Tài liệu Dương trạch tam yếu

  • Số trang: 28 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 355 |
  • Lượt tải: 0
hoanggiang80

Đã đăng 20010 tài liệu

Mô tả:

Dương trạch tam yếu
Dương trạ ch tam yế u Triệ u Cửu P hong DƯƠNG TRẠCH TAM YẾU (KIẾN TRÚC HỌC PHƯƠNG ĐÔNG) Triệu Cửu Phong LỜI NÓI ĐẦU Trong những năm gần đây Thuật phong thủy cổĐông phương bàn vềphép xây dựng nhà ởkhá được phổbiến trên thịtrường sách, báo. Nhưng nhìn chung thì các sách chỉbàn vềphương pháp ứng dụng. Vềmôn Phong thủy Đông phương, cổthưđểlại rất nhiều sách, tuy cũng có nhiều chỗ giống nhau, nhưng cũng có nhiều chỗquan yếu nhưvịtrí đặt bếp lại rất khác biệt và mâu thuẫn, nên vẫn còn gây nhiều thắc mắc cho độc giả. Thực ra, cơsởlý luận của thuật Phong thủy cổĐông phương cho đến nay còn có những điểm chưa rõ ràng, vì vậy những người quan tâm đến học thuật này chưa có cơsởnào đểkiểm chứng tính đúng sai của những phương pháp ứng dụng của nó. Dương trạch tam yếu là cuốn sách nói vềphương pháp xây dựng nhà ởtheo thuật Phong thủy Đông phương cổ. Tương truyền là do Triệu Cửu Phong đời nhà Tống biên soạn (1167 - 1230) lưu truyền cũng đã ngót ngàn năm. Sựứng dụng cho đến nay cũng có nhiều người cho là hữu hiệu. Bởi vậy, chúng tôi biên soạn cuốn sách này nhằm mục đích trình bày với bạn đọc một trong những phương pháp xây dựng nhà ởtheo thuật Phong thủy Đông phương, đểbạn đọc rộng đường đối chiếu tham khảo và tìm hiểu thêm vềmôn học thuật cổvẫn còn hàm chứa nhiều bí ẩn này. …………… Dương trạch tam yếu cho rằng nhà ở(Dương trạch, phân biệt với phương pháp chọn đất xây mộ thuộc Aâm trạch) có 3 điểm chính là: Cửa chính, phòng chính và bếp. Từ những vịtrí chính yếu trên tốt hay xấu, phù hợp hay khắc kỵsẽcó ảnh hưởng đến cuộc sống và gia đình chủgia. ………. Vì ởViệt Nam tôi chưa thấy quyển Bát - trạch Việt ngữnào đềcập tới 4 loại trạch (nhà) khác nhau: Tị nh trạch, Động trạch, Biến trạch, Hoá trạch. Môn Bát trạch lẽdĩnhiên phải được dùng chung cho 4 loại nhà, vì mỗi loại nhà mỗi loại có chỗdụng và tính toán theo nhiều hình thức phân biệt khác nhau. Nếu nay chúng ta chỉdùng nó cho một loại nhà nào mà thôi thì thật đáng tiếc vềsựkhuyết điểm này. Lại nữa, tôi cũng chưa thấy cách chỉdẫn cách phiên tinh và cách tính đăng diện, đắc vịhay thất vịcho các du - niên tốt nhưSinh - khí, Diên - niên, Thiên - Y … hoặc cho các sao tốt nhưTham lang, Vũkhúc, Cựmôn… Là hai điều không kém phần hệtrọng, nếu muốn có một ngôi nhà ởthị nh vượng nhiều mà bệnh hoạn ít. Sau hết, còn một điều này nữa, chúng ta cũng nên biết, cổnhân đã dạy: Muốn thành công viên mãn một sựviệc nào, cần đủba điều thiết yếu: thiên thời, đị a lợi, nhân hoà. Nhưchỉluận trong phạm vi nhà cửa thì Thiên thời là chọn năm, tháng, ngày, giờtốt đểkhởi công xây dựng hay sửa chữa nhà cửa; Đị a lợi là chọn phương hướng tốt đểđặt nhà và cung vịtốt đểan trí Cửa - cái, Chủ- phòng và Bếp; Nhân hoà là được lòng người như: hợp với lệluật, hoà với thân nhân và lân nhân. Tóm lại, trong muôn điều, cái biết là hơn tất cả. Biết cái dởđểtránh và biết cái hay đểlàm theo, thật không còn chi bằng. Vậy nay có bộDương - trạch tam yếu, chúng ta hãy cùng học khảo cho biết rồi thực hành đểtránh cái dởmà theo điều hay, tức là đểkhỏi ởmột ngôi nhà hung hại mà được ởngôi nhà kiết lợi. Đó chính là một cách xu kiết tịhung, tức theo lành mà lánh dữ vậy! I - TỨ TRẠCH Dương trạch tam yếu phân loại nhà ởlàm 4 loại: Tị nh trạch, Động trạch, Biến trạch, Hoá trạch. 1) TỊ NH TRẠCH: Nhà xây chỉcó một phòng, trong nhà không có tường ngăn. 2) ĐỘNG TRẠCH: Là từmặt tiền tới mặt hậu được chia làm từ2 ngăn tới 5 ngăn bởi tường vách chặn ngang có chừa cửa ra vào. Tủ, bình phong và màn trướng không kểlà phòng, ngăn. 1 Dương trạ ch tam yế u Triệ u Cửu P hong 3) BIẾN TRẠCH: Là nhà từmặt tiền tới mặt hậu được phân làm từ6 ngăn tới 10 ngăn bởi tường vách chặn ngang có chừa cửa ra vào. Tủ, bình phong, màn trướng không được kểlà phòng, ngăn. 4) HOÁ TRẠCH: Là nhà từmặt tiền tới mặt hậu được phân làm từ11 ngăn tới 15 ngăn bởi những tường vách chặn ngang có chừa cửa ra vào. Tủ, bình phong, màn giăng không được kểlà tường vách. BÀI 2: ĐÔNG TÂY TRẠCH, TRÙ, MỆNH. - Năm chữtựa đềtrên là nói: gồm: Đông tứtrạch, Tây tứtrạch, Đông trù, tây trù, Đông Mệnh, Tây Mệnh. Trạch là nhà. Trù là táo, bếp. Mệnh là mệnh cung của chủnhà tính theo tam nguyên. + Đông Tây: Môn Bát trạch dùng 8 cung nhưng chia làm 2 phe phía: Đông và Tây. Đông thuộc Mộc, Tây thuộc Kim. Đông cũng gọi là Đông tứcung vì nó gồm 4 cung: Khảm, Ly, Chấn, Tốn. Chấn Tốn thuộc Mộc vềĐông đã đành, nhưng thêm Khảm Ly nữa vì Khảm Thuỷvới Mộc tương sanh và Ly Hoảvới Mộc cũng tương sanh. Bốn cung này đồng một phe phía với nhau cho nên gặp nhau tất hỗbiến thành những du niên tốt (Xem cách Bát biến du niên bài 8). Tây cũng gọi là Tây tứcung vì nó gồm 4 cung: Kiền, Khôn, Cấn, Đoài. Kiền Đoài thuộc Kim đã đành, nhưng có thêm Khôn Cấn nữa vì Khôn Cấn Thổvới Kim là tương sanh. Bốn cung này đồng một phe phía với nhau cho nên gặp nhau tất hỗbiến được những kiết du niên tốt (xem bài 8). Nếu Đông tứ cung gặp Tây tứcung hỗbiến với nhau tất gặp những hung du niên, xấu – vì hai phe khác nhau, phe Đông Mộc với phe Tây Kim tương khắc (xem bài 8). - Chú ý: Tây tứcung là Kiền Khôn Cấn Đoài so với nhau đều đặng tương sanh hay tỵhoà chớ không có tương khắc. Nhưng Đông từcung là Khảm Ly Chấn Tốn so – đối với nhau đa sốcũng tương sanh và tỵhoà, song có Khảm với Ly là tương khắc, mặc dầu hỗbiến cũng được du niên tốt vậy. Đó là chỗsai biệt vậy. – (Kiết du niên là du niên tốt gồm có: Sinh khí, Diên niên, Thiên y và Phục vị . Hung du niên gọi là du niên xấu gồm có: Tuyệt mệnh, Ngũquỷ, Lục sát, Hoạhại). + Đông tứtrạch: là nhà có Cửa cái và Chủphòng hay Sơn chủđều ởtrong vòng 4 cung Khảm Ly Chấn Tốn thì nhà ởtất tốt vì cùng một phe với nhau. Nếu có lộn Tây tứcung thì gọi là Đông Tây tương hỗn (hỗn loạn) nhà ởtất xấu. + Tây tứ trạch: là nhà có Cửa cái và Chủphòng hay Sơn chủđều ởtrong vòng 4 cung Kiền Khôn Cấn Đoài thì nhà ởtất tốt vì cùng một phe với nhau. Nếu có lộn Đông tứ cung vào thì gọi là Đông Tây tương hỗn, nhà ởtất xấu. + Đông trù: là Bếp đông. Phàm Bếp đặt tại 1 trong 4 cung Khảm Ly Chấn Tốn thì gọi là Đông trù. Đông trù đem thị nh vượng cho Đông tứtrạch nhưng làm suy bại Tây tứtrạch. + Tây trù: là Bếp Tây. Phàm bếp đặt tại một trong 4 cung Kiền Khôn Cấn Đoài thì gọi là tây trù. Tây trù làm thị nh vượng cho Tây tứtrạch, nhưng gây suy bại cho Đông tứtrạch. + Đông mệnh: Mệnh của chủnhà là 1 trong 4 cung Khảm Ly Chấn Tốn thì gọi là Đông Mệnh (xem cách tính ởbài 21). Đông Mệnh nên ởnhà Đông tứtrạch mới tốt, bằng ởnhà Tây tứtrạch không hợp, bớt tốt. Tóm lại: - Ở Đông tứtrạch phải dùng Đông trù mới tốt. Nếu chủnhà thuộc Đông mệnh nữa là nhà trọn tốt, bằng chủnhà thuộc Tây mệnh thì bớt tốt. - Ở Tây tứtrạch phải dùng Tây trù mới tốt. Nếu chủnhà thuộc Tây mệnh nữa là nhà trọng tốt, bằng chủnhà Đông mệnh thì bớt tốt. - Ở Đông tứtrạch mà dùng Tây trù là cái nhà bất lợi, không thểthị nh vượng. Nếu chủnhà Đông mệnh còn khá một ít, bằng chủnhà Tây mệnh càng suy vi. - Ở Tây tứtrạch mà dùng Đông trù là cái nhà bất lợi, không thị nh vượng được. Nếu chủnhà thuộc Tây mệnh còn có thểđỡmột chút, bằng Đông mệnh càng suy vi. - Cửa cái thuộc Đông tứcung mà Chủphòng hay Sơn chủthuộc Tây tứcung là cái nhà Đông Tây hỗn loạn, bất phát. Nếu dùng Đông trù có thểđủăn, bằng dùng Tây trù là suy sụp. Nếu dùng Tây trù mà chủlà tây mệnh nữa thì cùng khổcực điểm. 2 Dương trạ ch tam yế u Triệ u Cửu P hong - Cửa cái thuộc Tây tứcung mà chủphòng hay Sơn chủthuộc Đông tứcung là cái nhà Đông Tây hỗn loạn, chẳng phát lên được. Nếu dùng Tây trù còn có thểđủăn, bằng dùng Đông trù ắt suy sụp. Đã dùng Đông trù mà chủnhà Đông mệnh nữa thì cùng khổcực điểm. BÀI 3: BẢY CHỖ QUAN HỆVỚI NHÀ - Một ngôi nhà có 7 chỗquan hệtức là có ảnh hưởng tốt xấu: Cửa - ngõ, Cửa - cái, Cửa - phòng, Cửa - bếp, Chủ- phòng hay Sơn - chủ, Bếp và Hướng - bếp. Sởdĩnói Chủ- phòng hay Sơn chủbởi ởTị nh - trạch dùng Chủ- phòng làm chỗchủyếu, còn ởĐộng - trạch và Biến - Hoá trạch dùng Sơn - chủlàm chỗchủyếu. (Chú ý: tên các chỗquan hệluôn luôn có gạch nối.) - Trong 7 chỗquan hệcó 3 chỗchính yếu ảnh hưởng trọng đại đểquyết đị nh ngôi nhà tốt hay xấu. Còn 4 chỗkia thuộc hàng thứyếu (phụthuộc), ảnh hưởng bình thường, chỉcó thểthêm bớt tốt xấu mà thôi. - Ở Tị nh - trạch, có 3 chỗchính yếu là Cửa - cái, Chủ– phòng và Bếp. Còn 4 chỗthứ yếu là Cửa - phòng, Cửa - bếp, Hướng - bếp và Cửa - ngõ. - Ở Động - trạch và Biến - hoá - trạch, 3 chỗchính yếu là Cửa - cái, Sơn - chủvà Bếp. Còn 4 chỗ thứyếu cũng nhưởTị nh - trạch là: Cửa - phòng, Cửa - bếp, Hướng bếp và Cửa - ngõ. SỰ SAI BIỆT TRONG BA CHỖ CHÍNH YẾU - Ở Tị nh - trạch dùng Chủ- phòng chỉthừa một du - niên mà thôi và lấy tên du - niên này mà đặt tên cho nhà, nhưSinh - khí - trạch hay Thiên - y - trạch chẳng hạn. Còn ởĐộng - trạch và biến - hoá - trạch thì dùng một Sơn - chủđã thừa một du - niên lại còn thêm ảnh hưởng với một “Sao - chúa” rất trọng hệnữa, vậy lấy tên du – niên và cảSao – chúa đểđặt tên cho nhà, như Diên – niên – trạch, nhưTham – lang – trạch, Vũ– khúc – trạch chẳng hạn. - Cửa cái là một nơi chính yếu, vì nó là lối đi vào nhà, nếu dựng trúng tại