Tài liệu Giải pháp chính sách đào tạo nghề cho thanh niên trên địa bàn quận ngũ hành sơn, thành phố đà nẵng.

  • Số trang: 79 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 330 |
  • Lượt tải: 0
dangvantuan

Tham gia: 02/08/2015

Mô tả:

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI HOÀNG TRÂN CHÂU GIẢI PHÁP CHÍNH SÁCH ĐÀO TẠO NGHỀ CHO THANH NIÊN TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN NGŨ HÀNH SƠN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG Chuyên ngành : Chính sách công Mã số : 834.04.02 LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC PGS.TS HỒ VIỆT HẠNH HÀ NỘI, Năm 2018 1 MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Có thể nói chất lượng nguồn nhân lực là một trong những yếu tố quyết định năng lực cạnh tranh của mỗi quốc gia. Chất lượng này phụ thuộc vào đào tạo nghề. Văn kiện Đại hội Đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ XI khi đánh giá về giáo dục và đào tạo (trong đó có đào tạo nghề) nhấn mạnh những hạn chế yếu kém của công tác này, đó là “Chất lượng giáo dục và đào tạo chưa đáp ứng yêu cầu phát triển, nhất là đào tạo nguồn nhân lực trình độ cao vẫn còn hạn chế; chưa chuyển mạnh sang đào tạo theo nhu cầu của xã hội. Hiện nay hầu hết các chương trình, nội dung, phương pháp dạy và học cũ, chưa có đổi mới; đào tạo không hợp lý giữa các lĩnh vực, ngành nghề đào tạo; chất lượng giáo dục giảm, chưa thực sự đáp ứng được yêu cầu của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0. Đại hội Đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ XI cũng khẳng định trong ba đột phá chiến lược phát triển trong những năm tới của Việt Nam là cải cách hành chính, xây dựng đồng bộ hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế, và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu của công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá, hội nhập quốc tế của đất nước khi nâng cao chất lượng nguồn nhân lực có ý nghĩa quan trọng, quyết định. Đào tạo nghề cho thanh niên nói đang là vấn đề xã hội mà các quốc gia đều quan tâm. Chính sách đào tạo nghề là chính sách lớn, có ý nghĩa là đòn bẩy đối với mỗi nền kinh tế. Có thể nói, hiệu quả của việc đào tạo nghề gắn liền với sự quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, gắn với sự phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia. Đối với Việt Nam, vấn đề đào tạo nghề cũng không nằm ngoài quỹ đạo đó. Trong chiến lược 2 nâng cao chất lượng nguồn nhân lực nói chung thì nguồn lực ở độ tuổi thanh niên có vai trò và giữ vị trí trung tâm. Bước sang thế kỷ XXI, với những cơ hội và thách thức, trên cơ sở nhìn nhận sâu sắc những ưu điểm và những biểu hiện phức tạp của thanh niên hiện nay, Nghị quyết Đại Hội IX của Đảng đã xác định đối với thế hệ trẻ cần phải “chăm lo giáo dục, bồi dưỡng, đào tạo phát triển toàn diện về chính trị, tư tưởng đạo đức lối sống, văn hóa, sức khỏe, nghề nghiệp giải quyết việc làm, phát triển tài năng và sức sáng tạo, phát huy vai trò xung kích trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Quận Ngũ Hành Sơn là một trong các quận nằm trong vùng kinh tế trọng điểm của thành phố Đà Nẵng, là miền đất đầy tiềm năng về phát triển kinh tế. Trong những năm qua, cùng với quá trình phát triển của cả thành phố, quận Ngũ Hành Sơn có những bước chuyển mạnh mẽ về nhiều mặt, đặc biệt là sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế đã đạt nhiều thành tựu quan trọng thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội, chính trị ổn định. Trong những thành tựu đó có vấn đề đào tạo cho người lao động nói chung, thanh niên nói riêng. Tuy nhiên, hiện nay công tác đào tạo nghề cho thanh niên còn nhiều bất cập và khó khăn, thiếu định hướng ngành nghề cụ thể, khó khăn trong tiếp cận việc làm, quan hệ cung cầu trong thị trường lao động cho thanh niên đang mất cân đối... luôn được xã hội quan tâm. Do thị trường việc làm tại địa phương còn nhiều yếu kém và nếu tiếp tục ở lại địa phương thì sẽ thất nghiệp và thiếu việc nên phần lớn thanh niên trên địa bàn đã rời quê hương đi làm ăn xa, nguyên nhân là do quá trình thu hồi đất nông