Tài liệu Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng hộ sản xuất tại nhno&ptnt chi nhánh thành phố hưng yên

  • Số trang: 96 |
  • Loại file: DOC |
  • Lượt xem: 53 |
  • Lượt tải: 0
nhattuvisu

Đã đăng 27125 tài liệu

Mô tả:

Khóa luận tốt nghiệp Khoa tài chính- Ngân hàng LỜI MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu: Sau Đại Hội VI của Đảng, nước ta đã chuyển sang giai đoạn phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý vĩ mô của nhà nước theo định hướng XHCN. Nước ta đi lên từ một nền nông nghiệp lạc hậu và đang trên đà trở thành một nước công nghiệp phát triển. Nếu như trước kia các thành phần kinh tế chủ yếu tham gia hoạt động trong nền kinh tế là các tổ chức kinh tế quốc doanh (Doanh nghiệp nhà nước) kinh tế tập thể ( Hợp tác xã), thì hiện nay trong nền kinh tế thị trường có rất nhiều thành phần kinh tế từ kinh tế quốc doanh, kinh tế tập thể đến các hộ cá thể tư nhân… và đều có quyền lợi, nghĩa vụ như nhau. Một điều tất yếu của thị truờng là thị truờng tồn tại có cạnh tranh, và từ trong cạnh tranh các thành phần kinh tế tư nhân cá thể đã chứng tỏ được sức mạnh của mình. Tuy nhiên kinh tế tư nhân cũng gặp khó khăn thách thức. Và nước ta hiện nay là một nước nông nghiệp với gần 80% dân số sống ở nông thôn, hơn 70% lao động trong nông nghiệp, sản xuất hàng hóa chưa phát triển, đơn vị sản xuất chủ yếu là kinh tế hộ gia đình năng suất thấp, quy mô vốn, tiềm lực còn nhỏ bé, việc áp dụng khoa học công nghệ vào sản suất kinh doanh còn hạn chế, trình độ dân chúng nhìn chung chưa hiểu biết nhiều về kinh tế thị trường và nền sản xuất hàng hóa. Một trong yếu tố quan trọng cần thiết cho quá trình phát triển kinh tế hộ sản xuất là sự trợ giúp về vốn của các Ngân hàng thương mại. Với tư cách là bạn đồng hành nhưng nông nghiệp và nông thôn, trong những năm qua NHNo&PTNT Việt Nam với các chi nhánh của mình đã và đang là kênh chuyển tải vốn chủ yếu đến hộ sản xuất góp phần tạo công ăn việc làm giúp nông dân làm giàu chính đáng bằng sức lao động của mình. Nhưng do tính chất phức tạp của hoạt động này, món vay nhỏ lẻ, chi phí nghiệp vụ cao, địa bàn hoạt động rộng nên việc cho vay hộ sản xuất gặp nhiều Nguyễn Thị Ánh Tuyết 1 Lớp TC15A Khóa luận tốt nghiệp Khoa tài chính- Ngân hàng khó khăn. Vì vậy thực tế hiện nay nhiều chi nhánh NHNo&PTNT gặp khó khăn trong hoạt động tín dụng đối với loại hình này, chất lượng tín dụng còn gặp nhiều vấn đề chưa tốt. NHNo&PTNT chi nhánh Thành Phố Hưng Yên tỉnh Hưng Yên cũng không tránh khỏi khó khăn. Khi mà khách hàng có quan hệ với Ngân hàng đa số là hộ nông dân(chiếm tỉ lệ 55% trong tổng dư nợ) . Chính vì lí do này với vốn kiến thức đã học và qua thời gian thực tập tại NHNo&PTNT chi nhánh Thành Phố Hưng yên tỉnh Hưng Yên, em đã chọn đề tài “Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng hộ sản xuất tại NHNo&PTNT chi nhánh Thành Phố Hưng Yên” với mong muốn tìm hiểu và đóng góp một vài ý kiến về vấn đề này”. Em hy vọng đề tài này của mình có thể góp một phần nhỏ bé để nâng cao hơn nữa chất lương tín dụng HSX nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng HSX nói riêng và hoạt động kinh doanh nói chung tại chi nhánh ngân hàng, nơi em đang thực tập. 2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài: Nghiên cứu những vấn đề lí luận về HSX và vai trò của TDNH đối với sự phát triển kinh tế HSX, qua đó thấy được tầm quan trọng của việc nâng cao chất lượng tín dụng Ngân hàng đối với HSX. Phân tích đánh giá thực trạng chất lượng đối với HSX tại NHNo&PTNT Thành Phố Hưng Yên tỉnh Hưng Yên. Từ đó tìm ra những mặt còn tồn tại, trên cơ sở đó có những giải pháp tháo gỡ khó khăn và nâng cao chất lượng tín dụng ngân hàng đối với HSX, mạnh dạn đề xuất một số kiến nghị để thực hiện giải pháp. 3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu: Các vấn đề lí luận về tín dụng HSX, thực trạng tín dụng HSX tại NHNo&PTNT chi nhánh Thành Phố Hưng Yên tỉnh Hưng Yên. Phạm vi nghiên cứu: Với tính đa dạng, phức tạp của đề tài, cho nên chỉ tập trung nghiên cứu những vấn đề thực tiễn cụ thể trong hoạt động cho vay Nguyễn Thị Ánh Tuyết 2 Lớp TC15A Khóa luận tốt nghiệp Khoa tài chính- Ngân hàng HSX tại NHNo&PTNT chi nhánh Thành Phố Hưng Yên tỉnh Hưng Yên từ năm 2010 - 2012 4. Phương pháp nghiên cứu : Sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu, trong đó phương pháp chủ yếu là duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, trìu tượng hóa, phân tích tổng hợp, diễn giải, quy nạp, phân tích, thống kê, so sánh… Kết hợp nghiên cứu lý luận, kinh nghiệm nước ngoài vào thực tiễn vận dụng vào NHNo&PTNT chi nhánh Thành Phố Hưng Yên tỉnh Hưng Yên. 5. Kết cấu khóa