cung tốt tức nhưngười đi trúng vào chốn may mắn, bằng dựng tại cung xấu tức nhưngười đi vào chốn nguy hiểm, tối – tăm, chông gai. Cửa – cái là mẹsanh ra các du – niên cho chủ– phòng, cho Sơn – chủvà cho Bếp. Vì vậy, nên hễChủ– phòng, Sơn – chủvà bếp thừa du – niên tốt tức Cửa – cái tốt, vì mẹ tốt mới sanh ra các con tốt, bằng thừa du – niên xấu tức Cửa – cái xấu, vì mẹxấu mới sanh con xấu. - Chủ– phòng hay Sơn – chủđều là những nơi chính yếu, trụcột, chủyếu, làm chủtoàn thể ngôi nhà cho nên gọi là Chủ– phòng, là Sơn – chủ. Nếu có được ởnhằm cung tốt và thừa du – niên tốt hay Sao tốt là nhà ởthị nh vượng và yên lành. Bằng ởnhằm cung xấu và thừa du – niên xấu hay sao xấu là nhà ởsuy vi, chẳng yên. - Bếp là chỗchính yếu vì nơi sinh dưỡng, nuôi sống con người, nếu được an trí nơi cung tốt và thừa du – niên tốt thì sựsinh dưỡng mới đặng lợi ích, ít bệnh hoạn. Bằng an trí tại cung xấu và thừa du – niên xấu khác nào sựsinh dưỡng bịđầu độc gây ra đủcác bệnh chứng cảtai hoạ. Trăm bệnh đa sốdo nơi ăn uống sinh ra. TÓM LẠI: Ba chỗchính yếu được đặt vào 3 cung tốt là đối với nhau được tương sinh hay tỵhoà và 3 cung đều thừa kiết du – niên hay kiết – tinh thì quyết đị nh một ngôi nhà thị nh vượng. Bằng trái lại đặt trúng vào 3 cung xấu là đối với nhau tương khắc và đồng thừa du – niên hay hung tinh thì quyết đị nh ngôi nhà suy bại. Nhan đềquyển sách có hai chữ Tam – yếu đó là 3 chỗchính yếu nói trong bài vậy. SỰ SAI BIỆT TRONG 4 CHỖ THỨ YẾU - Trong 4 chỗthứyếu thì Hướng – bếp có tầm quan trọng hơn cả, kếđó là Cửa – phòng và Cửa – bếp, sau hết là Cửa – ngõ. Người xưa không kểtới Cửa – ngõ, có lẽvì nó không thuộc vềngôi nhà. - Cửa – phòng và Cửa – bếp ởTị nh – trạch ít quan trọng, còn ởĐộng – trạch và Biến – hoá – trạch được quan trọng nhiều hơn. Đó là bởi ởTị nh – trạch thì Chủ– phòng và Bếp bịlệthuộc, tất cảcác cửa của nó cũng bịlệthuộc, còn ởĐộng – trạch và Biến – hoá – trạch thì Phòng – chúa và Bếp chiếm riêng một ngăn nhà độc lập, tức nó có tầm quan trọng hơn trong hàng thứ yếu. 3 Dương trạ ch tam yế u Triệ u Cửu P hong ĐO LƯỜNG TỐT XẤU CHO 7 CHỖ - Cái việc đo lường tốt xấu không lấy đâu là quyết đị nh cho đúng từng phân ly nhưviệc trắc lượng bằng toán pháp, nhưng đại khái cũng có thểphân biệt chỗkhinh chỗtrọng, nhiên – hậu mới giảo đị nh được một cái nhà thị nh hay suy, thị nh suy nhiều hay ít. Vảlại còn sựphân lượng tốt xấu cho chỗchính yếu thì khác, cho những chỗthứyếu thì khác. Những chỗchính yếu và thứ yếu của loại trạch này với loại trạch kia cũng lại không hoàn toàn bằng nhau. Vậy tạm đị nh như sau: - Ở Tị nh – trạch có 3 chỗchính yếu là Cửa – cái, Chủ– phòng và Bếp. Còn 4 chỗphụthuộc kia là Hướng – bếp, Cửa – bếp, Cửa – phòng và Cửa – ngõ. - Động – trạch và Biến – hoá – trạch cũng có 3 chỗchính yếu là Cửa – cái, Sơn – chủvà Bếp. Lại phải kểPhòng – chúa có Sao – chúa là chỗthiết yếu nhất hạng. Còn 4 chỗphụthuộc kia, cũng nhưởTị nh – trạch, ảnh hưởng tam thường. - Mỗi chỗchính yếu trọn tốt thì được 30% tốt, trung bình thì được 15% tốt, bằng trọn xấu thì 30% xấu. - Mỗi chỗphụthuộc trọn tốt thì được 10% tốt, trung bình thì được 5% tốt, bằng trọn xấu thì đị nh 10% xấu. Ba hạng: trọn tốt, trung bình và trọn xấu là nhưvầy: . Trọn tốt: là chỗgặp kiết du –niên hay kiết – tinh mà phải đắc vịhay đăng – diện. Có 3 kiết du – niên là Sinh – khí, Diên – niên và Thiên – y (Phục – vịcũng được gọi là kiết du – niên, nhưng chỉtốt bằng phân nửa). Có 3 kiết tinh là Tham – lang, Vũ– khúc và Cự – môn (PhụBật cũng là kiết tinh nhưng chỉtốt bằng phân nửa). Trọn tốt là được 30% tốt. Riêng Phục – vịvà PhụBật trọn tốt là 15%. . Trung bình: là chỗgặp kiết du – niên hay kiết – tinh nhưng thất vị , được 15% tốt. Riêng Phục – vịvà PhụBật chỉđược trên dưới 5% tốt. . Trọn xấu: Là chỗgặp hung du – niên nhưTuyệt mệnh, Ngũquỷ, Lục sát và Hoạhại. Hoặc gặp hung tinh nhưPhá quân, Liêm trinh, Văn khúc và Lộc tồn. Phàm hung du – niên hay hung tinh cũng vậy, thì kểlà trọn xấu 30%, dù đắc vịhay đăng diện cũng vậy. - Phàm kiết du – nên hay kiết tinh cũng vậy, đối với nó gặp cung tương khắc là thất vị . Gặp cung tương sanh là đắc vị , gặp cung tỵhoà (đồng loại) là đăng – diện tốt bậc nhất, đắc vịtốt bậc nhì, thất vịtốt bậc ba. Đắc vịmà có sanh cung tốt hơn cung sanh nó. - Riêng kiết tinh đắc vịhay đăng diện mà được ởtại ngăn chót tức ngăn cuối cùng gọi là nhập miếu, không có cách nào tốt hơn nó được. Tính sẵn nhưsau: . Sinh khí và Phục vịthuộc Mộc: gặp các cung Kiền Đoài Cấn Khôn là thất vị , gặp các cung Khảm Ly là đắc vị , gặp các cung Chấn Tốn là đăng diện. . Thiên y thuộc Thổ: Gặp các cung Chấn Tốn Khảm là thất vị , gặp các cung Ly Đoài Kiền là đắc vị , gặp các cung Cấn Khôn là đăng diện. . Diên niên thuộc Kim: gặp các cung Ly Chấn Tốn là thất vị , gặp các cung Cấn Khôn Khảm là đắc vị , gặp các cung Kiền Đào là đăng diện. . Tham lang và PhụBật thuộc Mộc: gặp các Sơn – chủKiền Đoài Cấn Khôn là thất vị , gặp các Sơn – chủKhảm Ly là đắc vị , gặp các Sơn – chủChấn Tốn là đăng diện. . Cựmôn thuộc Thổ: gặp các sơn – chủChấn Tốn Khảm là thất vị , gặp các sơn – chủLy Kiền Đoài là đắc vị , gặp các sơn – chủCấn Khôn là đăng diện. . Vũkhúc thuộc Kim: gặp các sơn – chủLy Chấn Tốn là thất vị , gặp các Sơn – chủCấn Khôn Khảm là đắc vị , gặp các sơn – chủKiền Đoài là đăng diện. (Chú ý: Những kiết du – niên so đối với cung sở– thừa của nó mà tính. Còn những kiết tinh so đối với sơn – chủmà tính. VƯỢNG TRẠCH CÁCH VÀ SANH TRẠCH CÁCH - Vượng trạch: phàm kiết tinh hay kiết du – niên đồng một loại với trạch là cách rất tốt, thêm sự thị nh vượng cho nhà. NhưĐông – tứ– trạch (thuộc Mộc) mà dùng Tham lang Mộc tinh làm Sao – chúa, hoặc Chủ– phòng hay Sơn – chủthừa sinh khí Mộc. NhưTây – tứ– trạch (thuộc Kim) 4 Dương trạ ch tam yế u Triệ u Cửu P hong mà dùng Vũkhúc Kim tinh làm Sao chúa hoặc Chủ– phòng hay Sơn – chủthừa Diên – niên Kim. - Sanh – trạch: Phàm kiết tinh hay kiết du – niên sanh trạch là cách tốt, thêm sựphát đạt cho nhà. Nhưtây – tứ– trạch (thuộc Kim) mà dùng Cựmôn Thổtinh làm Sao – chúa, hoặc Chủ– phòng hay Sơn – chủthừa Thiên – y Thổ. Phàm được hai cách trên (Vượng – trạch hay Sanh – trạch) mà kiết tinh hay kiết du – niên lại đăng diện hay đắc vịthì sựthị nh vượng, sựphát đạt càng mạnh càng lâu bền. BÀI 4: NGŨHÀNH Ngũhành là 5 hành: Kim, Mộc, Thuỷ, Hoả, Thổ. Vạn vật đều do Ngũhành kết tạo. Dù học môn nào cũng phải rành rẽNgũhành của các loại rồi mới tính sinh khắc, tỷhoà hầu hết sựtốt hay xấu. A. Chưloại thuộc ngũhành Trong môn Bát – trạch cần thiết biết ngũhành của ba loại chính là: 8 cung, 8 du – niên và 8 sao. Kểchung nhưsau: - Loại Kim có: Kiền, Đoài, Diên niên, Tuyệt mệnh, Vũkhúc, Phá quân. - Loại Mộc có: Chấn, Tốn, Sinh khí, Phục vị , Thanh long, Phụbật. - Loại Thuỷcó: Khảm, Lục sát, Văn khúc. - Loại Hoảcó: Ly, Ngũquỷ, Liêm trinh. - Loại Thổcó: Cấn, Khôn, Thiên y, Hoạhại, Cựmôn, Lộc tồn. B. Ngũhành tỷ– hoà (tức đồng loại) - Kim gặp Kim là Tỷ– hoà. Loại Kim có Kiền, Đoài, Diên niên, Tuyệt mệnh, Vũkhúc, Phá quân… gặp nhau gọi là tỷ– hoà. - Mộc gặp Mộc là tỷ– hoà. Loại Mộc có Chấn, Tốn, Sinh khí, Phục vị , Tham lang, PhụBật… gặp nhau gọi là tỷ– hoà. - Thuỷgặp Thuỷlà tỷ– hoà. Loại thuỷcó Khảm, Lục sát, Văn khúc.. gặp nhau gọi là tỷ– hoà. - Hoảgặp Hoảlà tỷ– hoà. Loại Hoảcó Ly, Ngũquỷ, Liêm trinh… gặp nhau gọi là tỷ– hoà. - Thổgặp Thổlà tỷ– hoà. Loại Thổcó Cấn, Khôn, Thiên y, Hoạhại, Cự môn, Lộc tồn… gặp nhau gọi là tỷ– hoà. C. Ngũhành tương sinh - Kim sinh Thuỷ: loại Kim nhưKiền, Đoài, Diên niên, Tuyệt mệnh, Vũkhúc, Phá quân đồng sinh loại ThuỷnhưKhảm, Lục sát, Văn khúc. - Thuỷsinh Mộc: loại ThuỷnhưKhảm, Lục sát, Văn khúc… đồng sinh loại Mộc nhưChấn, Tốn, Sinh khí, Phục vị , , Tham lang, PhụBật… - Mộc sinh Hoả: loại Mộc nhưChấn, Tốn, Sinh khí, Phục vị , Tham lang, PhụBật… đàồng sinh loại HoảnhưLy, Ngũquỷ, Liêm trinh. - Hoảsinh Thổ: loại HoảnhưLy, Ngũquỷ, Liêm trinh… đồng sinh loại ThổnhưCấn, Khôn, Thiên y, Hoạhại, Cựmôn, Lộc tồn. - Thổsinh Kim: loại ThổnhưCấn, Khôn, Thiên y, Hoạhại, Cựmôn, Lộc tồn… đồng sinh loại Kim nhưKiền, Đoài, Diên niên, Tuyệt mệnh, Vũkhúc, Phá quân. D. Ngũhành tương khắc - Kim khắc Mộc: loại Kim nhưKiền, Đoài, Diên niên, Tuyệt mệnh, Vũkhúc, Phá quân… đồng khắc loại Mộc nhưChấn, Tốn, Sinh khí, Phục vị , Tham lang, PhụBật… ồng khắc loại Thổnhư Cấn, Khôn, Thiên y, Hoạhại, Cựmôn, Lộc tồn… đồng khắc loại ThuỷnhưKhảm, Lục sát, Văn khúc… đồng khắc loại HoảnhưLy, Ngũquỷ, Liêm trinh. - Hoảkhắc Kim: Loại HoảnhưLy, Ngũquỷ, Liêm trinh… đồng khắc loại Kim nhưKiền, Đoài, Diên niên, Tuyệt mệnh, Vũkhúc, Phá quân. E. Ngũhành sốmục - Loại Thuỷsố1 và số6. Nhưthập bội thì thành 10, thành 60. - Loại Hoảsố2 và số7. Nhưthập bội thì thành 20, thành 70. - Loại Mộc số3 và số8. Nhưthập bội thì thành 30, thành 80. - Loại Kim số4 và số9. Nhưthập bội thì thành 40, thành 90. 