Tài liệu điều tra cây thuốc và các bài thuốc của đồng bào dân tộc thái, huyện quế phong, tỉnh nghệ an nhằm bảo tồn tri thức bản địa và định hướng phát triển tài nguyên rừng bền vững

  • Số trang: 140 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 477 |
  • Lượt tải: 0
dangvantuan

Tham gia: 02/08/2015

Mô tả:

LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả nghiên cứu đƣợc trình bày trong luận án là trung thực, khách quan và chƣa từng để bảo vệ ở bất kỳ học vị nào, các thông tin trích dẫn trong luận án này đều đƣợc chỉ rõ nguồn gốc. Nghệ An, ngày 03 tháng 6 năm 2016 Tác giả luận án Nguyễn Thƣợng Hải i LỜI CẢM ƠN Trong quá trình thực hiện đề tài “ Điều tra cây thuốc và các bài thuốc của đồng bào dân tộc Thái, huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An, nhằm bảo tồn tri thức bản địa và định hướng phát triển tài nguyên rừng bên vững”, tôi đã nhận đƣợc rất nhiều sự giúp đỡ của các nhà khoa học, các thầy cô giáo, tập thể Ban Lãnh đạo Khoa Sinh học, Phòng Sau đại học Trƣờng Đại học Vinh, các thầy giáo, cán bộ Viện Sinh thái Tài nguyên Sinh vật, Viện Dƣợc liệu. Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành về sự giúp đỡ quý báu đó. Đặc biệt tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới GS.TSKH. Nguyễn Nghĩa Thìn, PGS.TS Phạm Hồng Ban, những thầy giáo trực tiếp hƣớng dẫn và chỉ bảo tôi hoàn thành luận án này. Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo Nghệ An, các đồng nghiệp nơi tôi đang công tác, gia đình và bạn bè , đã tạo điều kiện, khích lệ, động viên tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài. Xin trân trọng cảm ơn. ii MỤC LỤC MỞ ĐẦU……………………………………………………...……………….…1 1. Tính cấp thiết của đề tài luận án……………………….……………………....1 2. Mục tiêu nghiên cứu của luận án……………………………………………....2 3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án………………………………….....2 3.1. Ý nghĩa khoa học……………………………………………………….……2 3.2. Ý nghĩa thực tiễn………………………………………………………….....2 4. Những điểm mới của luận án……………………………………………….…2 Chƣơng 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU………………………………………....5 1.1.Tình hình nghiên cứu, sử dụng và bảo tồn cây thuốc .....................................5 1.1.1. Tình hình nghiên cứu về cây thuốc…………………………………….…5 1.1.2. Vấn đề trồng bảo tồn cây thuốc trên thế giới. ……………………….9 1.2. Tình hình nghiên cứu, sử dụng và bảo tồn cây thuốc ở Việt Nam……….. .9 1.2.1. Tình hình nghiên cứu về cây thuốc………………………………………10 1.2.2.Tình hình điều tra, đánh giá, trồng bảo tồn…………………….................12 1.3. Tình hình nghiên cứu cây thuốc ở Nghệ An…………………………….…16 1.4. Tình hình nghiên cứu, sử dụng cây thuốc ở huyện Quế Phong………….....20 1.5. Điều kiện tự nhiên và xã hội huyện Quế Phong……………………………23 1.5.1. Vị trí địa lý………………………………………………………………24 1.5.2. Diện tích, khí hậu………………………………………………………...25 1.5.3 Điều kiện xã hội…………………………………………………………..28 Chƣơng 2. VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU…..30 2.1. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu………………………………………....30 2.2. Nội dung nghiên cứu………………………………………………………30 2.3. Phƣơng pháp nghiên cứu…………………………………………………..30 Chƣơng3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN……………………36 3.1. Đánh giá tính đa dạng về thành phần loài cây thuốc ………………..…….36 3.1.1. Đa dạng về bậc ngành…………………………………………………..36 iii 3.1.2. Đa dạng về các lớp trong ngành Ngọc lan………………………….…..37 3.1.3. Sự đa dạng về số lƣợng loài trong các chi, họ………………………….39 3.1.4. So sánh cây thuốc huyện Quế Phong với hệ cây thuốc Việt Nam……….41 3.1.5. Đa dạng về dạng thân, nơi sống và cách sử dụng cây thuốc…………….42 3.1.5.1.Đa dạng về dạng thân cây của các cây thuốc ......................…………... 