nghiệp, chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp nhằm thực hiện công tác giải tỏa mặt bằng, phục vụ các dự án về hạ tầng, dân sinh trên địa bàn và các nhà máy, xí nghiệp hiện nay đang đầu tư, áp dụng các công nghệ kỹ thuật, công nghệ thông tin tiên tiến nên sử dụng ít lao động; bên cạnh đó là trình độ học vấn; kỹ năng nghề nghiệp, và tác phong, ý thức kỷ luật còn có nhiều bất cập chưa đáp ứng các 3 điều kiện của doanh nghiệp. Mặt khác, một bộ phận thanh niên ở địa phương này không có việc làm do trình độ học vấn và tay nghề chuyên môn còn thấp, chưa thực sự thay đổi suy nghĩ, tập quán sống, chưa thích ứng với yêu cầu của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập kinh tế quốc tế. Trong khi đó, các cơ sở sản xuất kinh doanh trên địa bàn chưa coi thanh niên trong xã là lực lượng lao động chủ chốt, nên chưa nhiệt tình và tin cậy để phổ biến nghề mới, đào tạo nghề, tư vấn nghề và hỗ trợ các kỹ năng nghề cho thanh niên còn hạn chế. Do đó, tỷ lệ thiếu việc làm và tình trạng thất nghiệp của thanh niên có xu hướng ngày càng tăng, mức thu nhập thấp đã dẫn tới con đường thanh niên phải tự tìm kiếm việc làm mới, không ít trường hợp bị lừa gạt hoặc phải làm những công việc ở mức lương thấp hoặc những việc làm trái với pháp luật, đạo đức của xã hội: mại dâm, trộm cắp, cướp giật, lừa đảo, buôn bán ma túy mà mục đích chỉ vì cuộc sống sinh tồn thiếu việc làm và thất nghiệp. Như vậy, căn cứ vào những cơ sở trên, rõ ràng rằng đào tạo nghề giải quyết việc làm cho thanh niên ở quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng đang kéo theo hàng loạt những vấn đề xã hội cấp bách cần được giải quyết Xuất phát từ nhận định trên, Tôi quyết định lựa chọn và nghiên cứu đề tài “Giải pháp chính sách đào tạo nghề cho thanh niên trên địa bàn quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng” là yêu cầu khách quan, cấp thiết, có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc làm luận văn thạc sĩ, chuyên ngành Chính sách công của mình. 2. Tình hình nghiên cứu Trong quá trình nghiên cứu cho thấy những vấn đề liên quan đến đào tạo nghề, giải quyết việc làm… đã được nhiều người quan tâm nghiên cứu ở nhiều góc độ khác nhau. ..ở nhiều cấp độ, khía cạnh khác nhau: Tác giả Phan Chính Thức đã nghiên cứu về “Những giải pháp phát 4 triển đào tạo nghề góp phần đáp ứng nhu cầu nhân lực cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa” trong đó có đề xuất những khái niệm, cơ sở lý luận mới của đào tạo nghề, về lịch sử đào tạo nghề và giải pháp phát triển đào tạo nghề góp phần đáp ứng nhu cầu nhân lực cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta. Tác giả Nguyễn Viết Sự trong công trình về “Giáo dục nghề nghiệp – những vấn đề và giải pháp”, đã phân tích, làm rõ những quy định về phát triển nghề nghiệp, hoạt động giáo dục nghề nghiệp... qua đó, tác giả đã tìm ra được những hạn chế, nguyên nhân của những hạn chế trên, đề đề xuất các giải pháp hữu hiệu cho hoạt động giáo dục nghề nghiệp. Nhóm tác giả Mạc Văn Tiến, Đỗ Minh Cương với tác phẩm: Phát triển lao động kỹ thuật ở Việt Nam – Lý luận và thực tiễn, đã hệ thống hóa các vấn đề liên quan đến phát triển thị trường lao động kỹ thuật, những nội dung được đề cập trong nghiên cứu là những vấn đề cần thiết, cấp bách về công tác giáo dục nghề nghiệp, đồng thời tác giả cũng đánh giá đối tượng lao động kỹ thuật cả về số lượng, chất lượng và cơ cấu để đảm bảo hiệu quả đầu tư cho giáo dục và dạy nghề. Đổi mới chương trình giảng dạy, tăng cường đầu tư thiết bị, công nghệ phù hợp với thiết bị, công nghệ của sản xuất, nâng cao chất lượng và chuẩn hóa đội ngũ giáo viên; Nhìn chung, những công trình và bài viết nói trên đã tiếp cận nghiên cứu vấn đề đào tạo nghề, quá trình hội nhập kinh tế quốc tế đến người lao động nói chung và đến vấn đề việc làm, tạo việc làm cho thanh niên ở nhiều góc độ, nhiều địa phương vấn đề tác động của nhiều lĩnh vực khác nhau và gợi mở ra nhiều hướng nghiên cứu mới rất bổ ích. Hiện tại chưa có công trình nghiên cứu nào tập trung nghiên cứu nội dung đào tạo nghề cho thanh niên trên địa bàn quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng. Trong quá trình