5 Dương trạ ch tam yế u Triệ u Cửu P hong - Loại Thổsố5 và số10. Nhưthập bội thì thành 50, thành 100. Thập bội là nhân cho 10. Gần và ít thì dùng nguyên số(sốcăn bản). Xa và nhiều thì dùng bội số (bằng 10 lần nhiều hơn). Thí dụsừa được Bếp Sinh khí thuộc Mộc thì tới 3 tháng hay 8 tháng gặp việc may mắn, hoặc sau 30 ngày hay 80 ngày sẽphát tài phát lộc. Thí dụnhà dùng Vũkhúc thuộc Kim làm Sao – chúa thì sau 4 năm hoặc 9 năm nhà sẽphát đạt tới 40 năm, nếu Vũkhúc đắc vịhay đăng – diện thì nhà đại thị nh vượng tới 90 năm… G. Ngũhành ứng kỳ Suy theo Ngũhành mà biết thời kỳcủa sựtốt hay xấu, suy hay thị nh sẽxảy đến. Kiết tinh và kiết du – niên ứng việc thị nh tốt, hung tinh và hung du – niên ứng việc hưng suy. - Loại Thuỷthì hoạphúc ứng vào những năm nhâm Quý hay những năm thuộc Thuỷcục là Thân Tí Thìn. Hoặc đến 10 ngày hay 60 ngày sẽcó điều may rủi đưa tới. Hoặc đến 1 năm hay 6 năm thì nhà cửa sẽhưng suy tới 10 năm hay 60 năm. – Loại Thuỷnhư: cung Khảm, du – niên. Lục sát, Văn khúc. Thí dụ: ởĐộng – trạch dùng Văn khúc làm Sao – chúa ắt tới năm Nhâm, Quý, Thân , Tí, Thìn xảy đến tai hoạ. Hoặc nhà ởtới 1 năm hay 6 năm thì tai hoạkhởi lên và suy vi cho tới 10 năm hay 60 năm. Aáy bởi Văn khúc là hung tinh tất ứng tai hoạvà suy vi. - Loại Hoảthì hoạphúc ứng vào những năm Bính Đinh hay những năm thuộc Hoảcục là Dần NgọTuất. Hoặc tới 20 ngày hay 70 ngày ắt có điều may rủi đưa tới. Hoặc tới 2 năm hay 7 năm thì nhà ởsẽhưng suy tới 20 năm hay 70 năm. – Loại Hoảnhư: cung Ly, du – niên, Ngũquỷ, Liêm trinh. Thí dụChủ– phòng thừa Ngũquỷlà hung du – niên thì đến những năm Bính Đinh Dần NgọTuất tai hoạxảy đến. Thí dụdùng Liêm trinh là hung tinh làm Sao – chúa thì nhà ởtới 2 năm hay 7 năm ắt suy bại mãi đến 20 năm hay 70 năm. - Loại Mộc thì hoạphúc ứng vào những năm Giáp Aát hay những năm tghuộc Mộc cục là Hợi Mão Mùi. Hoặđến 30 ngày hay 60 ngày sẽcó điều may rủi đưa tới. Hoặc tới 3 năm hay 8 năm thì nhà cửa sẽhưng suy tới 30 năm hay 80 năm. – Loại Mộc nhưcung Chấn Tốn, du – niên Sinh khí và Phục vị , Tham lang và PhụBật. Thí dụChủ– phòng thừa Sinh khí là kiết du – niên thì những sựmay mắn sẽxảy ra trong những năm Giáp Aát, Hợi Mẹo Mùi hoặc tới 30 ngày hay 80 ngày thì được tài lâộc. Thí dụnhưdùng Tham lang là kiết tinh làm Sao – chúa thì nhà ởtới 3 năm hay 8 năm sẽphát đạt lên tới 30 năm hay 80 năm. - Loại Kim thì hoạphúc ứng vào những năm Canh Tân hay những năm thuộc kim cục là TỵDậu Sửu. Hoặc đến 40 ngày hay 90 ngày sẽcó điều may rủi đưa tới. Hoặc đến 4 năm hay 9 năm thì nhà ởsẽhưng suy tới 40 năm hay 90 năm. – Loại Kim nhưcung kiền Đoài, du – niên, Tuyệt mệnh và Diên – niên, Phá quân và Vũkhúc. Thí dụ, Chủ– phòng hay Sơn – chủthừa Tuyệt mệnh là hung du – niên thì đến năm Canh Tân, TỵDậu Sửu hoặc đến 40 ngày hay 90 ngày tai hoạsẽxảy tới. Thí dụdùng Vũkhúc là kiết tinh làm Sao – chúa thì nhà ởtới 4 năm hay 9 năm sẽphát đạt lên tới 40 năm hay 90 năm. - Loại Thổthì hoạphúc ứng vào những năm Mậu Kỷhay những năm thuộc Hoảcục là dần Ngọ Tuất hay những năm Tho là Thìn Tuất Sửu Mùi. Hoặc đến 50 ngày hay 100 ngày ắt có điều may rủi đưa tới. Hoặc đến 5 hay 10 năm thì nhà ởsẽhưng suy tới 50 năm hay 100 năm. - Loại Thổlà nhưcung Cấn Khôn, du – niên, Hoạ– hại và Thiên y, sao Lộc tồn và Cựmôn. – Thí dụSơn – chủhay Chủ– phòng thừa Hoạ– hại là hung du – niên hoặc dùng Lộc tồn là hung tinh làm Sao – chúa thì tai hoạsẽxảy tới trong những năm Mậu Ky, Dần NgọThìn Tuất Sửu Mùi. Hoặc nhà ởtới 5 năm hay 10 năm thì khởi đầu suy baại cho đến 50 năm hay 100 năm. – Thí dụ: Sơn – chủhay Chủ– phòng thừa Thiên y là kiết du – niên hay dùng Cựmôn là kiết tinh làm Sao – chúa thì sựmay mắn sẽxảy đến trong những năm Mậu Kỷ, Dần NgọThìn Tuất Sửu Mùi. Hoặc nhà ởđến 50 ngày hay 100 ngày sẽgặp tài lộc. Hoặc nhà ởtới 5 hay 10 năm sẽbắt đầu phát đạt tới 50 năm hay 100 năm. (Chú ý: Loại Hoảvà loại Thổdùng chung Hoảcục là Dần NgọTuất. Loại Thổmà dùng Hoảcục là bởi giữa quảĐị a cầu có khối lửa sinh ra núi lửa). BÀI 5: BÁT CUNG SỞ – THUỘC, HÌNH – TƯỢNG - Kiền có 3 gạch liền thuộc Dương kim, phương Tây Bắc, ứng vềngười là cha, ông, ông già… 6 Dương trạ ch tam yế u Triệ u Cửu P hong - Khảm có gạch giữa liền thuộc Dương thuỷ, phương chánh Bắc, ứng vềngười là con trai giữa, đàn ông lứa tuổi và vừa. - Cấn có gạch trên liền thuộc Dương thổ, phương Đông Bắc, ứng với người là thiếu nam, con trai nhỏ. - Chấn có gạch dưới liền thuộc Dương mộc, phương chánh Đông, ứng vềngười là trưởng nam, con cháu trai lớn. - Tốn có gạch dưới đứt thuộc Âm mộc, phương Đông Nam, ứng vềngười trưởng nữ, con cháu gái lớn. - Ly có gạch giữa đứt thuộc Âm hoả, phương chánh Nam, ứng vềngười là trung nữ, con cháu gái giữa. - Khôn có 3 gạch đứt (thành 6 đoạn) thuộc Âm thổ, phương Tây Nam, ứng vềngười là mẹ, bà, bà già. - Đoài có gạch trên đứt thuộc Âm kim, phương chánh Tây, ứng vềngười là thiếu nữ, con cháu gái nhỏ. Bát cung là 8 cung: Kiền, Khảm, Cấn, Chấn, Tốn, Ly, Khôn, Đoài. Mỗi cung nào cũng có 3 gạch song song với nhau: gạch trên, gạch giữa và gạch dưới, có gạch đứt có gạch liền, nhưng chỉnói một gạch cũng đủbiết 2 gạch kia. Thí dụnói cung Khảm gạch giữa liền tất nhiên là 2 gạch kia đứt. Hai gạch kia là gạch trên và gạch dưới vậy. BÀI 6: BÁT CUNG THU KHẮC ĐOÁN Thụkhắc là bịkhắc, nhưHoảthì bịThuỷkhắc vậy. - Kiền Dương kim gặp loại HoảnhưNgũquỷ, Liêm trinh thì Kiền thọkhắc, hoạhoạn ứng cho bậc cha ông, bậc nam nhân trưởng thượng. - Đoài Âm Kim gặp loại HoảnhưNgũquỷvà Liêm trinh thì Đoài thọkhắc, hoạhoạn ứng cho con cháu gái, hạng thiếu nữ. - Khảm Dương thuỷgặp loại ThổnhưHoạhại, Thiên y, Lộc tồn, Cựmôn thì Khảm thọkhắc: tai hoạứng cho con cháu trai giữa, nam nhân tuổi vừa vừa. - Cấn Dương thổgặp loại Mộc thì thọkhắc, tai hoạứng cho con cháu trai, hàng trai trẻtuổi. Loại Mộc là nhưSinh khí, Phục vị , Tham lang, PhụBật. - Khôn Âm thổgặp loại Mộc thì thọkhắc: tai hoạứng cho mẹ, bà, phụnữtrưởng thượng. Loại Mộc là sinh khí, Phục vị , Tham lang, PhụBật. - Chấn Dương mộc gặp loại Kim thì thọkhắc: tai hoạứng cho hàng con cháu trai cả(lớn), hàng nam nhân trọng tuổi. Loại Kim nhưDiên niên, tuyệt mệnh, Vũkhúc, Phá quân. - Tốn Dương mộc gặp loại Kim thì thọkhắc: tai hoạứng vào hàng con cháu gái cả, phụnữtrọng tuổi. Loại Kim nhưDiên niên, Tuyệt mệnh, Vũkhúc, Phá quân. - Ly Âm hoảgặp loại Thuỷthì thọkhắc: hoạhoạn ứng trung nữ, con cháu gái giữa, phụnữlứa tuổi vừa vừa. Loại ThuỷnhưLục sát, Văn khúc. - Chú ý: Cung thọkhắc có nặng có nhẹ. Cung kiết du – niên hay kiết tinh kắc thì tai hoạnhẹ, bằng bịhung du – niên hay hung tinh khắc thì tai hại nặng nề. – Lại chỉnói về8 cung nhưvầy: . Khảm ThuỷbịCấn Khôn thổkhắc hại. . Cấn Khôn ThổbịChấn Tốn Mộc khắc hại. . Chấn Tốn Mộc bịKiền Đoài Kim khắc hại. . Kiền Đoài Kim bịLy Hoảkhắc hại. . Ly HoảbịKhảm Thuỷkhắc hại. BÀI 7: NIÊN TINH TUỲTHUỘC Niên tức là 8 du – niên. Tuỳthuộc là cùng thuộc một loại Ngũhành và cùng có tam cách, ứng nghiệm nhưnhau. - Du – niên Sinh khí tức sao Tham lang vì đồng thuộc Mộc (kiết). - Du – niên Diên – niên tức sao Vũkhúc vì đồng thuộc Kim (kiết). - Du – niên Thiên y tức sao Cựmôn vì đồng thuộc Thổ(kiết). 7 Dương trạ ch tam yế u - Du - Du - Du - Du - Du Triệ u Cửu P hong – niên Phục vịtức sao PhụBật vì đồng thuộc Mộc (bán kiết). – niên Tuyệt mệnh tức sao Phá quân vì đồng thuộc Kim (hung). – niên Ngũquỷtức sao Liêm trinh vì đồng thuộc Hoả(hung). – niên bịHoạhại tức sao Lộc tồn vì đồng thuộc Thổ(hung). niên Lục sát tức sao Văn khúc vì đồng thuộc Thuỷ(hung). BÀI 8: BÁT BIẾN DU – NIÊN - Bát là 8. Bát biến du – niên là 8 lần biến ra du – niên. Cung nào cũng có 8 lần biến ra 8 du – niên cho 7 cung kia và bổn cung. - Biến nghĩ a là đổi: gạch Aâm đổi thành gạch Dương, gạch Dương đổi thành gạch Aâm. Nói chung có 3 gạch: gạch trên, gạch giữa, gạch dưới. Gạch liền (liền một lằn) gọi là gạch Dương, gạch đứt (đứt làm 2 đoạn) gọi là gạch âm. Khi muốn biến gạch liền thì đổi nó ra gạch đứt, tức Dương biến thành Aâm. Khi muốn biến gạch đứt thì đổi nó ra gạch liền, tức Aâm biến thành Dương. Thí dụmình biến 3 gạch của cung Ly nhưvầy: . Gạch trên là gạch liền thì biến nó thành gạch đứt - . Gạch giữa - - là gạch đứt thì biến nó thành gạch liền . Gạch dưới là gạch liền thì biến nó thành gạch đứt - - Mỗi lần biến là mỗi lần sanh ra một du – niên do theo lần biến đó là lần thứmấy. Tám lần biến ra 8 du – niên có thứtự nhưsau: - Lần thứ1 biến gạch trên sanh ra du – niên Sinh khí tức sao Tham lang. - Lần thứ2 - giữa - Ngũquỷ- Liêm trinh. - Lần thứ3 - dưới - Diên niên - Vũkhúc. - Lần thứ4 - giữa - Lục sát - Văn khúc. - Lần thứ5 - trên - Hoạhại - Lộc tồn. - Lần thứ6 - giữa - Thiên y - Cựmôn. - Lần thứ7 - dưới - Tuyệt mệnh - Phá quân. - Lần thứ8 - giữa - Phục vị- PhụBật. Suy theo trên thì biến từgạch kếtiếp nhau mà khởi đầu là biến gạch trên. Sắp gom lại có thứtự 8 lần biến nhưvầy: trên, giữa, dưới, giữa, trên, giữa, dưới, giữa. Nên chú ý: mỗi lần biến tuy chỉ biến có một gạch mà thôi, nhưng tên cung này đã đổi qua tên cung trước đểlàm ra tên cung kế sau đó. Và mỗi cung được đổi ra đó chính là một phương vịcó thừa một du – niên. Bây giờtheo cách đã chỉdẫn trên, mình biến ra 8 phương vịcho cung Kiền đểlàm kiểu mẫu. Cung Kiền có 3 gạch liền. - Lần thứ1 biến gạch trên của Kiền thành ra Đoài. Vậy Đoài là phương chánh tây thừa Sinh khí tức sao Tham lang thuộc Mộc (tốt). - Lần thứ2 biến gạch giữa của Đoài thành ra Chấn. Vậy Chấn là phương chánh Đông thừa Ngũ quỷtức sao Liêm trinh thuộc Hoả(xấu). - Lần thứ3 biến gạch dưới của Chấn thành ra Khôn. Vậy Khôn là phương tây Nam thừa Diên – niên tức sao Vũkhúc thuộc Kim (tốt). -Lần thứ 4 biến gạch giữa của Khôn thành ra Khảm. Vậy Khảm là