Tài liệu Giải pháp hạn chế rủi ro tín dụng tại chi nhánh nhno&ptnt hà thành

  • Số trang: 68 |
  • Loại file: DOC |
  • Lượt xem: 48 |
  • Lượt tải: 0
nhattuvisu

Đã đăng 27125 tài liệu

Mô tả:

LỜI MỞ ĐẦU Trong bối cảnh đổi mới chung của đất nước, Ngân hàng thương mại với vai trò trung gian tài chính quan trọng của xã hội đã từng bước cải tổ hoạt động của mình, hòa nhập với cơ chế mới, mở rộng cho vay đối với các thành phần kinh tế thông qua hoạt động tín dụng. Tín dụng ngân hàng là công cụ tài trợ vốn cho nền kinh tế, góp phần thúc đẩy sự phát triển cân đối của các ngành, các lĩnh vực khác theo định hướng của Nhà nước. Trên thế giới người ta thống kê được rất nhiều loại rủi ro cố hữu trong hoạt động ngân hàng, song được quan tâm nhất là rủi ro tín dụng. Bởi vì trên thực tế đối với Ngân hàng thương mại thì nghiệp vụ tín dụng là nghiệp vụ chiếm tỷ trọng lớn khoảng 80%, đây là nghiệp vụ tạo ra khoảng 90% tổng lợi nhuận của Ngân hàng. Hơn nữa đây là lĩnh vực kinh doanh tiềm ẩn nhiều rủi ro nhất trong hoạt động kinh doanh ngân hàng. Rủi ro từ nghiệp vụ tín dụng rất lớn, nó có thể xảy ra bất kì lúc nào, làm sai lệch đảo lộn kế quả hoạt động kinh doanh của Ngân hàng, có thể gây ra sự phá sản của ngân hàng. Trong khi đó hoạt động ngân hàng lại là một “mắt xích” quan trọng trong sự vận động nhịp nhàng của nền kinh tế. Trong sự nghiệp đổi mới, hệ thống ngân hàng nói chung và Ngân hàng thương mại nói riêng đã góp phần tích cực vào công cuộc xây dựng hoàn thiện một nền kinh tế thị trường bền vững. Vì vậy, đó sự phá sản của ngân hàng sẽ là một cú sốc mạnh không chỉ ảnh hưởng tới hệ thống ngân hàng mà còn ảnh hưởng tới toàn bộ đời sống kinh tế, chính trị, xã hội. Hiểu rõ rủi ro trong hoạt động Ngân hàng, đặc biệt là rủi ro tín dụng, đánh giá đúng thực trạng rủi ro tín dụng để tìm ra biên pháp hạn rủi ro là một yêu cầu cấp thiết, đảm bảo an toàn hiệu quả trong hoạt động kinh doanh của Ngân hàng. Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề trên. Bản thân em là sinh viên chuyên ngành Tài chính – Ngân hàng, tương lai sẽ là một nhân viên Ngân hàng việc tìm hiểu và nắm rõ được vấn đề này sẽ giúp ích cho em rất nhiều cho công việc tương lai sau này. Nên trong thời gian thực tập tại chi nhánh NHNo&PTNT Hà Thành Em mạnh dạn chọn đề tài : “Giải pháp hạn chế rủi ro tín dụng tại chi nhánh NHNo&PTNT Hà Thành” làm chuyên đề tốt nghiệp. Ngoài phần mở đầu và kết luân, chuyên đề được kết cấu thành 3 chương: Chương 1: Tổng quan về rủi ro tín dụng của NHTM. Chương 2: Thực trạng rủi ro tín dụng tại chi nhánh NHNo&PTNT Hà Thành. Chương 3: Giải pháp hạn chế rủi ro tín dụng tại chi nhánh NHNo&PTNT Hà Thành. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ RỦI RO TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1. HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1.1. Tổng quan về Ngân hàng thương mại. 1.1.1.1. Khái niệm. Ngân hàng thương mại là một loại hình tổ chức có vai trò quan trọng đối với nền kinh tế nói chung và đối với từng cộng đồng địa phương nói riêng. Có nhiều cách định nghĩa về Ngân hàng thương mại, trong đó chủ yếu thường dựa trên mục đích hoạt động kinh doanh của nó trên thị trường tài chính và đôi khi còn kết hợp tính chất, mục đích đối tượng từng hoạt động. Theo tinh thần của Luật các tổ chức tín dụng( công bố ngày 26/12/1997) và luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật các tổ chức tín dụng có hiệu lực thi hành tử ngày 1/10/2004: Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng thực hiện các hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với nội dung thường xuyên là nhận tiền gửi, sử dụng số tiền này để cấp tín dụng, cung ứng dịch vụ thanh toán và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan. Tại Mỹ, bất kì tổ chức nào cung cấp tài khoản tiền gửi, cho phép khách hàng rút tiền theo yêu cầu và cho vay đối với các tổ chức kinh doanh hay cho vay thương mại sẽ được xem là một Ngân hàng. Như vậy ta có thể hiểu: Ngân hàng thương mại là một doanh nghiệp đặc biệt kinh doanh về tiền tệ với hoạt động thường xuyên là huy động vốn, cho vay, chiết khấu, bảo lãnh, cung cấp dịch vụ tài chính và các hoạt động khác có liên quan. Ngân hàng thương mại là tổ chức tài chính trung gian cung cấp danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm, dịch vụ thanh toán và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kì một tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế. Sự đa dạng trong các dịch vụ và chức năng của Ngân hàng dẫn đến việc chúng được gọi là các “ Bách hóa tài chính” (Financial department stores – a full sercice Financial institution). 