42 3.1.5.2. Sự phân bố cây thuốc theo môi trƣờng sống………………….……….43 3.1.5.3. Sự đa dạng về tần số sử dụng của các bộ phận khác nhau…………….45 3.2. Những cây thuốc bị khai thác nhiều, cây thuốc trong Sách đỏ … ....………47 3.2.1. Mô tả, bổ sung công dung những cây thuốc……..……………….……....47 3.2.2.Hiện trạng những cây thuốc quý trong Sách Đỏ Việt Nam……….………80 3.2.3. Bổ sung danh lục cây thuốc Việt Nam…………………………….……..89 3.3. Các bài thuốc của ngƣời dân tộc Thái ở huyện Quế Phong………….……..95 3.3.1. Các nhóm bệnh đƣợc ngƣời dân tộc Thái huyện Quế Phong …….……...95 3.3.2. Một số bài thuốc đƣợc đồng bào dân tộc Thái sử dụng……….…… …...97 3.3.2.1. Nhóm bệnh do thời tiết (cảm nóng, cảm lạnh, đau đầu…)….…………97 3.3.2.2. Bệnh về tiêu hoá (dạ dày, tả, lị, ngộ độc, giun sán…)…………………98 3.3.2.3. Nhóm bệnh ngoài da (nhiễm trùng, lở, mụn nhọt…)…………….…….99 3.3.2.4. Các bài thuốc bồi bổ sức khoẻ…………………………………….…..100 3.3.2.5. Bệnh về thần kinh (bại liệt, thần kinh, nhức mỏi…)………………….101 3.3.2.6. Các bài thuốc về nhóm bệnh hô hấp (ho, phế quản, phổi…)..…...102 3.3.2.7. Bệnh của trẻ em (suy dinh dƣỡng, ho, giật mình, mẩn ngứa…)......103 3.3.2.8. Động vật cắn (rắn, chó dại, sên, vắt...)……………………………103 3.3.2.9. Bệnh về xƣơng (bong gân, gãy xƣơng, đau khớp…)…………......103 3.3.2.10. Bệnh về thận (sỏi thận, lợi tiểu, viêm thận…)…………….……..104 3.3.2.11. Bệnh về gan (viêm gan, xơ gan, vàng da…)……………...…..…104 3.3.2.12. Bệnh về răng…………………...…………………………...……104 3.3.2.13. Bệnh của phụ nữ…………………………………………...…104 3.3.2.14. Bệnh về mắt…………………………………………….…….105 3.3.2.15. Bệnh ung thƣ (u, hạch…)…………………………….………106 3.3.2.16. Nhóm bệnh khác…………………………………….………..106 iv 3.3.3. Đa dạng về phƣơng pháp bào chế thuốc………………………………...108 3.3.4. Một số kết quả ban đầu về kiểm nghiệm thực tế và cơ sở khoa học.......109 3.3.4.1. Kết quả điều tra thực tế hiệu quả của một số bài thuốc…………... …109 3.3.4.2. Kết quả kiểm chứng bài thuốc chữa viêm khớp dạng ong đốt.….……110 3.3.4.3. Xác định thành phần hóa học có trong thân cây Hoa dẻ lông đen. ..….110 3.4. Vấn đề bảo tồn tri thức bản địa và phát triển tài nguyên rừng…….…113 3.4.1.Thống kê số lƣợng ngƣời sử dụng thuốc dân tộc Thái trên địa bàn……..114 3.4.2. Thực trạng cây thuốc huyện Quế Phong và vấn đề bảo tồn………. 117 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ…………………………………………………119 Danh mục các công trình đã công bố Tài liệu tham khảo Phụ lục Phụ lục 1: Danh lục các loài thực vật đƣợc ngƣời dân tộc Thái sử dụng làm thuốc ở huyện Quế Phong. Phụ lục 2: Ảnh một số loài cây thuốc. Phụ lục 3: Các hợp chất hóa học đã đƣợc tìm thấy có trong các loài cây thuốc ở huyện Quế Phong. Phụ lục 4: Các phiếu kiểm tra nồng độ acidt uric có trong máu của các bệnh nhân bị bệnh gút. Phụ lục 5: Các mẫu phiếu điều tra Phụ lục 6: Danh sách các ông lang, bà mế hiện đang sinh sống trên địa bàn huyện Quế Phong. Phụ lục 7: Các phổ của các hợp chất trong thân cây Hoa dẻ lông đen Phụ lục 8: Các phổ của các hợp chất trong thân cây Dây lửa ít gân v Danh mục các chữ viết tắt Ca Bu CM CT Đ Dl DT G Ha HD Ho KBTTN Kh KS MN N Nh: NN NS QP Qu R T Th TL TP TT V Vr Vs : : : : : : : : : : : : : : : : : : : : : : : : : : : : : : Cả cây Thân bụi Cắm Muộn Châu Thôn §åi nói. Dây leo Dạng thân Thân gỗ Hạt Hạnh Dịch Hoa Khu bảo tồn thiên nhiên Khe Kim Sơn Mƣờng nọc Nƣ¬ng rÈy, ven ®êng ®i. Nhựa Nậm Nhóong Nơi sống Quang Phong Quả Rõng s©u, rõng thƣa Thân Thân thảo Tri Lễ Tiền Phong Thông Thụ Vên nhµ Ven rõng Ven suèi vi Danh mục các biểu đồ Hình 3.1. Số lƣợng tỷ lệ % các taxa của các ngành cây làm thuốc Hình 3.2. Tỷ lệ % Sự phân bố họ, chi, loài trong hai lớp Hình 3.3. Tỷ lệ % các nhóm dạng thân của cây thuốc Hình 3.4. Phân bố các loài cây thuốc Hình 3.5. Phân bố số lƣợng các bộ phận sử dụng Hình 3.6. Sự