phương chánh Bắc thừa Lục sát tức sao Văn khúc thuộc Thuỷ(xấu). - Lần thứ5 biến gạch trên của Khảm thành ra Tốn. Vậy Tốn là phương Đông Namthừa Hoạhại tức sao Lộc tồn thuộc Thổ(xấu). - Lần thứ6 biến gạch giữa của Tốn thành ra Cấn. Vậy Cấn là phương Đông Bắc thừa Thiên y tức sao Cựmôn thuộc Thổ(tốt). - Lần thứ7 biến gạch dưới của Cấn thành ra Ly là phương chánh Nam thừa Tuyệt mệnh tức sao Phá quân thuộc Kim (xấu). - Lần thứ8 biến gạch giữa của Ly thành ra Kiền. Vậy Kiền là phương tây Bắc thừa Phục vịtức sao PhụBật thuộc Mộc (tốt ít). (Chú ý: Cung nào cũng vậy, hễbiến tới lần thứ8 thì hoàn trởlại hình tượng của nó (trởlại bổn 8 Dương trạ ch tam yế u Triệ u Cửu P hong cung), đó là cái nghĩ a hai chữ Phục vị . Nhưtrên là cung Kiền có 3 gạch liền, khi biến tới lần thứ 8 thì hoàn trởlại Kiền tức trởlại 3 gạch liền, và thừa Phục vị ). LẬP THÀNH TÓM TẮT Cách lập thành (tính sẵn) này rất gọn, rất dễtìm cho mau lẹđểsửdụng, không cần phải biến gạch trên, gạch giữa, gạch dưới… cũng khỏi xét tới việc biến lần 1, lần 2 hay lần thứmấy. Chỉ nói cung này gặp cung kia thì biến sanh ra một du niên. Nhưthấy Kiền gặp Kiền: Phục vị ; Khảm: Lục sát… thì biết là Kiền gặp Kiền thì biến sanh ra du niên Phục vị ; gặp Khảm thì biến sanh ra du niên Lục sát… Cách lập thành tóm tắt này theo thứtự8 cung: Kiền, Khảm, Cấn, Chấn, Tốn, Ly, Khôn, Đoài. Khởi đầu là kiền gặp Kiền, Khảm gặp Khảm, Cấn gặp Cấn… KIỀN gặp:-------KHẢM gặp:---------CẤN gặp:---------CHẤN gặp: Kiền: Phục vị ----Khảm: Phục vị ------Cấn: Phục vị ------Chấn: Phục vị Khảm: Lục sát---Cấn: Ngũquỷ------Chấn: Lục sát-----Tốn: Diên niên Cấn: Thiên y----Chấn: Thiên y------Tốn: Tuyệt mệnh--Ly: Sinh khí Chấn: Ngũquỷ--Tốn: Sinh khí-------Ly: Hoạhại--------Khôn: Hoạhại Tốn: Hoạhại----Ly: Diên niên-------Khôn: Sinh khí-----Đoài: Tuyệt mệnh Ly: Tuyệt mệnh-Khôn: Tuyệt mệnh--Đoài: Diên niên----Kiền: Ngũquỷ Khôn: Diên niên-Đoài: Hoạhại-------Kiền: Thiên y------Khảm:Thiên y Đoài: Sinh khí---Kiền: Hoạhại-------Khảm: Ngũquỷ----Cấn: Lục sát TỐN gặp:-------LY gặp:----------KHÔN gặp:--------- ĐOÀI gặp: Tốn: Phục vị ----Ly: Phục vị -------Khôn: Phục vị ------ Đoài: Phục vị Ly: Thiên y-----Khôn: Lục sát-----Đoài: Thiên y------ Kiền: Sinh khí Khôn: Ngũquỷ--Đoài: Ngũquỷ-----Kiền: Diên niên---- Khảm: Hoạhại Đoài: Lục sát----Kiền:Tuyệt mệnh-Khảm: Tuyệt mệnh- Cấn: Diên niên Kiền: Hoạhại----Khảm: Diên niên--Cấn: Sinh khí------ Chấn: Tuyệt mện Khảm: Sinh khí---Cấn: Hoạhại-----Chấn: Hoạhại----- Tốn: Lục sát Cấn:Tuyệt mệnh-Chấn: Sinh khí---Tốn: Ngũquỷ------ Ly: Ngũquỷ Chấn: Diên niên--Tốn: Thiên y-----Ly: Lục sát-------- Khôn: Thiên y BÁT MÔN CÁC DU - NIÊN Bát môn cũng tức là 8 cung Kiền, Khảm, cấn… các du – niên là theo khuôn khổtóm lại mà biết tên 8 du niên của mỗi cung biến ra. – Các nhà chuyên môn Bát trạch đều thuộc nằm lòng bài này đểtính ra du – niên một cách linh tiệp, khỏi phải lật sách tìm, xem bài này vốn theo cách Lập thành tóm tắt trên, nhưng khác hơn 3 điều: 1. Không kểra tên 8 cung gặp kia. 2. Tên du – niên nào cũng có 2 chữ, nhưng đây chỉdùng một trong 2 chữ. 3. Bỏdu – niên Phục vị(vì mình đã rõ kiền gặp Kiền, Khảm gặp Khảm, Cấn gặp Cấn… đều là phục vị ). - KIỀN lục, thiên, ngũ, hoạ, tuyệt, diên, sinh. - KHẢM quỷ, y, khí, niên, mệnh, hại, sát. - CẤN sát, tuyệt, hoạ, sinh, tuyệt, diên. - CHẤN niên, khí, hại, mệnh, quỷ, y, sát. - TỐN thiên, ngũ, lục, hoạ, sinh, tuyệt, diên. - LY sát, quỷ, mệnh, niên, hại, khí, y. - KHÔN y, diên, tuyệt, sinh, hoạ, ngũ, lục. - ĐOÀI khí , hại, niên, mệnh, sát, quỷ, thiên. - Dẫn giải câu đầu vềcung Kiền: (bỏKiền gặp Kiền là Phục vị ) Kiền gặp Khảm là Lục sát, gặp Cấn là Thiên y, gặp Chấn là Ngũquỷ, gặp Tốn là Hoạhại, gặp Ly là Tuyệt mệnh, gặp Khôn là Diên niên, gặp Đoài là Sinh khí. 9 Dương trạ ch tam yế u Triệ u Cửu P hong . Câu 2: Khảm gặp Cấn là Ngũquỷ, gặp Chấn là Thiên y, gặp Tốn… . Câu 3: Cấn gặp Chấn là Lục sát, gặp Tốn là Tuyệt mệnh, gặp Ly… . Câu 4: Chấn gặp Tốn là Diên niên, gặp Ly là Sinh khí, gặp Khôn… . Gặp 5: Tốn gặp Ly là Thiên y, gặp Khôn là ngũquỷ, gặp Đoài… . Gặp 6: Ly gặp Khôn là Lục sát, gặp Đoài là Ngũquỷ, gặp Kiền… . Câu 7: Khôn gặp Đoài là thiên y, gặp Kiền là Diên niên, gặp Khảm… . Câu 8: Đoài gặp Kiền là Sinh khí, gặp Khảm là Hoạhại, gặp Cấn… BÀI 9: CÁC ỨNG BIẾN VÀ HỖ BIẾN Trong phép Bát biến du – niên (xem bài 8) có hai cách: chính biến và Hổbiến. Cần phân biệt để dùng cho trúng chỗ. - Chính biến: là từcung Cửa – cái biến tới mỗi cung của các chỗkia. Mỗi khi biến tất được một du – niên. Từcung Cửa – cái biến tới một cung nào thì an du – niên vào cung ấy chớkhông an vào Cửa – cái. Thí dụCửa – cái tại Kiền và Bếp tại Đoài thì phải từ Kiền biến tới Đoài tất được Sinh khí, vậy an Sinh khí tại Bếp Đoài chớkhông an tại Cửa – cái Kiền. Thí dụCửa – cái tại Khảm và Chủ– phòng hay Sơn – chủtại Chấn thì phải từKhảm biến tới Chấn tất được Thiên y, vậy an Thiên y tại Chủ– phòng hay Sơn – chủChấn. Thí dụCửa – cái tại Ly và Hướng Bếp ngó vềĐoài thì phải từLy biến tới Đoài tất được Ngũquỷ, đó là Hướng – Bếp ngó vềĐoài Ngũquỷ… Từ Cửa – cái biến tới Cửa Bếp, biến tơi Cửa – phòng, biến tới Cửa – ngõ đều cũng gọi là Chính biến, nhưng 3 chỗnày ít quan trọng. - Hỗbiến là hai cung của hai chỗbiến qua biến lại với nhau và tất nhiên cùng được một du – niên giống tên. Du – niên này không chính thức ởbên nào, nhưng vẫn có ảnh hưởng cho cảhai bên (hai chỗ). Thí dụtừBếp Ly biến tới Sơn – chủTốn được Thiên y, rồi từSơn – chủTốn biến lại Bếp Ly tất cũng được Thiên y. Thiên y này ảnh hưởng cho cảhai bên Ly và Tốn, nhưng nhiều ít có khác. Bởi Thiên y Thổnói với Ly Hoảlà tương sanh đắc vị , tốt nhiều, nhưng đối với Tốn Mộc là tương khắc thất vị , tốt ít. Hỗbiến không dùng vào hết thảy 7 chỗquan hệ, chỉdùng vào 3 chỗchính yếu mà thôi, tuỳtheo Tị nh – trạch, Động – trạch hay Biến – hoá – trạch. Ở Tị nh trạch thì dùng Cửa – cái, Chủ– phòng và Bếp hỗbiến với nhau. Ở Động trạch hay Biến hoá trạch thì dùng Cửa – cái, Sơn – chủvà Bếp hỗbiến với nhau. – Như3 chỗchính yếu hỗbiến với nhau được 3 du – niên tốt là Sinh khí, Diên niên và Thiên y thì gọi là Nhà ba tốt (nhà có 3 du – niên tốt). Bằng 3 chỗchính yếu hỗbiến với nhau chỉđược một du – niên tốt mà tới 2 du – niên xấu là cái nhà bất lợi. (Không có trường hợp hai chỗtốt và một chỗxấu. Cũng không có trường hợp ba chỗđều xấu). Phàm ởnhà ba tốt sẽphát đạt, giàu sang và yên lành. Thí dụCửa – cái tại Cấn, Phòng – chủtại Khôn và Bếp tại Đoài. Vậy lấy Cấn Hỗbiến cùng được Sinh khí, lấy Khôn với Đoài hỗbiến cùng được Thiên y và lấy Đoài với Cấn hỗbiến cùng được Diên niên. Ba chỗchính yếu này hỗbiến với nhau được Sinh khí, Diên niên và Thiên y là ba du – niên tốt cho nên gọi là Nhà ba tốt, ởsẽ thị nh vượng. – Thí dụCửa – cái tại Tốn, Sơn – chủtại Kiền và Bếp tại Khảm. Vậy lấy Tốn với Kiền hỗbiến cùng được Hoạhại, lấy Kiền với Khảm hỗbiến cùng được Lục sát, và lấy Khảm với Tốn hỗbiến cùng được Sinh khí. Ba chỗchính yếu này hỗbiến với nhau được Hoạhại, Lục sát và Sinh khí, tức là chỉcó một tốt mà tới hai xấu cho nên gọi là nhà bất lợi, ởchẳng thị nh vượng. BÀI 10: DU – NIÊN SỞ – THUỘC, HUNG KIẾT - Có 4 kiết du – niên ứng điểm lành là: Sinh khí Diên niên, Thiên y và Phục vị . Và cũng có 4 hung du – niên ứng điểm dữlà: Tuyệt mệnh, Ngũquỷ, Lục sát và Họa hại. 1) SINH KHÍ thuộc Mộc là du – niên rất tốt, đem sức sống mạnh và nguồn sanh lợi lộc vào nhà. Ở Đông tứ trạch thì hợp trạch (hợp với nhà), khiến cho nhà thị nh vượng lên, vì Mộc với Kim tương khắc. Sinh khí lâm Chấn Tốn Mộc là đăng diện tốt nhiều hơn lâm Khảm Ly Thuỷlà đắc vị , cón lâm Kiền Đoài Cấn Khôn là thất vịtốt ít. (Phàm du – niên gặp cung tỷhoà là đăng diện tốt bậc nhất, gặp cung tương sanh là đắc vịtốt bậc nhì, gặp cung tương khắc là thất vịtốt bậc ba). 2) DIÊN NIÊN thuộc Kim là du – niên rất tốt, có nghĩ a là tuổi thọ, làm bền sựphát đạt, thứnhất là phát đạt tài ngân, châu ảo. Cũng gọi nó là thần phúc đức. Ở Tây tứtrạch thì hợp trạch (hợp với nhà), khiến cho nhà thị nh vượng lên, vì Kim gặp Kim thành Vượng khí. Bằng ởĐông tứtrạch 10 Dương trạ ch tam yế u Triệ u Cửu P hong là không hợp với nhà, vì Kim với Mộc tương khaắc. – NhưDiên niên lâm kiền Đoài là đăng diện tốt nhiều hơn lâm Cấn Khôn Khảm là đắc vị , còn lâm Chấn Tốn Ly là thất vịít tốt. 3) THIÊN Y thuộc Thổlà du – niên rất tốt, làm hưng vượng điền sản, đất vườn, lục súc. Nó có tính cách nhưmột lương y, một cứu tinh năng giải trừtai hoạn, năng gia tăng phúc đức. Ở Tây tứtrạch thì nó hợp với nhà vì Thổsanh nhà Kim, bằng ởĐông tứtrạch không hợp với nhà vì nhà Mộc khắc Thổ. Thiên y làm Cấn Khôn là tỷhoà đăng diện tốt nhiều hơn lâm Kiền Đoài Ly là tương sanh đặc vị , còn lâm Chấn Tốn Khảm là tương khắc thất vịtốt ít. 4) PHỤC VỊlà du niên tốt phụthuộc, có tánh cách phụtrợ, tiếp thêm. Ở chung với Phòng – chủ hay Sơn – chủvà Bếp thừa Sinh khí, Diên niên, Thiên y thì nó tốt theo, bằng thừa hung du – niên thì nó chẳng ra gì. Ở Đông tứtrạch thì nó hợp với nhà vì Mộc ặp Mộc sanh vượng khí, bằng ởTây tứtrạch thì nó không hợp với nhà vì nhà Kim khắc Mộc. – Phục vịlâm Chấn Tốn là tỷhoà đăng diện tốt hơn lâm Khảm Ly là tương sanh đặc vị , bằng lâm Kiền Đoài Cấn Khôn là tương khắc thất vịtốt ít. 5) TUYỆT MỆNH là du – niên rất hung hại, đem