Tài liệu đánh giá chính sách giảm nghèo bền vững từ thực tiễn thị xã điện bàn, tỉnh quảng nam .

  • Số trang: 87 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 344 |
  • Lượt tải: 0
dangvantuan

Tham gia: 02/08/2015

Mô tả:

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI TRẦN THỊ HÀ ĐÁNH GIÁ CHÍNH SÁCH GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG TỪ THỰC TIỄN THỊ XÃ ĐIỆN BÀN TỈNH QUẢNG NAM LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG HÀ NỘI, năm 2019 VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI TRẦN THỊ HÀ ĐÁNH GIÁ CHÍNH SÁCH GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG TỪ THỰC TIỄN THỊ XÃ ĐIỆN BÀN TỈNH QUẢNG NAM Chuyên ngành Mã số : Chính sách công : 834.04.02 NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC PGS. TS. NGUYỄN DUY DŨNG HÀ NỘI, năm 2019 LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu và kết quả nghiên cứu nêu trong luận văn là trung thực, được các cơ quan cho phép sử dụng và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác. Học viên Trần Thị Hà MỤC LỤC MỞ ĐẦU ....................................................................................................................1 CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐÁNH GIÁ CHÍNH SÁCH GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG Ở VIỆT NAM ......................................................................6 1.1. Khái niệm, đặc điểm và vai trò của đánh giá chính sách giảm nghèo bền vững .6 1.2. Khái quát quá trình thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững ở Việt Nam ...16 1.3. Các tiêu chí đánh giá chính sách giảm nghèo bền vững ....................................21 1.4. Phương pháp đánh giá chính sách giảm nghèo bền vững ..................................22 1.5. Các yếu tố tác động đến chính sách giảm nghèo bền vững ...............................23 CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG ĐÁNH GIÁ CHÍNH SÁCH GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG TẠI THỊ XÃ ĐIỆN BÀN, TỈNH QUẢNG NAM ...........................30 2.1. Các đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội tại thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam có liên quan đến việc đánh giá chính sách giảm nghèo bền vững tại thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam ........................................................................................................30 2.2. Thực trạng về chính sách giảm nghèo bền vững tại thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam ...........................................................................................................................33 2.3. Đánh giá tình hình thực hiện chính sách giảm nghèo tại thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam ...............................................................................................................35 2.4. Đánh giá chung về thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững tại thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam ................................................................................................51 CHƯƠNG 3. PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CHÍNH SÁCH GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG TỪ THỰC TIỄN THỊ XÃ ĐIỆN BÀN, TỈNH QUẢNG NAM ....................................................................................55 3.1. Phương hướng nâng cao hiệu quả chính sách giảm nghèo bền vững từ thực tiễn thị xã Điện