đa dạng về các nhóm bệnh đƣợc chữa trị Hình 3.7. Sự đa dạng về cách sử dụng Hình 3.8 Tỷ lệ số ngƣời dùng thuốc dân tộc vii DANH MỤC ĐỒ THỊ, HÌNH Hình 3.1. Số lƣợng tỷ lệ % các taxon của các ngành cây làm thuốc Hình 3.2. Sự phân bố họ chi, loài trong hai lớp của ngành Ngọc lan Hình 3.3. Biểu đồ biểu hiện sự phân bố số lƣợng loài cây thuốc trong các chi Hình 3.4. Tỷ lệ % các nhóm dạng thân của cây thuốc ở huyện Quế Phong Hình 3.5. Phân bố các loài cây thuốc theo môi trƣờng sống Hình 3.6. Phân bố số lƣợng các bộ phận sử dụng của cây thuốc ở huyện Quế Phong Hình 3.7. Sự đa dạng về các nhóm bệnh đƣợc chữa trị bằng cây thuốc ở Hình 3.8. Biểu đồ thể hiện đa dạng về cách sử dụng. Hình 3.9 Tỷ lệ số ngƣời dùng thuốc dân tộc ở các xã trên địa bàn. viii MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài luận án. Các dân tộc thiểu số vùng Tây Bắc Nghệ An nói chung và huyện Quế Phong nói riêng có dân số lớn, phân bố rộng, trình độ dân trí thấp, đời sống cơ bản đang gặp nhiều khó khăn. Do đặc thù về vị trí địa lí nên ngƣời dân ở đây đang chịu nhiều thiệt thòi. Các vấn đề xã hội nhƣ giáo dục, y tế chƣa đƣợc quan tâm đúng mức, đặc biệt là vấn đề chăm lo sức khỏe của nhân dân. Dân số các đồng bào dân tộc thiểu số chiếm một tỷ lệ lớn (90%) so với dân số toàn huyện, trong đó dân tộc Thái có 50.523 ngƣời, chiếm khoảng 80%. Qua tìm hiểu chúng tôi thấy đồng bào Thái đang lƣu truyền rất nhiều bài thuốc chữa bệnh hay, thậm chí một số bài thuốc truyền thống còn chữa bệnh hiệu quả hơn các phƣơng pháp chữa bệnh tiên tiến khác. Do dân cƣ phân bố chủ yếu ở các vùng sâu, vùng xa, giao thông cách trở, cơ sở y tế nghèo nàn, thuốc tây vừa thiếu, giá lại đắt nên ở đây ngƣời dân chủ yếu chữa bệnh bằng kinh nghiệm của các ông lang bà mế. Đồng bào Thái gọi thầy thuốc là “Xây hạc may”. Xây có nghĩa là thầy, hạc may nghĩa là rễ cây, “Xây hạc may” có nghĩa là ngƣời thầy dùng cây để chữa bệnh. Trên thực tế, các ông lang bà mế không nhiều, các bài thuốc chủ yếu chỉ truyền trong gia tộc, một số thầy lang không truyền lại đƣợc cho đời sau. Nhƣ vậy, nguy cơ về việc thất truyền các bài thuốc là có thật và việc chữa bệnh của đồng bào dân tộc Thái sẽ ngày càng khó khăn hơn. Ngƣời Thái sống chủ yếu dựa vào nguồn cung cấp lƣơng thực, thuốc men từ rừng, đó là nguồn tài nguyên vô giá. Tuy nhiên, nhƣng năm gần đây nguồn tài nguyên rừng đang bị tàn phá nghiêm trọng và ngày càng cạn kiệt. Nạn chặt phá rừng, khai thác không có kế hoạch, ô nhiễm môi trƣờng… đang diễn ra hàng ngày, song song với những vấn nạn đó thì cây thuốc của đồng bào dân tộc Thái cũng dần dần bị biến mất một cách nhanh chóng. 1 Hiện nay, việc nghiên cứu cây thuốc ở vùng Tây Bắc Nghệ An nói chung chƣa đƣợc quan tâm nhiều, đặc biệt ở Quế Phong - một huyện vùng núi cao giáp Lào, nơi chứa đựng một kho tàng cây thuốc và các bài thuốc dân gian có giá trị của dân tộc miền núi, đây là nguồn tƣ liệu tốt cho nền y học nƣớc nhà. Xuất phát từ thực tế đó nên tôi chọn đề tài “Điều tra cây thuốc và các bài thuốc của đồng bào dân tộc Thái, huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An nhằm bảo tồn tri thức bản địa và định hướng phát triển tài nguyên rừng bền vững” 2. Mục tiêu nghiên cứu của luận án Đánh giá tính đa dạng về cây thuốc tại huyện Quế Phong, đặc biệt tại Khu Bảo tồn thiên nhiên Pù Hoạt; thu thập các bài thuốc dân tộc Thái trên địa bàn nghiên cứu để bảo tồn tri thức bản địa. 3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án 3.1. Ý nghĩa khoa học Luận án đánh giá một cách có hệ thống các loài cây thuốc trên địa bàn huyện Quế Phong, thu thập các bài thuốc, cung cấp tƣ liệu cho ngành dƣợc, y học cổ truyền Việt Nam. 3.2. Ý nghĩa thực tiễn Huyện Quế Phong trong đó có Khu Bảo tồn thiên nhiên