luận: Ngoài phần mở đầu và kết luận đề tài này được chia làm 3 chương: Chương I: Cơ sở lý luận về tín dụng hộ sản xuất và chất lượng tín dụng hộ sản xuất. Chương II: Thực trạng chất lượng tín dụng đối với hộ sản xuất tại NHNo&PTNT chi nhánh Thành Phố Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên. Chương III: Giải pháp nhằm nâng cao chất lượng tín dụng hộ sản xuất tại NHNo&PTNT chi nhánh Thành Phố Hưng Yên tỉnh Hưng Yên. Do đề tài rất rộng và phức tạp, trình độ của bản thân em còn nhiều hạn chế cả về lí luận và thực tiễn nên đề tài không tránh khỏi thiếu sót, nhược điểm. Rất mong được sự chỉ bảo của quý thày, cô giáo và ban giám đốc, các cô chú, anh chị đang công tác tại NHNo&PTNT chi nhánh Thành Phố Hưng Yên tỉnh Hưng Yên để em hoàn thành đề tài này. Em xin chân thành cảm ơn! Nguyễn Thị Ánh Tuyết 3 Lớp TC15A Khóa luận tốt nghiệp Khoa tài chính- Ngân hàng CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÍN DỤNG HỘ SẢN XUẤT VÀ CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG HỘ SẢN XUẤT CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1 Hộ sản xuất 1.1.1 Khái niệm về hộ sản xuất Hiện nay hộ sản xuất đóng vai trò ngày càng quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế xã hội. Hộ sản xuất đã tồn tại qua nhiều phương thức kinh tế phát triển của xã hội và vẫn đang tiếp tục phát triển, do đó, có nhiều quan niệm về hộ sản xuất . Có quan niệm cho rằng : Hộ sản xuất là một đơn vị kinh tế mà các thành viên đều dựa trên cơ sở kinh tế chung, các nguồn thu nhập do các thành viên cùng tạo ra và cùng sử dụng chung. Quá trình sản xuất của hộ được tiến hành một cách độc lập và điều quan trọng là các thành viên của hộ thường có cùng huyết thống, thường cùng chung sống chung một ngôi nhà, họ cũng là một đơn vị để tổ chức lao động. Theo phụ lục của NHNo&PTNT Việt Nam ban hành kèm theo quyết định số 499A ngày 02/09/1993, thì khái niệm hộ sản xuất được hiểu như sau: “ Hộ sản xuất là đơn vị kinh tế tự chủ, trực tiếp hoạt động sản xuất kinh doanh, là chủ thể trong mọi quan hệ sản xuất kinh doanh và tự chịu trách nhiệm về hiệu quả hoạt động sản xuất của mình”. Như vậy, hộ sản xuất là một lực lượng sản xuất to lớn ở nông thôn. Hộ sản xuất không chỉ là hộ nông dân sản xuất nông nghiệp, mà còn là hộ gia đình xã viên, hộ cá thể, hộ tư nhân hoạt động trong các lĩnh vực nông nghiệp nông thôn, sản xuất tiểu thủ công nghiệp, hộ sản xuất nông – lâm – ngư nghiệp, hộ buôn bán nhỏ lẻ… 1.1.2 Đặc điểm và phân loại hộ sản xuất 1.1.2.1 Đặc điểm hộ sản xuất: Xuất phát từ khái niệm, hộ sản xuất có những Nguyễn Thị Ánh Tuyết 4 Lớp TC15A Khóa luận tốt nghiệp Khoa tài chính- Ngân hàng đặc điểm kinh tế cơ bản như sau: Thứ nhất: Hộ sản xuất là mô hình tổ chức đặc biệt mà ở đó các thành viên trong gia đình vừa làm chủ tư liệu sản xuất, vừa trực tiếp tham gia vào hoạt động sản xuất kinh doanh và chịu trách nhiệm về toàn bộ kết quả sản xuất kinh doanh của chính hộ mình. Thứ hai: Trình độ sản xuất còn thấp trên nhiều mặt: Trình độ hiểu biết, kỹ năng sản xuất, trình độ tổ chức quản lý kinh doanh, hạch toán…. Thứ ba: Địa điểm sản xuất - kinh doanh thường phân tán trên địa bàn rộng, quy mô sản xuất thường nhỏ cho nên không có được sự gắn kết. Thứ tư: Hộ sản xuất Việt Nam hiện nay chủ yếu là hộ thuần nông. Vì vậy, nó có những mặt khó khăn, hạn chế của kinh tế nông nghiệp: Sản xuất không ổn định, vốn luân chuyển chậm, khả năng xảy ra rủi ro cao, hiệu quả thấp, hoạt động mang nặng tính thời vụ, phụ thuộc vào chu kỳ sinh trưởng của từng loại cây, con theo từng điều kiện tự nhiên của từng vùng lãnh thổ. Thứ năm: Hoạt động sản xuất - kinh doanh của hộ sản xuất chủ yếu là kinh doanh đa dạng, vừa trồng trọt, vừa chăn nuôi, chế biến và làm các dịch vụ khác. Đây vừa là ưu điểm lại vừa là nhược điểm của kinh tế hộ sản xuất. Nhược điểm là khó khăn trong việc sản xuất chuyên canh, tăng quy mô sản xuất….Ưu điểm là linh hoạt, dễ thích ứng với yêu cầu của thị trường, khai thác tiềm năng tài nguyên, sức lao động ở nông thôn, đa dạng hoá các nguồn trả nợ, phân tán bớt rủi ro, giảm bớt tính thời vụ của các khoản vay. Thứ sáu: Khả năng tài chính thường yếu, tài sản thế chấp không có giá trị hoặc thiếu giấy tờ pháp lý, tính thanh khoản lại không cao. Thứ bảy: Có rất ít ngành nghề có đăng ký kinh doanh…Việc đáp ứng các điều kiện vay vốn như thông lệ trong tín dụng hộ sản xuất là rất khó. 1.1.2.2 Phân loại hộ sản xuất: Hộ sản xuất hoạt động kinh doanh trong nền kinh tế hàng hoá phụ thuộc rất nhiều vào trình độ sản xuất kinh doanh, khả năng kỹ thuật, quyền làm chủ những tư liệu sản xuất và mức độ vốn đầu tư Nguyễn Thị Ánh Tuyết 5 Lớp TC15A Khóa luận tốt nghiệp Khoa tài