Bàn..........................................................................................................55 3.2. Giải pháp nâng cao hiệu quả chính sách giảm nghèo bền vững từ thực tiễn thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam ..................................................................................57 3.3. Một số kiến nghị.................................................................................................67 KẾT LUẬN ..............................................................................................................72 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT STT Chữ viết tắt Chữ nguyên nghĩa 1 ASXH An sinh xã hội 2 BHYT Bảo hiểm y tế 3 BHXH Bảo hiểm xã hội 4 CNH-HĐH Công nghiệp hóa - hiện đại hóa 5 CRS Tổ chức dịch vụ cứu trợ Thiên chúa giáo 6 CSTE Chăm sóc trẻ em 7 CCB Cựu chiến binh 8 GD & ĐT Giáo dục và đào tạo 9 HĐND Hội đồng nhân dân 10 HPN Hội phụ nữ 11 KDC Khu dân cư 12 KT - XH Kinh tế - xã hội 13 MTTQ Mặt trận Tổ quốc 14 NHCSXH Ngân hành chính sách xã hội 15 TB&XH Thương binh và xã hội 16 TK&VV Tiết kiệm và vay vốn 17 UBND Ủy ban nhân dân 18 UN Tổ chức Liên hợp quốc MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Giảm nghèo là vấn đề mang tính toàn cầu, không còn là của riêng một quốc gia hay một vùng lãnh thổ nào. Trước đây cũng như hiện nay và đặc biệt là trong xu thế hội nhập và phát triển, các quốc gia trên thế giới đều có chung một mối lo đó là quan tâm và hợp tác cùng nhau để giải quyết đói, nghèo. Giảm nghèo bền vững có vai trò quan trọng tạo tiền đề cơ sở cho sự phát triển xã hội; giảm nghèo bền vững là một trong những chính sách xã hội hướng vào sự phát triển con người, nhất là nhóm người nghèo, tạo cơ hội cho họ tham gia vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước như: Phát triển kinh tế tăng thu nhập, được tiếp cận với các dịch vụ xã hội cơ bản, góp phần nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân. Ở Việt Nam, giảm nghèo được Đảng, Nhà nước xác định là một trong những chương trình mục tiêu quốc gia quan trọng, được ưu tiên hàng đầu trong hoạch định phát triển kinh tế - xã hội cho từng thời kỳ. Phát triển kinh tế phải đồng thời gắn liền với giảm nghèo, cũng như tăng trưởng kinh tế phải đi đôi với tiến bộ công bằng xã hội, cải thiện đời sống nhân dân, ổn định xã hội, bảo đảm quyền con người. Đẩy mạnh công tác giảm nghèo, từng bước tiếp cận các chuẩn quốc tế. Đó là chiến lược và định hướng nhất quán của Đảng và nhà nước ta suốt nhiều thập kỷ qua. Theo thời gian, công tác giảm nghèo ở nước ta đã đạt được những kết quả đáng khích lệ, đó là do sự nỗ lực, quyết tâm giảm nghèo của Việt Nam và thực tế cho thấy chủ trương và những biện pháp đang thực hiện là đúng đắn, hợp lòng dân. Mặc dù kinh tế đất nước còn không ít khó khăn nhưng Đảng, Nhà nước luôn coi đảm bảo an sinh xã hội và giảm nghèo luôn là một trong những lĩnh vực ưu tiên hàng đầu trong hoạt động của Chính phủ. Những thành tựu có được trong giảm nghèo là nhờ sự nỗ lực chung của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, trong đó có sự đóng góp không nhỏ của các doanh nghiệp, các tổ chức, cá nhân, các cơ quan, đoàn thể, tổ chức xã hội. . Chính vì vậy, tỷ lệ hộ nghèo ở Việt Nam giảm khá nhanh và 1 cuộc sống của những người nghèo của cả nước cũng như ở nhiều tỉnh đã được cải thiện đáng kể. Song, hiện tại công cuộc xóa đói giảm nghèo vẫn còn những hạn chế, bất cập cần tập trung khắc phục đó là: tỷ lệ hộ nghèo giảm nhanh nhưng chưa bền vững, khoảng cách giàu - nghèo chưa được thu hẹp, thu nhập bình quân thấp, hiện tượng tái nghèo có xu hướng trở lại ở nhiều địa phương nhất ở vùng sâu vùng xa ... Tình trạng trên do nhiều nguyên nhân: do nhiều cơ chế, chính sách được ban hành còn chồng chéo dẫn đến việc thực hiện phân bổ, hiệu quả sử dụng các nguồn lực chưa cao; nhiều địa phương còn trông chờ, ỷ lại vào Nhà nước. Việc tổ chức thực hiện chính sách giảm nghèo vẫn còn nhiều bất cập, chưa phù hợp với thực tiễn; công tác tuyên truyền, vận động nâng cao nhận thức về giảm nghèo chưa được tổ chức thường xuyên, do đó hiệu quả chính sách giảm nghèo bền vững chưa cao. Thực tế trên cho thấy, để đạt được mục tiêu giảm nghèo là vấn đề hết sức khó khăn, đây cũng là một trong những trở ngại và thách thức lớn đối với công tác giảm nghèo bền vững.Vì thế, việc tiếp tục nghiên cứu trao đổi để đưa ra các giải pháp phù hợp với các vùng, địa phương là rất cần thiết. Do đó, học viên lựa chọn đề tài "Đánh giá chính sách giảm nghèo bền vững từ thực tiễn thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam" với mong muốn góp phần nghiên cứu và đánh giá đầy đủ hơn chính sách và các biện pháp giảm nghèo bền vững, nhằm góp phần nâng cao hiệu quả trong lĩnh vực này trên địa bàn thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. 2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài Nghiên cứu về nghèo đói, nhất là các chính sách giảm nghèo bền vững luôn là chủ đề thu hút sự quan tâm của các nhà lãnh đạo, quản lý và giới học thuật. Trong đó, đã có nhiều luận án, luận văn bàn luận khá đầy đủ về nội dung lý luận, thực tiễn cả ở phạm vi quốc gia và địa phương. Trong sự hiểu biết của học viên gần đây đã có một số luận văn có liên quan, cụ thể như: - Đề tài luận văn thạc sĩ chính sách công "Đánh giá chính sách giảm nghèo bền vững từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng" của Nguyễn Thị Quyên (2017). - Đề tài luận văn thạc sĩ chính sách công "Đánh giá chính sách giảm nghèo bền vững từ thực tiễn tỉnh Quảng Nam" của Đặng Hữu Hải (2017). 2 - Đề tài luận văn thạc sĩ chính sách công "Thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững từ thực tiễn huyện Nghĩa hành, tỉnh Quảng Ngãi" của Nguyễn Thị Thúy Hà (2016). Những đóng góp của các luận văn trên thể hiện ở nhiều khía cạnh mới về lý luận và thực tế ở một số địa phương. Không chỉ phân tích thực trạng, kết quả của công tác xóa đói giảm nghèo ở các địa bàn trên mà các luận văn còn chỉ ra những hạn chế và các giải pháp khắc phục. Tuy nhiên, bàn luận về lý luận xóa đói, giảm nghèo, quan niệm về nghèo, đói ở Việt Nam…còn khá khiêm tốn. Các nội dung lý luận về chính sách giảm nghèo bền vững ở nước ta, nhất là từ góc độ vùng, địa phương… chưa đề cập nhiều. Đặc biệt, cho đến nay chưa có công trình nghiên cứu nào đánh giá một cách đầy đủ, toàn diện việc thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững trên địa bàn thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. Trong thực tế ở địa bàn này còn rất nhiều vấn đề về phát triển kinh tế -xã hội nhất là chính sách giảm nghèo và việc thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững… Đây là khoảng trống mà tác giả luận văn mong muốn phân tích mổ xẻ để giúp hiểu rõ hơn nội dung này trên địa bàn thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. 