Tài liệu Giải pháp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực khoa học và công nghệ ngành bảo hiểm xã hội (nghiên cứu trường hợp bhxh thành phố hà nội

  • Số trang: 101 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 47 |
  • Lượt tải: 0
dangvantuan

Tham gia: 02/08/2015

Mô tả:

VIỆN HÀN LÂM BỘ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM VIỆN CHIẾN LƢỢC VÀ CHÍNH SÁCH HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TRỊNH TUẤN ANH GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƢỢNG NGUỒN NHÂN LỰC KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ NGÀNH BẢO HIỂM XÃ HỘI (NGHIÊN CỨU TRƢỜNG HỢP BẢO HIỂM XÃ HỘI THÀNH PHỐ HÀ NỘI) CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ HÀ NỘI, 2018 VIỆN HÀN LÂM BỘ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM VIỆN CHIẾN LƢỢC VÀ CHÍNH SÁCH HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TRỊNH TUẤN ANH GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƢỢNG NGUỒN NHÂN LỰC KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ NGÀNH BẢO HIỂM XÃ HỘI (NGHIÊN CỨU TRƢỜNG HỢP BẢO HIỂM XÃ HỘI THÀNH PHỐ HÀ NỘI) Chuyên ngành : Quản lý Khoa học và Công nghệ Mã số : 834.04.12 LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. NGUYỄN THỊ THU HÀ NỘI, 2018 LỜI CẢM ƠN Để luận văn đạt kết quả tốt đẹp, trước hết tôi xin chân thành tới toàn thể các quý thầy cô tại Viện Khoa học xã hội, Viện Chiến lược và Chính sách Khoa học và Công nghệ, Tiến sĩ Nguyễn Thị Thu lời chúc sức khỏe, lời chào trân trọng và lời cảm ơn sâu sắc. Với sự quan tâm, hướng dẫn nhiệt tình của thầy cô, sự giúp đỡ của đồng nghiệp, tạo điều kiện của gia đình đến nay tôi đã hoàn thành luận văn thạc sĩ với đề tài: “GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG NGUỒN NHÂN LỰC KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ NGÀNH BẢO HIỂM XÃ HỘI (NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP BẢO HIỂM XÃ HỘI THÀNH PHỐ HÀ NỘI)”. Với điều kiện thời gian có hạn, kinh nghiệm nghiên cứu còn hạn chế nên luận văn sẽ không tránh khỏi những thiếu sót. Tôi rất mong đón nhận được những ý kiến đóng góp của quý thầy cô, bạn bè và đồng nghiệp để bổ sung hoàn thiện luận văn, nâng cao kiến thức cho mình và phục vụ tốt hơn trong công tác thực tế sau này, có đóng góp nhiều hơn cho sự phát triển của ngành, cho xã hội và cho đất nước. Tôi cũng trân trọng cảm ơn các đồng chí Lãnh đạo, các cán bộ công chức, viên chức văn phòng BHXH Thành phố Hà Nội và 30 cơ quan BHXH quận huyện trực thuộc đã tạo điều kiện và giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này. Tác giả Trịnh Tuấn Anh LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu, kết quả nghiên cứu nêu trong Luận văn là trung thực. Những kết luận khoa học của Luận văn là vấn đề mới chưa được công bố trong công trình nghiên cứu nào. Tôi xin chịu trách nhiệm về đề tài nghiên cứu của mình. Tác giả Trịnh Tuấn Anh MỤC LỤC PHẦN MỞ ĐẦU ....................................................................................................... 1 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NÂNG CAO CHẤT LƢỢNG NGUỒN NHÂN LỰC KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ....................................................... 8 1.1. Khái niệm về nhân lực và nguồn nhân lực khoa học công nghệ .................... 8 1.2. Chất lượng nguồn nhân lực ........................................................................... 16 1.3. Các tiêu chí phản ánh chất lượng nguồn nhân lực khoa học và công nghệ ......... 18 1.4. Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng nguồn nhân lực khoa học và công nghệ ...................................................................................................................... 