chính- Ngân hàng của mỗi hộ gia đình. Việc phân loại hộ sản xuất có căn cứ khoa học sẽ tạo điều kiện để xây dựng chính sách tín dụng phù hợp nhằm đầu tư đem lại hiệu quả. * Đứng trên giác độ ngân hàng: Có thể chia hộ sản xuất làm 3 loại sau: + Loại 1: Là các hộ có vốn, có kỹ thuât, kỹ năng lao động, biết tiếp cận với môi trường kinh doanh, có khả năng thích ứng, hoà nhập với thị trường. Như vậy các hộ này tiến hành sản xuất kinh doanh có hiệu quả, biết tổ chức quá trình lao động sản xuất cho phù hợp với thời vụ để sản phẩm tạo ra có thể tiêu thụ trên thị trường. + Loại 2: Các hộ có sức lao động làm việc cần mẫn nhưng trong tay họ không có hoặc có rất ít tư liệu sản xuất, tiền vốn hoặc chưa có môi trường kinh doanh. Loại hộ này chiếm số đông trong xã hội do đó việc tăng cường đầu tư tín dụng để các hộ này mua sắm tư liệu sản xuất có ý nghĩa rất quan trọng để phát huy mọi năng lực sản xuất nông thôn trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp. + Loại 3: Các hộ không có sức lao động, không tích cực lao động, không biết tính toán làm ăn gặp rủi ro trong sản xuất kinh doanh, gặp tai nạn ốm đau và những hộ gia đình chính sách,… đang còn tồn tại trong xã hội. Thêm vào đó quá trình phát triển của nền sản xuất hàng hoá cùng với sự phá sản của các nhà sản xuất kinh doanh kém cỏi đã góp thêm vào đội ngũ dư thừa. *Theo tính chất hoạt động sản xuất kinh doanh (văn bản 499A/TDNT ngày 02/09/1993): hộ sản xuất có hai loại + Loại 1: tư sản tư liệu + Loại 2: kinh doanh theo luật * Theo ngành nghề: - Hộ sản xuất nông, lâm, thuỷ sản: + Hộ trồng trọt. Nguyễn Thị Ánh Tuyết 6 Lớp TC15A Khóa luận tốt nghiệp Khoa tài chính- Ngân hàng + Hộ chăn nuôi. + Nuôi trồng thuỷ sản nước ngọt, nước lợ, nước mặn. + Đánh bắt thuỷ hải sản. - Hộ sản xuất diêm nghiệp: Ngoài các tổ chức quốc doanh còn tồn tại, thì có các hộ gia đình ở vùng ven biển cũng được giao diện tích đất để làm muối. - Hộ lâm nghiệp: Các hộ gia đình được giao đất trồng rừng, khai thác, chế biến sản phẩm từ rừng. - Hộ sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp. - Hộ làm dịch vụ và thương mại dịch vụ. 1.1.3 Vai trò của hộ sản xuất trong nền kinh tế thị trường Hộ sản xuất là một lực lượng kinh tế quan trọng đóng góp không nhỏ vào tỷ trọng GDP hàng năm ở nước ta, họ làm ra của cải vật chất phục vụ cho bản thân gia đình và xã hội, họ có các vai trò to lớn đối với nền kinh tế. 1.1.3.1 Hộ sản xuất là cầu nối trung gian để chuyển nền kinh tế tự nhiên sang nền kinh tế hàng hoá Lịch sử hình thành và phát triển sản xuất hàng hóa đã trải qua giai đoạn đầu tiên là kinh tế tự nhiên, tự cung tự cấp sang nền kinh tế hàng hoá nhỏ trên quy mô hộ gia đình, tiếp theo là giai đoạn chuyển từ nền kinh tế hàng hoá nhỏ lên kinh tế hàng hoá quy mô lớn, đó là nền kinh tế hoạt động mua bán trao đổi bằng trung gian tiền tệ, đó là giai đoạn lịch sử mà nếu chưa trải qua thì khó có thể phát triển sản xuất hàng hoá quy mô lớn, giải thoát tình trạng nền kinh tế kém phát triển. 1.1.3.2 Hộ sản xuất góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lao động nông thôn, giải quyết được công ăn việc làm cho người dân. Việt Nam có khoảng 80% dân số sống ở nông thôn và hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp, nhưng việc sử dụng và khai thác nguồn nhân lực này còn đang ở mức thấp do trình độ thấp và khoa học kỹ thuật chưa phát triển. Hiện nay nước ta có khoảng 12 triệu lao động chưa được sử dụng, các yếu tố sản Nguyễn Thị Ánh Tuyết 7 Lớp TC15A Khóa luận tốt nghiệp Khoa tài chính- Ngân hàng xuất chưa phát huy hết hiệu quả do có sự mất cân đối giữa lao động, đất đai và việc làm ở nông thôn. Vì vậy để sử dụng hợp lý nguồn lao động, giải quyết việc làm ở nông thôn, trước tiên cần phát triển kinh tế hộ sản xuất, trên thực tế cho thấy trong những năm gần đây hàng triệu cơ sở sản xuất được tạo ra bởi các hộ sản xuất trong khu vực nông nghiệp và nông thôn đã giải quyết được một phần không nhỏ công ăn việc làm cho người dân nông thôn. 1.1.3.3 Hộ sản xuất có khả năng thích ứng với cơ chế thị trường đồng thời thúc đẩy sản xuất hàng hóa phát triển HSX là đơn vị kinh tế độc lập, tự chủ , hoạt động theo cơ chế thị trường, các HSX phải tự quyết định mục tiêu sản xuất kinh doanh của mình là sản xuất cái gì, sản xuất như thế nào và sản xuất cho ai để có thể cạnh tranh trên thị trường. Muốn đạt được điều này, các hộ đều phải không ngừng nâng cao chất lượng sản phẩm sao cho đáp ứng nhu cầu, thị hiếu của người tiêu dùng, cung cấp dịch vụ sau bán hàng tạo niềm tin cho khách hàng để có thế đứng vững trên thương trường. Như vậy, với khả năng nhạy bén trước nhu cầu thị trường, HSX đã góp phần đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của thị trường, tạo động lực thúc đấy sản xuất hàng hoá phát triển. 