Pù Hoạt, có nguồn tài nguyên thực vật đa dạng, phong phú, đặc biệt có nhiều loài thực vật làm thuốc giá trị. Tuy nhiên, cho đến nay các nghiên cứu về thực vật học dân tộc tại huyện Quế Phong nói chung và Pù Hoạt nói riêng đã đƣợc quan tâm nhƣng chƣa đáp ứng đƣợc yêu cầu thực tiễn, do đó cần phải nghiên cứu cụ thể để phục vụ công tác bảo tồn. Luận án ngoài việc thống kê, đánh giá tính đa dạng cây thuốc còn ghi chép các bài thuốc của các ông lang, bà mế để phục vụ cho việc lƣu giữ cho thế hệ sau, bảo tồn tri thức bản địa. Đề xuất và đã thực hiện việc bảo tồn cây thuốc có giá trị trên địa bàn nghiên cứu. 4. Những điểm mới của luận án 2 + Điều tra lập danh lục 583 loài cây thuốc tại huyện Quế Phong đƣợc đồng bào dân tộc Thái sử dụng để chữa bệnh. + Bổ sung 118 loài từ khu vực nghiên cứu vào từ điển Cây thuốc Việt Nam 2012. + Xác định, mô tả, bổ sung công dụng 15 loài cây thuốc quý có trong Sách Đỏ Việt Nam (2007). + Thu thập nhiều bài thuốc thuộc nhiều nhóm bệnh khác nhau. + Mô tả đặc điểm sinh học, điều kiện sinh thái, công dụng của 64 loài cây thuốc có giá trị. + Xác định thành phần hóa học của 2 loài cây thuốc Hoa dẻ lông đen (Desmos cochinchinensis) và cây Dây lửa ít gân (Rourea oligophlebia). + Trồng bảo tồn cây Dây lửa ít gân (Rourea oligophlebia) theo phƣơng pháp bảo tồn nội vi (in-situ) vàbảo tồn ngoại vi (ex-situ). 5. Bố cục của luận án Luận án gồm 119 trang, phụ lục 138 trang. Mở đầu Chƣơng 1. Tổng quan tài liệu Chƣơng 2. Đối tƣợng và phƣơng pháp nghiên cứu Chƣơng 3. Kết quả nghiên cứu và thảo luận Kết luận và kiến nghị Phụ lục Danh mục các công trình nghiên cứu liên quan Tài liệu tham khảo Phụ lục 1: Danh lục các loài thực vật làm thuốc Phụ lục 2: Ảnh một số loài cây thuốc. 4 trang 23 trang 6 trang 84 trang 2 trang 2 trang 11 trang 49 trang 9 trang Phụ lục 3: Các hợp chất hóa học có trong các loài cây thuốc 16 trang Phụ lục 4: Các phiếu kiểm tra nồng độ acidt uric các bệnh nhân bị bệnh gút. Phụ lục 5: Các mẫu phiếu điều tra 8 trang Phụ lục 6: Danh sách các thầy lang trên địa bàn huyện Quế Phong 6 trang 3 3 trang Phụ lục 7: Các phổ của các hợp chất trong thân cây hoa dẻ lông đen 18 trang Phụ lục 8: Các phổ của các hợp chất trong cây dây lửa ít gân 16 trang 4 Chƣơng 1.TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1. Tình hình nghiên cứu, sử dụng và bảo tồn cây thuốc một số nƣớc trên thế giới 1.1.1. Tình hình nghiên cứu về cây thuốc. Trên thế giới, mỗi quốc gia, mỗi dân tộc, đều có những nền y học cổ truyền mang nét đặc trƣng. Các nghiên cứu có mức độ khác nhau tùy thuộc vào sự đầu tƣ và phát triển của quốc gia đó. Theo Anon (1996), trong cuốn “Lịch sử liên đại cây cỏ” ấn hành năm 1878, Charles Pikering đã chỉ rõ “ngay từ năm 4271 trƣớc Công nguyên (TCN) ngƣời dân khu vực Trung Cận Đông đã sử dụng nhiều loại cây (sung, vả, cau dừa,..v.v.) để làm lƣơng thực và chữa bệnh [1]. Trung Quốc và Ấn Độ đƣợc xem là cái nôi của y học cổ truyền. Các bài thuốc chữa bệnh bằng cây cỏ hình thành sớm nhất ở các quốc gia này. Từ năm 3216 hoặc 3080 tr.CN, Thần nông – Một ông vua, đồng thời cũng là một nhà dƣợc học tài năng đã chú ý tìm hiểu tác động của cây cỏ đến sức khỏe của con ngƣời. Ông đã thử nghiệm tác dụng các loài cây thuốc trên chính bản thân bằng cách uống, nếm rồi ghi chép tất cả những hiểu biết đó vào cuốn sách "Thần nông bản thảo", gồm 365 vị thuốc rất có giá trị [37]. Vào đầu thập kỷ thứ II nhân dân Trung Quốc đã biết dùng các loài cây cỏ để chữa bệnh nhƣ: Nƣớc chè đặc, rễ cây Cốt khí củ (Polygonum cuspidatum), vỏ rễ cây Táo tầu (Zizyphus vulgaris) …để chữa vết thƣơng; dùng các loài nhân sâm (Panax) để phục hồi ngũ quan, trấn tĩnh tinh thần, chế ngự cảm xúc, giảm thiểu kích động, sáng mắt …[37]. Cách đây 3000 - 5000 