3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 3.1. Mục đích nghiên cứu Từ thực tiễn thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững ở thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam để đánh giá, nhìn nhận lại những cái được, chưa được, hạn chế, bất cập trong quá trình triển khai thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững trên địa bàn thị xã Điện Bàn. Trên cơ sở đó, đề xuất một số nội dung, giải pháp và kiến nghị góp phần hoàn thiện chính sách giảm nghèo bền vững cũng như thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững, hiệu quả hơn trong thời gian đến. 3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu Hệ thống hóa các quy định của Trung ương, của tỉnh Quảng Nam và thị xã Điện Bàn về xây dựng chính sách giảm nghèo bền vững. Xem xét, đánh giá việc thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững trên địa bàn thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. Qua đó chỉ ra những nội dung hợp lý, những 3 vấn đề còn bất cập, hạn chế của chính sách giảm nghèo bền vững trong thời gian qua. Kiến nghị, đề xuất giải pháp góp phần hoàn thiện cũng như thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững trên địa bàn thị xã Điện Bàn cũng như của tỉnh Quảng Nam. 4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4.1. Đối tượng nghiên cứu Đánh giá chính sách giảm nghèo bền vững tại thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam và kết quả triển khai thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững trên địa bàn thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. 4.2. Phạm vi nghiên cứu - Về nội dung: Nghiên cứu, phân tích những vấn đề lý luận về đánh giá chính sách giảm nghèo bền vững, từ đó phân tích thực trạng đánh giá chính sách giảm nghèo bền vững tại thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. Để từ đó rút ra các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả chính sách này. - Về không gian: Thực tiễn triển khai thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững trên địa bàn thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. - Về thời gian: Nghiên cứu chính sách và kết quả thực hiện giảm nghèo bền vững từ năm 2011 đến nay. 5. Phương pháp lý luận và phương pháp nghiên cứu 5.1. Phương pháp lý luận Luận văn nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử của Chủ nghĩa Mác - Lê nin. 5.2. Phương pháp nghiên cứu - Phương pháp thu thập số liệu, thông tin: Số liệu, thông tin phục vụ nghiên cứu luận văn được lấy từ các văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc, Đại hội Đảng bộ tỉnh Quảng Nam, Đại hội Đảng bộ thị xã Điện Bàn, các Nghị quyết; các văn bản, đặc biệt là các báo cáo của tỉnh Quảng Nam và các cấp chính quyền của thị xã Điện Bàn. 4 - Phương pháp phân tích, tổng hợp số liệu: hệ thống hóa, phân tích, đánh giá các số liệu, thông tin thu thập được để phục vụ cho việc nghiên cứu đề tài. - Phương pháp phân tích chính sách: áp dụng để phân tích, đánh giá quy trình thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững trong thực tiễn. - Phương pháp đánh giá trước - sau: so sánh thực trạng giảm nghèo ở thị xã Điện Bàn trước và sau khi thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững. Ngoài ra, đề tài cũng sử dụng phương pháp chuyên gia thông qua trao đổi, tham khảo ý kiến một số cán bộ có liên quan đến tổ chức thực hiện chính sách giảm nghèo ở thị xã Điện Bàn cùng với phương pháp quan sát, phỏng vấn nhanh hộ nghèo. 