tuyệt khí vào nhà, sinh kếrất bất lợi. Nó ởcung nào cũng gây tai hoạ, dù tỷhoà hay tương sanh cũng vậy (dù đăng diện hay đắc vịcũng vậy). Đông tứtrạch có nó thì nguy lắm vì nó Kim khắc nhà Mộc. 6) NGŨ QUỶthuộc Hoảlà du – niên rất hung, đem tai hoạvào nhà, thứnhất là những chuyện quái dị , bệnh hoạn và các tai nạn máu lửa. Bếp gặp nó xấu nhất. Ở Tây tứtrạch có nó thì nguy nhất vì nó Hoảkhắc nhà Kim. Dù nó đăng diên hay đắc vịcũng hung. 7) LỤC SÁT thuộc Thuỷlà hung du niên, đem sát khí vào nhà, chuyện ứng vềcác tai nạn nước, tà dại, dâm đãng. Nó ởBếp hại nhiều hơn ởcác chỗkhác. Cái sức lực gây tai hoạcủa nó kém hơn Ngũquỷvà Tuyệt mệnh, vì nó thuộc Thuỷđối với Đông tứtrạch hay Tây tứtrạch đều tương sanh. 8) HOẠ HẠI là một hung du – niên, đem hung khí vào nhà, sanh nhiều hao hại. Cái sức hung hại của nó tương đương hoặc nhẹhơn Lục sát. Đối với Đông tứtrạch tương sanh, đối với Tây tứ trạch nó bịkhắc, không nguy hại bằng Tuyệt mệnh và Ngũquỷ. (Chú ý: Sinh khí đồng ứng nhưsao Tham lang, Diên niên đồng ứng nhưsao Vũkhúc, Thiên y đồng ứng nhưsao Cựmôn, Phục vịđồng ứng nhưsao PhụBật, Tuyệt mệnh, đồng ứng nhưsao Phá quân, ngũquỉđồng ứng nhưsao Liêm trinh, Lục sát đồng ứng nhưsao Văn khúc và Hoạhại đồng ứng nhưsao Lộc tồn. Vậy nên xem bài 11 nữa mới đầy đủ). DƯƠNG TRẠCH TAM YẾU (tiếp theo) (KIẾN TRÚC HỌC PHƯƠNG ĐÔNG) Triệu Cửu Phong BÀI 11: BÁT TINH SỞ THUỘC, HUNG KIẾT Bát tinh là 8 sao (8 ngôi sao). Sao tốt gọi là kiết tinh ứng những việc lành; sao xấu gọi là hung tinh ứng các việc dữ. Có 4 kiết tinh: Tham lang, Vũkhúc, Cựmôn và PhụBật. Có 4 hung tinh: Tuyệt mệnh, Liêm trinh, Văn khúc và Lộc tồn. Chiếu theo bài 10 đã có nói những sựviệc lành dữcủa 8 du – niên, mình cũng biết được đại khái những sựviệc lành dữcủa 8 sao trong bài 11 này, vì 8 du – niên và 8 sao tuỳthuộc nhau (xem bài 7). Nhưng 8 du – niên được dùng cảbốn loại trạch, còn 8 sao chỉdùng ởĐộng trạch và Biến hoá trạch (Xem các thiên II, III, VI, V). Những điều lành dữcủa 8 sao trong bài này cốt ý nói là khi nó được dùng làm Sao – chúa tức ở tại Phòng – chúa. Phòng – chúa tức ởtại Phòng – chúa. Phòng – chúa tức ngăn cao rộng lớn nhất của Động trạch và Biến hoá trạch là những loại trạch được dùng tới cách phiên tinh. Phàm hễkiết tinh là tốt, nhưng kiết tinh đắc vịmới quí, kiết tinh đăng diện càng quí hơn, kiết tinh nhập miếu quí nhất bậc. Duy kiết tinh thất vịlà sao mất ngôi chẳng còn quí nữa, tốt qua loa Kiết tinh đắc vị , đăng diện và nhập miếu gọi chung là kiết tinh đắc cách, nghĩ a là được cách tốt. Còn hung tinh dù đắc cách cũng vẫn làm cho nhà suy vi huống chi là hung tinh thất vị . Trong bài 10 lấy 8 du – niên so đôi với các cung của nó gặp mà tính ra đắc cách hay thất vị . Còn 11 Dương trạ ch tam yế u Triệ u Cửu P hong trong bài 11 này lấy 8 sao so đối với cung Sơn – chủmà tính biết đắc cách hay thất vị . Sơn chủ là cung chính giữa mặt hậu nhà tại ngăn sau chót của Đông trạch và Biến hoá trạch. - Kiết tinh đắc vịlà sao tốt được ngôi. Phàm kiết tinh sanh Sơn – chủ, Sơn chủsanh kiết tinh thì gọi là kiết tinh đắc vị , nhưng kiết tinh sanh Sơn – chủcó phần tốt hơn Sơn – chủsanh kiết tinh. NhưTham lang Mộc sanh Sơn – chủLy Hoảhoặc Sơn – chủKhảm Thuỷsanh Tham lang Mộc. NhưCựmôn Thổgặp các Sơn – chủKiền Đoài Kim hay Ly Hoả. NhưVũkhúc Kim gặp các Sơn – chủKhảm Thuỷhay Cấn Khôn Thổ… - Kiết tinh đăng diện là sao tốt lên diện cao quí. Phàm kiết tinh và Sơn – chủđồng thuộc một loại ngũhành thì gọi là kiết tinh đăng diện. NhưTham lang Mộc hay PhụBật Mộc gặp các Sơn chủ Chấn Tốn cũng Mộc. NhưVũkhúc Kim gặp các Sơn – chủKiền Đoài cũng Kim. NhưThiên y Thổ gặp các Sơn – chủCấn Khôn cũng Thổ. - Kiết tinh nhập miếu là sao tốt vào miếu vũtôn thương. Phàm kiết tinh đắc vịhay đăng diện lại được ởngăn mặt hậu tức là ngăn sau hết, trực ngôi với Sơn – chủthì gọi là kiết tinh nhập miếu, quí hiển vô cùng. NhưĐộng trạch 4 ngăn có Sơn – chủCấn tại mặt hậu nhà và ngăn thứtưcao rộng lớn nhất là Phòng – chúa có sao Cựmôn. Vậy Cựmôn Thổgặp Sơn – chủCấn cũng Thổtức tỷhoà (đồng một loại ngũhành) cho nên gọi Cựmôn là kiết tinh đăng diện. Đã đăng diện lại được ởngăn thứtưlà ngăn sau hết trực tiếp với Sơn – chủcho nên lại gọi Cựmôn là kiết tinh nhập miếu, thật quí hiển vô cùng. Thí dụnhà này không phải Sơn – chủCấn Thổmà Sơn – chủ Ly Hoảthì Cựmôn không đăng diện mà là Cựmôn đắc vị , nhưng vẫn ởngăn sau hết thì cũng gọi Cự môn nhập miếu. Và lẽdĩnhiên Cự môn đắc vịmà nhập miếu tốt không bằng Cựmôn đăng diện mà nhập miếu. - Kiết tinh thất vịlà sao tốt mất ngôi. Phàm kiết tinh khắc Sơn – chủkhắc kiết tinh đều gọi là kiết tinh thất vị , tốt ít oi, dù ởngăn sau hết được trực tiếp với Sơn – chủcũng vậy. NhưTham lang hay PhụBật Mộc gặp các các Sơn – chủKiền Đoài Kim hay Cấn Khôn Thổ(Mộc với Kim tương khắc, mà Mộc với Tổcũng tương khắc, mà Kim với Mộc cũng tương khắc. NhưCự môn Thổ gặp các Sơn – chủKhảm Thuỷhay Chấn Tốn Mộc (Thổvới Thuỷtương khắc mà Thổvới Mộc cũng tương khắc). Trên nói vềkiết tinh đắc cách và thất vịmà không cần đềcập với hung tinh làm Sao – chúa. Còn sau đây là nói vềtính cách của mỗi sao, kểcảkiết tinh và hung tinh. - Tham lang là kiết tinh thuộc Mộc, rất hợp với Đông tứtrạch bởi sao Mộc ởnhà Mộc là vượng khí. Nó được dùng làm Sao – chúa (tức ởPhòng – chúa) ắt khiến gia đạo hưng long, sanh con anh hùng, nghềvăn lập nên nhiều phái, viết nên nhiều bài văn cách tiếng tăm, rành rẽvà thông thạo trăm việc… Sao – chúa Tham lang ởnhà có các Sơn – chủKiền Đoài Cấn Khôn là thất vị . Ở nhà có Sơn – chủKhảm hay Ly là đắc vị , ởnhà có Sơn – chủChấn hay Tốn là đăng diện. Nhưđắc vịhay đăng diện lại ởtại ngăn sau chót trực ngộvới Sơn – chủthì gọi là nhập miếu. – Tham lang thất vị cũng khiến cho nhà phát đạt nhỏ, đặc vịkhiến cho nhà giàu có vừa vừa, đăng diện khiến cho nhà giàu sang lớn, nhập miếu khiến nên đại thị nh vượng và phú quí tột đỉ nh. Nhà có Sao – chúa Tham lang ởtới 3 năm hay 8 năm thì khởi đầu phát đạt. Sựphát đạt này kéo dài tới 30 năm. Nếu Tham lang ởNhà ba tốt (xem bài 9) thì sựphát đạt tiến lên tới 80 năm, có thểnhiều hơn nữa nếu gia chủnhân từ, thường làm ân đức. - Vũkhúc là kiết tinh thuộc Dương Kim, rất hợp với tây tứtrạch vì Kim gặp Kim là vượng khí. Nó được dùng làm Sao chúa (tức ởPhòng – chúa) thì nhà rất thị nh mậu, sanh xuất bậc hào hoa, tài trí, xuất thân từhai cửa vũvăn, võ dõng mà nhân từ, hiếu hạnh, có tài cán lớn mà hiểu rành lắm việc… Sao – chúa Vũkhúc ởnhà có các Sơn chủLy Chấn Tốn là thất vịởnhà có các Sơn – chủCấn Khôn Khảm là đắc vị , ởnhà có các Sơn – chủKiền Đoài là đăng diện lại ởnhằm ngăn sau chót trực ngộvới Sơn – chủtgì gọi là nhập miếu. Phàm Vũkhúc thất vịcũng khiến cho nhà phát đạt nhỏ, đắc vịkhiến cho nhà giàu có vừa vừa, đăng diện ắt khiến cho nhà giàu sang lớn, nhập miếu khiên nên đại thị nh vượng và phú quí tột đỉ nh. Nhà có Sao – chúa là Vũkhúc, ởtới 4 năm hay 9 năm thì khởi đầu phát đạt. Sựphát đạt này 12 Dương trạ ch tam yế u Triệ u Cửu P hong kéo dài tới 40 năm. Nếu Vũkhúc được dùng trong Nhà ba tốt (xem bài 9) thì sự phát đạt tiến lên tới 90 năm. Có thểhơn nữa nếu gia chủnhân từ, thường làm âm đức. - Cựmôn là kiết tinh thuộc Dương Thổ, rất hợp với Tây tứtrạch là bởi sao Thổsanh nhà Kim. Nó được dùng làm Sao – chúa (tức ởPhòng – chú) thì người cùng tiền bạc và gia đạo đều hưng vượng, công danh hiển hách, ba đạo (Nho, Thích, Lão) đều tinh thông. Người tánh trí thông minh trong nghềy dược và lý số. Nếu làm bác sĩ , dược sư, bổn sưrất được vang danh. Sao – chúa Cựmôn ởnhà có các Sơn chủKhàm Chấn Tốn là thất vị , ởnhà có các Sơn – chủLy Kiền Đoài là đắc vị , ởnhà có các Sơn – chủCấn Khôn là đăng diện. Nhưđắc vịhay đăng diện lại ởnhằm ngăn sau chót trực ngộvới Sơn – chủthiì gọi là nhập miếu. – Phàm Cự môn thất vịcũng khiến cho nhà phát đạt nhỏ, đắc vịkhiến cho nhà giàu có vừa vừa, đăng diện khiến cho nhà giàu sang lớn, nhập miếu khiến nên đại thị nh vượng và phú quí tột đỉ nh. Phàm là nhà có Sao – chúa là Cựmôn, ởtới 5 năm hay 10 năm thì khởi đầu phát đạt. Sựphát đạt này kéo dài tới 50 năm. Nếu Cựmôn được dùng trong Nhà ba tốt (xem bài 9) thì sựphát đạt tiến tới 100 năm. Có thểhơn thếnữa nếu gia chủnhân từ, thường làm âm đức. - PhụBật cũng thuộc vềkiết tinh nhưng chỉtốt bằng phân nửa Tham lang, Vũkhúc và Cựmôn. Nó là sao thuộc Mộc thứnhì (Tham lang là Mộc thứnhất) rất hợp với Đông tứ trạch, bởi sao Mộc gặp nhà Mộc thì vượng khí. PhụBật có nghĩ a là theo giúp. Vì vậy nên có tốt hay xấu là tuỳtheo Sơn – chủvà Bếp. NhưSơn – chủvà Bếp thừa kiết du – niên (Sinh khí, Diên niên, Thiên y) thì nó trợlực tốt thêm. Bằng Sơn – chủvà Bếp thừa hung du – niên (Tuyệt mệnh, Ngũquỷ, Lục sát, Hoạhại) thì nó vô dụng không ra gì. Sao – chúa PhụBật ởnhà có các Sơn – chủKiền Đoài Cấn Khôn là thất vị , ởnhà có các Sơn – chủKhàm Ly là đắc vị , ởnhà có các Sơn – chủChấn Tốn là đăng diện. Nhưđắc vịhay đăng diện lại ởnhằm ngăn sau chót trực ngộvới Sơn – chủthì gọi là nhập miếu.