1.1.1.2. Vai trò của ngân hàng thương mại. Từ khái niệm về NHTM nêu trên, áp dụng vào thực tế nước ta, một nước có hơn 80% dân số sống bằng nghề nông, việc phát triển sản xuất theo chiều hướng công nghiệp hoá - hiện đại hoá rất cần đến NHTM. Nhất là khi quá trình CNH-HĐH của chúng ta đã đi vào chiều sâu, yêu cầu cần có vốn đầu tư để xây dựng cơ sở hạ tầng, tăng tốc độ đầu tư, từng bước chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đảm bảo nhịp độ tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững, thực hiện thành công các mục tiêu phát triển kinh tế thì vai trò của các NHTM càng được Đảng và Nhà nước ta coi trọng.  NHTM là nơi cung cấp vốn cho nền kinh tế. Vốn được tạo ra từ quá trình tích luỹ, tiết kiệm của mỗi cá nhân, doanh nghiệp và các tổ chức trong nền kinh tế. Do đó, để có nhiều vốn phải tăng thu nhập quốc dân và có mức tiêu dùng hợp lý. Tăng thu nhập quốc dân đồng nghĩa với việc mở rộng sản xuất và lưu thông hàng hóa, đẩy mạnh sự phát triển của các ngành trong nền kinh tế. Điều đó muốn thực hiện được phải cần có vốn. Nếu bị thiếu vốn, doanh nghiệp sẽ mất đi cơ hội đầu tư mới hoặc không tiến hành kịp thời quá trình tái sản xuất. NHTM chính là người đứng ra tiến hành khơi thông nguồn vốn nhàn rỗi ở các tổ chức, cá nhân, các thành phần kinh tế. Thông qua hình thức cấp tín dụng, ngân hàng tạo điều kiện cho doanh nghiệp có khả năng mở rộng sản xuất, cải tiến máy móc, thiết bị, đổi mới quy trình công nghệ, nâng cao năng suất lao động, đem lại hiệu quả kinh tế cao, cũng có nghĩa là đưa doanh nghiệp lên những nấc thang cạnh tranh cao hơn. Một khi cạnh tranh càng mạnh mẽ, thì kinh tế càng phát triển. Như vậy, với khả năng cung cấp vốn, NHTM đã trở thành một trong những điểm khởi đầu cho sự phát triển của nền kinh tế quốc gia.  NHTM là cầu nối giữa doanh nghiệp với thị trường, giúp cho các nhà kinh doanh xây dựng chiến lược quản trị doanh nghiệp. Thị trường ở đây được hiểu ở hai góc độ, thị trường đầu vào và thị trường đầu ra của doanh nghiệp. Để có thể tiến hành bất kỳ một hoạt động kinh doanh nào, doanh nghiệp cần tham gia vào thị trường đầu vào nhằm thực hiện thành công chiến lược 5P: Product (sản phẩm), Price (giá cả), Promotion (Khuyếch trương), Place (địa điểm) và People (Con người). Từ đó, doanh nghiệp có thể tiếp cận mạnh mẽ vào thị trường đầu ra, tìm kiếm lợi nhuận cao hơn. Quy trình đó chỉ được bắt đầu khi doanh nghiệp được trang bị đầy đủ vốn cần thiết. Nhưng không phải doanh nghiệp nào cũng có đủ khả năng về tài chính. Nguồn vốn tín dụng của NHTM sẽ giúp cho các doanh nghiệp giải quyết được những khó khăn đó, giúp doanh nghiệp có đủ khả năng thoả mãn tối đa nhu cầu của thị trường trên mọi phương diện: giá cả, chủng loại, chất lượng, thời gian, địa điểm…NHTM sẽ là cầu nối giữa doanh nghiệp và thị trường cả về không gian và thời gian.  NHTM là cầu nối nền tài chính quốc gia với nền tài chính quốc tế. Trong xu thế khu vực hoá, toàn cầu hoá như hịên nay thì vai trò này càng thể hiện rõ rệt. Áp lực cạnh tranh buộc nền kinh tế mỗi quốc gia phải hội nhập và khi mở cửa hội nhập phải có tiềm lực lớn mạnh về mọi mặt. Nhưng làm thế nào có thể hoà nhập nền tài chính của một quốc gia với phần còn lại của thế giới? Điều này sẽ phải nhờ vào hệ thống NHTM vì hệ thống này có khả năng cung cấp nhiều loại hình dịch vụ khác nhau hỗ trợ cho việc thu hút đầu tư từ bên ngoài vào trong nước cũng như trong nước ra bên ngoài theo các hình thức: thanh toán quốc tế, nghiệp vụ hối đoái, cho vay uỷ thác đầu tư…Hoạt động của NHTM giúp cho luồng vốn ra, vào một cách hợp lý, đưa nền tài chính nước nhà bắt kịp với nền tài chính quốc tế. Đây là một trong những điều tiên quyết cho tiến trình hội nhập kinh tế ở các quốc gia trên thế giới.  NHTM là công cụ để Nhà nước điều tiết vĩ mô nền kinh tế. Một trong những con đường dẫn đến lạm phát của nền kinh tế là lạm phát qua con đường tín dụng. Khi xảy ra lạm phát, Ngân hàng trung ương sẽ tăng tỉ lệ dự trữ bắt buộc, lãi suất tái chiết khấu hoặc tham gia vào nghiệp vụ thị trường mở, thông qua ngân hàng thương mại để thay đổi lượng tiền trong lưu thông. Các NHTM sẽ kiểm soát lạm phát thông qua các hoạt động tín dụng. Từ đó, ngân hàng xác định hướng đầu tư vốn và đề ra các biện pháp xử lý những tác động xấu ảnh hưởng đến nền kinh tế, làm cho quá trình tái sản xuất diễn ra liên tục, góp phần điều hoà, lưu thông tiền tệ, ổn định sức mua của đồng tiền, kiềm chế lạm phát. 1.1.1.3. Hoạt động của ngân hàng thương mại.  