1.1.3.4 Góp phần khôi phục và phát triển các ngành nghề truyền thống Sản phẩm của các làng nghề truyền thống chính là nét độc đáo của nông thôn Việt Nam, thể hiện bản sắc văn hoá dân tộc. Lao động chính để tạo ra các sản phẩm đó không ai khác chính là các hộ sản xuất. Sau chiến tranh và thời kỳ bao cấp, cuộc sống khó khăn cộng với những năm gần đây nền kinh tế thị trường phát triển, các làng nghề truyền thống dần bị mai một. Nhưng hiện nay, với chính sách khôi phục và phát triển các làng nghề truyền thống cùng với sự phát triển của kinh tế HSX mà nhiều ngành nghề truyền thống được tiếp tục phát triển. 1.1.3.5 Đóng góp của hộ sản xuất đối với xã hội Nguyễn Thị Ánh Tuyết 8 Lớp TC15A Khóa luận tốt nghiệp Khoa tài chính- Ngân hàng Như trên đã nói, hộ sản xuất đã đứng ở cương vị là người tự chủ trong sản xuất kinh doanh ở các lĩnh vực khác nhau và góp phần quan trọng trong sự phát triển của nền kinh tế. Tốc độ tăng về giá trị tổng sản lượng nông nghiệp từ năm 1988 đến nay trung bình hàng năm đạt 4%, nổi bật là sản lượng lương thực. Gần 70% rau quả, thịt trứng, cá, 20% đến 30% quỹ lương thực và một phần hàng tiêu dùng hàng xuất khẩu là do lực lượng kinh tế hộ sản xuất nông nghiệp tạo ra. Từ chỗ nước ta chưa tự túc được lương thực thì đến nay đã là một trong những nước xuất khẩu gạo đứng hàng đầu thế giới, công lao đó cũng thuộc về người nông dân sản xuất nông nghiệp. Bên cạnh sản xuất lương thực, sản xuất nông sản hàng hoá khác cũng có bước phát triển, đã hình thành một số vùng chuyên canh có năng suất cao như: chè, cà phê, cao su, dâu tằm... Ngành chăn nuôi cũng đang phát triển theo chiều hướng sản xuất hàng hoá (thịt, sữa tươi...), tỷ trọng giá trị ngành chăn nuôi chiếm 24,7% giá trị nông nghiệp. Tóm lại: Với hơn 80% dân số nước ta sống ở nông thôn thì kinh tế hộ sản xuất có vai trò hết sức quan trọng, nhất là khi quyền quản lý và sử dụng đất đai, tài nguyên lâu dài được giao cho hộ sản xuất thì vai trò sử dụng nguồn lao động, tận dụng tiềm năng đất đai, tài nguyên, khả năng thích ứng với thị trường ngày càng thể hiện rõ nét. Người lao động có toàn quyền tổ chức sản xuất kinh doanh, tiêu thụ sản phẩm, trực tiếp hưởng kết quả lao động sản xuất của mình, có trách nhiệm hơn trong hoạt động sản xuất kinh doanh. Ở một khía cạnh khác, kinh tế hộ sản xuất còn đóng vai trò đảm bảo an ninh trật tự, ổn định chính trị xã hội, giảm bớt các tệ nạn trong xã hội do hành vi "nhàn cư vi bất thiện" gây ra. 1.2 Tín dụng Ngân hàng đối với sự phát triển kinh tế hộ sản xuất 1.2.1 Khái niệm tín dụng ngân hàng Nguyễn Thị Ánh Tuyết 9 Lớp TC15A Khóa luận tốt nghiệp Khoa tài chính- Ngân hàng Tín dụng là một phạm trù của kinh tế hàng hoá. Bản chất của tín dụng hàng hoá là vay mượn có hoàn trả cả vốn và lãi sau một thời gian nhất định, là quan hệ chuyển nhượng tạm thời quyền sử dụng vốn, là quan hệ bình đẳng và hai bên cùng có lợi. Trong nền kinh tế hàng hoá có nhiều loại hình tín dụng như: Tín dụng Ngân hàng, tín dụng thương mại, tín dụng Nhà nước, tín dụng tiêu dùng. Tín dụng Ngân hàng cũng mang bản chất của quan hệ tín dụng nói chung. Đó là quan hệ tin cậy lẫn nhau trong vay và cho vay giữa các Ngân hàng, tổ chức tín dụng với các doanh nghiệp và các cá nhân khác, được thực hiện dưới hình thức tiền tệ theo nguyên tắc hoàn trả và có lãi. Điều 20: Luật các tổ chức tín dụng quy định: “ Hoạt động tín dụng là việc tổ chức tín dụng sử dụng nguồn vốn tự có, nguồn vốn huy động để cấp tín dụng...”. ...“ Cấp tín dụng là việc tổ chức tín dụng thoả thuận để khách hàng sử dụng một khoản tiền với nguyên tắc có hoàn trả bằng các nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bảo lãnh Ngân hàng và các nghiệp vụ khác”. Do đặc điểm riêng của mình tín dụng Ngân hàng đạt được ưu thế hơn các hình thức tín dụng khác về khối lượng, thời hạn và phạm vi đầu tư. Với đặc điểm tín dụng bằng tiền, vốn tín dụng Ngân hàng có khả năng đầu tư chuyển đổi vào bất cứ lĩnh vực nào của sản xuất và lưu thông hàng hoá. Vì vậy mà tín dụng Ngân hàng ngày càng trở thành hình thức tín dụng quan trọng trong các hình thức tín dụng hiện có. 1.2.2 Đặc điểm của tín dụng ngân hàng đối với hộ sản xuất Tính thời vụ gắn liền với chu kỳ sinh trưởng của động thực vật: Tính chất thời vụ trong cho vay nông nghiệp có liên quan đến chu kỳ sinh trưởng của động, thực vật trong ngành nông nghiệp có liên quan đến chu kỳ sinh trưởng của động, thực vật trong ngành nông nghiệp nói chung và các ngành nghề cụ thể mà Ngân hàng tham gia cho vay. Thường tính thời vụ được Nguyễn Thị Ánh Tuyết 10 Lớp TC15A Khóa luận tốt