- Phàm PhụBật thất vịthì nhà chỉđủăn, đắc vịthì nhà khá giả, đăng diện là nhà giàu có vừa vừa, nhập miếu là nhà giàu sang trung bình. Nhà có Sao – chúa là PhụBật, ởtới 3 năm hay 8 năm thì khởi đầu khá giả. Sựkhá giảnày kéo dài tới 15 năm. Nếu PhụBật được dùng trong cái Nhà ba tốt (xem bài 9) thì khá lâu tới 40 năm. Hoặc có thểnhiều hơn nữa nếu gia chủnhân từ, thường làm âm đức. (Sựphát đạt và thời gian phát đạt của PhụBật chỉbằng phân nửa của Tham lang). - Đính ngoa: Tham lang là sao Mộc phát đạt lớn, PhụBật cũng là sao Mộc nhưng phát đạt nhỏ. Đó là bởi danh từvà tính chất khác nhau. Nhưng cùng loại Mộc tất phải cùng ứng vào các số3, 5, 30 và 50. Do đó thời gian phát đạt của PhụBật phải bằng thời gian phát đạt của Tham lang, mặc dù sựphát đạt hơn kém nhau rất xa. Xin thỉ nh học giảsuy nghiệm. - Phá quân là đại hung tinh thuộc Kim, khắc phá Đông tứtrạch nhiều hơn Tây tứtrạch, là sao hung tợn khó nỗi đương. Phòng – chúa có Phá quân sanh bệnh Huỳnh thũng (bệnh da vàng, phù thũng) làm khổsởcon người. Có con nhưng nó chẳng sống lâu, con gái bệnh lao mà mạng cũng yếu. Nó gây nhiều tai hoạn dữtợn, chẳng luận là đắc cách hay thất vị . - Liêm trinh là đại hung tinh thuộc Hoả, khắc phá Tây tứtrạch nhiều hơn Đông tứ trạch. Phòng – chúa có Liêm trinh làm cho nhà cửa tiêu hoại. Tính cách của nó rất hung dữvà liều lĩ nh, nhưng nếu cầm thương ra trận là một chiến sĩmạnh mẽ, hăng say. Nó thường gây bệnh hoạn và thịphi (khẩu thiệt) và hiềm khích. - Văn khúc là hung tinh thuộc Thuỷcó tính thấm xuống cho nên khó mà tấn phát. Phòng – chúa có nó khiến cho người làm những chuyện điên cuồng, rồdại kểra chẳng hết, khiến cho nhà suy đồi, vận mệnh cùng khốn, huỷhoại tổnghiệp, phá hết ruộng vườn. Nếu làm binh sĩắt vì ngỗ nghị ch mà bịđày ải. - Lộc tồn là hung tinh thuộc Âm Thổ. Phong – chúa có nó ắt nhà không thị nh vượng, khiến người tàn tạ,nhân khẩu bớt dần, con cái chẳng hưng, e tuyệt tựphải lập phòng nhì mới tốt. BÀI 12: NIÊN, TINH HUNG KIẾT TỔNG ĐOÁN Bài 10 đã nói sựtốt xấu của 8 du – niên và bài 11 đã nói sựtốt xấu của 8 sao, nhưng vì bổ khuyết là việc rất cần nên mới có bài 12 này luận đoán chung cho 8 du – niên và 8 sao. 13 Dương trạ ch tam yế u Triệ u Cửu P hong Muốn chẳng tai hoạthì nên gặp Thiên y, Phục vị , gặp Sinh khí, Diên niên đặng nhiều điều tốt lành. Ngũquỷ, Liêm trinh gây lắm tai ương, làm hại tới mạng người. Lục sát làm thương vong Lục súc, xảy lắm việc kinh hoàng. Tuyệt mệnh làm bại thương nhân khẩu. Hoạhại sanh điều bất lương. Tham lang, Sinh khí thêm quan lộc. Vũkhúc, Diên niên thọmạng, lâu dài. Phục vị , việc việc y nhiên an ổn. Cựmôn, Thiên y là kho tiền tài, bảo vất. Liêm trinh, Ngũquỷlàm người mang bệnh. Tuyệt mệnh, Phá quân là mối dẫn tai ương. Lộc tồn, Hoạhại chăng kham nhân khẩu (sốngười hiếm hoi). Văn khúc, Lục sát phụnữbất tường (không tốt). - Sinh khí hay Tham lang thuộc Mộc, gặp Khảm Ly đắc vị , gặp Chấn Tốn đăng diện ắt hưởng phước lộc lâu dài. Riêng nói Tham lang gặp Khảm thì thật là vẻvang, thị nh vượng. – Nhưgặp Kiền Đoài thì nó bịKiền Đoài khắc gọi là nội chiến. Nhưgặp Cấn Khôn thì nó khắc Cấn Khôn thì gọi là ngoại chiến. Nội chiến giảm bớt 50% tốt, ngoại chiến giảm bớt 30% tốt. (Phàm Cung khắc Tinh gọi là nội chiến, còn Tinh khắc Cung gọi là ngoại chiến. Tinh là nói gồm 8 du – niên và 8 sao). - Thiên y hay Cự môn thuộc Thổ, gặp Kiền Đoài Ly thì đắc vị , gặp Cấn Khôn thì đăng diện ắt đặng phát phước phát lộc lâu dài. Riêng nói Cự môn gặp Ly, con cháu rất cường thị nh. – Như gặp Chấn Tốn là nội chiến, gặp Khảm là ngoại chiến ắt bớt thị nh vượng. - Diên niên hay Vũkhúc thuộc Kim, gặp Cấn Khảm là đắc vị , gặp Kiền Đoài là đăng diện đồng ứng vềsựphát tài, phát lộc, phát phước lâu dài. Riêng nói Vũkhúc gặp Khôn Cấn rất hưng thị nh. – Nhưgặp cung Ly là nội chiến, gặp cung Chấn Tốn là ngoại chiến ắt bớt thị nh vượng. - Tuyệt mệnh hay Phá quân thuộc Kim, gặp cung Ly là nó bịkhắc, khác nào nhưthú dữđường cùng bịbức, ắt nó quay trởlại cắn hại mình. Nó gặp Chấn Tốn thì ứng nhưkẻgian thần đắc chí hại người trung lương, vì nó khắc Chấn Tốn. Nó gặp cấn Khôn gọi là thọsanh (Thổsanh Kim) tức nhưchứa đầy lương thực đểnuôi giặc, nhưnuôi hổchờtai nạn. Nó gặp Khảm nhưđuổi ác thú vào hầm, nó càng la thét, giận dữ hơn. Nó gặp Kiền Đoài nhưloài mang thú lớn lên rồi huỷbỏ chỗsanh (ổđẻ) cắn lại mẹ. - Ngũquỷhay Liêm trinh thuộc Hoả, gặp Chấn Tốn là lửa sanh nơi cây, nung cạn ao đầm, đốt khô đồng nội. Nó gặp Kiền Đoài là Hoảkhắc Kim nhưgặp thời đại hạn thiêu tiêu, nhưlửa phừng phực đốt chảy đá vàng. Gặp Cấn Khôn nhưlửa diệm – diệm đốt côn sơn. Gặp Khảm nhưcây dã – cát hay cây ô dầu còn nguyên chất độc chưa được bào chế, vì phạm dụng mà nguy to. Gặp cung Ly nhưnếu thuốc cao mà thêm quá độlửa, cao ắt hư(vì Hoảgặp Hoảlà lửa quá nhiều làm hưthuốc). - Hoạhại hay Lộc tồn thuộc Thổ, gặp Chấn Tốn nhưhạng nô tỳhung ác, ngoài mặt chị u chế phục nhưng trong lòng ẩn chứa độc hoạ. Gặp Kiền Đoài nhưthảgiặc cướp vềchủnó, lúc đầu thuận lời giáo huấn rồi lâu lâu cũng lại phản phúc. Gặp Ly nhưnhận giặc làm con, nó sẽcướp đoạt gia tài. Gặp Khảm nhưkẻtrộm ỷmình, dựa thếmà làm việc điên cuông, càn bậy, gặp Cấn Khôn là đồng loại với nó tất sanh ra những vụhiệp lũ, hiệp đàn làm hưnền móng gia đạo, gia tộc, làm trởngại chính quyền. - Lục sát hay Văn khúc thuộc Thuỷ, gặp Kiền Đoài nhưkẻhiến nụcười, trang điểm dung nhan hầu được yết kiến, vượt tường dòm ngó nhà người rình rập, mưu toan việc gian tà. Gặp Cấn Khôn nhưvợchồng già theo nhau làm càn bậy, xấu xa. Gặp Chấn Tốn nhưtrinh nữthất thân, mất tiết. Gặp Khảm nhưtrên sông Bộc nam nữđối đáp ca hát, nhưtrong bờdâu tặng thuốc… toàn là những việc gió trăng. Gặp Ly nhưàn bà ghen ởchung một nhà, lời qua tiếng lại, thoá ma hung hăng. (Lục sát và Văn khúc thuộc Nhâm Quý Thuỷ, chủsựvềphụnữ bất chánh, vì thếnên đoạn này lấy tượng đó mà luận tuỳtheo các cung nó gặp). - Phục vịhay PhụBạt thuộc Mộc nên cùng ứng nhưSinh khí hay Tham lang cũng thuộc Mộc, nhưng tốt rất ít, có khi chẳng đặng tốt. Xem bài 10 và 11. (Xem thêm bài 16 và 17) BÀI 13: BÁT TINH PHÂN PHÒNG HƯNG BẠI - Phòng – chúa dùng Tham lang thì trưởng nam hưng phát, dùng Cựmôn thì trung nam hưng phát, dùng Vũkhúc thì thiếu nam hưng phát. Trái lại phòng – chúa có Phá quân hay Liêm trinh 14 Dương trạ ch tam yế u Triệ u Cửu P hong thì trưởng nam suy bại, ắt chị u nghèo nàn và thường bịhình tụng, có Văn khúc thì trung nam suy bại, có Lộc tồn thì thiếu nam suy bại. (Trưởng nam là con trai cảhoặc nói chung là hạng con cháu trọng tuổi. Trung nam là con trai thứ, hoặc hoặc nói chung là hạng con cháu lứa tuổi vừa vừa. Thiếu nam là con trai út, hoặc nói chung là hạng con cháu nhỏtuổi). BÀI 14: BÁT TINH ĐỊ NH TỬ TÔN - Tham lang sanh 5 trai hiển đạt. Vũkhúc sanh 4 trai cường thị nh. Cựmôn sanh 3 chàng hào hùng. Liêm trinh sanh 2 đứa. Văn khúc bất quá một trai. PhụBật chỉcó con rể. Phá quân là sao tuyệt khí ứng điềm goá bụa, cô độc. Lộc tồn khó con trai nhưng ứng điềm sống lâu. Đại khái luận sốcon cho bát tinh là nhưvậy. BÀI 15: HOÁ TƯỢNG ỨNG, NỘI NGOẠI SINH KHẮC - Thuần Âm là ròng một loại Âm, nhưTốn Ly Khôn Đoài gặp nhau. Phàm thuần Âm thì chẳng sanh hoá, chẳng sanh con cái mà thường bịbệnh hoạn. Thí dụ: Cửa – cái tại Ly mà Chủ– phòng tại Đoài, Cửa – cái tại Tốn mà Bếp tại Ly, hoặc ba chỗchính yếu là Cửa – cái, Chủ– phòng (hay Sơn – chủ) và Bếp tại Ly, hoặc ba chỗchính yếu là Cửa – cái, Chủ– phòng (hay Sơn – chủ) và bếp đều ởtrong vòng 4 cung Tốn Ly Khôn Đoài. - Thuần Dương là ròng một loại Dương, nhưKiền Khảm Cấn Chấn gặp nhau. Thuần Dương cũng nhưthuần Aâm, chẳng sanh hoá, không sanh được con cái, nhưng lúc đầu thị nh vượng. Thí dụ Cửa – cái tại Khảm mà Chủ– phòng cũng tại Khảm, Cửa – cái tại Kiền mà Bếp tại Cấn, Cửa – cái tại Kiền mà Sơn – chủtại Chấn, hoặc ba chỗchính yếu là Cửa – cái, Chủ– phòng (hay Sơn – chủ) và Bếp đều ởtrong vòng 4 cung Kiền Khảm Cấn Chấn. - Nội sinh ngoại là trong sanh ra ngoài gọi là sanh xuất ứng điềm phát đạt nhưng chậm và phải do công sức khó nhọc mà hưng lên. Phàm Chủ– phòng hay Sơn – chủsanh Cửa – cái gọi là nội sinh ngoại, nhưng Chủ– phòng hay Sơn – chủphải gặp Kiết du – niên mới tốt, bằng gặp hung du – niên cũng chẳng ra gì. Thí dụChủ– phòng tại Khôn Thổsanh Cửa – cái tại Kiền Kim, đó là nội sinh ngoại và Chủ– phòng thừa Diên – niên là kiết du – niên. Thí dụChủ– phòng Ly gặp Hoạ– hại là hung du – niên chẳng tốt mà còn hao thoát rất nhiều. - Ngoại sinh nội à ngoài sinh vào trong gọi là sanh nhập, ứng điềm phát đạt dễdàng, gia đạo hưng khởi mau lẹ, hay có tiền của bất ngờ. Phàm Cửa – cái sanh Chủ– phòng hay sanh Sơn – chủlà ngoại sinh nội, nhưng Chủ– phòng hay Sơn – chủphải thừa kiết du – niên mới tốt, bằng thừa hung du – niên ắt chẳng ra chi. Thí dụCửa – cái tại Khảm Thuỷsanh Sơn – chủtại Tốn Mộc và Sơn – chủthừa Sinh khí là kiết du – niên rất tốt. NhưCửa – cái Kiền Kim sanh Chủ– phòng Khảm Thuỷcũng là ngoại sinh nội, nhưng Chủ– phòng thừa Lục sát là hung du – niên tất không phaải là cách hay. (Luận vềhai cách trên: nội sinh ngoại nhưphải đi câu mới đươc cá, mà nếu có nhiều thì cũng sẩy bớt cá. Còn ngoại sinh nội nhưngười khác mang cá đến biếu cho mình, mình khỏi phải nhọc đi câu). - Nội khắc ngoại là trong khắc ngoài tất ứng điềm bất lợi, tai hoạtừtrong khởi lên, hưng giặc trộm chẳng vào nhà được. Phàm Chủ– phòng hay Sơn – phòng khắc Cửa – cái thì gọi là nội khắc ngoại. - Ngoại khắc nội là ngoài khắc trong tức tai hoạtừbên ngoài đưa đến, điềm tthân mình bị thương hại. Phàm Cửa – cái khắc Chủ– phòng hay khắc Sơn – chủgọi là