Huy động vốn. Đây là hoạt động đầu tiên, sự khởi đầu cho hoạt động của ngân hàng. Với hoạt động huy động vốn, ngân hàng đã đóng vai trò là nhân tố tập hợp các nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi trong xã hội thông qua các hình thức: - Nhận tiền gửi của các cá nhân và tổ chức kinh tế. Đây là nguồn tiền chiếm tỷ trọng chủ yếu trong cơ cấu nguồn vốn huy động của ngân hàng. - Nguồn đi vay: Trong quá trình kinh doanh, đôi khi ngân hàng cũng lâm vào tình trạng thiếu hụt vốn tạm thời để đáp ứng nhu cầu thanh toán chi trả hay nhu cầu vay vốn của khách hàng. Khi đó, NHTM có thể vay Ngân hàng nhà nước, vay trên thị trường liên ngân hàng, vay của các tổ chức tín dụng khác…Đây là nguồn vốn rất cần thiết và quan trọng, vì nó đáp ứng nhu cầu kịp thời và đảm bảo cho hoạt động của ngân hàng được diễn ra một cách liên tục. - Ngoài ra ngân hàng còn có hoạt động nhận uỷ thác, thông qua đó ngân hàng có thêm vốn từ dịch vụ uỷ thác.  Sử dụng vốn. Vốn huy động sẽ được ngân hàng đem đầu tư vào các khoản mục tài sản khác nhau, nhằm mang lại lợi nhuận cho ngân hàng. Ngân hàng thường sử dụng vốn huy động qua các hình thức: - Hoạt động tín dụng: đây là hoạt động đem lại lợi nhuận chủ yếu cho các ngân hàng, là hoạt động cơ bản của ngân hàng. Tuy nhiên, hoạt động tín dụng lại chứa rất nhiều rủi ro, ảnh hưởng quan trọng đến hoạt động của ngân hàng. - Các hoạt động đầu tư khác: các hoạt động đầu tư rất đa dạng và góp phần làm tăng thêm thu nhập cho các ngân hàng. Các ngân hàng có thể tham gia vào hoạt động góp vốn, mua cổ phần của các công ty, liên doanh liên kết, mua bán chứng khoán, cổ phiếu, trái phiếu…nhằm đa dạng hoá danh mục đầu tư, giảm thiểu rủi ro, đem lại lợi nhuận cho các ngân hàng.  Dịch vụ thanh toán và ngân quỹ. Để đảm bảo lưu thông và tăng độ an toàn, thuận tiện cho các doanh nghiệp trong quan hệ kinh doanh, các ngân hàng thương mại thực hịên dịch vụ thu, chi hộ và thực hiện các dịch vụ thanh toán khác mà Ngân hàng nhà nước quy định. Ngoài ra, các NHTM còn thực hiện các dịch vụ thu, phát tiền mặt cho khách hàng, đồng thời tổ chức và tham gia vào hệ thống thanh toán nội bộ và hệ thống thanh toán liên ngân hàng trong nước và quốc tế. Những hoạt động này ngoài việc mang lại thu nhập cho ngân hàng còn có tác dụng thu hút khách hàng gửi tiền vào tài khoản ngân hàng, từ đó thu hút khách hàng cho các hoạt động tài chính.  Các hoạt động khác. Để tạo ra lợi thế kinh doanh cũng như tận dụng mọi khả năng vốn có của mình, các NHTM ngoài các hoạt động cơ bản trên còn thực hiện các hoạt động khác như: kinh doanh ngoại hối và vàng, nghiệp vụ uỷ thác và đại lý, bảo lãnh thanh toán, tư vấn và các dịch vụ khác liên quan đến hoạt động ngân hàng theo quy định của pháp luật. 1.1.2. Hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại. Tín dụng là hoạt động kinh doanh chủ yếu của NHTM để tạo ra lợi nhuận. Doanh thu từ hoạt động tín dụng phải đủ bù đắp chi phí tiền gửi, chi phí dự trữ, chi phí kinh doanh và quản lý, chi phí vốn trôi nổi, chi phí thuế các loại và các chi phí rủi ro đầu tư khác. Kinh tế càng phát triển, doanh số từ hoạt động tín dụng của các ngân hàng thương mại càng tăng nhanh và ngày càng có nhiều loại hình tín dụng. Ở các nước đang phát triển như Việt Nam, cho vay ngắn hạn vẫn chiếm bộ phận lớn hơn cho vay dài hạn, xuất phát từ chỗ thiếu an toàn của các khoản đầu tư dài hạn ( trong đó có các tác nhân chủ yếu như tình hình tăng trưởng, lạm phát,...) Khi một ngân hàng được thành lập, hoạt động tín dụng là hoạt động kinh doanh chính mang lại lợi nhuận cho ngân hàng. Do đó, điều mà ngân hàng quan tâm chính là vấn đề lợi tức và mức độ rủi ro của khoản cho vay, đồng thời phải làm sao huy động được càng nhiều tiền càng tốt để phục vụ nhu cầu cho vay. Hoạt động tín dụng có vai trò rất quan trọng đối với NHTM. Đó là một lĩnh vực phức tạp và thường xuyên biến động theo những biến chuyển của môi trường kinh tế. Để hiểu nó, chúng ta cần tìm hiểu những nét đặc trưng quan trọng của hoạt động này. 1.1.2.1. Khái niệm về hoạt động tín dụng. Tín dụng là hình thức tài trợ của ngân hàng cho khách hàng trên cơ sở tín nhiệm . Theo Luật các tổ chức tín dụng của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, điều 49 ghi “Tổ chức tín dụng được cấp tín dụng cho tổ chức, cá nhân dưới các hình thức cho vay, chiết khấu thương phiếu và giấy tờ có giá khác, bảo lãnh, cho thuê tài chính và các quy định khác của Ngân hàng Nhà nước”. Như vậy, ta thấy hoạt động tín dụng của ngân hàng gồm tất cả các hoạt động tài trợ của ngân hàng cho khách hàng, mang lại thu nhập cho ngân hàng đồng thời ẩn chứa các rủi ro cho ngân hàng. 1.1.2.2. Đặc điểm của hoạt