nghiên cứu tác giả đã học tập kết hợp và chọn 5 lọc những vấn đề được nghiên cứu của các công trình khoa học đã có, vận dụng các hoạt động thực tiễn, kinh nghiệm vốn có của bản thân đã và đang công tác trong lĩnh vực có liên quan đến đào tạo cho thanh niên, tác giả đã khảo sát tình hình lao động thanh niên trên địa bàn toàn quận, từ đó rút ra bài học và kiến nghị những giải pháp nâng cao hiệu quả công tác đào tạo nghề cho thanh niên. 3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 3.1. Mục đích nghiên cứu Nghiên cứu hệ thống hóa những vấn đề lý luận về thực hiện chính sách đào tạo nghề cho thanh niên ở Việt Nam để có cơ sở khoa học đánh giá thực trạng thực hiện chính sách đào tạo nghề cho thanh niên quận Ngũ Hành Sơn và đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách đào tạo nghề cho thanh niên ở nước ta hiện nay. 3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu Luận văn có nhiệm vụ tổng hợp những vấn đề lý luận chung về chính sách đào tạo nghề cho thanh niên. Đánh giá thực trạng thực hiện chính sách đào tạo nghề cho thanh niên tại quận Ngũ Hành Sơn,Thành phố Đà Nẵng Xác định phương hướng và đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện đào tạo nghề cho thanh niên ở Quận Ngũ Hành Sơn nói riêng và Thành phố Đà Nẵng nói chung. 4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4.1. Đối tượng nghiên cứu. Chính sách đào tạo nghề cho thanh niên ở Việt Nam, cụ thể là nghiên cứu giải pháp và công cụ chính sách đào tạo nghề cho thanh niên dưới góc độ 6 khoa học chính sách công. 4.2. Phạm vi nghiên cứu. Nghiên cứu tình hình thực hiện chính sách đào tạo nghề cho thanh niên tại quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng từ năm 2012 đến nay và đề ra giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách đào tạo nghề cho thanh niên ở nước ta trong thời gian tới. Thời gian: Tháng 6 - 8.2018. 5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 5.1. Phương pháp luận Luận văn vận dụng phương pháp duy vật biện chứng và phương pháp duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác – Lê Nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước... về đào tạo nghề cho thanh niên 5.2. Phương pháp nghiên cứu Luận văn sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa, khái quát hóa các tài liệu sẵn có từ các nguồn tài liệu chính thức, từ các công trình nghiên cứu của các tác giả đã nghiên cứu trước đây, các bài viết, tạp chí, sách báo, internet,.. từ các báo cáo của cơ quan chức năng Quận Ngũ Hành Sơn về các vấn đề có liên quan đến đào tạo nghề cho thanh niên; nghiên cứu chính sách công kết hợp giữa nghiên cứu lý thuyết và nghiên cứu thực tế. 6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn 6.1. Ý nghĩa lý luận Ý nghĩa lý luận của luận văn thể hiện ở chỗ các kết quả, kết luận rút ra từ việc nghiên cứu đề tài luận văn góp phần bổ sung, hoàn thiện những vấn đề lý luận về thực hiện chính sách công, thực hiện chính sách đào tạo nghề cho 7 thanh niên ở Việt Nam nói chung và quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng nói riêng. 6.2. Ý nghĩa thực tiễn Thể hiện ở chỗ đã đề xuất các giải pháp thiết thực, các kinh nghiệm góp phần nâng cao hiệu quả tổ chức thực hiện chính sách đào tạo nghề cho thanh niên tại quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng. 7. Kết cấu của luận văn Ngoài phần mở đầu và kết luận, đề tài luận văn gồm 3 chương: Chương 1: Những vấn đề lý luận về chính sách đào tạo nghề cho thanh niên. Chương 2: Thực hiện chính sách đào tạo nghề cho thanh niên từ thực tiễn tại quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng. Chương 3: Phương hướng, giải pháp nâng cao hiệu quả chính sách đào tạo nghề cho thanh niên ở nước ta hiện nay. 8 CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH ĐẠO TẠO NGHỀ CHO THANH NIÊN 1.1. Khái niệm, đặc điểm đào tạo nghề 1.1.1. Khái niệm Nghề Có khá nhiều diễn đạt về khái niệm nghề. Theo tác giả hiểu “Nghề là một hình thức được thể hiện bằng những kiến thức lý thuyết đã học và thực hành để hoàn thành những công việc nhất định. Ngoài ra “Nghề”còn là một hoạt động lao động trong đó, khi được đào