21 1.5. Các hoạt động nâng cao chất lượng nguồn nhân lực khoa học và công nghệ .............................................................................................................................. 25 Tiểu kết chương 1 ..................................................................................................... 29 Chƣơng 2 THỰC TRẠNG CHẤT LƢỢNG NGUỒN NHÂN LỰC KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TẠI BẢO HIỂM XÃ HỘI THÀNH PHỐ HÀ NỘI GIAI ĐOẠN 2012-2017 .................................................................................................... 30 2.1. Giới thiệu chung về Bảo hiểm xã hội thành phố Hà Nội .............................. 30 2.2. Hiện trạng chất lượng nguồn nhân lực khoa học và công nghệ của Bảo hiểm xã hội Thành phố Hà Nội ..................................................................................... 36 2.3. Thực trạng hoạt động nâng cao chất lượng nguồn nhân lực KH&CN của BHXH TP Hà Nội giai đoạn 2013-2017 .............................................................. 51 2.4 Đánh giá thực trạng chất lượng nguồn nhân lực Khoa học và Công nghệ ở BHXH TP Hà Nội ................................................................................................ 62 Tiểu kết chương 2 ..................................................................................................... 67 Chƣơng 3 GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƢỢNG NGUỒN NHÂN LỰC KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TẠI BẢO HIỂM XÃ HỘI THÀNH PHỐ HÀ NỘI........................................................................... Error! Bookmark not defined. 3.1. Quan điểm, định hướng nâng cao chất lượng nguồn nhân lực khoa học và công nghệ ngành bảo hiểm xã hội đến năm 2025 .................................. 68 3.2 Giải pháp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực KH&CN .................... 72 Tiểu kết chương 3 ..................................................................................................... 87 KẾT LUẬN ............................................................................................................. 88 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO .............................................................. 91 DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT STT VIẾT TẮT VIẾT ĐẦY ĐỦ 1 BHXH Bảo hiểm xã hội 2 BHYT Bảo hiểm y tế 3 BHTN Bảo hiểm thất nghiệp 4 BHXHTN Bảo hiểm xã hội tự nguyện 5 BHYTTN Bảo hiểm y tế tự nguyện 6 CĐBHXH Chế độ bảo hiểm xã hội 7 CNTT Công nghệ thông tin 8 CBQL Cán bộ quản lý 9 GĐBHYT Giám định bảo hiểm y tế 10 KHTC Kế hoạch tài chính 11 KH&CN Khoa học và công nghệ 12 NNL Nguồn nhân lực 13 OECD Organisation for Economic Co-operation and Development Tổ Chức Hợp Tác và Phát Triển Kinh Tế 14 UNESCO United Nations Educational Scientific and Cultural Organization Tổ Chức Giáo dục , khoa học và văn hóa của Liên hợp quốc 15 NC&PT Nghiên cứu và phát triển DANH MỤC BẢNG BIỂU STT SỐ HIỆU NỘI DUNG TRANG 1 Bảng 2.1 Số lượng nhân lực KH&CN tại BHXH Hà nội giai đoạn 2013-2017 35 2 Bảng 2.2 Cơ cấu nguồn nhân lực KH&CN theo độ tuổi năm 2015 và năm 2017 của BHXH Thành phố Hà Nội 36 3 Bảng 2.3 Cơ cấu nguồn nhân lực KH&CN của BHXH Thành phố Hà Nội theo giới tính năm 2013 - 2017 37 Bảng 2.4 Cơ cấu nguồn nhân lực KH&CN theo phòng chuyên môn của BHXH Thành phố Hà Nội (tính đến thời điểm 12/2017) 40 5 Bảng 2.5 Cơ cấu nguồn nhân lực KH&CN theo BHXH quận/ huyện/ thị xã trực thuộc BHXH Thành phố Hà Nội (tính đến 12/2017) 41 6 Bảng 2.6 Cơ cấu nguồn