nghiệp Khoa tài chính- Ngân hàng biểu hiện ở những mặt sau: Tính mùa, vụ trong sản xuất nông nghiệp quyết định thời điểm cho vay và thu nợ của Ngân hàng. Nếu Ngân hàng tập trung cho vay vào các chuyên ngành hẹp như cho vay một số cây, con nhất định thì phải tổ chức cho vay tập trung vào một thời gian nhất định của năm, đầu vụ tiến hành cho vay, đến kỳ thu hoạch/tiêu thụ tiến hành thu nợ. Chu kỳ sống tự nhiên của cây, con là yếu tố quyết định để Ngân hàng tính toán thời hạn cho vay. Môi trường tự nhiên có ảnh hưởng đến thu nhập và khả năng trả nợ của khách hàng. Nguồn trả nợ Ngân hàng chủ yếu là tiền thu từ bán nông sản và các sản phẩm chế biến có liên quan đến nông sản. Như vậy sản lượng nông sản thu được là yếu tố quyết định khả năng trả nợ của khách hàng. Mà sản lượng nông sản chịu ảnh hưởng của thiên nhiên rất lớn. Chi phí tổ chức cho vay cao: Cho vay hộ sản xuất đặc biệt là cho vay hộ nông dân thường chi phí nghiệp vụ cho một đồng vốn vay thường cao do qui mô từng món vay nhỏ. Số lượng khách hàng đông, phân bố ở khắp mọi nơi nên mở rộng cho vay thường liên quan tới việc mở rộng mạng lưới cho vay và thu nợ: Mở chi nhánh, bàn giao dịch, tổ lưu động cho vay tại xã. Hiện nay mạng lưới của NHNo&PTNT Việt nam cũng mới chỉ đáp ứng được một phần nhu cầu vay của nông nghiệp. Do đặc thù kinh doanh của hộ sản xuất đặc biệt là hộ nông dân có độ rủi ro cao nên chi phí cho dự phòng rủi ro là tương đối lớn so với các ngành khác. 1.2.3 Các hình thức tín dụng ngân hàng đối với hộ sản xuất 1.2.3.1 Cho vay vốn để phục vụ sản xuất kinh doanh: Khách hàng là các hộ gia đình và cá nhân có đủ điều kiện, khả năng sản xuất kinh doanh trong các lĩnh vực nông, lâm, ngư, diêm nghiệp và dịch vụ. Thời hạn vay phù hợp với Nguyễn Thị Ánh Tuyết 11 Lớp TC15A Khóa luận tốt nghiệp Khoa tài chính- Ngân hàng chu kỳ sản xuất kinh doanh và thời gian thu hồi vốn của dự án, phương án sản xuất kinh doanh. 1.2.3.2 Cho vay lưu vụ : Riêng khách hàng là các hộ gia đình, cá nhân ở vùng chuyên canh, xen canh lúa và các cây ngắn hạn khác có thể sử dụng phương thức cho vay lưu vụ. Thời hạn cho vay phù hợp với chu kỳ sản xuất kinh doanh và thời gian thu hồi vốn của dự án phương án xin vay và không quá thời hạn của 1 vụ kế tiếp. 1.2.3.3 Cho vay mua sắm nhà ở, phương tiện vận chuyển … phục vụ sản xuất và đời sống: Khách hàng có nhu cầu vay vốn để mua sắm nhà ở, phương tiện vận chuyển phục vụ sản xuất. Có thu nhập ổn định và có khả năng tài chính để trả nợ tiền vay. Khách hàng là người hưởng lương thì chỉ cần xác nhận của cơ quan quản lý lao động về các khoản thu nhập của mình. 1.2.3.4 Cho vay người lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài: Khách hàng là tất cả công dân Việt nam có đủ điều kiện đi lao động tại nước ngoài. Người lao động phải có hợp đồng ký kết với doanh nghiệp dịch vụ về việc đi làm việc ở nước ngoài. Mức tiền vay tối đa 80% chi phí cần thiết liên quan đến thủ tục đi lao động tại nước ngoài. Thời hạn vay phù hợp với khả năng trả nợ trong thời gian lao động tại nước ngoài. 1.2.3.5 Cho vay trả góp: Tất cả các khách hàng có nhu cầu và có điều kiện trả nợ dần trong thời hạn vay. Có thu nhập thường xuyên và có tài sản đảm bảo cho khoản vay. Thời hạn vay phù hợp với chu kỳ sản xuất kinh doanh và khả năng trả nợ theo phân kỳ trả nợ trong thời hạn vay. 1.2.4 Vai trò của tín dụng Ngân hàng đối với kinh tế hộ sản xuất Trong nền kinh tế hàng hoá các loại hình kinh tế không thể tiến hành sản xuất kinh doanh nếu không có vốn. Nước ta hiện nay thiếu vốn là hiện tượng thường xuyên xảy ra đối với các đơn vị kinh tế, không chỉ riêng đối với hộ sản xuất. Vì vậy, vốn tín dụng Ngân hàng đóng vai trò hết sức quan trọng, Nguyễn Thị Ánh Tuyết 12 Lớp TC15A Khóa luận tốt nghiệp Khoa tài chính- Ngân hàng nó trở thành "bà đỡ" trong quá trình phát triển của nền kinh tế hàng hoá.  Tín dụng Ngân hàng đáp ứng nhu cầu vốn cho hộ sản xuất để duy trì quá trình sản xuất liên tục, góp phần đầu tư phát triển kinh tế . Với đặc trưng sản xuất kinh doanh của hộ sản xuất cùng với sự chuyên môn hoá sản xuất trong xã hội ngày càng cao, đã dẫn đến tình trạng các hộ sản xuất khi chưa thu hoạch sản phẩm, chưa có hàng hoá để bán thì chưa có thu nhập, nhưng trong khi đó họ vẫn cần tiền để trang trải cho các khoản chi phí sản xuất, mua sắm đổi mới trang thiết bị và rất nhiều khoản chi phí khác. Những lúc đó các hộ sản xuất cần có sự trợ giúp của tín dụng Ngân hàng để có đủ vốn duy trì sản xuất liên tục. Nhờ có sự hỗ trợ về vốn, các hộ sản xuất có thể sử dụng có hiệu quả các nguồn lực sẵn có khác như lao động, tài nguyên để tạo ra sản phẩm cho xã hội, thúc đẩy việc sắp xếp, tổ chức lại sản xuất, hình thành cơ cấu kinh tế hợp lý . Từ đó nâng cao đời sống vật chất cũng như tinh thần cho mọi người. Như vậy, có thể khẳng định rằng tín dụng Ngân hàng có vai trò rất quan trọng trong việc đáp ứng nhu cầu vốn cho hộ sản xuất ở nước ta trong giai đoạn hiện nay.  