối quan hệ bên trong giữa sự vật và con người. Vì vậy, tri thức kinh nghiệm chỉ phát triển đến một hiểu biết giới hạn nhất định, nhưng tri thức kinh nghiệm là cơ sở cho sự hình thành tri thức khoa học. - Tri thức khoa học: là những hiểu biết được tích lũy một cách có hệ thống nhờ hoạt động NCKH, các hoạt động này có mục tiêu xác định và sử dụng phương pháp khoa học. Không giống như tri thức kinh nghiệm, tri thức khoa học dựa trên 7 kết quả quan sát, thu thập được qua những thí nghiệm và qua các sự kiện xảy ra ngẫu nhiên trong hoạt động xã hội, trong tự nhiên. Tri thức khoa học được tổ chức trong khuôn khổ các ngành và bộ môn khoa học (discipline) như: triết học, sử học, kinh tế học, toán học, sinh học,… Ngày nay, khi khoa học và công nghệ đã trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, năng suất lao động không ngừng được nâng cao, cơ cấu kinh tế của các quốc gia có sự chuyển biến mạnh mẽ, mọi mặt của đời sống xã hội loài người thay đổi sâu sắc. Tuy nhiên, khi bàn về thuật ngữ khoa học, công nghệ, vẫn còn có nhiều quan niệm khác nhau: Theo Luật Khoa học và công nghệ năm 2013 “Khoa học là hệ thống tri thức về bản chất, quy luật tồn tại và phát triển của sự vật, hiện tượng tự nhiên, xã hội và tư duy.” [Luật khoa học và công nghệ 29/2013/QH13, khoản 3 điều 3]. Viện Ngôn ngữ học thuộc Ủy ban Khoa học xã hội cho rằng: Khoa học là hệ thống tri thức tích luỹ trong quá trình lịch sử và được thực tiễn chứng minh, phản ánh những quy luật khách quan của thế giới bên ngoài cũng như các hoạt động tinh thần của con người, giúp con người có khả năng cải tạo thế giới hiện thực [Từ điển tiếng Việt (1998), Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, tr.526]. Theo ý kiến của các nhà triết học: Khoa học (Science) là hệ thống tri thức gồm những quy luật về tự nhiên, xã hội và tư duy, được tích lũy trong quá trình nhận thức trên cơ sở thực tiễn, được thể hiện bằng những khái niệm, phán đoán, học thuyết. Theo đối tượng nghiên cứu, khoa học bao gồm: (1) khoa học tự nhiên, nghiên cứu các sự vật, hiện tượng, quá trình trong tự nhiên; (2) khoa học xã hội và nhân văn, nghiên cứu hiện tượng, quá trình, quy luật vận động, phát triển của xã hội và bản thân của con người. - Phân loại khoa học theo mục tiêu nghiên cứu: Có khoa học cơ bản; khoa học ứng dụng. - Phân loại khoa học theo UNESCO: Thì bao gồm khoa học tự nhiên; khoa học kinh tế; khoa học nông nghiệp; khoa học y học; khoa học kỹ thuật; khoa học xã hội và nhân văn… 8 Tóm lại, khoa học là một hình thái ý thức xã hội phản ánh một lĩnh vực hoạt động nghề nghiệp xã hội có tính đặc thù nhằm tìm kiếm, sắp xếp một cách có hệ thống các tri thức về tự nhiên, xã hội và tư duy trên cơ sở tổng hợp, khái quát những tri thức kinh nghiệm đã được tích lũy trong quá trình lịch sử, từ thực tiễn hoạt động sản xuất và đời sống để định hướng, dẫn dắt hoạt động thực tiễn của con người. Những quan niệm trên cho thấy, bản chất của khoa học là hệ thống tri thức mang tính quy luật. Nó có vai trò đặc biệt quan trọng: nhận thức và cải tạo thế giới tự nhiên, phục vụ nhu cầu tồn tại, phát triển của con người và xã hội loài người. Như vậy, về thực chất khoa học là một dạng hoạt động đặc biệt của đời sống xã hội, là sự khám phá của con người đối với các hiện tượng và thuộc tính vốn tồn tại một cách khách quan, từ đó làm thay đổi nhận thức của con người