nhân lực KH&CN của BHXH Thành phố Hà Nội theo trình độ học vấn năm 2013 – 2017 43 7 Bảng 2.7 Tổng hợp số lượng, cơ cấu, trình độ nguồn nhân lực KH&CN của VP BHXH Thành phố Hà Nội và quận huyện theo trình độ chính trị, tin học, ngoại ngữ (tính đến 12/2017) 45 8 Bảng 2.8 Số sáng kiến, đề tài cấp cơ sở, cấp bộ/ngành của BHXH Thành phố Hà Nội giai đoạn năm 2014 - 2017 47 9 Bảng 2.9 Nhu cầu đào tạo NLL KH&CN của BHXH Thành phố Hà Nội giai đoạn 2013-2017 55 4 DANH MỤC HÌNH VẼ STT SỐ HIỆU NỘI DUNG TRANG 1 Hình 1.1 Quan hệ giữa nguồn nhân lực KH&CN và nhân lực NC&PT 14 2 Hình 2.1 Sơ đồ tổ chức bộ máy của Bảo hiểm xã hội Thành phố Hà Nội 34 3 Hình 2.2 Cách thức xác định nhu cầu đào tạo nhân lực của BHXH Thành phố Hà Nội 54 DANH MỤC BIỂU ĐỒ STT SỐ HIỆU NỘI DUNG TRANG 1 Biểu đồ 2.1 Cơ cấu nguồn nhân lực KH&CN của BHXH Thành phố Hà Nội theo giới tính năm 2012 – 2017 39 2 Biểu đồ 2.2 Cơ cấu nguồn nhân lực KH&CN của BHXH Thành phố Hà Nội theo trình độ học vấn năm 2012 – 2017 44 3 Biểu đồ 2.3 Số sáng kiến, đề tài cấp cơ sở, của BHXH Thành phố Hà Nội giai đoạn năm 2014 - 2017 47 4 Biểu đồ 2.4 Nhu cầu đào tạo ngắn hạn và dài hạn của BHXH Thành phố Hà Nội giai đoạn 2013-2017 56 PHẦN MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Nguồn nhân lực có vai trò hết sức quan trọng đối với sự phát triển của bất kỳ một ngành hay một quốc gia nào. Ngày nay, do sự phát triển mạnh mẽ của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4 càng cho thấy chất lượng nguồn nhân lực khoa học và công nghệ là yếu tố cơ bản nhất của mọi quá trình phát triển. Đây còn là yếu tố đóng vai trò quyết định đến sự biến đổi về chất dẫn tới sự ra đời của nền kinh tế tri thức mới. Để có được tốc độ phát triển cao và bền vững, các quốc gia trên thế giới đều tập trung đến việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đặc biệt là nguồn nhân lực chất lượng cao, nguồn nhân lực khoa học và công nghệ. Trong thương mại thì sản phẩm, hàng hoá của các doanh nghiệp có sức cạnh tranh cao trên thị trường phụ thuộc chủ yếu vào tỷ lệ hàm lượng công nghệ, giá trị gia tăng được kết tinh trong sản phẩm đó. Trong các cơ quan nhà nước thì chất lượng cung cấp dịch vụ hành chính công được đo bằng sự hài lòng của người dân, tổ chức đối với sự phục vụ của cơ quan hành chính nhà nước đó. Do vậy, việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đặc biệt nguồn nhân lực khoa học và công nghệ đang trở thành vấn đề cấp bách đối với các quốc gia trên thế giới. Nó đang trở thành vấn đề mang tính chiến lược, sống còn trong điều kiện kinh tế toàn cầu hóa với trình độ khoa học và công nghệ đang phát triển nhanh chóng hơn bao giờ hết. Việt Nam đang trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, chúng ta còn thiếu nhiều điều kiện cho phát triển như: vốn, công nghệ, kinh nghiệm quản lý… nhưng để tiếp cận và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực ấy thì cần phải có chiến lược và giải pháp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực của mình. Tại hội nghị Trung ương 6 khóa XI đã ra Nghị quyết số 20-NQ/TW ngày 31/10/2012 về phát triển KH&CN phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định 1 hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế đã chỉ rõ: “Phát triển và ứng dụng KH&CN là quốc sách hàng đầu, là một trong những động lực quan trọng nhất để phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ Tổ quốc; là một nội dung cần được ưu tiên tập trung đầu tư trước một bước trong hoạt động của các ngành, các cấp”. Sự lãnh đạo của Đảng, năng lực quản lý của Nhà nước và tài năng, tâm huyết của đội ngũ cán bộ KH&CN đóng vai trò quyết định thành công của sự nghiệp phát triển KH&CN. Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ và đồng bộ về tổ chức, cơ chế quản lý, cơ chế hoạt động, công tác xây dựng chiến lược, kế hoạch phát triển KH&CN; phương thức đầu tư, cơ chế tài chính, chính sách cán bộ, cơ chế tự chủ của các tổ chức KH&CN phù hợp với kinh tế thị trường, định hướng xã hội chủ nghĩa. Đầu tư cho nhân lực KH&CN là đầu tư cho phát triển bền vững, trực tiếp nâng tầm trí tuệ và sức mạnh của dân tộc. Đảng và Nhà nước có chính sách phát triển, phát huy và trọng dụng đội ngũ cán bộ KH&CN. Điều đó cho thấy việc đào tạo và sử dụng có hiệu quả nguồn nhân lực khoa học và công nghệ đang trở thành một trong các yếu tố then chốt thúc đẩy kinh tế- xã hội phát triển, thực hiện thành công công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Bảo hiểm xã hội Thành phố Hà Nội là cơ quan nhà nước thuộc hệ thống BHXH Việt Nam, có chức năng tổ chức thực hiện các chế độ, chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế; tổ chức thu, chi chế độ bảo hiểm thất nghiệp; quản lý và sử dụng các quỹ: Bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế; thanh tra chuyên ngành việc đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế theo quy định của pháp luật trên địa bàn Thành phố Hà Nội. Đi cùng với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế - xã hội Thành phố thời gian vừa qua, BHXH thành phố Hà Nội đã tăng nhanh về số lượng đối tượng tham gia và thụ hưởng các chế độ BHXH, đòi hỏi BHXH thành phố phải đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, ứng dụng công nghệ thông tin, 2 công nghệ hiện đại, tiên tiến vào quá trình quản lý, xét duyệt chế độ thụ hưởng cho đối tượng tham gia BHXH theo sự chỉ đạo của BHXH Việt Nam. Đây là yêu cầu cấp bách của ngành BHXH nói chung và BHXH thành phố Hà Nội nói riêng. Do vậy, Tác giả lựa chọn nghiên cứu đề tài: “Giải pháp nâng cao chất lƣợng nguồn nhân lực khoa học và công nghệ ngành Bảo hiểm xã hội (nghiên cứu trƣờng hợp BHXH Thành phố Hà Nội)” 2. Tình hình nghiên cứu Trong các năm qua về công tác BHXH đã có nhiều công trình khoa học nghiên cứu của các nhà khoa học, các cán bộ lãnh đạo, cán bộ quản lý; từ đề tài cấp bộ, đề tài cấp ngành, luận văn tiến sỹ, luận văn thạc sỹ đi sâu nghiên cứu những vấn đề chung, cũng như từng lĩnh vực về BHXH. Những đề tài nghiên cứu về từng lĩnh vực chuyên môn cụ thể như công tác quản lý thu, công tác quản lý Quỹ Bảo hiểm xã hội… hay về nguồn nhân lực của Ngành BHXH thì có nhiều. Nhưng đề tài nghiên cứu chuyên sâu về Nguồn nhân lực khoa học và công nghệ tại BHXH Thành phố Hà Nội thì còn rất hạn chế. Có thể nói tới các công trình, đề tài nghiên cứu như: - Đề tài “Thực trạng quản lý thu Bảo hiểm xã hội hiện nay và các bịên pháp nâng cao hiệu quả công tác thu”, đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ do Tiến sỹ Nguyễn Văn Châu làm chủ nhiệm đề tài bảo vệ năm 1996. Trên cơ sở nghiên cứu kinh nghiệm quản lý thu BHXH của một số nước trên thế giới và tổng kết hoạt động thực tiễn của quản lý thu BHXH ở Việt Nam trước năm 1995 và đến năm 1996, tác giả làm rõ thực trạng hoạt động BHXH, đặc biệt là công tác thu BHXH trong thời gian qua, nhằm phân tích khả năng thu BHXH để bù đắp các chế độ BHXH được hưởng nhằm thay thế dần các nguồn chi lấy từ Ngân sách Nhà nước, đồng thời đề xuất kiến nghị một số vấn đề cụ thể nhằm cải tiến công tác thu BHXH ở Việt Nam. 3 - Đề tài “Thực hiện pháp luật về BHXH ở tỉnh Cà Mau hiện nay”, Luận văn thạc sỹ Luật, Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh, 2012, của tác giả Trịnh Trung Kiên. Trên cơ sở lý luận, nội dung thực hiện pháp luật về BHXH, đánh giá thực tiễn thực hiện pháp