Tín dụng Ngân hàng góp phần thúc đẩy quá trình tập trung vốn và tập trung sản xuất. Trong cơ chế thị trường, vai trò tập trung vốn tập trung sản xuất của tín dụng Ngân hàng đã thực hiện ở mức độ cao hơn hẳn với cơ chế bao cấp cũ. Bằng cách tập trung vốn vào kinh doanh giúp cho các hộ có điều kiện để mở rộng sản xuất, làm cho sản xuất kinh doanh có hiệu quả hơn, thúc đẩy quá trình tăng trưởng kinh tế và đồng thời Ngân hàng cũng đảm bảo hạn chế được rủi ro tín dụng. Thực hiện tốt chức năng là cầu nối giữa tiết kiệm và đầu tư, Ngân hàng quan tâm đến nguồn vốn đã huy động được để cho hộ sản xuất vay. Vì vậy Nguyễn Thị Ánh Tuyết 13 Lớp TC15A Khóa luận tốt nghiệp Khoa tài chính- Ngân hàng Ngân hàng sẽ thúc đẩy các hộ sử dụng vốn tín dụng có hiệu quả, tăng nhanh vòng quay vốn, tiết kiệm vốn cho sản xuất và lưu thông. Trên cơ sở đó hộ sản xuất biết phải tập trung vốn như thế nào để sản xuất góp phần tích cực vào quá trình vận động liên tục của nguồn vốn.  Tín dụng Ngân hàng tạo điều kiện khôi phục, duy trì và phát triển các ngành nghề truyền thống, ngành nghề mới, giải quyết việc làm cho người lao động. Việt Nam là một nước có nhiều làng nghề truyền thống, nhưng chưa được quan tâm và đầu tư đúng mức. Trong điều kiện hiện nay, bên cạnh việc thúc đẩy sự chuyển đổi cơ cấu kinh tế theo hướng CNH chúng ta cũng phải quan tâm đến ngành nghề truyền thống có khả năng đạt hiệu quả kinh tế, đặc biệt trong quá trình thực hiện CNH - HĐH nông nghiệp, nông thôn. Phát huy được làng nghề truyền thống cũng chính là phát huy được nội lực của kinh tế hộ và tín dụng Ngân hàng sẽ là công cụ tài trợ cho các ngành nghề mới thu hút , giải quyết việc làm cho người lao động. Từ đó góp phần làm phát triển toàn diện nông, lâm, ngư nghiệp gắn với công nghiệp chế biến nông - lâm thủy sản, công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu, mở rộng thương nghiệp, du lịch, dịch vụ ở cả thành thị và nông thôn, đẩy mạnh các hoạt động kinh tế đối ngoại. Do đó, tín dụng Ngân hàng là đòn bẩy kinh tế kích thích các ngành nghề kinh tế trong hộ sản xuất phát triển, tạo tiền đề để lôi cuốn các ngành nghề này phát triển một cách nhịp nhàng và đồng bộ.  Tạo điều kiện cho kinh tế hộ sản xuất tiếp cận và áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất kinh doanh, tiếp cận với cơ chế thị trường và từng bước điều tiết sản xuất phù hợp với tín hiệu của thị trường Khi không có tín dụng ngân hàng, sản xuất của hộ gia đình phổ biến mang Nguyễn Thị Ánh Tuyết 14 Lớp TC15A Khóa luận tốt nghiệp Khoa tài chính- Ngân hàng tính tự cung tự cấp. Tín dụng ngân hàng cung cấp vốn cho HSX, một phần hay toàn bộ sản phẩm của hộ trở thành hàng hóa trên thị trường. Đồng thời thông qua thị trường họ có thể định hướng cho sản xuất của mình sao cho sản phẩm sản xuất ra đáp ứng được nhu cầu đa dạng của người mua. Để đáp ứng ngày càng tốt những nhu cầu đa dạng đó buộc HSX phải mua sắm máy móc trang thiết bị… mở rộng quy mô sản xuất và đầu tư kỹ thuật công nghệ nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm của mình để có thể tiêu thụ nhanh sản phẩm, với lợi nhuận cao. Như vậy, nhờ tín dụng ngân hàng mà tính chất sản xuất hàng hóa ngày càng tăng lên trong cách làm, cách nghĩ của người dân.  TDNH các hộ gia đình làm quen và từng bước thực hiện tính toán, hạch toán kinh tế, sử dụng vốn vay có hiệu quả. Trong sản xuất hàng hóa, để đảm bảo cho sự tồn tại của mình thì bất cứ một đơn vị sản xuất kinh doanh nào cũng phải tiến hành hạch toán kinh tế để sản phẩm của mình được thị trường chấp nhận và kinh doanh có lãi. Các hộ sản xuất nước ta chủ yếu là hộ nông dân nên phần lớn còn quen suy nghĩ “ lấy công làm lãi”, thường tiến hành sản xuất trong khi hiệu quả sản xuất kinh doanh chưa được coi trọng đúng mức. Vài năm ngần đây, ngân hàng đã có sự quan tâm hơn tới các HSX, các hộ được vay vốn của ngân hàng phải thực hiện nguyên tắc hoàn trả cho ngân hàng đầy đủ, đúng hạn cả gốc và lãi. Do đó, đòi hỏi các hộ phải tính toán hiệu quả và sử dụng vốn vay có mục đích để sau khi trả nợ gốc, lãi cho ngân hàng các hộ vẫn có phần thu nhập của mình  Vai trò của tín dụng Ngân hàng về mặt chính trị, xã hội : Tín dụng Ngân hàng không những có vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy phát triển kinh tế mà còn có vai trò to lớn về mặt xã hội. Thông qua việc cho vay mở rộng sản xuất đối với các hộ sản xuất đã góp phần giải quyết công ăn