động tín dụng. Hoạt động tín dụng là hoạt động bên phần tài sản trong bảng cân đối kế toán của NHTM. Hoạt động này có những đặc điểm cơ bản sau:  Thứ nhất, đây là hoạt động mang lại thu nhập lớn nhất. Thông thường thì thu nhập từ hoạt động tín dụng mang lại 90% thu nhập cho các ngân hàng thương mại. Thu dự tính từ hoạt động tín dụng phụ thuộc vào quy mô, thời gian và lãi suất và ba yếu tố này có mối liên hệ khăng khít. Các ngân hàng thương mại luôn sử dụng mọi nỗ lực của mình để tăng quy mô tín dụng như mở rộng mạng lưới, đa dạng hoá các loại hình tín dụng, phát triển công nghệ mới nhằm gia tăng tiện ích cho khách hàng, giảm lãi suất hoặc cung cấp các điều kiện ưu đãi…các biện pháp này một mặt làm tăng quy mô, song mặt khác cũng làm tăng chi phí. Do vậy, ngân hàng phải nghiên cứu và xác lập mối quan hệ giữa các biện pháp tăng quy mô với thu nhập ròng từ hoạt động tín dụng thông qua chênh lệch lãi suất biên.  tài sản. Thứ hai, hoạt động tín dụng chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng Thường thì khoản mục tín dụng chiếm 70% tổng tài sản. Với quy mô như vậy, hoạt động tín dụng ảnh hưởng rất nhiều đến chiến lược hoạt động của ngân hàng như chiến lược dự trữ, vay, đầu tư,…  Thứ ba, hoạt động tín dụng mang rủi ro cao nhất. Chính vì hai đặc điểm trên của hoạt động tín dụng nên nếu tổn thất xảy ra sẽ làm giảm thu nhập dự tính và có thể gây thua lỗ hoặc phá sản cho ngân hàng. Do đó, an toàn tín dụng là nội dung chính trong quản lý rủi ro của mọi ngân hàng thương mại. Có hai mối quan hệ giữa rủi ro và sinh lợi trong hoạt động tín dụng. Trước khi tài trợ, mối quan hệ có thể là: rủi ro càng cao, sinh lợi kỳ vọng càng lớn. Tuy nhiên, sau khi tài trợ, quan hệ đó lại là tổn thất càng cao thì sinh lợi càng thấp. Vì hoạt động tín dụng mang lại rủi ro cao nên các ngân hàng thương mại luôn nghiên cứu và tìm các giải pháp để hạn chế rủi ro phát sinh, cách giải quyết và bù đắp các tổn thất xảy ra. 1.1.2.3. Vai trò của họat động tín dụng.  Thứ nhất, tín dụng đáp ứng nhu cầu vốn của nền kinh tế để duy trì quá trình tái sản xuất, đồng thời góp phần đầu tư phát triển kinh tế. Nhu cầu vốn trong hoạt động sản xuất kinh doanh luôn là vấn đề quan trọng đối với mỗi doanh nghiệp. Hoạt động tín dụng góp phần vào quá trình luân chuyển vốn trong nền kinh tế được diễn ra nhanh hơn, hiệu quả hơn để có thể duy trì hoạt động sản xuất kinh doanh được diễn ra liên tục, đồng thời giúp người thừa vốn có thể bảo quản an toàn đồng vốn của mình cũng như có thể kinh doanh kiếm lời.  Thứ hai, tín dụng thúc đẩy quá trình tập trung vốn và tập trung sản xuất. Ngân hàng huy động vốn tạm thời nhàn rỗi trong xã hội rồi thực hiện cho vay đối với các đơn vị kinh tế có nhu cầu vốn phục vụ cho quá trình sản xuất kinh doanh. Đầu tư tập trung là yêu cầu tất yếu của nền kinh tế sản xuất hàng hoá, hạn chế sự lãng phí vốn, tiết kiệm mọi nguồn lực như thời gian, chi phí huy động vốn cho sản xuất. Khi vay vốn ngân hàng, doanh nghiệp phải tôn trọng các hợp đồng tín dụng, phải thực hiện thanh toán lãi và nợ vay đúng hạn. Chính vì vậy đòi hỏi doanh nghiệp sử dụng vốn vay phải quan tâm tới việc nâng cao hiệu quả sử dụng đồng vốn, giảm chi phí sản xuất kinh doanh, tăng lợi nhuận doanh nghiệp, góp phần thúc đẩy sản xuất của nền kinh tế.  Thứ ba, tín dụng tạo điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế. Tín dụng là một công cụ giúp các doanh nghiệp trong nước có đủ năng lực để tham gia vào thị trường thế giới như việc tài trợ mua bán chịu hàng hoá, mở rộng sản xuất, nâng cao chất lượng sản phẩm cho phù hợp yêu cầu về quy mô và chất lượng trên thị trường quốc tế.  Thứ tư, tín dụng là công cụ tài trợ vốn cho các ngành kinh tế kém phát triển và các ngành kinh tế trọng điểm. Thông qua tín dụng ngân hàng, chính phủ có thể tài trợ cho các ngành kinh tế kém phát triển bằng việc cho vay ưu đãi với lãi suất thấp, thời hạn dài, mức vốn lớn. Bên cạnh đó, chính phủ còn tập trung vốn vào việc phát triển các ngành kinh tế mũi nhọn, tạo động lực thúc đẩy các ngành kinh tế khác phát triển theo. Điều này được thể hiện rõ trong chính sách, chiến lược phát triển đất nước từng thời kỳ.  