ngoại khắc nội. - Âm nhập Dương cung hay là ngoài cung Âm trong cung Dương thì trước sanh con gái, bằng Dương nhập Âm cung hay là ngoài cung Dương trong cung Âm thì trước sanh con trai. Ngoài là Cửa – cái, trong là Chủ– phòng hay Sơn – chủ. (Ở Tị nh – trạch thì dùng Chủ– phòng, ởĐộng – trạch hay Biến – hoá – trạch thì dùng Sơn – chủ). BÀI 16: KIẾT TINH ỨNG NGHIỆM NHẬT KỲ (Kiết tinh là nói gồm 4 du – niên tốt và 4 sao tốt) 15 Dương trạ ch tam yế u Triệ u Cửu P hong - Sinh khí hay Tham lang là Mộc tinh, ứng sanh 5 con, mau làm nên quan quí và phát lên làm nhà cựphú, trăm việc vui mừng giao hợp, thêm nhân khẩu (thêm đông người). Phàm trong những chỗtrọng yếu có sựxây dựng hay tu bổmà gặp Sinh khí hay Tham lang thì đến 30 ngày hay 80 ngày ắt có việc vui may đưa tới, vì loại Mộc số3 và số8, thập bội là 30 và 80. (Những chỗtrọng yếu là Cửa – cái, Chủ– phòng, Sơn – chủ, Bếp, Phòng – chúa). - Diên niên hay Vũkhúc là Kim tinh, ứng sanh 4 con, đã giàu lại còn trường thọ, ngày ngày vẫn có tiền bạc tới, sớm thành gia thất, hôn nhân, vợchồng thuận hoà, ruộng nương cùng vườn tược thêm lợi ích, nhân khẩu và lục súc thị nh vượng, ự vui mừng thường xảy đến… Phàm trong những chỗtrọng yếu có sựxây dựng hay tu bổmà gặp Diên niên hay Vũkhúc thì đến 40 ngày hoặc 90 ngày sẽcó sựvui may khá lớn và sinh kếcùng tài lộc mỗi ngày một trội lên, vì loại Kim thuộc số 4 và số9, thập bội là 40 và 90. Thiên y hay Cựmôn là Thổtinh, là thọtinh (sống lâu) và cũng là cứu tinh (cứu giúp), ứng vợ chồng hoà hảo, sanh 3 con, giàu có muôn chung, trong nhà rất ít đau yếu, không ai mang tật nguyền, người và lục súc đều bình yên và thêm sốđông. Phàm trong những chỗtrọng yếu có sự xây dựng hay tu bổlại mà gặp Thiên y hay Cự môn thì đến 50 hoặc 100 ngày sẽcó việc vui may hay tài lộc, bởi loại thổthuộc số5 và số10, thập bội thành 50 và100. - Phục vịhay PhụBật là Mộc tinh thứnhì, ứng với sựkhá giả, tuổi thọcũng vừa vừa, sanh gái nhiều mà trai hiếm hoi. Phàm có vụxây dựng hay tu bổnhững chỗtrọng yếu mà dùng Phục vị hay PhụBật thì đến 30 ngày hoặc 80 ngày ắt có sựvui mừng, bởi loại Mộc thuộc số3 và số8, nếu thập bội thành 30 và 80. BÀI 17: HUNG TINH ỨNG NGHIỆM (Bài này nói thêm những điều hung hại của 4 hung du – niên và 4 hung tinh) - Lục sát hay Văn khúc ứng sựtà dâm, điều bất chính, hạng người trên bịtoổn hại, lâm cảnh thảm thương. - Ngũquỷhay Liêm trinh ứng vềcác tai hoạmáu lửa, những việc trốn lánh, mất mát, tâm bệnh buồn thương. - Tuyệt mệnh hay Phá quân ứng vềcác việc phá tán, hưhao, tai hoạtụng hình, quan sựnhiễu nhương. - Hoạhại hay Lộc tồn là sao cô quả, hiếm hoi con cái, những chứng bệnh đau mắt, mắt mù. BÀI 18: NGŨ QUỶXUYÊN CUNG (Ngũquỷhay Liêm trinh cũng vậy, rất độc hại. Thếnên có bài này luận riêng vềnó. Có cả nguyên âm kèm lời phóng dị ch). - Liêm Quỷnhập Đoài, Kiền, tiểu khẩi đị nh tai ương, trùng trùng tổn ngũkhẩu, gia trung bất an khương. – Dị ch: Sao Liêm trinh hay du – niên Ngũquỷgặp Kiền Đoài thì con trẻchị u tai ương, liên tiếp làm tổn hại 5 người, trong nhà chẳng yên ổn, khoẻmạnh. - Liêm Quỷnhập Thuỷhương, khiếm tử tạo tai ương, trưởng tửtiểu – khẩu tử, luỵluỵbệnh đa thương, - Dị ch: Liêm trinh hay Ngũquỷgặp Thuỷthương là cung Khảm thì không có con trai mà hay gặp hoạhoạn, con trưởng và trẻnhỏchết mất, thêm mãi bệnh hoạn và đau thương. - Liêm QuỷChấn Tốn gian, mỗi tuếđạo tặc liên, gia trung tài thất tán, nam nữthọngao tiên. – Dị ch: Liêm trinh hay Ngũquỷgặp cung Chấn cung Tốn thì trộm cưới tới liền liền mỗi năm, trong nhà tiền bạc hao mất, cảtrai và gái đều bịrang đốt tàn tệ. - Liêm Quỷđáo bổn cung, sơniên nhịphòng vinh, trưởng nam chuyên quyền bính, tài tán hoạ sựsinh. – Dị ch: Liêm trinh hay Ngủquỷgặp bổn cung là gặp cung của nó tức cung Ly (vì Ly đồng thuộc một loại Hoảvới Liêm Quỷ) thì lúc đầu hai phòng được vẻvang, con trưởng nắm quyền hành, tiền tài hao tán và sanh tai hoạ. - Liêm Quỷnhập Cấn Khôn, lục súc tinh nan tồn, Tây Nam tổn ngũkhẩu, Đông Bắc thương tam nhân. – Dị ch: Liêm trinh hay Ngũquỷgặp cung Cấn cung Khôn thì lục súc đều chết toi. Nó ởTây Nam (gặp Khôn) thì tổn hại 5 miệng (5 người), bằng ởTây Bắc (gặp Cấn) làm thương hại 3 người. 16 Dương trạ ch tam yế u Triệ u Cửu P hong Bài 19 : NGŨHÀNH TẬT BỆNH LUẬN (Bài này lấy Ngũhành của 8 cung mà luận ra các chứng đau, tật bệnh). - Ngũhành ứng vào ngũtạng: Loại Kim nhưKiền Đoài ứng vào tạng phếlà lá phổi. Loại Mộc như Chấn Tốn ứng vào tạng can là lá gan. Loại ThuỷnhưKhảm ứng vào tạng thận là bầu thận. Loại HoảnhưLy ứng vào tạng tâm là trái tim. Loại ThổnhưCấn Khôn ứng vào tạng tỳlà bao tửvà lá lách. – Phàm tạng nào bịkhắc thì tạng ấy bịbệnh và sanh ra các chứng đau ởnhững nơi hệ thuộc. NhưLy HoảbịKhảm Thuỷkhắc thì tim bịtổn thương và sanh ra các chứng đau tại đầu, óc, mắt, bụng… là những chỗhệthuộc tim. - Loại Kim bịHoảkhắc thì phổi thọthương sanh ra bệnh ho, ho không đàm, ho có đàm, ho hen, suyễn, thân yếu ớt, hình tích gầy còm. Hoặc cũng là bệnh nung huyết, ung thư, gân cốt đau nhức khó chị u. Thí dụCửa – cái tại Ly Hoảkhắc Sơn – chủtại Kiền Kim, tức là Kim vịkhắc vậy. - Loại Mộc bịKim khắc thì gan thọthương sanh ra các chứng phong, phong khí gan mật, tê một bên, miệng méo mắt lệch, tứ chi bất lợi. Thí dụCửa – cái tại Tốn Mộc bịkhắc bởi Chủ– phòng tại Đoài Kim. - Loại ThuỷbịThổkhắc thì thận thọthương và sanh ra các chứng bệnh trầm lạnh mà khô khan, bệnh di tinh, lưng thận suy trệ, bệnh lậu, ỉ a mửa, thuỷtrùng, lắm trật. Thí dụ: Bếp tại Khảm Thuỷbịkhắc bởi Cửa – cái đặt tại Khôn Thổ. - Loại HoảbịThuỷkhắc thì trái tim thọthương và sanh các chứng đau đầu nhức đầu, có nóng ran, bao tửvà bọng đất nhiễm trùng, miệng khô khát mà nói sản cuồng làm nhàm, bệnh thương hàn, tim bụng đau nhói, bịghẻđộc tật mắt. Thí dụCửa – cái tại Ly Hoảbịkhắc bởi Bếp đặt tại Khảm Thuỷ. Trường hợp loại Hoảbịkhắc này đỡhơn bốn loại kia vì Ly với Khảm tác thành Diên – niên là một du – niên tốt. - Loại ThổbịMộc khắc thì tỳvịlà lá lách và dạdày thọthương và sanh ra các chứng bao tử bị mềm nhũn, bụng phát trướng, bệnh sưng phù mà nước da vàng bệch, các chứng hưphù và ôn dị ch do thời khí. Thí dụBếp tại Cấn Thổbịkhắc bởi Cửa – cái tại Chấn Mộc. Lại nói rằng: Kim với Mộc phạm nhau (gặp nhau) sanh chứng bệnh phong điên, cuồng dại rồi chết một cách hung ác. Phàm Thuỷvới Thổphạm nhau thì do thận kiệt (khô) mà sanh các bệnh. Phàm Mộc với Thổphạm nhau ắt tổn thương tỳvị . Phàm Thuỷvới Kim hiệp nhau tuy tương sanh nhưng tạo các chứng bệnh kết bạch ởphổi, ởruột, ởkhớp xương. BÀI 20: GIẢI HUNG – TẮC PHÁP Là phép giải khỏi các bệnh hoạn và tai hoạdo hung tác gây ra. Hung tác là Bếp xấu, Bếp đặt nhằm cung thừa hung du – niên nhưNgũquỷ, Lục sát, tuyệt mệnh, Hoạhại. Bếp gây tai bệnh nhiều nhất là thừa Ngũquỷvà Lục sát. - Bếp là nơi nuôi dưỡng mạng sống con người, nhưng cũng là mối dây dẫn đến trăm thứbệnh, bởi bệnh hoạn phần nhiều do ăn uống mà sanh ra. Vậy phải đặt Bếp tại những cung thừa kiết du – niên là Thiên y, Sinh khí, Diên niên. Thừa Phục vịtạm dùng được. Và Bếp sánh đối với Chủ– phòng hay Sơn – chủcũng phải hỗbiến sanh ra Kiết du – niên mới hoàn hảo, vì nó tạo được cái Nhà ba tốt qua loa, có khi không còn tốt. - Nếu đã lỡđặt Bếp xấu tức thừa hung du – niên, nay muốn giải khỏi các tai hại do Bếp gây ra thì phải hốt hết tro đất ởlò hay cà – ràng, đến ngày mùng 5 âm lị ch đem đổhết xuống sông hoặc đổtại ngã ba hay ngã tưđường. Đó là muốn dùng lại lò cũhay cà – ràng cũ. Bằng không dùng thì đổbỏluôn, mua lò cà – ràng mới. Cốt yếu là xây một cái Bếp khác tại cung thừa kiết du – niên. Tốt nhất là thừa Thiên y vì nó có năng lực và hiệu nghiệm tức khắc đểgiải trừnhững tai hại do Bếp cũgây ra. Bếp Sinh khí và Diên niên đều là những Bếp tốt. (Muốn giải trừnhững tai hại chi phải tuỳtheo mỗi kiết du – niên được phân biện trong bài 21). Đã đổi được Bếp tốt ắt sẽmay mắn, nhưng còn phải lưu ý vềcái Bếp và những đồvật thường dùng nơi Bếp. Bếp cũvốn xấu tất còn lưu trữhung khí, nếu phá bỏthì thôi, bằng muốn đểdùng vào việc khác thì phải bỏ không đó sau 100 ngày cho hung khí tan hết đi rồi hãy sửdụng. Các đồvật làm bằng sắt đá, chất cứng cũng vậy. Duy chén dĩ a tô muỗng đũa cứdùng luôn chẳng hại. 17 Dương trạ ch tam yế u Triệ u Cửu P hong - Xây được Bếp tốt ắt điều lành sẽtới, nhưtài lộc biếu tặng… Muốn biết điều lành trong bao lâu sẽđến thì xét Ngũhành. NhưBếp đặt tại Chấn Tốn Mộc thì sau 30 hay 80 ngày sẽđược điều lành tốt, đặt tại Kiền Đoài Kim thì sau 40 hay 90 ngày, đặt tại Cấn Khôn Thổthì sau 50 hay 100 ngày, đặt tại Khảm Thuỷthì sau 10 hay 60 ngày, đặt tại Ly Hoảthì sau 20 hay 70 ngày. – Luận vềsựphát đạt trường kỳ, hễdùng được Bếp thừa kiết du – niên thì trong 3 năm hoặc năm năm thì khởi đầu phát đạt lâu dài, công danh, con cháu đều hưng vượng. Nhưkiết du – niên đăng diện hay đắc vịthì đại thị nh vượng, bằng thất vịthì thị nh vượng ít. - Những sựứng nghiệm nói trên không thểkhông có được. Từnghìn xưa, người trong cõi Á đông đã thực hành luôn luôn có kết quảhẳn hoi. Riêng tôi, tôi rất quảquyết, vì trong nghềchuyên khảo cứu, tôi đã giúp cho rất nhiều người được hiệu quảchắc chắn. Sẵn đểlấy làm kinh nghiệm, tôi xin thuật thấy sựkết quảkhảquan cho chính tôi trong việc sửa đổi Bếp xấu ra Bếp tốt như sau: Cửa – cái nhà tôi hiện tại