6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn 6.1. Ý nghĩa lý luận Qua việc phân tích, đánh giá chính sách giảm nghèo bền vững từ thực tiễn thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam, các cơ sở lý luận, lý thuyết về chính sách giảm nghèo bền vững được hệ thống hóa và làm rõ hơn, góp phần làm phong phú thêm lý thuyết về chính sách giảm nghèo bền vững. 6.2. Ý nghĩa thực tiễn Cung cấp cơ sở thực tiễn để đánh giá, làm rõ chính sách giảm nghèo bền vững của thị xã Điện Bàn và tỉnh Quảng Nam trong thời gian qua, qua đó đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện tốt hơn, hiệu quả hơn chính sách giảm nghèo bền vững. 7. Kết cấu của luận văn Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, kết cấu luận văn gồm 3 chương: Chương 1: Cơ sở lý luận và đánh giá chính sách giảm nghèo bền vững ở Việt Nam Chương 2: Thực trạng đánh giá chính sách giảm nghèo bền vững tại thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam Chương 3: Phương hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả đánh giá chính sách giảm nghèo bền vững tại thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam 5 CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐÁNH GIÁ CHÍNH SÁCH GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG Ở VIỆT NAM 1.1. Khái niệm, đặc điểm và vai trò của đánh giá chính sách giảm nghèo bền vững 1.1.1. Khái niệm, đặc điểm về đánh giá chính sách giảm nghèo bền vững Để làm rõ thế nào là đánh giá chính sách giảm nghèo bền vững trước hết cần làm rõ một số khái niệm như sau: - Khái niệm: "Nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và thỏa mãn các nhu cầu cơ bản của con người mà nhu cầu này được xã hội thừa nhận tùy theo trình độ phát triển kinh tế - xã hội và phong tục tập quấn của địa phương" (Hội nghị chống đói nghèo khu vực Châu Á - Thái Bình Dương do ESCAP tổ chức tại Băng Cốc - Thái Lan tháng 9/1993). Theo Tổ chức Liên hợp quốc (UN): “Nghèo là thiếu năng lực tối thiểu để tham gia hiệu quả vào các hoạt động xã hội. Nghèo có nghĩa là không có đủ ăn, đủ mặc, không được đi học, không được khám chữa bệnh, không có đất đai để trồng trọt hoặc không có nghề nghiệp để nuôi sống bản thân, không được tiếp cận tín dụng. Nghèo cũng có nghĩa là không an toàn, không có quyền, và bị loại trừ, dễ bị bạo hành, phải sống trong các điều kiện rủi ro, không tiếp cận được nước sạch và công trình vệ sinh” [17]. - Nghèo đa chiều đã xuất phát từ quan niệm nghèo là một hiện tượng đa chiều, tình trạng nghèo cần được nhìn nhận là sự thiếu hụt, không được thỏa mẫn các nhu cầu cơ bản của con người. - Về chính sách giảm nghèo bền vững ở Việt Nam như sau: Chính sách giảm nghèo bền vững là tập hợp các quyết định của Chính phủ nhằm đưa ra các giải pháo, công cụ chính sách để giải quyết các vấn đề về cải thiện đời sống vật chất và tinh thần đối với người nghèo, góp phần thu hẹp khoảng cách chênh lệch về mức sống giữa nông thôn và thành thị, giữa các cùng, các dân tộc và các nhóm dân cư, 6 thực hiện mục tiêu giảm nghèo bền vững của đất nước. - Chuẩn nghèo và đo lường nghèo Ở Việt Nam, qua nhiều thập niên, cách đo lường và đánh giá nghèo chủ yếu thông qua thu nhập. Chuẩn nghèo được xác định dựa trên mức chi tiêu đáp ứng những nhu cầu tối thiểu và được quy thành tiền. Nếu người có thu nhập thấp dưới mức chuẩn nghèo thì được đánh giá thuộc diện hộ nghèo. Đây chính là chuẩn nghèo đơn chiều do Chính phủ quy định. Tuy nhiên, chuẩn nghèo hiện nay của Việt Nam được đánh giá là thấp so với thế giới. Trên thực tế, nhiều hộ dân thoát nghèo nhưng mức thu nhập vẫn nằm cận chuẩn nghèo, do đó số lượng hộ cận nghèo vẫn rất lớn, tỷ lệ tái nghèo còn cao, hàng năm cứ 3 hộ thoát nghèo thì lại có 01 hộ trong số đó tái nghèo (Trung tâm Thông tin và Dự báo Kinh tế - Xã hội Quốc gia (2014:7) [16]. Thực tế cho thấy sử