Thứ năm, tín dụng góp phần điều chỉnh cơ cấu kinh tế, chính sách kinh tế. Việc ưu tiên cho vay theo vùng kinh tế hay ngành kinh tế có thể thay đổi cơ cấu kinh tế tuỳ theo chiến lược phát triển trong từng thời kỳ. Ngoài ra, chính phủ cũng có thể thông qua tín dụng để điều chỉnh tỷ lệ lạm phát theo mong muốn. 1.2. RỦI RO TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.2.1. Các loại rủi ro thường gặp trong hoạt động kinh doanh của NHTM. NHTM là loại doanh nghiệp kinh doanh hàng hoá đặc biệt- hàng hoá tiền tệ. Ngân hàng huy động nguồn tiền gửi từ các cá nhân và doanh nghiệp. Với công nghệ ngân hàng cho phép các NHTM có thể chuyển nguồn tiền của mình đầu tư tới các vùng, các thị trường khác nhau ngày càng xa trụ sở chính. Điều này, một mặt cho phép ngân hàng giảm bớt rủi ro thông qua đa dạng hoá khách hàng, đa dạng sản phẩm và thị trường, song mặt khác cũng tăng tính rủi ro do tính biến động lớn trên thị trường thế giới và khu vực, do thông tin sai lệch,… Ngân hàng phải phân loại rủi ro để có thể quản lý nhằm hạn chế rủi ro một cách hiệu quả nhất. Phân chia rủi ro theo nguyên nhân gồm có:  Rủi ro tín dụng: Là khả năng xảy ra những tổn thất ngoài dự kiến của ngân hàng do khách hàng vay không trả đúng hạn, không trả hoặc không trả đầy đủ vốn và lãi.  Rủi ro hối đoái: Khi tỷ giá hối đoái thay đổi vượt quá thay đổi dự tính thì ngân hàng sẽ phải chịu tổn thất này. Loại rủi ro này xảy ra trong hoạt động kinh doanh ngoại tệ của NHTM.  Rủi ro lãi suất: Là khả năng xảy ra tổn thất cho ngân hàng khi lãi suất thay đổi ngoài dự tính. Lãi suất ngân hàng (cả bên tài sản lẫn bên nguồn vốn) thường xuyên biến động với các mức độ khác nhau có thể dẫn đến tổn thất. Rủi ro lãi suất có liên quan chặt chẽ đến rủi ro tín dụng.  Rủi ro thanh khoản: Là khả năng xảy ra tổn thất ngoài dự kiến cho ngân hàng khi có một lượng tiền gửi lớn được rút ra vượt quá dự kiến của ngân hàng. Khi đó, ngân hàng sẽ phải bán các tài sản lỏng với giá rẻ hoặc vay ngân hàng trung ương để thanh toán. Rủi ro thanh khoản cao có thể làm cho ngân hàng phá sản.  Rủi ro tồn đọng vốn: Là rủi ro xảy ra khi vốn của ngân hàng bị tồn đọng lớn, không cho vay và đầu tư được làm thu nhập của ngân hàng giảm sút.  Rủi ro khác: Các rủi ro khác là khả năng xảy ra cướp ngân hàng, nhầm lẫn trong thanh toán, hoả hoạn, lỗi công nghệ… 1.2.2. Quan niệm về rủi ro tín dụng. Rủi ro tín dụng gắn liền với hoạt động quan trọng nhất, có quy mô lớn nhất của NHTM- hoạt động tín dụng. Khi cho vay, ngân hàng cố gắng phân tích các yếu tố của người vay sao cho độ an toàn là cao nhất. Và nhìn chung, ngân hàng chỉ cho vay khi thấy an toàn. Tuy nhiên, dù một người có tài giỏi đến mấy thì cũng không thể dự đoán chính xác các vấn đề sẽ xảy ra. Khi khách hàng không trả nợ đúng hạn, không trả hoặc không trả đầy đủ vốn và lãi cho ngân hàng thì rủi ro tín dụng sẽ xảy ra.. Trên quan điểm quản lý toàn bộ ngân hàng, rủi ro tín dụng là không thể tránh khỏi, là khách quan. Đây là loại rủi ro lớn nhất, thường xuyên xảy ra và gây hậu quả nặng nề nhất. Nhiều quan điểm nhất trí rằng, rủi ro tín dụng là bạn đường trong kinh doanh, có thể đề phòng, hạn chế chứ không thể loại trừ. Do vậy, rủi ro dự kiến luôn được xác định trước trong chiến lược hoạt động chung của ngân hàng. 1.2.3. Biểu hiện của rủi ro tín dụng. Khi cấp tín dụng cho khách hàng, các ngân hàng thương mại đều mong muốn khoản tín dụng được hoàn trả đầy đủ và đúng thời hạn như đã thoả thuận. Chính vì thế, sau khi cấp tín dụng , NHTM thực hiện theo dõi, giám sát việc sử dụng vốn vay của khách hàng. Nếu thấy có biểu hiện sử dụng vốn sai mục đích hoặc có sự khác thường mà có thể dẫn đến việc không hoàn trả được vốn vay của khách hàng, NHTM phải tìm biện pháp ngăn ngừa, can thiệp kịp thời. Các biểu hiện thường gặp dẫn đến rủi ro tín dụng là: - Khách hàng trì hoãn nộp báo cáo tài chính hoặc cố tình không cung cấp những thông tin mà ngân hàng yêu cầu. - Sử dụng vốn vay sai mục đích ban đầu. - Số tiền gửi giảm sút. - Chậm trễ hoặc cố tình trì hoãn những cuộc viếng thăm, kiểm tra cơ sở sản xuất kinh doanh của cán bộ ngân hàng, có ý không hợp tác hay lạnh nhạt với ngân hàng ngay sau khi nhận được vốn vay. - Khách hàng có ý xin hoãn nợ hoặc chậm trễ trong việc thanh toán lãi định kỳ, hoàn trả nợ vay ngân hàng chậm hoặc quá kỳ hạn, không trả được như cam kết. Các dấu hiệu trên là biểu hiện của những khó khăn về mặt tài chính của khách hàng đi vay, do đó có thể gây ra rủi ro tín dụng. Vì vậy, chúng là cơ sở để ngân hàng tìm biện pháp điều chỉnh và ngăn chặn kịp thời, tránh những khoản nợ quá hạn có thể gây ra rủi ro tín dụng. 1.2.4. Sự cần thiết phải phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng. Chúng ta cần phải phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng vì loại rủi ro này xảy ra sẽ gây ra những tác hại nghiêm trọng đối với không chỉ bản thân ngân hàng mà còn đối với khách hàng và cả nền kinh tế.  