việc làm cho người lao động. Đó là một trong những vấn đề cấp bách hiện nay ở nước ta. Có việc làm, người lao động có Nguyễn Thị Ánh Tuyết 15 Lớp TC15A Khóa luận tốt nghiệp Khoa tài chính- Ngân hàng thu nhập sẽ hạn chế được những tiêu cực xã hội. Tín dụng Ngân hàng thúc đẩy các ngành nghề phát triển, giải quyết việc làm cho lao động thừa ở nông thôn, hạn chế những luồng di dân vào thành phố. Thực hiện được vấn đề này là do các ngành nghề phát triển sẽ làm tăng thu nhập cho nông dân, đời sống văn hoá, kinh tế, xã hội tăng lên, khoảng cách giữa nông thôn và thành thị càng xích lại gần nhau hơn, hạn chế bớt sự phân hoá bất hợp lý trong xã hội, giữ vững an ninh chính trị xã hội. Ngoài ra tín dụng Ngân hàng góp phần thực hiện tốt các chính sách đổi mới của Đảng và Nhà nước, điển hình là chính sách xoá đói giảm nghèo. Tín dụng Ngân hàng thúc đẩy các hộ sản xuất phát triển nhanh làm thay đổi bộ mặt nông thôn, các hộ nghèo trở lên khá hơn, hộ khá trở lên giàu hơn. Chính vì lẽ đó các tệ nạn xã hội dần dần được xoá bỏ như : Rượu chè, cờ bạc, mê tín dị đoan... nâng cao trình độ dân trí, trình độ chuyên môn của lực lượng lao động. Qua đây chúng ta thấy được vai trò của tín dụng Ngân hàng trong việc củng cố lòng tin của nông dân nói chung và của hộ sản xuất nói riêng vào sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước. Tóm lại: Tín dụng Ngân hàng đã đáp ứng nhu cầu vốn cho kinh tế hộ mở rộng sản xuất, kinh doanh, mở rộng thêm ngành nghề. Khai thác các tiềm năng về lao động, đất đai, mặt nước và các nguồn lực vào sản xuất. Tăng sản phẩm cho xã hội, tăng thu nhập cho hộ sản xuất. Tạo điều kiện cho kinh tế hộ sản xuất tiếp cận và áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất kinh doanh, tiếp cận với cơ chế thị trường và từng bước điều tiết sản xuất phù hợp với tín hiệu của thị trường. Thúc đẩy kinh tế hộ sản xuất chuyển từ sản xuất tự cấp, tự túc sang sản xuất hàng hoá, góp phần thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp và nông thôn. Thúc đẩy các hộ gia đình tính toán, hạch toán trong sản xuất kinh doanh, tính toán lựa chọn đối tượng đầu tư để đạt được hiệu quả cao nhất. Tạo Nguyễn Thị Ánh Tuyết 16 Lớp TC15A Khóa luận tốt nghiệp Khoa tài chính- Ngân hàng nhiều việc làm cho người lao động. Hạn chế tình trạng cho vay nặng lãi trong nông thôn, hạn chế tình trạng bán lúa non... Góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn, tăng tính hàng hoá của sản phẩm nông nghiệp trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường theo định hướng XHCN. Ngân hàng thực hiện mở rộng đầu tư kinh tế hộ gia đình, thực hiện mục tiêu của Đảng và nhà nước về phát triển nền kinh tế nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước. Tuy nhiên, trong hoạt động thực tiễn cho vay cho thấy cơ chế hiện nay vẫn còn nhiều bất cập như quy định về thế chấp, cầm cố, bảo lãnh vay vốn, cách xử lý tài sản thế chấp …Nếu không có những giải pháp để tháo gỡ thì Ngân hàng không thể mở rộng đầu tư vốn và nâng cao hiệu quả việc cho vay phát triển kinh tế hộ. 1.3 Chất lượng tín dụng ngân hàng đối với hộ sản xuất 1.3.1 Khái niệm và sự cần thiết phải nâng cao chất lượng tín dụng hộ sản xuất. 1.3.1.1 Khái niệm chất lượng tín dụng hộ sản xuất Trong nền kinh tế thị trường bất kỳ một loại sản phẩm nào sản xuất ra cũng phải là sản phẩm mang tính cạnh tranh. Điều này có nghĩa là mọi sản phẩm sản xuất ra đều phải có chất lượng. Các nhà kinh tế đã nhận xét: “ Chất lượng là sự phù hợp mục đích của người sản xuất và người sử dụng về một loại hàng hoá nào đó”. Danh từ “Tín dụng” xuất phát từ gốc la tinh “Credium” có nghĩa là sự tin tưởng tín nhiệm. Tín dụng là phạm trù kinh tế mang tính lịch sử, ra đời và tồn tại trong nền kinh tế sản xuất và trao đổi hàng hoá. Nó là một trong những sản phẩm chính của Ngân hàng. Đây là hình thức sản phẩm mang hình thái phi vật chất là dịch vụ đặc biệt. Sản phẩm này chỉ có khả năng đánh giá được sau khi khách hàng đã sử dụng. Do vậy có thể quan niệm chất lượng tín dụng Nguyễn Thị Ánh Tuyết 17 Lớp TC15A Khóa luận tốt nghiệp Khoa tài chính- Ngân hàng Ngân hàng là việc đáp ứng nhu cầu của khách hàng, đáp ứng nhu cầu phát triển Ngân hàng và mục tiêu phát triển kinh tế xã hội ... Như vậy, chất lượng tín dụng ngân hàng được thể hiện qua các quan điểm sau: + Đối với khách hàng: Tín dụng Ngân hàng đưa ra phải phù hợp với yêu cầu của khách hàng về lãi suất (giá sản phẩm), kỳ hạn, phương thức thanh toán, hình thức thanh toán, thủ tục đơn giản thuận tiện tuy nhiên vẫn đảm bảo nguyên tắc tín dụng Ngân hàng. + Đối với Ngân hàng: Ngân hàng đưa ra các hình thức cho vay phù hợp với phạm vi, mức độ, giới hạn của bản thân Ngân