Đông Nam cung Tốn Mộc, còn Bếp trước kìa đặt tại Tây Bắc cung Kiền Kim. Nhưvậy Bếp kiền Kim thừa du – niên Hoạhại và lại khắc Cửa – cái Tốn Mộc (Kim khắc Mộc) cho nên tôi bi bệnh phong, trúng gió, thường trực đau nhức gân và hay bịtrắc gân vai… suốt trong 6 năm kểtừngày mua được nhà này. Sởdĩbịcác chứng bệnh nhưthếbởi chỗbị khắc là Cửa – cái Tốn (bịKiền Kim khắc). Tốn vi phong tất hay bịcảm gió. Tốn thuộc Mộc ứng vào tạng gan, và hễgan bịthọthương (bịkhắc) ắt sanh ra các chứng bệnh gân, phong, có thể tới tình trạng tê xuội, bại. Nhưng sau 6 năm tôi bỏBếp cũtại Kiền và xây một Bếp khác tại cung Khảm chánh Bắc. Tính du – niên thì bỏBếp cũthừa Hoạhại và xây Bếp mới thừa Sinh khí. Tính theo cung sinh khắc thì bỏBếp Kiền khắc Cửa – cái Tốn và xây Bếp Khảm sanh Cửa – cái Tốn (Khảm Thuỷsanh Tốn Mộc). Và đây là những việc ứng nghiệm: Kểtừ ngày xây Bếp Khảm thừa Sinh khí, sau 48 ngày, qua ngày thứ49 tôi đặng sốtiền bất ngờ6 ngàn đồng (ứng vào Khảm thuộc số6). Lại sau 80 ngày tôi bỗng có 20 ngàn vào tay (ứng vào Sinh khí số8 và thập bội thành 80 ngày) và từđó, làm nhà tướng sốtôi thường xem được quẻ 300 đồng mà lúc trước ít khi được (vì Sinh khí Mộc cũng thuộc số3). Đó là những con sốứng rất chính xác. Còn số20 ngàn đồng không thấy ứng. Duy số48 ngày có ứng vào Khảm thừa Sinh khí, vì Khảm số6 và Sinh khí số8 nhân cho nhau thành số48. – Còn điều này hiệu nghiệm một cách xác đáng là từkhi dùng Bếp Khảm cho tới bây giờtrải qua mười mấy năm tôi chẳng bịđau gân và trẹo gân nữa, lại ít bịcảm gió. Tôi nghĩrằng sựan bày luật lệvô hình vẫn có ảnh hưởng hiển nhiên của Tạo hoá, thật là linh diệu và huyền bí vô cùng, nhưng chỉcó thểbiện minh bằng khoa học và chứng minh bằng những kết quảđã ngó thấy. Không thểchỉrõ ra bằng vật thểhữu hình. BÀI 21: KIẾT TÁO PHÂN BIỆN PHÁP Bài này chuyên nói vềmỗi Bếp tốt có thểgiải trừnhững việc hung hại thường xảy ra trong nhà. 1) Phàm nhà thưa thớt nhân đinh (sốngười ít oi), tiểu nhi khó nuôi, không sanh đẻ, tới tuổi già con cái chẳng còn, bệnh lâu chẳng mạnh, hoặc muốn cầu hôn nhân… thì nên đổi dùng Bếp Thiên y. Thí dụCửa – cái tại Cấn thì phải đặt Bếp tại Kiền, vì theo phép Bát biến (xem bài 8) từCấn biến 6 lần tới Kiền tất được Thiên y, Kiền Kim thừa Thiên y Thổlà tương sanh đắc vị , rất tốt. 2) Phàm đọc sách hay học không thành tài, công danh chẳng hiển đạt, nhà nghèo khổ, mỗi việc thiếu trước hụt sau… thì nên đổi dùng Bếp Sinh khí cũng Mộc tỷhoà đăng diện tốt bậc nhất. 3) Phàm nam nữđoản thọ(chết sớm), không làm được tiền bạc, chẳng sắm được của quí… thì nên đổi dùng Bếp Diên niên. Thí dụ: Cửa – cái tại Tốn thì phải đặt Bếp tại Chấn, vì theo phép Bát biến (xem bài 8) từTốn biến 3 lần tới Chấn tất được Diên niên Kim là tương khắc thất vị , tốt vừa vừa. BÀI 22: MỆNH – CUNG Mệnh cung là nói Mệnh cung của chủnhà. Tính Mệnh cung cho nam nhân khác với cho nữnhân. Muốn tính Mệnh cung phải biết phân tam ngươn, sốthứtựcủa 60 tuổi, bản tính Mệnh cung cho nam nhân, bản tính Mệnh cung cho nữnhân. Khi biết Mệnh cung rồi mới so đối nó với nhà và bếp coi hiệp nhau hay không hiệp. Hiệp ắt tốt, và nếu không hiệp tức bịtương khắc thì phải 18 Dương trạ ch tam yế u Triệ u Cửu P hong dùng cách giải hoá sựtương khắc hại đó. Bài này gồm có 5 phần: Phân tam ngươn, sốthứtự của 60 tuổi, Bản tính Mệnh cung cho nam nhân, Bản tính Mệnh cung cho nữ nhân và phần phụ: Cách tính Mệnh cung theo năm sanh Dương lị ch, cách tính Mệnh cung theo sốtuổi Âm lị ch đang thọ. a) Phân tam nguyên: Tam nguyên là 3 nguyên. Mỗi nguyên gồm 60 năm, 3 nguyên gồm 180 năm. Hết tam nguyên này tiếp qua tam nguyên khác cũng y nhưvậy. Phải biết năm sanh ra đời của chủnhà thuộc về nguyên nào đểtính Mệnh cung. Sau đây chỉkểhai nguyên đã qua, một nguyên hiện tại và hai nguyên chưa tới: Từ năm Giáp Tí 1864 tới năm Quí Hợi 1923 thuộc Thượng nguyên (đã qua lâu) ------------------- 1924 -------------------- 1983 ------ Trung nguyên (vừa qua) ------------------- 1984 -------------------- 2043 ------ Hạnguyên (hiện tại) ------------------- 2044 -------------------- 2103 ------ Thượng nguyên (chưa tới) ------------------- 2104 -------------------- 2164 ------ Trung nguyên (chưa tới b) Sốthứtựcủa 60 tuổi: (Chú ý: Sốthứtựcủa tuổi (nhất đị nh) chứ không phải sốtuổi đang thọ). 1/ Giáp Tí. 2/ Ất Sửu. 3/ Bính Dần. 4/ Đinh Mẹo. 5/ Mậu Thìn. 6/ KỷTỵ 7/ Canh Ngọ. 8/ Tân Mùi. 9/ Nhâm Thân. 10/ Quí Dậu. 11/ Giáp Tuất. 12/ Ất Hợi 13/ Bính Tí. 14/ Đinh Sửu. 15/ Mậu Dần. 16/ KỷMẹo. 17/ Canh Thìn. 18/ Tân Tỵ.19/ Nhâm Ngọ.20/ Quí Mùi. 21/ Giáp Thân. 22/ Ất Dậu. 23/ Bính Tuất. 24/ Đinh Hợi.25/ Mậu Tí. 26/ Kỷ Sửu. 27/ Canh Dần. 28/ Tân Mẹo. 29/ Nhâm Thìn. 30/ Quí Tỵ.31/ Giáp Ngọ. 32/ Ất Mùi. 33/ Bính Thân. 34/ Đinh Dậu. 35/ Mậu Tuất. 36/ KỷHợi.37/ Canh Tí. 38/ Tân Sửu. 39/ Nhâm Dần. 40/ Quí Mẹo. 41/ Giáp Thìn. 42/ Ất Tỵ.43/ Bính Ngọ. 44/ Đinh Mùi. 45/ Mậu Thân. 46/ KỷDậu. 47/ Canh Tuất. 48/ Tân Hợi.49/ Nhâm Tí. 50/ Quí Sửu. 51/ Giáp Dần. 52/ Ất Mẹo. 53/ Bính Thìn. 54/ Đinh Tỵ.55/ Mậu Ngọ. 56/ KỷMùi. 57/ Canh Thân. 58/ Tân Dậu. 59/ Nhâm Tuất. 60/ Quí Hợi. Dẫn giải: Nhưnói sốthứtự của tuổi Giáp Tí là số1, chứ không phải 1 tuổi là tuổi Giáp Tí. Nhưnói sốthứ tựcủa tuổi KỷMùi là 56, chứkhông phải 56 tuổi là tuổi KỷMùi… Bài thứ22 trong Dương trạch tam yếu, Đó là lối diễn giải của tiền nhân vềcách tính ra mệnh chủcủa mỗi người ( nam hoặc nữ). Ngày nay chúng ta áp dụng theo toán sốthì dễdàng và dễnhớhơn. Đểgiúp cho các bạn mới nhập môn vềmôn học này, Xin nhớcác con sốsau đây : 492 357 816 6 ( Càn ), 1 ( Khảm ), 8 ( Cấn ), 3 ( Chấn ), 4 ( Tốn ), 9 ( Ly ), 2 ( Khôn ), 7 (Đoài ). Có nhiều phương pháp đểtính mệnh chủcủa từng người, Sau đây là một trong những phương pháp : Lấy hai sốsau của của năm sinh cộng lại, nếu lớn hơn 10 thì lấy hai sốcộng lại một lần nữa, rồi lấy 10 trừđi sốđó, sốcòn lại là mệnh chủ. Thí dụ1 : Nam nhân sinh năm 1945 . Lấy hai sốsau của năm sinh cộng lại : 4+5=9 Lấy 10 – 9 = 1 Vậy 1 là mệnh chủcủa nam nhân sinh năm 1945. Số1 là Khảm nên người này có mệnh chủlà Khảm. Thí dụ2 : nam nhân sinh năm 1967 6 + 7 = 13 Vì 13 lớn hơn 10 nên phải lấy 1 + 3 = 4 Lấy 10 – 4 = 6 Vậy nam nhân sinh năm 1967 có sốmệnh chủlà 6. Số6 là Càn nên người này có mệnh chủlà Càn. Thí dụ3 : Nam nhân sinh năm 1959. lấy 5 + 9 = 14 => 1 + 4 = 5 10 – 5 = 5 Quy luật của người xưa là Nam Khôn - NữCấn. Do đó khi sốthành cuối cùng là 5 thì Nam phải 19 Dương trạ ch tam yế u Triệ u Cửu P hong lấy cung Khôn, mà Khôn là 2 ( Xin xem những con sốcủa Lạc Thưđã đưa ra trên ). Vậy 2 là mệnh chủcủa nam nhân sinh năm 1959 còn gọi là người mạng Khôn. Thí dụ4 : Nam nhân sinh năm 1973 7 + 3 = 10 => 1 + 0 = 1 Lấy 10 – 1 = 9 Vậy nam nhân sinh năm 1973 có mệnh chủlà số1,(9) Số9 là (Ly) nên người này có mệnh cung là Khẳm( Ly ).Lưu ý : Đặc biệt từnam nhân sinh từnăm 2000 trởvềsau thì vẫn lấy hai sốsau cộng lại, rồi lấy 9 trừđi sốđó. Sốcòn lại là mệnh chủ. Thí dụ5 : Nam nhân sinh năm 2000. Lấy hai sốsau 0 + 0 = 0 Lấy 9 – 0 = 9 Vậy nam nhân sinh năm 2000 có mệnh chủlà số9. Số9 là Ly nên người này có mệnh cung là Ly. Thí dụ6 : Nam nhân sinh năm 2038: Lấy hai sốsau 3 + 8 = 11 => 1 + 1 = 2 Lấy 9 – 2 = 7 Vậy nam nhân sinh năm 2038 là sốmệnh chủlà 7. 7 là Đoài, nên người này cò mệnh cung là Đoài. Lưu ý : Vì theo bài 22 có những thí dụtrước năm 1900. Nên các bạn cần phải nhớlà cũng lấy hai sốsau cộng lại, rồi lấy số11 trừđi. Sốthành là sốmệnh chủ. --- --- --- --Trích bài 22 phần cuối cùng của mục # 23 trên chữQuote nói vềtuổi các Nam nhân : - Tuổi Quý Hợi sanh năm: 1923 cung Khôn, 1983 cung Cấn, 2043 cung Khôn Chúng ta thửáp dụng các năm sinh trên : Nam nhân sinh năm 1923 : 2+3=5 Lấy 10 – 5 = 5 --- --- --- --Hãy nhớquy luật Nam Khôn - NữCấn Vậy nam nhân này mệnh chủphải lấy Khôn, Khôn là số2. Nam nhân sinh năm 1983 : 8 + 3 = 11 => 1 + 1 = 2 Lấy 10 – 2 = 8 Vậy nam nhân sinh năm 1983 có sốmệnh chủlà 8. Số8 là Cấn nên người này có mệnh cung gọi là Cấn. Nam nhân sinh 2043 : 4+3=7 Sau năm 2000 thì lấy số9 9–7=2 Vậy nam nhân sinh năm 2043 có sốmệnh chủlà 2. Số2 là Khôn nên người này có mệnh cung là Khôn. Xem vậy thì các bạn thấy rằng các thí dụvừa trích ra từ bài thứ22 mục chót của # 23 đều đúng với cách tính này. Sau đây là phương pháp tính cho phái nữ : Lấy hai sốsau của năm sinh cộng lại với nhau, rồi cộng thêm với 5. Nếu sốthành lớn hơn 10 thì lấy hai sốcộng lại một lần nữa, sốthành là sốcủa mệnh chủ. Thí dụ1 : Nữnhân sinh năm 1943 4+5=7 lấy 7 + 5 = 12 12 lớn hơn 10 nên lấy 1 + 2 = 3 Số3 là Chấn. Vậy nữ nhân này là người mạnh Chấn Thí dụ2 : Nữnhân sinh năm 1920 2+0=2 2+5=7 Số7 là Đoài. Vậy nữnhân này có mệnh chủlà Đoài. Thí dụ3 :nữnhân sinh năm 1954 5+4=9 9 + 5 = 14 1+4=5 Hãy nhớquy tắc Nam Khôn - NữCấn. Vậy nữnhân này có mệnh chủlà Cấn ( số8 ) Thí dụ4 : Nữnhân sinh năm 1940 4+0=4 4+5=9 Số9 là Ly. Vậy nữnhân nhân này có mệnh cung là Ly. Lưu ý : Từnăm 2000 trởvềsau thì vẫn lấy hai sốsau của năm sinh cộng lại, rồi cộng thêm cho 6. Nếu sốthành lớn hơn 10 thì lấy hai sốcộng lại một lần nữa, sốthành là sốcủa mệnh chủ. Thí dụ5 : Nữnhân sinh năm 2000 Hai sốsau 0 + 0 = 0 0+6=6 Số6 là Càn. Vậy nữ nhân này có mệnh chủlà Càn. Thí dụ6 : Nữnhân sinh năm 1948 4 + 8 = 12 1+2=3 3+6=9 Số9 là Ly. Vậy nữnhân này có mệnh cung là Ly. 20
- Xem thêm -