Đối với NHTM: Rủi ro tín dụng làm giảm thu nhập của ngân hàng, từ đó làm cho việc mở rộng tín dụng sẽ gặp nhiều khó khăn. Các khoản cho vay bị mất hoặc khó đòi làm cho ngân hàng không thu được lãi trong khi đó ngân hàng vẫn phải trả lãi cho các khoản tiền gửi. Rủi ro tín dụng lớn làm ngân hàng phải trích nhiều tiền cho dự phòng rủi ro, giảm thu nhập của ngân hàng. Ngoài ra, rủi ro tín dụng có thể gây ra rủi ro thanh khoản cho ngân hàng, mất lòng tin của khách hàng đối với ngân hàng, ở mức độ lớn sẽ dẫn đến nguy cơ phá sản ngân hàng.  Đối với người đi vay: Khi rủi ro tín dụng xảy ra thì các chủ thể kinh doanh dựa chủ yếu vào ngân hàng sẽ bị giảm hoặc mất nguồn vốn đầu tư và mở rộng quy mô, nhất là ảnh hưởng tới tính liên tục của quá trình sản xuất có thể dẫn đến phá sản doanh nghiệp. Đối với chủ thể gây ra rủi ro tín dụng thì mất đi hẳn nguồn vốn từ ngân hàng đó và khó có thể tìm được nguồn vốn trong nền kinh tế vì uy tín về khả năng trả nợ không còn.  Đối với nền kinh tế: Trong nền kinh tế thị trường, hoạt động kinh doanh của ngân hàng liên quan đến rất nhiều thành phần kinh tế, từ cá nhân, hộ gia đình đến các tổ chức kinh tế, các tổ chức tín dụng. Vì vậy, kết quả kinh doanh của ngân hàng phản ánh kết quả kinh doanh của nền kinh tế và đương nhiên nó phụ thuộc vào tình hình sản xuất kinh doanh của khách hàng. Một khi rủi ro tín dụng xảy ra, không chỉ ngân hàng bị thiệt hại mà người đi vay cũng bị thua lỗ, làm giảm lợi ích của nền kinh tế, nạn thất nghiệp gia tăng. Ngân hàng không huy động được nhiều vốn từ khách hàng nữa, từ đó sẽ làm giảm đầu tư trong nền kinh tế. Mặt khác, khi một ngân hàng chịu rủi ro tín dụng lớn, mất uy tín và phá sản có thể sẽ làm cả hệ thống ngân hàng bị chao đảo gây khủng hoảng cho toàn bộ nền kinh tế. 1.2.5. Chỉ tiêu đánh giá độ rủi ro trong hoạt động tín dụng của NHTM. Rủi ro tín dụng gây ra tổn thất cho NHTM, vì thế ngân hàng phải quản lý rủi ro tín dụng nhằm hạn chế đến mức thấp nhất các tổn thất có thể xảy ra. Từ những nguyên nhân nảy sinh rủi ro tín dụng, NHTM cụ thể hoá thành những chỉ tiêu hoặc dấu hiệu chính phát sinh trong hoạt động tín dụng, phản ánh rủi ro tín dụng của NHTM như sau: 1.2.5.1. Nợ quá hạn và tỷ lệ nợ quá hạn trên tổng dư nợ: Nợ quá hạn là khoản nợ mà khách hàng không trả được khi đã đến hạn thoả thuận ghi trên hợp đồng tín dụng. Khi một món nợ không được trả khi đến hạn thì toàn bộ nợ gốc còn lại của hợp đồng sẽ được chuyển thành nợ quá hạn. 1.2.5.2. Nợ xấu và tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ: Nợ xấu là khoản nợ quá hạn và kèm theo một số tiêu chí khác như quá một kỳ gia hạn nợ, hoặc không có tài sản đảm bảo, hoặc tài sản không bán được, con nợ bị thua lỗ triền miên, phá sản,… Ngoài ra, theo quyết định 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/4/2005 cũng có thể phân loại nợ thành 5 nhóm, trong đó, nhóm 2 là nợ cần chú ý và nhóm 3,4,5 là nợ xấu (nợ dưới tiêu chuẩn, nợ nghi ngờ và nợ có khả năng mất vốn). Ta cũng có thể phân loại nợ thành 5 nhóm như vậy để đánh giá độ rủi ro tín dụng của NHTM.  Nhóm 1 (Nợ đủ tiêu chuẩn) bao gồm: Các khoản nợ trong hạn mà tổ chức tín dụng đánh giá là có đủ khả năng thu hồi đầy đủ cả gốc và lãi đúng thời hạn. Các khoản nợ khác được phân loại vào nhóm 1 theo quy định tại khoản 2, điều 6 của QĐ này.  Nhóm 2 (Nợ cần chú ý) bao gồm: Các khoản nợ quá hạn dưới 90 ngày; các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ trong hạn theo thời hạn nợ đã cơ cấu lại. Các khoản nợ khác được phân loại vào nhóm 2 theo quy định tại khoản 3, khoản 4, điều 6 của QĐ này.  Nhóm 3 (Nợ dưới tiêu chuẩn) bao gồm: Các khoản nợ quá hạn từ 90 đến 180 ngày; các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ quá hạn dưới 90 ngày theo thời hạn đã cơ cấu lại. Các khoản nợ khác được phân loại vào nhóm 3 theo quy định tại khoản 3, khoản 4, điều 6 của QĐ này.  Nhóm 4 (Nợ nghi ngờ) bao gồm: Các khoản nợ quá hạn từ 181 đến 360 ngày; các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ quá hạn từ 90 đến 180 ngày theo thời hạn đã cơ cấu lại. Các khoản nợ khác được phân loại vào nhóm 4 theo quy định tại khoản 3, khoản 4, điều 6 của QĐ này.  