luật về BHXH ở tỉnh Cà Mau, tác giả đã chỉ ra mặt được và hạn chế để đưa ra những quan điểm, 7 nhóm giải pháp và kiến nghị đảm bảo hiệu lực các văn bản pháp luật về BHXH, góp phần đảm bảo tốt hơn quyền lợi cho người tham gia và thụ hưởng chính sách BHXH trên địa bàn tỉnh Cà Mau. -Đề tài: “Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực tại BHXH tỉnh Lạng Sơn”, luận văn thạc sỹ Quản trị nhân lực, Trường Đại học Lao động – Xã hội, 2015, của tác giả Nguyễn Hồng Liên đã tập trung nghiên cứu nguồn nhân lực (gồm công chức, viên chức và lao động hợp đồng) đang làm việc tại Văn phòng BHXH tỉnh Lạng Sơn và 11 BHXH các quận, huyện, thành phố trực thuộc nhằm tìm hiểu, đánh giá thực trạng và đề xuất 4 giải pháp nhằm hoàn thiện nâng cao chất lượng nguồn nhân lực tại BHXH tỉnh Lạng Sơn là: Hoàn thiện công tác quy hoạch, tuyển dụng, đãi ngộ và đào tạo nguồn nhân lực - Đề tài: “Chính sách tạo động lực cho nguồn nhân lực ngành Bảo hiểm xã hội tỉnh Ninh Bình”. Luận văn Thạc sĩ của tác giả Nguyễn Thị Thu Mai, (2013). Luận văn đã hệ thống hóa những vấn đề nguồn nhân lực và chính sách tạo động lực cho nguồn nhân lực, phân tích và đưa ra những đánh giá thực trạng chính sách tạo động lực cho nguồn nhân lực BHXH tỉnh Ninh Bình, trong đó phân tích và đưa ra thực trạng đào tạo nguồn nhân lực. Từ đó, luận văn đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chính sách tạo động lực và giải pháp đào tạo cho nguồn nhân lực BHXH tỉnh Ninh Bình. Nhìn chung, kết quả các công trình nghiên cứu trên đã góp phần làm rõ hơn về mặt lý luận và thực tiễn của công tác quản lý thu, công tác quản lý quỹ, nguồn nhân lực, hay thực hiện pháp luật về BHXH. Các công trình 4 nghiên cứu đã đưa ra những giải pháp nhằm nâng cao, phát triển nguồn nhân lực ở BHXH Việt Nam và một số địa phương như Cà Mau, Lạng Sơn, Ninh Bình. Tuy nhiên, mỗi đề tài trên có những cách tiếp cận riêng, ở các góc độ khác nhau về nguồn nhân lực. Các giải pháp đưa ra của một số đề tài chỉ phù hợp với địa phương mà đề tài nghiên cứu. Mặt khác các giải pháp đưa ra trước đây có thể đã lạc hậu với thực tiễn có nhiều sự thay đổi, phát triển nhanh chóng của toàn cầu hóa và cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4. Cho đến nay chưa có công trình nghiên cứu nào nghiên cứu cụ thể, chuyên sâu về nhân lực Khoa học và công nghệ của BHXH TP Hà nội. Như vậy, việc nghiên cứu đề tài “Giải pháp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực khoa học và công nghệ ngành Bảo hiểm xã hội (nghiên cứu trường hợp BHXH Thành phố Hà Nội)” là đề tài nghiên cứu không trùng lặp với những đề tài đã nghiên cứu trước đây. 3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu a) Mục đích nghiên cứu - Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ nguồn nhân lực KH&CN trong ngành BHXH thành phố Hà Nội trong bối cảnh cuộc cách mạng công nghiệp 4.0. b) Nhiệm vụ nghiên cứu Để đạt được mục đích nghiên cứu đề ra, nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể là: - Hệ thống những vấn đề lý luận cơ bản về nguồn nhân lực, nguồn nhân lực khoa học và công nghệ, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực khoa học và công nghệ. - Đánh giá thực trạng chất lượng nguồn nhân lực khoa học và công nghệ tại BHXH Thành phố Hà Nội, tìm ra những yếu kém của nguồn nhân lực KH&CN của BHXH TP Hà Nội và nguyên nhân của những yếu kém. - Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực khoa 5 học và công nghệ tại BHXH Thành Phố Hà Nội trong thời gian tới. 4. Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu 4.1 Đối tượng nghiên cứu Luận văn tập trung nghiên cứu chất lượng nguồn nhân lực KH&CN tại BHXH Thành phố Hà Nội về mặt trí lực. 4.2. Phạm vi nghiên cứu - Về không gian: Đề tài nghiên cứu tại BHXH thành phố Hà Nội gồm Văn phòng BHXH Hà Nội và 30 BHXH các quận, huyện, thành phố trực thuộc - Về thời gian: Đề tài nghiên cứu và phân tích dữ liệu trong thời gian 5 năm gần đây (từ 2013-2017). 5. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu - Sử dụng phương pháp nghiên cứu tài liệu: Tác giả thu thập tài liệu thông qua các nguồn bên trong và bên ngoài tổ chức: chiến lược phát triển của ngành BHXH, quy hoạch phát triển nguồn nhân lực của ngành, các báo cáo của ngành qua các năm 2013 đến 2017, những bài báo, ấn phẩm, tài liệu, bài viết đã có liên quan đến nguồn nhân lực nói chung và nguồn nhân lực KH&CN nói riêng, tài liệu về kinh nghiệm quốc tế. Phương pháp phỏng vấn chuyên sâu: Tiến hành 17 phỏng vấn chuyên sâu là các cán bộ lãnh đạo BHXH TP Hà Nội, BHXH quận/ huyện; một số chuyên viên trực tiếp làm chuyên môn, nghiệp vụ; và khách hàng để minh chứng thêm cho các thông tin liên quan đến những vấn đề còn tồn tại và nguyên nhân dẫn đến thành công hay hạn chế, từ đó đưa ra các giải pháp chính xác hơn nhằm giúp tổ chức nâng cao chất lượng nguồn nhân lực khoa học và công nghệ. 6. Ý nghĩa của luận văn Góp phần hệ thống hoá những vấn đề lý luận cơ bản về chất lượng nguồn nhân lực khoa học và công nghệ ở ngành BHXH. 6 - Đề xuất những giải pháp thiết thực, khả thi nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực khoa học và công nghệ tại BHXH TP Hà Nội đến năm 2025. 7. Cơ cấu của luận văn Luận văn gồm các phần: “Mở đầu”, “Kết luận” và 3 chương: Chương 1: Cơ sở lý luận về nâng cao chất lượng nguồn nhân lực khoa học và công nghệ Chương 2: Thực trạng chất lượng nguồn nhân lực khoa học và công nghệ tại Bảo hiểm xã hội Thành phố Hà Nội giai đoạn 2013-2017 Chương 3: Giải pháp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực khoa học và công nghệ tại Bảo hiểm xã hội Thành phố Hà Nội 7 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NÂNG CAO CHẤT LƢỢNG NGUỒN NHÂN LỰC KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ Nghiên cứu về nâng cao chất lượng nguồn nhân lực khoa học và công nghệ (KH&CN) trước hết cần tìm hiểu lý luận về nguồn nhân lực khoa học và công nghệ gồm khái niệm, phân loại, đặc điểm, chức năng, vai trò của đối tượng này trong kinh tế - xã hội nói chung và trong ngành Bảo hiểm hiểm xã hội nói riêng. Tiếp theo, đối tượng nguồn nhân lực KH&CN sẽ cần phải được đặt trong bối cảnh có sự quản lý, vì vậy cần phải làm rõ khái niệm quản lý nguồn nhân lực KH&CN và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực KH&CN qua bốn bước sau: Đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng và quản lý. 1.1. Khái niệm về nhân lực và nguồn nhân lực khoa học công nghệ 1.1.1. Khái niệm nhân lực và nguồn nhân lực Nhân lực: Nhân lực được hiểu là nguồn lực của mỗi con người mà nguồn lực này gồm có thể lực và trí lực. Nói cách khác, nhân lực là sức lực con người, nằm trong mỗi con người và làm cho con người hoạt động. Sức lực đó ngày càng phát triển cùng với sự phát triển của cơ thể con người và đến một mức độ nào đó, con người đủ điều kiện tham gia vào quá trình lao động – con người có sức lao động. Nhân lực có ảnh hưởng rất lớn đến trình độ quản lý và trình độ sử dụng các yếu tố kinh doanh, nhân lực là yếu tố năng động, tích cực của mỗi quá trình sản xuất kinh doanh và hoạt động xã hội. [15,tr.9] Nguồn nhân lực xã hội: là những năng lực về thể chất và trí tuệ để sản xuất ra hàng hoá và dịch vụ cho xã hội hay còn có cách định nghĩa khác, là toàn bộ số lượng người có thể làm việc khi cần thiết. Như vậy, nói về nguồn nhân lực không chỉ đơn thuần là