năm, ngƣời dân Trung Quốc đã dùng cây đại hồi (Illicicum verum), ngƣời Ai Cập dùng nhiều loài trong chi Hƣơng nhu (Ocimum L.) để làm thuốc [91], ngƣời Ấn Độ dùng lá cây Ba chẽ (Desmodium triangulare) sao vàng sắc đặc để trị kiết lị và tiêu chảy [38], cƣ dân một số nơi tại bang Madya Pradesh 5 dùng hƣơng lau (Vetiveria zizaniodes) để trị giun sán, ngoài ra còn có tá dạng chống nấm, diệt khuẩn và xua đuổi côn trùng [43]. Cho đến nay đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về cây thuốc tại đất nƣớc này nhƣ: Nghiên cứu của Ackerman W. L. vào năm 1978 về cây Sơn tra, hay của Akhtar Husain và các cộng sự về các cây có chứa tinh dầu [37] Trong chƣơng trình điều tra cơ bản nguồn tài nguyên thiên nhiên ở khu vực Đông Nam Á, Pery đã nghiên cứu và công bố hơn 1000 công trình khoa học về thực vật và dƣợc liệu đƣợc các nhà khoa học kiểm chứng (trong đó có 146 loài có tính kháng khuẩn) và tổng hợp thành cuốn sách về cây thuốc vùng Đông Á và Đông Nam Á "Medicinal Plants of East and Southeast Asia, 1985"[107]. Ngƣời Philipin dùng cải ma (Blumea lacera), để điều trị ho và mau lành vết thƣơng. Cây bạc hà (Mentha arvensis ) đƣợc nhiều nƣớc trên thế giới sử dụng phổ biến trong y học dân gian nhƣ Trung Quốc, Ấn Độ, Nhật Bản [62]. Ở châu Âu dƣợc thảo rất đa dạng và phần lớn dựa trên nền tảng của y học truyền thống cổ điển. Ngƣời đầu tiên phải kể đến là Galen (131-200 SCN), một thầy thuốc của Hoàng đế La Mã Marcus Aurelius, có ảnh hƣởng sâu sắc đến sự phát triển của các vị thuốc bào chế từ thảo mộc. Ông đã viết hàng trăm cuốn sách và đã đƣợc áp dụng trong ngành Y châu Âu hơn 1500 năm[1]. Vào thế kỷ XVIII, William Withering (1741-1799) lần đầu tiên khám phá ra công dụng chữa bệnh của cây thuốc Mao địa hoàng (Digitalis purpurea), mở ra sự phát triển trong lịch sử y dƣợc học [1]. Hiện nay, theo Đỗ Huy Bích, Trần Văn Ơn ƣớc lƣợng có khoảng 35.000 – 70.000 loài trong số 250.000 -300.000 loài cây cỏ đƣợc sử dụng, vào mục đích chữa bệnh ở khắp nơi trên thế giới. Trong đó Trung Quốc có trên 10.000 loài, Ấn Độ có khoảng 7.500 loài, Inđônnêxia có 7.500 loài, Malaysia có khoảng 2.000 loài, Nepal có 700 loài, SriLanka có khoảng 550-700 loài [12] . Andrew(2006), đã tham khảo về lịch sử cổ truyền và dân gian của từng loại cây đồng thời giải thích rõ những điều mà các nhà khoa học đã nghiên cứu về các 6 phần tử hoạt tính, tácdụng cũng nhƣ các ứng dụng tiềm năng mới của 550 loài cây thuốc [1]. Theo WHO, mức độ sử dụng nguồn dƣợc liệu ngày càng nhiều: ở Trung Quốc tiêu thụ hết khoảng 700 ngàn tấn/năm, sản phẩm thuốc y học dân tộc đạt giá trị khoảng 1,7 tỉ USD trong năm 1986. Tổng giá trị về thuốc có nguồn gốc từ thực vật trên thị trƣờng Châu Âu -Châu Mỹ và Nhật Bản 1985 đạt hơn 43 tỉ USD. Song song với sự phát triển của Khoa học Công nghệ, con ngƣời đã khai thác tinh dầu trong cây thuốc để phục vụ cho việc chữa bệnh rất hiệu quả. Các nƣớc Trung Hoa, Ấn Độ, Inđônêxia đã trở thành những nƣớc sản xuất và chế biến tinh dầu có khối lƣợng lớn. Các nƣớc công nghiệp phát triển nhƣ Hoa Kỳ, Anh, Pháp, Đức, Thụy Sỹ, Nhật Bản…rất chú trọng việc nhập tinh dầu thô và tái xuất các sản phẩm đã qua chế biến đem lại lợi nhuận khổng lồ. Nhu cầu về tinh dầu của các ngành công nghiệp dƣợc phẩm ngày càng tăng lên. Trong những năm từ 1965 đến 1970, khối lƣợng tinh dầu đƣợc sản xuất và chế biến trên toàn thế giới là 25.000 - 35 .000 tấn, nhƣng đến năm 2000 đã lên đến 80.000 tấn, trong đó chỉ riêng Trung Quốc sản xuất đƣợc 20.000 tấn, Braxin 17.000 tấn. Năm 1990, Trung Quốc là nƣớc xuất khẩu 14.963 tấn tinh dầu và thu về 141.967.000 USD. Giá cả tinh dầu trên thị trƣờng không giống nhautuỳ thuộc vào chất lƣợng, số lƣợng, nhu cầu và chủng loại. Quí và đắt nhất là tinh dầu