và biến chúng thành hiện thực. Phạm vi ảnh huởng của khoa học rất lớn, cả bề rộng lẫn bề sâu. Xã hội loài người càng phát triển thì khoa học cũng ngày càng phát triển và phân ngành của khoa học càng chi tiết hóa và phức tạp hóa hơn. Công nghệ là thuật ngữ có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp “Technologia” hay “vexvonopơ”. “Techne” có nghĩa là “thủ công” và “logia” là “châm ngôn”; “Technologia” là một thuật ngữ rộng ám chỉ đến các công cụ và mưu mẹo của con người. Trong tiếng Anh, công nghệ là “Technology” có nghĩa là “tài nghệ học”, sự tinh xảo của tay nghề, một nghệ thuật hay một kỹ năng, bí quyết… để đạt tới sản phẩm chất lượng cao của nghề thủ công trước đó. Tùy theo ngữ cảnh và góc độ nghiên cứu mà thuật ngữ công nghệ có thể được hiểu: Công cụ hoặc máy móc giúp con người giải quyết các vấn đề. Các kỹ thuật bao gồm các phương pháp, vật liệu, công cụ và các tiến trình để giải quyết một vấn đề. Các sản phẩm được tạo ra phải hàng loạt và giống nhau. Thuật ngữ công nghệ vì vậy thông thường đặc trưng bởi các phát minh và cải tiến sử dụng các nguyên lý và quy trình đã được khoa học phát hiện ra gần đây nhất. Các nhà kinh tế học thì xem công nghệ như là trạng thái hiện tại của kiến thức của con người trong việc kết hợp các nguồn lực để sản xuất ra các sản phẩm 9 mong muốn (và kiến thức của con người về sản xuất như thế nào?). Như vậy, công nghệ có thể thay đổi khi kiến thức kỹ thuật của con người tăng lên. Theo Tổ chức phát triển công nghiệp của Liên Hiệp Quốc (UNIDO): “Công nghệ là việc áp dụng khoa học vào công nghiệp, bằng cách sử dụng các kết quả nghiên cứu và xử lý một cách có hệ thống và có phương pháp”. Định nghĩa này chỉ xét ở một khía cạnh nào đó của khoa học trong việc sử dụng nó một cách có hiệu quả (như trong lĩnh vực công nghiệp mà thôi). Tổ chức Uỷ ban kinh tế - xã hội Châu Á – Thái Bình Dương (ESCAP) thì đưa ra định nghĩa: “Công nghệ là hệ thống kiến thức về quy trình và kỹ thuật dùng để chế biến vật liệu và thông tin”. Sau đó định nghĩa được mở rộng, “nó bao gồm tất cả các kỹ năng, kiến thức, thiết bị và phương pháp sử dụng trong chế tạo, dịch vụ, quản lý thông tin” [“Khái niệm công nghệ” (2000), Công tác khoa giáo, tr.43]. Định nghĩa này được mở rộng hơn trên các lĩnh vực chế tạo, dịch vụ, quản lý thông tin và đã đi sâu nghiên cứu khía cạnh công nghệ thực thụ. Theo khoa học luận: Công nghệ là tập hợp các phương pháp, quy trình, kỹ năng, bí quyết, công cụ và phương tiện dùng để biến đổi nguồn lực thành sản phẩm. Đây là khái niệm mang tính khái quát tương đối đầy đủ. Viện Ngôn ngữ học thuộc Ủy ban Khoa học xã hội cho rằng: Công nghệ là tổng thể nói chung các phương tiện kỹ thuật, các phương pháp tổ chức, quản lý được sử dụng vào quy trình sản xuất để tạo ra các sản phẩm vật chất và dịch vụ [Từ điển tiếng Việt (1998), Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, tr.270]. Tóm lại, công nghệ là toàn bộ hệ thống các công cụ, phương tiện kỹ thuật, bí quyết, phương pháp tổ chức, quản lý nhằm khai thác, biến đổi nguồn lực tự nhiên thành các sản phẩm hàng hoá, dịch vụ, nhằm đáp ứng nhu cầu của con người. Công nghệ là bàn tay của con người được nối dài ra trong quá trình cải tạo tư nhiên.. 