tạo, người học có được kiến thức, kỹ năng để làm ra các loại sản phẩm đáp ứng được nhu cầu của con người. Danh mục về diễn giải khái niệm nghề có thể rất dài, nhưng tựu trung lại, nghề nghiệp trong xã hội không phải là một cái gì cố định, cứng nhắc. Nghề nghiệp như một cơ thể sống, có sinh trưởng có phát triển và chết đi. Bên cạnh đó, rất nhiều nghề đã có thời kỳ gần như không thể thiếu trong đời sống xã hội trước đây nay đã mất đi, từ những nghề hoàn toàn thủ công, lao động chân tay (như nghề đóng cối xay lúa tồn tại hàng vài thế kỷ, nhưng khi máy xay sát được đưa vào hoạt động thì nghề này không còn nữa) hoặc sử dụng công nghệ ở trình độ thấp (như nghề trực tổng đài điện thoại tại các cơ quan để nối đến các máy lẻ đã mất đi nhiều năm nay khi công nghệ viễn thông phát triển). Nghề bao gồm nhiều chuyên môn khác nhau. Mỗi chuyên môn là kiến thức, kỹ nẵng trong một lĩnh vực cụ thể và nhất định, nó được hiểu như là một lĩnh vực lao động sản xuất nhỏ hẹp, con người bằng năng lực thể chất và tinh thần của mình làm ra những giá trị vật chất (thực phẩm, lương thực, công cụ lao động…) hoặc giá trị tinh thần (sách báo, phim ảnh, âm nhạc, tranh 9 vẽ…) Từ các cách hiểu trên cho thấy nghề là kết quả của sự phân công lao động xã hội, xã hội phát triển thì ngành nghề cũng thay đổi theo.Và dưới góc độ đào tạo, nghề là toàn bộ các kiến thức, kỹ năng, thái độ, kinh nghiệm nghề nghiệp và các phẩm chất khác. Muốn trở thành một nghề thì ít nhất cũng phải trải qua đào tạo, cho dù là đào tạo dài hạn, bài bản; hoặc hướng dẫn kèm cặp. Xuất phát từ quan niệm như vậy, có tác giả phân loại nghề thành hai nhóm là nghề qua đào tạo và nghề xã hội. Nghề đào tạo là nghề mà muốn nắm vững nó, con người phải có trình độ văn hóa nhất định, được đào tạo hệ thống, bằng nhiều hình thức và được nhận bằng hoặc chứng chỉ. Các nghề được đào tạo được phân biệt với nhau qua các yêu cầu về nội dung chương trình, mức độ chuyên môn và thời gian cần thiết để đào tạo. Nghề xã hội là nghề được hình thành một cách tự phát theo nhu cầu của đời sống xã hội, thường được đào tạo với các chương trình đào tạo ngắn hạn, cũng có thể thực hiện thông qua hướng dẫn, kèm cặp hoặc truyền nghề. Trong hệ thống nghề đào tạo có hai dạng: đào tạo lao động kỹ thuật hệ thực hành và đào tạo lao động chuyên môn, hệ kiến thức hàn lâm. Lao động chuyên môn, hệ kiến thức hàn lâm bao gồm chủ yếu là lao động qua đào tạo ở cấp trình độ đại học, sau đại học, đào tạo thuộc hệ đào tạo nặng hơn về kiến thức hàn lâm, kiến thức lý thuyết và làm các công việc như: nghiên cứu khoa học, phân tích – thống kê kinh tế, giảng viên các trường đại học (không bao gồm các giảng viên kỹ thuật hệ thực hành), nhà quản lý, chuyên gia thuộc các lĩnh vực kinh tế - xã hội khác nhau… Lao động kỹ thuật hệ thực hành là lao động đã được đào tạo qua các cấp trình độ nghề kỹ thuật (dạy nghề), trung cấp kỹ thuật, cao đẳng kỹ thuật 10 thực hành, đại học kỹ thuật thực hành, sau đại học kỹ thuật thực hành. Hệ thống đào tạo này thực hiện việc đào tạo các chuyên ngành về kỹ thuật, công nghệ, nghiệp vụ nhưng đào tạo nặng hơn về thực hành. Lao động này làm các công việc như: kỹ sư công nghệ, kỹ sư kinh tế, kỹ thuật viên, kỹ sư chỉ đạo sản xuất, công nhân kỹ thuật Như vậy có rất nhiều nghề trong xã hội, trong khuôn khổ luận văn chỉ nghiên cứu nghề trong hệ thống nghề được đào tạo tại các cơ sở dạy nghề của địa phương bao gồm công nhân kỹ thuật được đào tạo chính quy tại các trường, lớp dạy nghề; nhân viên nghiệp vụ và phổ cập nghề cho người lao động. 1.1.2. Đào tạo nghề Khái niệm đào tạo thường gắn với giáo dục, nhưng hai phạm trù vẫn có một số sự khác nhau tương đối. Giáo dục được hiểu là các hoạt động và tác động hướng vào sự rèn luyện và phát triển năng lực và phẩm chất ở con người để trở nên có giá trị tích cực đối với xã hội và có thể giúp con người phát triển nhân cách đầy đủ nhất. Hay nói cách khác, giáo dục còn là quá trình khơi gợi các tiềm năng sẵn có trong mỗi con người, góp phần nâng cao các năng lực và phẩm chất cá nhân của cả thầy và trò theo hướng hoàn thiện hơn, đáp ứng các yêu cầu tồn tại và phát triển trong xã hội loài người