Trầm hƣơng (96 100 ngàn USD/kg), sau đó đến tinh dầu hoa Hồng (7.300 - 7.600 USD/kg) và tinh dầu Vông vang (5.000 USD/kg) [63]. Riêng sản lƣợng chung của loại tinh dầu bạc hà trên thế giới hàng năm vào khoảng 7.500-9.000 tấn. Trung Quốc, Ấn Độ, Braxin là những nƣớc sản xuất tinh dầu bạc hà lớn nhất thế giới [106] . Khối lƣợng tinh dâu hoắc hƣơng hàng năm trên 1.000 tấn, các nƣớc sản xuất tinh dầu hoắc hƣơng nhiều nhất là Inđônêxia, Trung Quốc, Malaixia và Singapo [74]. Điều này chứng tỏ rằng ở các nƣớc công nghiệp, phát triển cây thuốc phục vụ cho nền y học cổ truyền cũng rất mạnh. Cây thuốc là loại cây kinh tế, cung cấp nhiều loài thuốc dân tộc và hiện đại trong việc bảo vệ, chăm sóc sức khỏe cho con ngƣời . 7 Từ năm 1990 các tác giả: Chung R. C. K. & Purwaningsh, Flach M. & Rumawas F., Flash M. & Siemonsma J. S, Jansen P. C. M., Kochummen K. M., Wong W. C., Sudo S. & Frietema F. T., Latiff A. M., Lememns R.H.M.J. & Wulijarni – SoetjiptoN., Lucie Widowati, Marfu ah Wardani, Mulyati Rahaya N. & Halijah Ibrahim,... đã có nhiều công trình nghiên cứu về cây thuốc, tinh dầu đăng trong “Tài nguyên thực vật Đông Nam Á” [111]. Boelens M. H. (1994) cũng đã có công trình nghiên cứu đánh giá hoạt chất và đặc tính hóa học của tinh dầu các loài cỏ ở vùng nhiệt đới [105]. Brian M. Lawrence (1994) đã công bố nghiên cứu về tinh dầu các loài thực vật.Trong giai đoạn 1994-1997 đã có nhiều nghiên cứu về tinh dầu nhƣ của Makkar H.P.S., Backer K, Charles D. J., Simon J. E., Widrlechner M. P., Singl N. K. [105]. Trung Quốc có bá rộng rãi một dƣợc phẩm mới mang tên “Di-fu-zi”, đây là loại thuốc có tác dụng lợi tiểu và chống nấm đƣợc chế biên từ cây Chenopodium ambrosioides [63] . Trong khoảng 30 năm gần đây, Viện Ung thƣ Hoa Kỳ (CNI) đã điều tra nghiên cứu sàng lọc hơn 40.000 mẫu cây thuốc, phát hiện hàng trăm cây thuốc có khả năng chữa trị bệnh ung thƣ, 25% đơn thuốc ở Mỹ sử dụng chế phẩm có dƣợc tính mạnh đƣợc điều chế từ một loài Hoa hồng (Catharanthus roseus). Theo Richard Primarck (1995) ở Madagasca, ngƣời ta dùng cây này để chữa bệnh máu trắng cho trẻ em và rất hiệu quả, đã làm tăng tỷ lệ sống của trẻ em từ 10 lên đến 90% [72]. 1.1.2.Vấn đề trồng bảo tồn cây thuốc trên thế giới. Trƣớc đại chiến thế giới lần thứ nhất, đảo Java của Inđônêxia đã trồng Hƣơng lau (Vetiveria zizaniodes) để xuất khẩu sang châu Âu (chủ yếu xuất khẩu sang Đức, Pháp, Anh) [62]. Hiện nay ở Philipin và Inddooxixia đã đƣa loài dầu giun (Chenopodium ambrosioides ) để làm thuốc [63]. Tại Inđonêxia ngƣời ta đã trồng địa liền (Kaempferia galanga ) tại miền Trung đảo Java và Miền tây đảo Sumatra đã đạt khoảng 2000 ha, với sản lƣợng thân rễ tƣơi chừng 20.000 tấn/năm [111]. Những năm gần đây Ấn Độ, đã trồng và sản xuất Gừng (Zingiber officinale) với diện tích ngày càng tăng. Năm 1980 là 300.000 tấn, đến năm 1990 8 lên 500.000 tấn, năm 1998 lên tới 600.000 tấn, các nƣớc Trung Quốc, Inddooneexxia, Nigieria, Jamaica… là những nƣớc sản xuất Gừng nhiều nhất thế giới [111]. Hiện nay tại các tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây, Vân Nam của Trung Quốc, nhiều nơi tại Nhật Bản cây màng tang (Litsea cubeba ) đƣợc coi là đối tƣợng gieo trồng rừng và đã tạo ra thành những quần thể trên diện tích lớn để lấy quả cất tinh dầu, làm dƣợc liệu [62]. Theo P. Raven (1987) và Ole Harmann (1988), trong vòng hơn 100 năm trở lại đây, có khoảng 1.000 loài thực vật đã bị tuyệt chủng, có tới 60.000 loài gặp rủi ro hay sự tồn tại của chúng bị đe doạ vào thế kỷ tới. Trong số những loài thực vật đã mất đi hoặc đang bị đe doạ gay gắt, có một tỷ lệ không nhỏ là thực vật làm thuốc [16]. Để phục vụ mục đích chăm sóc bảo vệ sức khỏe cho con ngƣời, và để chống lại bệnh tật, thì sự kết hợp giữa Đông - Tây y, giữa y học hiện đại với Y học cổ truyền của các dân tộc là điều cần thiết. Chính từ những kinh nghiệm của Y học cổ truyền đã giúp cho nhân loại khám phá ra những loài thuốc có ích. Vì vậy, việc khai thác kết hợp với bảo tồn các loài cây thuốc là điều hết sức quan trọng. Các nƣớc trên thế giới đang hƣớng về mục tiêu thực hiện chƣơng trình quốc gia kết hợp sử dụng, bảo tồn và phát triển bền vững cây thuốc. 