1.1.2 Tìm hiểu các khái niệm trong nghiên cứu khoa học và các hình thức nghiên cứu Nghiên cứu khoa học bao gồm "hoạt động sáng tạo được thực hiện một cách có hệ thống nhằm làm giàu tri thức, bao gồm tri thức về con người, văn hóa và xã hội, và sử dụng vốn tri thức này để tạo ra những ứng dụng mới."[1] Hoạt động 10 nghiên cứu được dùng để thiết lập hay xác nhận các dữ kiện, tái xác nhận kết quả của công trình trước đó, giải quyết những vấn đề mới hay đang tồn tại, chứng minh các định lý, hay phát triển những lý thuyết mới. Mục đích chính yếu của nghiên cứu cơ bản (khác với nghiên cứu ứng dụng) là thu thập dữ kiện, phát kiến, diễn giải, hay nghiên cứu và phát triển những phương pháp và hệ thống vì mục tiêu thúc đẩy sự phát triển tri thức nhân loại. Các hình thức nghiên cứu bao gồm: khoa học, nhân văn, nghệ thuật, kinh tế, xã hội, kinh doanh, thị trường... Cách tiếp cận nghiên cứu trong những lĩnh vực khác nhau có thể rất khác nhau. Nghiên cứu khoa học có nhiều định nghĩa khác nhau. Martyn Shuttleworth cho rằng: "Theo nghĩa rộng nhất, định nghĩa của nghiên cứu bao hàm bất cứ sự thu thập dữ liệu, thông tin, và dữ kiện nào nhằm thúc đẩy tri thức."[2] Creswell định nghĩa: "Nghiên cứu là một quá trình có các bước thu thập và phân tích thông tin nhằm gia tăng sự hiểu biết của chúng ta về một chủ đề hay một vấn đề." Nó bao gồm ba bước: Đặt câu hỏi, thu thập dữ liệu để trả lời cho câu hỏi, và trình bày câu trả lời cho câu hỏi đó.[3] Từ điển Trực tuyến Merriam-Webster thì chi tiết hơn: Nghiên cứu là "một truy vấn hay khảo sát cẩn thận; đặc biệt: sự khảo sát hay thể nghiệm nhắm đến việc phát hiện và diễn giải dự kiện, sự thay đổi những lý thuyết hay định luật đã được chấp nhận dựa trên những dữ kiện mới, hay sự ứng dụng thực tiễn những lý thuyết hay định luật mới hay đã được thay đổi đó."[4] Về các hình thức nghiên cứu. Nghiên cứu khoa học dựa vào việc ứng dụng các phương pháp khoa học, khai thác trí tò mò. Hình thức nghiên cứu này cung cấp thông tin và lý thuyết khoa học nhằm giải thích bản chất và tính chất của thế giới. Nó có thể giúp tạo ra những ứng dụng thực tiễn. Hoạt động nghiên cứu khoa học được tài trợ bởi các cơ quan chính quyền, các tổ chức tài trợ, và các nhóm tư nhân, bao gồm nhiều công ty. Hoạt động nghiên cứu khoa học có thể được phân loại tùy theo lĩnh vực học thuật và ứng dụng. Nghiên cứu khoa học là một tiêu chí được sử dụng rộng rãi trong đánh giá vị thế của một cơ sở học thuật. Nghiên cứu trong các ngành nhân văn liên quan đến những phương pháp khác nhau, chẳng hạn chú giải văn bản cổ và ký hiệu học, và một nhận thức luận 11 khác, mang tính chất tương đối luận hơn. Các học giả trong các ngành nhân văn thường không tìm một câu trả lời đúng tối hậu cho một câu hỏi, mà khảo sát những vấn đề và đặc điểm liên quan đến câu trả lời đó. Bối cảnh ở đây rất quan trọng, và nó có thể mang tính xã hội, lịch sử, chính trị, văn hóa, hay chủng tộc. Một ví dụ về nghiên cứu trong các ngành nhân văn là nghiên cứu lịch sử, bao hàm trong phương pháp sử học. Các nhà sử học sử dụng những tài liệu gốc và những bằng chứng khác để khảo sát một cách hệ thống một chủ đề, và từ đó viết ra lịch sử theo hình thức kể lại quá khứ. Nghiên cứu nghệ thuật, còn gọi là "nghiên cứu dựa trên thực hành", có thể diễn ra khi công trình sáng tạo được xem vừa là một sự nghiên cứu vừa là một đối tượng của nghiên cứu. Lịch sử: Thomas Kuhn, trong cuốn sách của ông Cấu trúc của cách mạng khoa học, tìm ra một lịch sử thú vị và phân tích quá trình