nói về số lượng con người mà là tổng hoà 8 các năng lực (khía cạnh thể chất và trình độ, kỹ năng, khả năng đáp ứng nhu cầu, nhân cách) của những người có thể làm việc. [15,tr12] Lực lượng lao động: là một bộ phận dân số bao gồm những người trong độ tuổi quy định, có khả năng lao động (ở nước ta nam từ độ tuổi 15-60 và nữ từ 15 – 55) có việc làm hoặc không có việc làm nhưng có nhu cầu làm việc. Như vậy, có một bộ phận thuộc nguồn nhân lực nhưng không thuộc lực lượng lao động xã hội, đó là những người thuộc độ tuổi lao động nhưng không tìm việc làm, những người đang đi học và những người thuộc tình trạng khác, như nghì hưu trước tuổi, những người hết tuổi lao động vẫn đang làm việc. Nguồn nhân lực của xã hội thể hiện tiềm năng của một quốc gia về con người, kể cả những người hiện tại chưa có việc làm, thất nghiệp và trẻ em trong các trường học. Nguồn nhân lực của tổ chức: là một bộ phận cấu thành nguồn nhân lực xã hội, bao gồm tất cả những ai làm việc cho tổ chức hoặc những người chờ đợi để làm việc cho tổ chức (nguồn dự trữ). [15,tr29] Nguồn nhân lực của mỗi tổ chức có những đòi hỏi, yêu cầu riêng tuỳ theo chức năng nhiệm vụ, tính chất công việc của tổ chức đó. Đây chính là lý do vì sao mỗi tổ chức phải có chiến lược, kế hoạch phát triển, tạo nguồn nhân lực cho chính mình một cách hợp lý. Mặt khác, khi nguồn nhân lực xã hội có thể đáp ứng được yêu cầu của tổ chức, thì tổ chức có thể sử dụng chúng. Cạnh tranh để có được nguồn nhân lực xã hội phù hợp với yêu cầu của tổ chức là xu thế chung của thế giới trong nhiều năm qua và tiếp tục thúc đẩy cạnh tranh trong thời gian tới, dưới nhiều dạng khác nhau, như: cạnh tranh nhân tài, cạnh tranh lao động có tay nghề cao, cạnh tranh lao động có chi phí rẻ,... Các nhà kinh tế thường xem xét nguồn nhân lực dưới hai góc độ: năng lực xã hội và tính năng động xã hội. ở góc độ năng lực xã hội, nguồn nhân lực 9 là nguồn cung cấp sức lao động cho xã hội, là bộ phận quan trọng nhất của dân số, có khả năng tạo ra giá trị vật chất và tinh thần. Nguồn này được hình thành và phát triển thông qua giáo dục, đào tạo và chăm sóc sức khoẻ và tồn tại dưới dạng tiềm năng nếu không được huy động. Dưới góc độ tính năng động xã hội, nguồn nhân lực dưới dạng tiềm năng muốn phát huy phải chuyển sang trạng thái động, thành vốn nhân lực phục vụ cho phát triển xã hội, thông qua các chính sách, thể chế và giải pháp giải phóng tiềm năng con người. Vốn nhân lực (vốn con người) là các kỹ năng và năng lực con người khi được sử dụng vào lao động bằng cách nào đó đóng góp cho nền kinh tế. 1.1.2 Khái niệm nguồn nhân lực khoa học và công nghệ Hiện nay, trên thế giới có nhiều cách hiểu và khái niệm về nguồn nhân lực khoa học và công nghệ. Do đó, việc tổng hợp và thống nhất các khái niệm sử dụng là rất cần thiết, vì nó giúp xác định đối tượng và nội dung nghiên cứu của đề tài luận văn. Hiện nay có khái niệm về nguồn nhân lực KH&CN được đưa ra bởi Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD), Tổ chức giáo dục, khoa học và văn hóa của Liên hiệp quốc (UNESCO). 1.1.2.1 Theo cách tiếp cận của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế Tổ chức OECD là tên viết tắt của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (Organization for Economic Cooperation and Development), thành lập năm 1961 trên cơ sở Tổ chức Hợp tác Kinh tế Châu Âu (OEEC) với 20 thành viên sáng lập gồm các nước có nền kinh tế phát triển trên thế giới như Mỹ, Canada và các nước Tây Âu. Hiện OECD có 34 thành viên, hầu hết trong số đó là các quốc gia có thu nhập cao. Đây là một diễn đàn dành cho các thành viên, hiện là chính phủ của 34 nước kinh tế thị trường phát triển