1.2. Tình hình nghiên cứu, sử dụng và bảo tồn cây thuốc ở Việt Nam. 1.2.1. Tình hình nghiên cứu về cây thuốc Dân tộc Việt Nam bƣớc vào thời kỳ Trung đại dƣới nền đô hộ của các triều đại Triệu- Hán - Nguỵ - Tấn - Tống - Tề - Lƣơng - Tuỳ - Đƣờng (179 tr. CN - 938 sau CN). Dƣới các thời kì này, ngƣời Việt Nam thuộc tầng lớp trên đã đƣợc giới thiệu một nền y học kinh điển thông qua các thầy thuốc đến từ Trung Quốc nhƣ Đổng Phụng (187 - 226), Lâm Thắng (479 - 501). Trong giai đoạn này, một số dƣợc liệu của Việt Nam đã đƣợc ghi vào Dƣợc điển của Trung Quốc nhƣ: Ý dĩ, Sắn dây (Danh Y biệt lục), Đậu khấu (Hải Nam bản thảo - đời Đƣờng), Sử quân tử (Bản thảo khai bảo - đời Tống), Sả (Bản thảo thập di). 9 Trầu, Cau (Tô cung bản thảo), Hƣơng bài, Khổ qua, Bí ngô, Lƣời ƣơi (Bản thảo cƣơng mục) [119]. Nền y học nƣớc nhà qua các thời kỳ lịch sử đều gắn liền với tên tuổi của các Lƣơng y nổi tiếng. Ngay từ thời vua Hùng Vƣơng dựng nƣớc qua các văn tự Hán Nôm còn sót lại (Đại Việt sử ký, Lĩnh nam chích quái liệt truyện, Long uy bí thƣ...) [37]. Đời nhà Lý (1010- 1224) nhà sƣ Nguyễn Minh Không đã dùng nhiều cây thuốc chữa bệnh cho vua và nhân dân, đến đời nhà Trần có nhiều danh y nổi tiếng nhƣ Phạm Công Bân, Tuệ Tĩnh [89]. Tuệ Tĩnh đƣợc phong là ông tổ ngành dƣợc Việt Nam và là ngƣời mở đầu cho nền y dƣợc cổ truyền Việt Nam. Ông đã biên soạn bộ sách “Hồng Nghĩa giác tƣ y thƣ”biên soạn bằng quốc âm, trong đó có 630 vị thuốc, giới thiệu 13 đơn thuốc chữa tạp bệnh, 37 đơn thuốc chữa bệnh thƣơng hàn (Thập tam phương thuốc gia giảm và tam thập thất tùy pháp) [56], [35]. Đến thời vị Hoàng đế thứ 11 của nhà Lê trung hƣng, ở ngôi từ năm 1705 đến năm 1729 thời vua Lê Dụ Tông lại đƣợc biết đến Danh y Hải Thƣợng Lãn Ông, [56], [33]. Ông để lại nhiều tác phẩm lớn nhƣ “Y tông tâm lĩnh” (1770), nay ngƣời ta gọi là “Hải Thƣợng y tông tâm lĩnh” đƣợc viết trong vòng 10 năm, gồm 28 tập, 66 quyển chắt lọc tinh hoa của y học cổ truyền, đƣợc đánh giá là công trình y học xuất sắc nhất trong thời trung đại Việt Nam và“không chỉ có giá trị về y học mà còn có giá trị văn học, lịch sử, triết học”[33]. Thời kỳ Tây Sơn (1788-1802) có Danh y Nguyễn Quang Tuân có tập “Nam Dƣợc”, “Nam dƣợc chỉ danh truyền”, “La khê phƣơng dƣợc” ghi chép 500 vị thuốc nam trong dân gian dùng để chữa bệnh [38],[120]. Danh y Gia Phan (1748 – 1817), ông là tác giả các bộ sách “Liệu dịch phƣơng pháp toàn tập” viết về bệnh truyền nhiễm; “Hộ Nhi phƣơng pháp tổng lục”, viết về Nhi khoa và “Lý Am phƣơng pháp thông lục” về Phụ khoa [116]. Thời nhà Nguyễn (1802-1884) có quyển “Xuân Đình y án kinh trị chủ chứng‟‟ chuyên về bệnh ôn dịch và thời khí của Lê Kinh Hạp [116]. 10 Thời Pháp thuộc (1884 – 1945), Y học cổ truyền Việt Nam bƣớc vào thế kỷ XX, ngoài những tác phẩm y học biên soạn bằng chữ Hán Nôm nhƣ: “Vệ sinh yếu chỉ‟‟ (1901) của Bùi Văn Trung ở Nam Định, “Bí truyền tập yếu‟‟ (1906) của Lê Tƣ Thúy ở Hà Nam, còn có những tài liệu y học viết bằng chữ Quốc ngữ: “Việt Nam Dƣợc học‟‟ của Phó Đức Thành, “Nam Dƣợc bộ‟‟ của Nguyễn An Cƣ, “Trung Việt Dƣợc tính hợp biên‟‟ gồm 1500 vị thuốc của Đinh Nho Chấn…[119]. Giai đoạn từ năm 1945 đến nay đã có nhiều nhà khoa học, nghiên cứu về cây thuốc, có nhiều tác phẩm nhƣ : “Thuốc Nam châm cứu‟‟ (1960) của Viện Đông y, 450 cây thuốc (1962) của