phát triển của nghiên cứu. Phần lớn các nhà khoa học cho rằng những hiểu biết một cách cơ bản, nền tảng về tất cả các khía cạnh của khoa học là thiết yếu cho phát triển. Nói một cách khác, nghiên cứu cơ bản đặt nền tảng cho nghiên cứu ứng dụng tiếp bước. Nếu coi Nghiên cứu cơ bản là bước đi trước thì sự tiếp nối ứng dụng có thể chính là từ kết quả nghiên cứu này. Trong quản lý các hoạt động nghiên cứu, theo tính chất của sản phẩm, nghiên cứu được phân loại thành: Nghiên cứu cơ bản (NCCB); nghiên cứu ứng dụng (NCƯD) và nghiên cứu triển khai (NCTK). Phân biệt các dạng nghiên cứu: NCCB và NCƯD tuy có khác nhau về mục tiêu sản phẩm, nhưng đều là tìm kiếm tri thức mới, chưa xác định rõ việc ứng dụng vào thực tế như thế nào nên để chỉ hai loại nghiên cứu này, người ta dùng chung khái niệm là “NCKH” (Research scientific – R) như trong Luật Khoa học và Công nghệ năm 2000 của Việt Nam đã ghi: NCKH là hoạt động phát hiện, tìm hiểu các hiện tượng, sự vật, quy luật của tự nhiên, xã hội và tư duy; sáng tạo các giải pháp nhằm ứng dụng vào thực tiễn. NCKH bao gồm NCCB và NCƯD. 12 NCTK là giai đoạn nghiên cứu có gắn với việc hình thành công nghệ và được hiểu là giai đoạn nghiên cứu nhằm sáng tạo ra sản phẩm mới, công nghệ mới (Prototype). NCTK bao gồm hai giai đoạn: Giai đoạn 1: Sáng tạo sản phẩm mẫu, trong đó vận dụng các tri thức khoa học, là kết quả của giai đoạn “NCKH” để hình thành, sáng tạo ra các hình mẫu mới (Prototype). Hình mẫu này bản thân nó có thể là một sản phẩm tiêu dùng theo đúng nghĩa của từ này hay là một công nghệ để chế tạo ra sản phẩm tiêu dùng. Trong giai đoạn này, người ta sơ bộ hình thành thiết kế và quy trình công nghệ chế tạo ra hình mẫu mới đó. Giai đoạn 2: Giai đoạn làm pilot hay còn gọi là sản xuất pilot. Trong giai đoạn này, người ta thực hiện các nội dung: Hoàn thiện thiết kế, hoàn thiện công nghệ chế tạo hình mẫu; sản xuất (không trên dây chuyền công nghệ chính thức có tính công nghiệp) một số lượng nhỏ các hình mẫu và đưa các snr phẩm này vào hoạt động thực tiễn nhằm khẳng định lại tính năng của sản phẩm hay công nghệ mới như tính ổn định; kiểm tra các chỉ tiêu kỹ thuật của công nghệ, của sản phẩm…; kiểm tra các chỉ tiêu khác như tính kinh tế, tác động đến môi trường, ảnh hưởng đến văn hóa, xã hội,… Rõ ràng so với NCCB, NCƯD thì NCTK có tính định hướng sản phẩm phục vụ xã hội, tới công nghệ và sản xuất một cách rõ rệt. Khái niệm Phát triển và Triển khai Khái niệm phát triển: Nội hàm: Tạo ra cái mới hoặc hoàn thiện, làm thay đổi về căn bản cái đã có để có cái tốt hơn, tiến bộ hơn. Cái mới, cái được hoàn thiện (tức phát triển) có thể có hai khía cạnh chính: Phát triển về số lượng và phát triển về chất lượng. Ngoại diên: Là tất cả các hoạt động tìm kiếm. Như vậy, phát triển chỉ sự trưởng thành, lớn hơn về chất và về lượng. Nói cách khác, phát triển là tất cả các hoạt động tìm kiếm nhằm tạo ra cái mới, có thể làm tăng về số lượng, làm cho tốt hơn về chất lượng hoặc cả hai. Khái niệm triển khai: 13 Nội hàm: Tiến hành thực hiện một công việc, một nội dung nào đó hay đưa một nội dung vào cuộc sống. Ngoại diên: Tất cả việc làm. Nói cách khác, triển khai là việc làm nhằm thực hiện hay đưa một nội dung công việc nào đó vào cuộc sống. Người ta thường nói: Triển khai nghị quyết, triển khai dự án, triển khai kỹ thuật, triển khao hoạt động nghiên cứu… Đó chính là