Nhóm 5 (Nợ có khả năng mất vốn) bao gồm: Các khoản nợ quá hạn trên 360 ngày; các khoản nợ khoanh chờ chính phủ xử lý; các khoản nợ đã cơ cấu lại thời hạn trả nợ quá hạn trên 180 ngày theo thời hạn đã được cơ cấu lại. Các khoản nợ khác được phân loại vào nhóm 5 theo quy định tại khoản 3, khoản 4, điều 6 của QĐ này. Các chỉ tiêu trên có liên quan chặt chẽ với nhau và phản ánh các mức độ rủi ro tín dụng khác nhau. Đối với ngân hàng, việc khách hàng không trả nợ đúng hạn có liên quan đến thanh khoản và rủi ro thanh khoản. Ngân hàng phải mất chi phí gia tăng để tìm nguồn mới để chi trả cho các khoản tiền gửi và cho vay đúng hợp đồng. Nợ khó đòi là một lời cảnh báo cho ngân hàng, hy vọng thu lại tiền vay rất mong manh nên ngân hàng cần có những biện pháp hữu hiệu để giải quyết. Tuy nhiên, các quan điểm khác nhau cũng như các cách tính toán khác nhau về kỳ hạn nợ và nợ quá hạn có thể làm các chỉ tiêu trên bị biến dạng. - Thứ nhất là do định kỳ hạn nợ không đúng. Nhiều cán bộ ngân hàng khi cho vay không quan tâm đúng đắn đến chu kỳ kinh doanh của người vay, hoặc do nguồn ngắn hạn là chủ yếu nên họ đặt kì hạn nợ ngắn hạn để hạn chế rủi ro. Một khi kì hạn nợ không phù hợp với chu kỳ thu nhập của người vay nên dĩ nhiên là khi đến hạn, người vay sẽ không thể trả được nợ, gây nợ quá hạn. Khoản nợ này trở thành mối đe doạ tài chính đối với người vay, buộc họ phải trả thêm khoản “phụ phí” để được gia hạn nợ, hoặc phải chịu lãi suất phạt. - Thứ hai là do đảo nợ hoặc giãn nợ. Nhiều khoản nợ người vay không có khả năng hoàn trả có thể được đảo nợ làm giảm nợ quá hạn so với thực tế. Để che dấu đối với cấp trên, hoặc để không phải chịu lãi phạt, cán bộ ngân hàng và khách hàng có thể tự thoả thuận với nhau để được đảo nợ- cho vay khoản mới để trả nợ cũ. Cán bộ ngân hàng cũng có thể thực hiện giãn nợ đối với khoản nợ mà chắc chắn người vay không trả được. Những hành vi này làm cho chỉ tiêu nợ quá hạn và nợ khó đòi không phản ánh đầy đủ rủi ro tín dụng, gây khó khăn cho quá trình quản lý và hạn chế rủi ro tín dụng. - Thứ ba là do chính sách cho vay. Rất nhiều các khoản cho vay khó đòi không thể thu hồi bằng phát mại tài sản (các khoản nợ của doanh nghiệp Nhà nước, của người nghèo,…) Hầu hết những khoản nợ này được cho vay theo chỉ thị của chính phủ. Khi chính phủ chưa có biện pháp giải quyết thì nó vẫn tồn tại trên bảng cân đối kế toán của ngân hàng. Nhiều ngân hàng khi được chính phủ đồng ý thì xếp nó vào nhóm nợ Khoanh. Tuy nhiên, các khoản nợ này thực sự đe doạ thu nhập của ngân hàng nếu chính phủ không có cách để bù đắp. Ngoài các chỉ tiêu để phản ánh mức độ rủi ro tín dụng nêu trên, các NHTM còn sử dụng các hình thức đo rủi ro khác như: - Điểm của khách hàng: Qua phân tích tình hình tài chính, năng lực sản xuất kinh doanh, hiệu quả dự án, hồ sơ về các khoản vay trong quá khứ của khách hàng…ngân hàng sẽ lập hồ sơ về khách hàng, xếp loại và cho điểm. Nếu khách hàng được cho điểm cao, rủi ro tín dụng thấp và ngược lại. - Các khoản cho vay có vấn đề: Có thể chưa đến hạn và chưa được coi là nợ quá hạn, song trong quá trình theo dõi, cán bộ ngân hàng nhận thấy nhiều khoản cho vay đang có dấu hiệu kém lành mạnh, có nguy cơ trở thành nợ quá hạn. Khoản cho vay có vấn đề được xây dựng dựa trên quy định của ngân hàng. - Tính kém đa dạng của tín dụng: Đa dạng hoá là một biện pháp hạn chế rủi ro. Nếu ngân hàng tập trung tài trợ cho một nhóm khách hàng, một ngành hay một vùng hẹp thì nguy cơ về rủi ro tín dụng sẽ cao hơn so với đa dạng hoá. - Mất ổn định vĩ mô: Chính sách thường xuyên thay đổi, lạm phát cao, tình hình chính trị mất ổn định, vùng hay bị thiên tai… đều tạo nên mất ổn định vĩ mô, tác động xấu đến người vay, từ đó ảnh hưởng đến các khoản nợ của ngân hàng. Do vậy, mất ổn định vĩ mô cũng được ngân hàng xem là một nội dung phản ánh rủi ro tín dụng. 1.2.6. Biện pháp quản lý rủi ro tín dụng.  Sàng lọc, lựa chọn khách hàng. Sự lựa chọn đối nghịch trong thị trường cho vay đòi hỏi ngân hàng phải sàng lọc và lựa chọn khách hàng vay. Để hạn chế rủi ro tín dụng, ngân hàng phải lựa chọn những khách hàng có triển vọng tốt ra khỏi những khách hàng có triển vọng xấu. Để việc sàng lọc khách hàng vay có hiệu quả, ngân hàng phải tập hợp các thông tin tin cậy về những khách hàng vay tiền. Trên cơ sở các thông tin thu thập được tiến hành tính điểm tín dụng, đánh giá xếp loại khách hàng có triển vọng tốt hay xấu để quyết định cho vay. Đối với những khách hàng vay là cá nhân, ngân hàng cần tập hợp các thông tin về tuổi, thu nhập, tài sản, tình trạng hôn nhân, thời gian làm việc, những khoản tiền đã vay cũng như các khoản nợ còn tồn đọng…bằng cách phỏng vấn trực tiếp người vay, hoặc những người có liên quan đến khách hàng. Đối với các khoản vay kinh doanh của các doanh nghiệp, ngoài các thông tin về tình hình tài chính, tính khả thi của phương án sản xuất kinh doanh…ngân hàng cũng cần tìm hiểu thêm về khả năng cạnh tranh, cách thức sử dụng tiền vay cũng như kế hoạch trong tương lai của doanh nghiệp. Nói chung, dù cho vay đối với cá nhân hay tổ chức, ngân hàng cũng cần phải tinh tường trong việc lựa chọn khách hàng vay.  