Phó Đức Thành, “Sổ tay thuốc nam thƣờng dùng ở cơ sở” của Bộ Y tế ghi chép các loài cây thuốc đƣợc dùng chữa trị ở các địa phƣơng, [14], Võ Văn Chi (1991) đã tổng hợp các mô tả cây thuốc của tỉnh An Giang [18];“Tính kháng khuẩn của cây thuốc Việt Nam‟‟ (1975) của Nguyễn Đức Minh [60], “Tóm tắt đặc điểm các họ cây thuốc (1976) " của Vũ Văn Chuyên [27], "Sổ tay cây thuốc Việt Nam" (1980) của Đỗ Huy Bích, Bùi Xuân Chƣơng đã giới thiệu 519 loài cây thuốc trong đó có 150 loài mới phát hiện [10], "Danh lục cây thuốc Miền Nam Việt Nam", tập "Atlas cây thuốc" đã công bố về danh sách cây thuốc ở Miền Bắc là 1114 loài, Miền Nam là 1119 loài. Tổng hợp trong cả nƣớc đến năm 1985 là 1863 loài và dƣới loài, phân bố trong 1033 chi, 236 họ, 101 bộ, 17 lớp, 11 ngành [25], tác giả Trần Đình Lý và cộng sự (1993) cho xuất bản cuốn "1900 loài cây có ích ở Việt Nam" [57]. Năm 1993, Đỗ Huy Bích đã công bố kết quả nghiên cứu về tài nguyên cây thuốc Việt Nam [9]. Năm 2003, Đỗ Huy Bích và các công sự của Viện dƣợc liệu đã giới thiệu 920 loài cây thuốc, 80 loài động vật làm thuốc và giới thiệu gần 1.000 bài thuốc chữa các bệnh thƣờng gặp trong bộ "Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam" [11]. Năm 2011, Đỗ Tất Lợi đã tiếp tục tái bản bổ sung cuốn "Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam" đã đƣợc nhận giải thƣởng Hồ Chí Minh về khoa học kỹ thuật, ông mô tả tỉ mỉ tên khoa học, phân bố, công dụng, thành phần hóa học của 792 loài cây thuốc chia theo các nhóm bệnh khác nhau [56]. Năm 2012, Võ Văn Chi,đã cho tái bản có bổ sung cuốn “Từ điển cây 11 thuốc Việt Nam”, gồm 2 tập, là công trình đồ sộ ghi chép 4472 loài cây thuốc có ở Việt Nam [21]. Những năm gần đây đã có rất nhiều các nghiên cứu sâu về cây thuốc nhƣ công trình “Nghiên cứu thành phần hóa học và tác dụng dƣợc lý theo hƣớng điều trị loét dạ dày của rễ cây sâm báo (Abelmoschus sagittifolius ) họ Bông (Malvaceae)” của Đào Thị Vui (2007) [102]; “ Nghiên cứu thành phần hóa học và một số tác dụng sinh học của cây cao cẳng (Ophipogon confertifolius, họ Mạch môn – Convallariaceae” Nguyễn Thị Vinh Huê (2009), [47]; „Nghiên cứu một số tác dụng dƣợc lí của Tam thất hoang (Panax stipuleanatus Tsai et Feng), họ Araliaceae” củaNguyễn Thị Thu Hƣơng(2009) ;“Nghiên cứu đặc điểm thực vật, thành phần hóa học và một số tác dụng sinh học của cây vọng cách Premna sp. thu hái ở Nam Định”của Nguyễn Thị Bích Hằng (2010) [38]; “ Tài nguyên cây thuốc họ Na ở Việt Nam” của Đỗ Ngọc Đài, Phạm Hồng Ban (2011) [29] và “Nghiên cứu đa dạng cây thuốc Tây Bắc Nghệ An [2012]; „Nghiên cứu tác dụng trên bệnh Gút thực nghiệm của cây hy thiêm (Siegesbeckia orientalis )” của Nguyễn Thị Thùy Dƣơng (2012) [28]; “Nghiên cứu thành phần hóa học và một số tác dụng dƣợc lý của cây mạ mân (Aganope balansae )” của Trần Quốc Toản (2012) [84]; Nghiên cứu thành phần hóa học và một số tác dụng dƣợc lý của loài trám hồng (Canarium bengalense) củaHoàng Thị Lê (2012) [54]; “ Nghiên cứu tác dụng hạ Glucose huyết của rễ cây chóc máu nam (Salacia cochinchinensis )”của Đỗ Thị Nguyệt Quế (2013) [71]. Năm 2014, Nguyễn Thị Thu Hƣơng đã công bố kết quả nghiên cứu “ Nghiên cứu tính đa dạng nguồn cây thuốc đƣợc sử dụng trong cộng đồng dân tộc ở tỉnh Thái Nguyên nhằm bảo tồn và phát triển bền vững” [48]. 1.2.2. Tình hình nghiên cứu, trồng bảo tồn, phát triển cây thuốc và bài thuốc ở Việt Nam 1.2.2.1. Công tác điều tra Đến nay, đã có nhiều công trình điều tra về cây thuốc dân tộc của các nhà khoa học trên khắp cả nƣớc. Theo thống kê sơ bộ của Nguyễn Bá Hoạt (2013) đã có một số kết quả nghiên cứu nhƣ: cây thuốc của Ngƣời Dao (khu vực Vƣờn Quốc gia Ba Vì): 579 loài và 125 bài thuốc; ngƣời Mƣờng (Cẩm Liên, Cẩm Thủy, 12
- Xem thêm -