việc thực hiện cái đã được định sẵn, theo ý đồ đã có từ trước mà không có sáng tạo hay phát triển thêm cái mới (không hàm ý nghiên cứu). Trong hoạt động KH&CN, các khái niệm phát triển và triển khai thường gắn với khái niệm công nghệ. Đó là PTCN và triển khai công nghệ. Phân biệt PTCN và Triển khai công nghệ PTCN: Là sáng tạo ra sản phẩm hay công nghệ mới hoặc đổi mới một cách căn bản công nghệ đã có. Phân loại PTCN: PTCN theo chiều sâu hay phát triển về chất lượng công nghệ (Intensive Development of Technology hay Upgrading of Technology) nhằm sáng tạo ra công nghệ mới hay làm cho công nghệ cũ trở thành có tính năng tốt hơn, sản phẩm của công nghệ có chất lượng tốt hơn bằng cách thay đổi có tính căn bản công nghệ đã có. PTCN theo chiều rộng hay phổ cập công nghệ (phát triển về lượng – Extensive Development of Technology): mở rộng công nghệ, nhân bản công nghệ để có số lượng nhiều hơn. Triển khai công nghệ: Là đưa công nghệ vào hoạt động sản xuất hay nhân bản công nghệ để có nhiều công nghệ cùng loại. Quan hệ giữa PTCN với triển khai công nghệ Do khái niệm PTCN và triển khai công nghệ trong tiếng Việt đều chỉ tương ứng với một từ tiếng Anh là Development of Technology nên với ý nghĩa của khái niệm phát triển và triển khai trong tiếng Việt như trên thì phát triển theo chiều rộng (về số lượng) thuộc về triển khai công nghệ. Vì lẽ đó, chữ Development của tiếng Anh dịch sang tiếng Việt với nghĩa là phát triển thì chỉ nên dùng nghĩa phát triển 14 theo chiều sâu (về chất lượng). Với nghĩa phát triển theo chiều rộng (nhân bản về lượng) thì dịch là triển khai. Ngoài ra, khái niệm triển khai của tiếng Việt còn có nghĩa là thực hiện hay đưa một nội dung nào đó vào cuộc sống. Xác định vị trí của từng khái niệm trong hệ thống các khái niệm Qua các phân tích trên đây cho thấy sự giao thoa giữa lĩnh vực nghiên cứu và lĩnh vực PTCN như sau: Nói cách khác, từ giác độ quản lý các hoạt động KH&CN chỉ nên tồn tại 3 khái niệm chính: NCKH, gồm NCCB và NCƯD. NCTK và PTCN theo chiều sâu, nếu đứng trên giác độ nghiên cứu xin khuyến nghị gọi chung là NCTK thực nghiệm. Nếu đứng trên giác độ công nghệ thì gọi là PTCN. Như vậy, về bản chất khoa học thì NCTK thực nghiệm hay PTCN chỉ là một. Phương thức quản lý cũng sẽ chỉ là một. Triển khai công nghệ: Chỉ PTCN theo chiều rộng. Thực tế ở nước ta, công tác quản lý KH&CN từ trước đến nay đều coi PTC theo chiều sâu là nghiên cứu và được quản lý theo chế độ đề tài nghiên cứu. Lĩnh vực PTCN theo chiều rộng được hiểu là mở rộng công nghệ theo cách mua, bán công nghệ, lắp đặt hay nhân bản công nghệ đã định hình và được quản lý theo Luật Thương mại, Luật Đầu tư và Luật Chuyển giao công nghệ. (Theo: TC Hoạt động Khoa học, 4.2011) + Nghiên cứu và phát triển Theo cục thông tin khoa học quốc gia thì Nghiên cứu và phát triển là: bất kỳ một công việc có tính hệ thống và sáng tạo được tiến hành nhằm gia tăng nguồn tri thức, bao gồm tri thức nhân loại, văn hóa và xã hội và sử dụng những tri thức này để phát minh ra những ứng dụng mới. Công tác nghiên cứu và phát triển cũng nhằm khám phá những tri thức mới về các sản phẩm, quá trình, và dịch vụ, sau đó áp dụng những tri thức đó để tạo ra sản phẩm, quá trình và dịch vụ mới, có tính cải tiến để đáp ứng nhu cầu của khách hàng hoặc của thị trường tốt hơn. Bao gồm việc đầu tư, tiến hành và/hoặc mua bán 15
- Xem thêm -