Theo dõi, giám sát việc sử dụng vốn vay. Để hạn chế việc khách hàng sử dụng vốn vay sai mục đích hoặc sử dụng vốn vào các hoạt động kinh doanh có mức độ rủi ro cao, dẫn đến ít có khả năng thanh toán nợ cho ngân hàng. Trong quá trình cho vay, cán bộ tín dụng phải thường xuyên kiểm tra, đánh giá tình hình sử dụng vốn vay của khách hàng, cũng như việc tuân thủ các điều khoản đã ghi trong hợp đồng tín dụng. Nếu khách hàng không tuân thủ có thể sử dụng các biện pháp cưỡng chế thi hành những quy định của hợp đồng. Điều này đòi hỏi việc soạn thảo hợp đồng tín dụng phải rõ ràng, đầy đủ, chính xác, chặt chẽ.  Xây dựng mối quan hệ lâu dài với khách hàng. Xây dựng mối quan hệ lâu dài với khách hàng là một trong những nguyên lý quan trọng trong quản lý rủi ro tín dụng. Đây là một cách để ngân hàng thu được thông tin về khách hàng vay tiền của họ. Nếu một khách hàng đã có quan hệ lâu dài với ngân hàng trong các hoạt động gửi hoặc vay tiền, thì thông qua các giao dịch phát sinh trên các tài khoản tiền gửi, tiền vay, cán bộ tín dụng có thể biết được nhu cầu về khả năng thanh toán của khách hàng, biết khi nào khách hàng cần vay tiền cũng như lịch sử tín dụng của khách hàng. Qua đó, ngân hàng có thể giảm thiểu các chi phí liên quan đến việc thu thập thông tin, đánh giá tiềm năng và rủi ro tín dụng của khách hàng. Việc phân loại khách hàng theo mức độ rủi ro tín dụng cũng trở nên dễ dàng và đảm bảo chính xác hơn. Còn đối với khách hàng, mối quan hệ lâu dài với ngân hàng cũng giúp họ dễ vay tiền ngân hàng với lãi suất thấp hơn, vì ngân hàng không phải bỏ ra chi phí để thu thập thông tin đánh giá khách hàng. Sự gắn bó chặt chẽ giữa ngân hàng và khách hàng đem lại lợi ích cho cả hai. Để tạo ra sự gắn bó này, ngân hàng có thể nắm giữ những cổ phần trong các doanh nghiệp mà họ cho vay. Hoặc, ngân hàng cũng có thể đưa ra một hạn mức tín dụng cho khách hàng, theo đó ngân hàng cam kết cho khách hàng vay một lượng vốn nhất định vào một thời điểm nhất định trong tương lai. Đổi lại, khách hàng phải định kỳ cung cấp cho ngân hàng các thông tin về tình hình thu nhập, về hoạt động kinh doanh, tài sản Có và tài sản Nợ…Cam kết này có lợi cho cả hai bên: khách hàng yên tâm sẽ được vay khi cần tiền, còn ngân hàng có thể giảm thiểu được các chi phí thu thập thông tin đánh giá khách hàng. Đồng thời việc quản lý rủi ro, hạn chế rủi ro tín dụng cũng trở nên dễ dàng và hiệu quả hơn.  Bảo đảm tiền vay. Đảm bảo tiền vay là một trong những công cụ quan trọng để quản lý rủi ro tín dụng. Biện pháp đảm bảo tiền vay hữu hiệu nhất là sử dụng tài sản thế chấp. Trong trường hợp khách hàng không hoàn trả được vốn vay và lãi, ngân hàng có thể bán các tài sản đảm bảo để bù lại tổn thất do món vay gây nên. Ngoài ra, ngân hàng có thể yêu cầu khách hàng mở tài khoản chính tại ngân hàng mình và giữ lại một khoản vốn vay tối thiều, chẳng hạn 5% giá trị món vay để dự phòng. Bằng cách này, ngân hàng có thể giám sát người vay một cách hiệu quả hơn, đồng thời giúp tăng khả năng thanh toán tiền vay. Trong trường hợp nếu người vay vỡ nợ, ngân hàng lấy phần đó để bù đắp một phần tổn thất.  Bảo hiểm tín dụng. Trong hoạt động tín dụng, có những khách hàng vay mang nhiều rủi ro, nhưng lại là những khách hàng tiềm năng. Để có thể hạn chế rủi ro mà vẫn giữ được khách hàng, ngân hàng có thể chuyển rủi ro cho các chủ thể khác có khả năng chịu đựng rủi ro bằng cách thực hiện bảo hiểm tín dụng.  Hạn chế cho vay. Để hạn chế rủi ro tín dụng, đôi khi ngân hàng cũng cần phải từ chối cung cấp tín dụng cho những khách hàng có nhu cầu vay và sẵn sàng trả lãi suất cao, hoặc chỉ đáp ứng một phần trong toàn bộ nhu cầu vay của khách hàng. Việc từ chối cho vay đối với khách hàng là nhằm ngăn ngừa hiện tượng lựa chọn đối nghịch trong cho vay vì những khách hàng có khả năng vay vốn với lãi suất cao thưòng là những khách hàng sử dụng vốn vay vào những dự án có mức độ rủi ro cao.  Lập quỹ dự phòng rủi ro. Quỹ dự phòng rủi ro tạo ra nguồn bù đắp tổn thất cho ngân hàng khi có rủi ro xảy ra. Do đó, việc lập quỹ dự phòng rủi ro được coi là một trong những biện pháp quan trọng để tăng khả năng chống đỡ rủi ro của ngân hàng, giúp ngân hàng có thể ổn định và phát triển được hoạt động kinh doanh trong trường hợp có rủi ro xảy ra. Mỗi ngân hàng thương mại phải trích lập dự phòng rủi ro đúng và đủ theo quy định của ngân hàng nhà nước. 1.3. NGUYÊN NHÂN GÂY RA RỦI RO TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.3.1. Nguyên nhân từ phía ngân hàng. Các ngành nghề của các doanh nghiệp đi vay là rất đa dạng. Do đó, hầu hết các
- Xem thêm -