đương đại. Thứ nhất, theo từ điển Tiếng Việt, “đào tạo” được hiểu là việc giúp con người hình thành những năng lực theo những tiêu chuẩn nhất định”. Thứ hai, “Đào tạo” người lao động để họ có thể đảm nhận được một công việc nhất định thì họ phải trang bị những kiến thức nhất định về mặt chuyên môn, nghiệp vụ cho mình”. Thứ ba, từ góc nhìn của các nhà giáo dục và đào tạo Việt Nam, khái 11 niệm tương đối đầy đủ là: “Đào tạo” là quá trình hoạt động có mục đích, có tổ chức nhằm đạt được các kiến thức, kỹ năng và kỹ xảo trong lý thuyết và thực tiễn, hoặc kinh nghiệm đúc kết từ thực tiễn bản thân để hướng người đào tạo có năng lực, kỹ năng thực hiện chuyên môn cụ thể. Hay nói cách khác, đào tạo đề cập đến việc dạy các kiến thức, kỹ năng thực hành, nghề nghiệp liên quan đến một lĩnh vực cụ thể nào đó, để người học nắm vững những tri thứ, lĩnh hội và vận dụng được các kĩ năng nghề nghiệp một cách chính xác và có hệ thống để giúp cho người học có khả năng đảm nhận được một công việc nhất địnhvà có thể thích nghi với cuộc sống. Giáo dục và đào tạo cùng có điểm chung là đều hướng vào việc trang bị kiến thức kỹ năng để phát triển năng lực của người lao động. Tuy nhiên, trong giáo dục nhằm vào những năng lực rộng lớn còn đào tạo lại nhằm vào những năng lực cụ thể để người lao động đảm nhận công việc xác định, thường đào tạo đề cập đến giai đoạn sau, khi một người đã đạt đến một độ tuổi nhất định, có một trình độ nhất định. “Đào tạo” có thể có nhiều hình thức: đào tạo lại; tự đào tạo .. 1.1.3. Khái niệm đào tạo nghề cho thanh niên Đào tạo nghề cho thanh niên là tạo ra một môi trường hình thành nơi làm việc và đào tạo lao động thanh niên phù hợp nơi làm việc đó, để có việc làm chất lượng, đảm bảo nhu cầu của người sử dụng lao đồng thời đáp ứng được mục đích của đơn vị sử dụng lao động. Với quan điểm trên thì hoạt động đào tạo nghề không chỉ là chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước mà còn là trách nhiệm của các cơ quan doanh nghiệp, của xã hội và ngay đối với bản thân người lao động. + Là quá trình đào tạo cho lao động trẻ có kỹ năng phù hợp với nhu cầu của thị trường lao động. 12 + Là các biện pháp hỗ trợ thanh niên có thể tự tạo ra việc làm cho bản thân mình nhằm nuôi sống gia đình và có ích cho xã hội. * Đặc điểm thanh niên và đào tạo nghề cho thanh niên Để đào tạo nghề cho thanh niên cần nghiên cứu những nét đặc trưng của xu hướng việc làm và đặc điểm thị trường lao động. Thứ nhất, xu hướng việc làm thanh niên: + Ngày nay do áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ mới nên có xu hướng giảm việc làm của lao động có trình độ thấp, đặc biệt là trong nông nghiệp và những ngành, nghề truyền thống đang giảm dần ngược lại việc làm cho các nhu cầu xây dựng kết cấu hạ tầng, phát triển các khu công nghiệp, khu chế xuất, vùng kinh tế trọng điểm ngày càng tăng… Thứ hai, đặc điểm thị trường lao động: + Hiện nay thì nguồn cung lao động quá cao trong khi cầu lao động lại thấp. + Hầu hết thanh niên không được học nghề hoặc không muốn học nghề , do vậy tỷ lệ qua đào tạo thấp, đa số thanh niên không tiếp cận được các cơ hội đào tạo nghề nghiệp trước khi xin việc làm phù hợp. + Ngược lại với những người được đào tạo thì cũng vẫn gặp phải vấn đề khó khăn do nội dung đào tạo không đáp ứng được yêu cầu của thị trường lao động. + Hơn nữa thanh niên thời nay họ chưa đủ thời gian để tích luỹ kinh nghiệm, vì vậy khi vào thị trường lao động họ phải thực sự yêu nghề và chăm chỉ làm việc học hỏi, xảy ra vấn đề cạnh tranh với những lao động có nhiều kinh nghiệm hơn trong nghề nghiệp. * Vai trò của đào tạo nghề cho thanh niên 13 Chính sách đào tạo nghề vừa có ý nghĩa về mặt chính trị - xã hội, vừa có ý nghĩa về mặt kinh tế, cũng như giáo dục con người. Việc xây dựng kế hoạch, hoạch định và thực hiện không tốt các chính sách đào tạo nghề sẽ dẫn đến những thiệt hại, những hậu quả trực tiếp cả về chính trị và xã hội, kinh tế cho đất nước. Đào tạo nghề là một trong những giải pháp mang tính đột phá cho mỗi địa phương nhằm nâng cao chất lượng nguồn lực “mềm“ và giữ vai trò trọng yếu trong phát triển kinh tế - xã hội của địa phương