hàng để luôn đảm bảo tính cạnh tranh, an toàn, sinh lời theo nguyên tắc hoàn trả đầy đủ cả gốc và lãi đúng thời hạn và có lợi nhuận cao nhất. + Đối với sự phát triển kinh tế : tín dụng ngân hàng luôn đảm bảo sự lưu thông hàng hóa, góp phần giải quyết công ăn việc làm cho người lao động, khai thác tiềm năng của nền kinh tế, thúc đầy quá trình tích tụ và tập trung sản xuất, giải quyết mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và tăng trưởng tín dụng. Chất lượng tín dụng ngân hàng đối với hộ sản xuất cũng không thể nằm ngoài khái niệm chất lượng tín dụng nói chung, do vậy có thể hiểu chất lượng tín dụng ngân hàng đối với hộ sản xuất là vốn cho vay của ngân hàng được hộ sản xuất đưa vào quá trình sản xuất kinh doanh, tạo ra một số tiền lớn hơn đủ để hoàn trả cả gốc và lãi, trang trải các chi phí khác và có lợi nhuận, phù hợp với các điều kiện của ngân hàng và nền kinh tế. 1.3.1.2 Sự cần thiết phải nâng cao chất lượng tín dụng hộ sản xuất. Nâng cao chất lượng tín dụng hộ sản xuất là vấn đề rất cần thiết đối với cả phía ngân hàng, hộ sản xuất và nền kinh tế: + Đối với ngân hàng: Nâng cao chất lượng tín dụng hộ sản xuất là điều Nguyễn Thị Ánh Tuyết 18 Lớp TC15A Khóa luận tốt nghiệp Khoa tài chính- Ngân hàng kiện để ngân hàng bảo toàn và tăng cường vốn của mình, là cơ sở để ngân hàng gia tăng lợi nhuận, vì tín dụng HSX chiếm một tỷ trọng khá lớn trong cơ cấu tài sản sinh lời của ngân hàng. + Đối với hộ sản xuất: góp phần lành mạnh hóa quan hệ tín dụng giữa ngân hàng và các HSX, giúp các hộ được thỏa mãn nhu cầu về vốn để duy trì, mở rộng sản xuất kinh doanh. Nâng cao đời sống vật chất tinh thần góp phần phát triển kinh tế nông thôn. + Đối với nền kinh tế: Ngân hàng thương mại là một mắt xích trong hệ thống tài chính quốc gia. Ngân hàng hoạt động có hiệu quả là yếu tố góp phần ổn định tài chính tiền tệ và kiềm chế lạm phát, tạo điều kiện cho NHNN thực thi chính sách tiền tệ. Hơn nữa, kinh tế HSX góp phần lớn vào sự nghiệp CNH -HĐH nông nghiệp nông thôn. Phát triển kinh tế đất nước. 1.3.2 Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng tín dụng hộ sản xuất Hiện nay, tín dụng vẫn chiếm khoảng 60% - 70% trong tổng tài sản có của các Ngân hàng thương mại. Vì thế sự tồn tại và phát triển của các Ngân hàng phụ thuộc rất nhiều vào tín dụng và chất lượng tín dụng. Việc đánh giá chất lượng tín dụng ở các Ngân hàng hiện nay thông qua các chỉ tiêu cơ bản sau: 1.3.2.1 Chỉ tiêu định tính: Ngân hàng có các chỉ tiêu định tính như: * Đảm bảo nguyên tắc cho vay: Mọi tổ chức kinh tế hoạt động đều dựa trên các nguyên tắc nhất định. Do đặc thù của Ngân hàng là một tổ chức kinh tế đặc biệt, hoạt động của nó ảnh hưởng sâu sắc đến tình hình kinh tế, chính trị, xã hội của đất nước, do vậy có các nguyên tắc khác nhau. Trong đó nguyên tắc cho vay là một nguyên tắc quan trọng đối với mỗi Ngân hàng. Để đánh giá chất lượng một khoản cho vay, điều đầu tiên phải xem xét là khoản vay đó có đảm bảo nguyên tắc cho vay hay không ? Cho vay đảm bảo có điều kiện: Đây là chỉ tiêu đánh giá chất lượng tín dụng Ngân hàng đó là cho vay có đảm bảo đúng điều kiện hay không? Nguyễn Thị Ánh Tuyết 19 Lớp TC15A Khóa luận tốt nghiệp Khoa tài chính- Ngân hàng Trong “ qui chế cho vay của TCTD đối với khách hàng” ban hành theo quyết định số: 1627/2001/QĐ- NHNN ngày 31 tháng 12 năm 2001 của Thống đốc NHNN. Tại điều 6. Nguyên tắc cho vay. Qui định rõ: Khách hàng vay vốn của tổ chức tín dụng phải đảm bảo: 1- Sử dụng vốn vay đúng mục đích đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng. 2- Hoàn trả nợ gốc và lãi vốn vay đúng thời hạn đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng. Hai nguyên tắc cho vay trên là nguyên tắc tối thiểu mà bất cứ một khoản cho vay nào cũng phải đảm bảo. * Cho vay đảm bảo có điều kiện: Đây là chỉ tiêu đánh giá chất lượng tín dụng Ngân hàng đó là cho vay có đảm bảo đúng điều kiện hay không ? Trong “ Qui chế cho vay của TCTD đối với khách hàng” ban hành theo quyết định số: 1627/2001/QĐ- NHNN ngày 31 tháng 12 năm 2001 của Thống đốc NHNN. Tại điều 7. Điều kiện vay vốn. Qui định rõ: “ Tổ chức tín dụng xem xét và quyết định cho vay khi khách hàng có đủ các điều kiện sau: 1- Có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự và chịu trách nhiệm dân sự theo qui định của pháp luật. a) Với khách hàng vay là pháp nhân và cá nhân Việt Nam - Pháp nhân phải có năng lực pháp luật dân sự. - Cá nhân và chủ doanh nghiệp tư nhân phải có năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân sự. - Đại diện của hộ gia đình phải có năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân sự. Nguyễn Thị Ánh Tuyết 20 Lớp TC15A
- Xem thêm -