nhất thế giới cũng như 70 nước không phải là thành viên, cùng nhau bàn bạc, trao đổi kinh nghiệm để giải quyết các vấn đề kinh tế cũng như các vấn đề chung khác. (1) Theo cuốn “Cẩm nang về đo lường nguồn nhân lực khoa học và công nghệ” của 10 OECD thì nhân lực KH&CN bao gồm những người đáp ứng được một trong các điều kiện sau: -“Đã tốt nghiệp trường đào tạo trình độ nhất định nào đó về một chuyên môn KH&CN (từ công nhân có bằng cấp tay nghề trở lên) hay còn được gọi là trình độ 3 trong hệ giáo dục đào tạo; (Cao đẳng, cử nhân/kỹ sư, thạc sĩ, tiến sĩ, tiến sĩ khoa học); - Hoặc không được đào tạo chính thức như đã nói ở trên nhưng làm một nghề trong lĩnh vực khoa học và công nghệ và đòi hỏi trình độ tương đương với một trong các trình đồ nêu trên. Kỹ năng tay nghề ở đây được đào tạo tại nơi làm việc. [20,pg21] Đằng sau khái niệm này là, tuy những người có bằng cấp mà không hoạt động KH&CN, nhưng nếu cần thiết, lúc nào đó vẫn có thể huy động họ vào hoạt động KH&CN như mời vào làm chuyên gia tư vấn nên được coi là nguồn nhân lực cho KH&CN. Như vậy, "nguồn nhân lực KH&CN" chỉ xem xét về trình độ mà không xem xét đến nghề nghiệp và hoạt động (có hoạt động trong lĩnh vực KH&CN hay không). Một vấn đề nữa là, những người không có trình độ tay nghề nhưng làm việc trong lĩnh vực KH&CN sẽ được đưa vào danh sách nguồn nhân lực KH&CN ngay từ khi họ bắt đầu tham gia làm việc trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học và công nghệ. 1.1.2.2 Theo Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hiệp quốc Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hiệp quốc (UNESCO) định nghĩa nhân lực KH&CN chủ yếu theo công việc hiện đang đảm nhận. Theo đó, nhân lực KH&CN (S&T personnel) là "những người trực tiếp tham gia vào hoạt động khoa học và công nghệ trong một cơ quan, tổ chức và được trả lương hay thù lao cho lao động của họ, bao gồm các nhà khoa học và kỹ sư, kỹ thuật viên và nhân lực phù trợ". 11 Hoạt động KH&CN, theo UNESCO, là những hoạt động có tính chất hệ thống và liên quan chặt chẽ đến tạo ra, phát triển, phổ biến, áp dụng kiến thức KH&CN trong mọi lĩnh vực KH&CN. Hoạt động KH&CN bao gồm hoạt động nghiên cứu triển khai, giáo dục và đào tạo KH&CN và các dịch vụ KH&CN. Dịch vụ KH&CN bao gồm các hoạt động KH&CN của thư viện và bảo tàng, dịch và hiệu đính tài liệu KH&CN, điều tra, thăm dò, thu thập số liệu về các hiện tượng kinh tế xã hội, tiêu chuẩn, chất lượng, dịch vụ tư vấn và lấy ý kiến khách hàng, các hoạt động patent và bản quyền của các cơ quan công cộng. Các nhà khoa học là kĩ sư: là những người làm trong các lĩnh vực sử dụng hay tạo ra kiến thức khoa học hoặc các nguyên lý kỹ nghệ và công nghệ, nghĩa là những người được đào tạo về khoa học và công nghệ và làm nghề về hoạt động khoa học và công nghệ, những nhà quản lý cấp cao và những người trực tiếp điều hành các hoạt động khoa học và công nghệ (đối với lĩnh vực nghiên cứu và phát triển, các nhà khoa học là những nhà nghiên cứu, các trợ lý nghiên cứu trong cả lĩnh vực khoa học tự nhiên, khoa học xã hội và nhân văn). - Các kỹ thuật viên: bao gồm những người thực hiện các công việc đòi hỏi phải có kinh nghiệm và hiểu biết kỹ thuật trong những lĩnh vực KH&CN; tham gia vào NC&PT bằng việc thực hiện những nhiệm vụ KH&CN có áp dụng những khái niệm và phương pháp vận hành dưới sự giám sát của các cán bộ nghiên cứu; - Nhân viên hỗ trợ: bao gồm những người có hoặc không có kỹ năng, nhân viên hành chính văn phòng tham gia vào các nhiệm vụ NC&PT. Trong nhóm này bao gồm cả những người làm việc liên quan đến nhân sự, tài chính và hành chính trực tiếp phục vụ công việc NC&PT; [1, pg51] 12
- Xem thêm -