mình. Thứ nhất, Muốn tạo nhiều việc làm tạo điều kiện cho thanh niên dễ dàng lựa chọn công việc phù hợp, tạo năng suất cao hơn và có cơ hội nhận được thu nhập cao hơn thì đào tạo nghề phải đảm bảo việc làm cho thanh niên tham gia hoạt động kinh tế, kết nối họ vào các lĩnh vực sản xuất và dịch vụ, tạo khả năng cho họ nhận được những khoản thu nhập thiết yếu để tái sản xuất sức lao động của chính bản thân mình, cũng như nuôi sống gia đình mình. Thứ hai, Các doanh nghiệp người sử dụng lao động lựa chọn sức lao động trẻ cần thiết theo khối lượng và chất lượng theo nhu cầu của mình thông qua đào tạo nghề nhưng không phải lúc nào cũng sẵn có lực lượng thanh niên cần thiết trong một khu vực, vì vậy việc giải quyết việc làm sẽ cung cấp đầy đủ các thông tin về ngành nghề, nơi nào đang dư thừa lao động thanh niên và nơi nào thì khan hiếm lao động trẻ, cũng như việc thanh niên cần phải trang bị những kiến thức và kỹ năng nghề nghiệp gì để có thể kiếm được việc làm. Thứ ba, Trong bối cảnh bùng nổ của khoa học và công nghệ thì lao độngc ó tay nghề cao luôn có cơ hội tìm kiếm việc làm lớn và hầu như không thiếu việc làm; tính bền vững của việc làm cũng cao, đem lại thu nhập thảo đáng. Bên cạnh đó, thanh niên được đào tạo nghề đúng nhau cầu và đúng sự quan tâm sẽ tạo ra môi trường đảm bảo quan hệ qua lại trong tập thể lao động cũng như giữa chủ doanh nghiệp với lao động trẻ, thúc đẩy làm việc thuận 14 lợi, đào tạo nghề cho thanh niên có kế hoạch, quy hoạch sẽ giúp cho cả bản thân thanh niên cung như cho người sử dụng lao động có những kế hoạch khả thi. Thứ tư, đào tạo nghề cho thanh niên là giải pháp tích cực trong việc chuyển dịch cơ cấu lao động, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng phù hợp với nhu cầu thị trường và gắn với nhu cầu doanh nghiệp, xu thế chung của nền kinh tế phát triển. 1.1.4 Chính sách đào tạo nghề cho thanh niên Khái niệm chính sách công: Chính sách công là một tập hợp các quyết định chính trị có liên quan của Nhà nước nhằm giải quyết các vấn đề của xã hội theo mục tiêu tổng thể đã xác định. Theo khái niệm nêu trên thì chính sách đào tạo nghề cho thanh niên chính là mục tiêu và giải pháp Nhà nước đưa ra trong đó tạo sự đảm bảo quyền lợi đối với thanh niên nhằm mục đích chính là nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, góp phần rất lớn vào việc chuyển đổi cơ cấu việc làm trong phát triển kinh tế - xã hội. Việc khẳng định Nhà nước là cơ quan duy nhất được ban hành chính sách, vì vậy mục đích của chính sách công là vừa đảm bảo quyền lợi của đa số cá nhân trong xã hội và thể hiện được quyền lực của nhà nước Đào tạo nghề cho thanh niên là một trong những chính sách quan trọng của mỗi quốc gia, đặc biệt là đối với các nước đang phát triển như Việt Nam. Đào tạo nghề nhằm nâng cao chất lượng nghuồn nhân lực cho xã hội nói chung và nâng cao chất lượng lao động thanh niên nói riêng. Trong bối cảnh của toàn cầu hóa, hội nhập kinh tế - quốc tế, chất lượng nguồn nhân lực phải đáp ứng đòi hỏi của môi trường cạnh tranh quốc tế và khu vực; mỗi công dân phải đáp ứng điều kiện sống, học tập và làm việc trong môi trường quốc tế. 15 Đồng thời, thanh niên là nhóm người trẻ tuổi, dễ thích nghi với cái mới, dám làm và chủ động nắm bắt xu thế mới của xã hội song cũng có những thanh niên chưa dám chấp nhận sự thay đổi liên tục, sự xuất hiện của những giá trị mới, do vậy, nên việc Đào tạo nghề cho thanh niên cần phải có những cách thức tổ chức phù hợp với từng nhóm đối tượng. Việc xây dựng các mô hình hay chính sách đào tạo nghề cho thanh niên đồi hỏi các nhà hoạch định, xây dựng chính sách cần xem xét các nội dung sau đây: * Xác định nhu cầu sử dụng thanh niên qua đào tạo nghề và nhu cầu học nghề của thanh niên Thứ nhất, Muốn nắm bắt được nhu cầu sử dụng thanh niên qua đào tạo nghề cần phải triển khai các hoạt động điều tra, khảo sát nhu cầu sử dụng nhân lực qua đào tạo nghề trong các ngành kinh tế, vùng kinh tế và từng địa phương. Việc xác định nhu cầu sử dụng lao động thanh niên chính là “đầu ra” của đào tạo, thông qua việc nắm bắt nhu cầu chính xác có thể đưa ra được nội dung học nghề gì và đào tạo những nghề gì với những trình độ khác nhau. Việc nắm bắt nhu cầu phải triển khai trước khi thực hiện các chương trình, xây dựng các mô hình cần phải thường xuyên với quy mô và mức độ khác nhau, để kịp thời bổ sung những thông tin nhu cầu về những nghề mới với quy mô và trình độ phù hợp. Thứ hai, Song song với việc nắm bắt thông tin và xác định được nhu cầu sử dụng lao động thanh niên thì cần phải khảo sát nhu cầu học nghề của thanh niên, vì vậy cần tách và phân nhóm các đối tượng học khác nhau để mở các lớp, khóa học đào tạo phù hợp, lứa tuổi nào? thời gian đào tạo có thể là ngắn hạn, dài hạn. Ngoài ra, để có thể có các hình thức đào tạo phù hợp với cơ sở thì phải khảo sát thói quen và đặc điểm canh tác của thanh niên ở các vùng miền khác nhau. Hoặc cần thiết phải phân và chia trên cơ sở trưng cầu ý kiến va khảo sát các nhóm đối tượng có trình độ học vấn khác nhau, người có 16 trình độ học vấn thấp thì có thể theo học các khoá dạy nghề ngắn hạn, người có học vấn cao hơn có đủ điều kiện có thể theo các khoá học nghề ở trình độ như là trung cấp nghề hoặc cao đẳng nghề. * Xác định ngành nghề đào tạo cho thanh niên Sau khi khảo sát dựa trên kết quả điều tra nhu cầu sử dụng lao động thanh niên qua đào tạo nghề của các doanh nghiệp. Việc phân tích nhu cầu đào tạo phải gắn liền với việc quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội của địa phương gắn với quy hoạch ngành (ngày nay, công tác quy hoạch không hướng theo địa phương mà hướng theo ngành, hướng theo quy hoạch của các bộ chủ quản chuyên môn) để tạo lập việc liên kết vùng gắn với liên kết ngành giữa các địa phương có những nét tương đồng trong phát triển kinh tế - xã hội.Qua đó, từng thời điểm khác nhau để xác định ngành nghề đào tạo của thanh niên, nhằm tạo cơ hội tìm được việc làm bao gồm cả việc làm tự tạo việc làm. Cũng do nguyên nhân hầu hết thanh niên còn hạn chế về kiến thức, kĩ năng và hiểu biết của mình về lĩnh vực nghề phi nông nghiệp, nên cần có hình thức tổ chức đào tạo đặc thù, đào tào gắn với sản xuất nhất là gắn liền với các ngành nghề sản xuát kinh doanh, dịch vụ tại cơ sở ví dụ dụ nghề may thì học nghề và làm việc luôn tại Công ty may… * Lựa chọn phương thức đào tạo nghề cho thanh niên nông thôn Việc tổ chức các khoá học với các phương thức và hình thức khác nhau đối với thanh niên để nâng cao hiệu quả đào tạo là rất quan trọng. Đào tạo nghề tại doanh nghiệp và các cơ sở sản xuất kinh doanh, dịch vụ; đào tạo nghề lưu động (tại các xã, thôn); đào tạo nghề gắn với các làng nghề, vùng chuyên canh.... đào tạo nghề cho thanh niên có thể được thực hiện dưới nhiều hình thức khác nhau như dạy tại các cơ sở dạy nghề; đào tạo nghề theo đơn 17 đặt hàng của các tập đoàn, Tổng công ty; Phương thức đào tạo cũng cần phải đa dạng hoá, phù hợp với từng nhóm đối tượng và điều kiện của từng vùng, miền..., như đào tạo tập trung tại CSDN đối với những thanh niên chuyển đổi nghề nghiệp (trung tâm dạy nghề, trường trung cấp, cao đẳng nghề, các trường khác có tham gia dạy nghề...); đào tạo nghề lưu động cho thanh niên làm nông dân hiện đại tại các làng, xã, thôn; đào tạo nghề tại nơi sản xuất, tại hiện trường Mặt khác, do tính đa dạng của vật nuôi, cây trồng nông nghiệp, khoá học nên được tổ chức gắn với thời kỳ sinh trưởng của vật nuôi, cây trồng. Đào tạo phải gắn với việc vừa học, vừa làm, hoặc thời gian nông nhàn để đảm bảo việc học được thuận lợi, không gián đoạn… * Đánh giá kết quả đào tạo nghề: Để đánh giá được kết quả đào tạo nghề cần đánh giá qua hai tiêu chí: Chất lượng đào tạo nghề: Đây thực sự là tiêu chí khó khăn, vì không đánh giá được trực tiếp qua cân đong đo đếm được. Vì vậy, cần đánh giá thông qua một hệ thống các chỉ tiêu và các yếu tố ảnh hưởng để đánh giá được chất lượng đào tạo nghề. Chất lượng các thanh niên được đào tạo trong hệ thống giáo dục nghề nghiệp theo chương trình đào tạo và mục tiêu xác định trong các lĩnh vực ngành nghề khác nhau là tiêu chí chất lượng đào tạo nghề, được biểu hiện một cách tổng hợp nhất của xã hội đối với kết quả đào tạo nghề và ở mức độ chấp nhận của thị trường lao động. Việc làm sau đào tạo nghề: như vậy kết quả của đào tạo nghề cho thanh niên là tìm được việc làm phi nông nghiệp (ở nông thôn hoặc ngoài nông thôn) hoặc tạo cho lao động có một nghề để có thể tự tạo việc làm trong nông nghiệp (tăng năng suất lao động); kết quả của việc đào tạo nghề cho thanh niên là giải quyết việc làm cho thanh niên gắn với hoạt động đào tạo. Việc tuyển dụng lao động của doanh nghiệp là câu trả lời cho chất lượng và 18 ngành nghề đào tạo có phù hợp, hiệu quả hay không? Nếu thanh niên có việc làm ngày và làm những việc do đào tạo đem lại thì thực sự đó là đào tạo có hiệu quả còn nếu không thì ngược lại. 1.1.5. Sự cần thiết khách quan của chính sách đào tạo nghề cho thanh niên Nhà nước là chủ thể quản lý xã hội, quản lý chung mọi hoạt động kinh tế - xã hội, trong đó có hoạch định chính sách về đào tạo nghề cho thanh niên. Thông qua các chính sách Nhà nước tạo cơ chế và tận dụng mọi nguồn lực để chức đào tạo nghề, tạo việc làm cho người lao động. Bởi lẽ, nhà nước là chủ thể quản lý nhà nước, quản lý hành chính nhà nước, là chủ thể quy định các các quy trình, thủ tục trong quá trình quản lý đào tạo nghề cho người lao động. Nhà nước ban hành chính sách, tạo cơ chế, bố trí nguồn lực tài chính, xã hội hóa nguồn lực; huy động sự tham gia của doanh nghiệp; các nghệ nhân; các tổ chức trong xã hội .. cùng tham gia thực hiện chính sách đào tạo nghề. Trong mỗi một giai đoạn nhất định, nhà nước lựa chọn vấn đề ưu tiên để có chính sách ưu đãi nhằm thúc đẩy việc thực hiện chính sách để đạt mục tiêu quản lý của mình. Chính sách đào tạo nghề cho thanh niên cũng vậy, Nhà nước đã đặt chính sách Thanh niên vào vị trí trung tâm, trong mối quan hệ với nhiều chính sách khác có quan hệ mật thiết với sự phát triển kinh tế -xã hội của đất nước; do đó, chính sách đào tạo nghề cho thanh niên được quy định cụ thể, rõ ràng trong các Nghị định, thông tư, và các văn bản hướng dẫn thi hành … Thứ nhất, xuất phát từ vai trò của thanh niên khi họ là lực lượng đông đảo của xã hội, với sức trẻ và sự năng động của mình họ là một trong những nhân tố quan trọng quyết định tương lai, vận mệnh dân tộc. Thứ hai, do người lao động có áp lực rất lớn về việc làm trong khi thiếu vẫn thiếu mà thừa vẫn thừa. Việc đầu tư phát triển các khu công nghiệp 19 khu chế xuất … thì nhu cầu sửu dụng lao động tại chỗ phải tăng lên song thực tế là nhu cầu lao động, việc làm tăng thì tỷ lệ thất nghiệp cũng tăng. Lý do cốt lõi là lao động chưa đáp ứng yêu cầu việc làm hiện có trong khi đất sản xuất nông nghiệp thu hẹp; việc làm khu vực nông thôn giảm xuống; việc chuyển dịch cơ cấu lao động chưa kịp thời khiến tỷ lệ thất nghiệp của người trong độ tuổi lao động ngày một tăng. Vì vậy quan tâm đến chính sách về đào tạo nghề cho thanh niên là một việc nên làm, nó góp phần giải quyết lao động là thanh niên, góp phần nâng cao mức thu nhập cho người dân, giảm thiểu tệ nạn xã hội… đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội. 1.1.6. Vai trò thực tế trong việc thực hiện chính sách đào tạo nghề cho thanh niên Thực trạng tình hình thiếu việc làm, thất nghiệp, việc làm không ổn định còn diễn ra hàng ngày trong thanh niên, nhất là đối với thanh niên nông thôn hiện nay thì càng phải yêu cầu Nhà nước phải có chính sách cụ thể, kịp thời phù hợp với thực tiễn để góp phần giải quyết việc làm cho thanh niên. Trong công tác thanh niên, bên cạnh việc rèn luyện bản lĩnh, lập trường, giáo dục chính trị, tư tưởng thì vấn đề bồi dưỡng, đào tạo về tri thức, nghiệp vụ, chuyên môn, tay nghề, tạo việc làm cho thanh niên là nhiệm vụ rất quan trọng. Việc định hướng nghề, đào tạo nghề cho thanh niên còn có ý nghĩa quan trọng để định ra đặc điểm và nội dung của hoạt động đào tạo. Nếu đào tạo nghề cho thanh niên mà không đáp ứng được nhu cầu thị trường, nhu cầu của doanh nghiệp, không phù hợp với đặc điểm kinh tế- xã hội mỗi địa phương thì việc đào tạo cũng không có ý nghĩa bởi lẽ việc đào tọa chưa gắn với giải quyết việc làm. Việc xác định được cơ cấu đào tạo nghề phù hợp sẽ góp phần giảm sự mất cân bằng cung – cầu lao động trên thị trường, không gây lãng phí nguồn lực của xã hội. Đồng thời, qua các hình thức đào tạo nghề 20
- Xem thêm -