dụng tiêu chí thu nhập để đo lường nghèo đói là không đầy đủ. Về bản chất, đói nghèo đồng nghĩa với việc bị khước từ các quyền cơ bản của con người, bị đẩy sang lề xã hội chứ không chỉ là thu nhập thấp. Có nhiều nhu cầu tối thiểu không thể đáp ứng bằng tiền. Nhiều trường hợp không nghèo về thu nhập nhưng lại khó tiếp cận được các dịch vụ cơ bản về y tế, giáo dục, thông tin. Mặc dù một số hộ không có tên trong danh sách hộ nghèo nhưng lại thiếu thốn các dịch vụ y tế, nước sạch, ở vùng sâu vùng xa học sinh phải học trong những căn nhà lá đơn sơ, bốn bề gió lùa… Do đó, nếu chỉ dùng thước đo duy nhất dựa trên thu nhập hay chi tiêu sẽ dẫn đến tình trạng bỏ sót đối tượng nghèo, dẫn đến sự thiếu công bằng, hiệu quả và bền vững trong thực thi các chính sách giảm nghèo. Nghèo đa chiều có thể đo bằng tiêu chí thu nhập và các tiêu chí phi thu nhập. Sự thiếu hụt cơ hội, đi kèm với tình trạng suy dinh dưỡng, thất học, bệnh tật, bất hạnh và tuyệt vọng là những nội dung được quan tâm trong khái niệm nghèo đa chiều. Thiếu đi sự tham gia và tiếng nói về kinh tế, xã hội hay chính trị sẽ đẩy các cá nhân đến tình trạng bị loại trừ, không được thụ hưởng các lợi ích phát triển kinh tế - xã hội và do vậy bị tước đi các quyền con người cơ bản (UN, 2012: 5). Tuy nhiên, chuẩn nghèo đa chiều có thể là một chỉ số không liên quan đến mức thu nhập mà bao gồm các khía cạnh khác liên quan đến sự thiếu hụt các dịch 7 vụ xã hội cơ bản (Oxfam và ActionAid, 2010: 11). Chỉ số nghèo đa chiều (Multidimensional Poverty Index) của quốc tế, với ba chiều cạnh chính là: y tế, giáo dục và điều kiện sống, hiện là một thước đo quan trọng nhằm bổ sung cho phương pháp đo lường nghèo truyền thống dựa trên thu nhập. Khái niệm nghèo đa chiều được đề cập ở Việt Nam từ năm 2013. Đo lường nghèo đa chiều cần được áp dụng để dựng nên một bức tranh đầy đủ và toàn diện hơn về thực trạng nghèo ở nước ta. Bộ Lao động TB&XH đề xuất xây dựng bộ tiêu chí nghèo đa chiều, đồng thời rà soát cơ chế, chính sách nhằm thực hiện giảm nghèo theo hướng đa chiều ở Việt Nam. Nghị quyết số 15-NQ/TW Hội nghị Trung ương lần thứ 5 của Ban Chấp hành Trung ương khoá XI về chính sách xã hội giai đoạn 2012-2020 đã đề ra nhiệm vụ bảo đảm an sinh xã hội, chú trọng đến việc làm, bảo hiểm xã hội, trợ giúp xã hội cho những đối tượng có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, đồng bào dân tộc ít người, bảo đảm mức tối thiểu về thu nhập và một số dịch vụ xã hội cơ bản như khám chữa bệnh, học hành, nhà ở, nước sạch, thông tin, truyền thông. Để thực hiện mục tiêu giảm nghèo hiệu quả, bền vững hơn, Quốc hội khóa 13, kỳ họp thứ 7 đã thông qua Nghị quyết số 76/2014/QH13 về việc đẩy mạnh thực hiện mục tiêu giảm nghèo bền vững đến năm 2020, trong đó nêu rõ: xây dựng chuẩn nghèo mới theo phương pháp tiếp cận đa chiều nhằm bảo đảm mức sống tối thiểu và đáp ứng các dịch vụ xã hội cơ bản; Quyết định số 2324/QĐ-TTg ngày 19/12/2014 của Thủ tướng Chính phủ ban hành kế hoạch hành động triển khai Nghị quyết số 76/2014/QH13 của Quốc hội đã xác định rõ nhiệm vụ xây dựng, nghiên cứu xây dựng đề án tổng thể về đổi mới phương pháp tiếp cận nghèo đói ở Việt Nam từ đơn chiều sang đa chiều [16]. Ngày 15/9/2015 Thủ tướng Chính phủ đã ký quyết định số 1614/QĐ-TTg phê duyệt Đề án tổng thể “Chuyển đổi phương pháp tiếp cận đo lường nghèo từ đơn chiều sang đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016-2020”. Chuẩn nghèo giai đoạn 2016 - 2020 của Việt Nam được xây dựng theo hướng: sử dụng kết hợp cả chuẩn nghèo về thu nhập và mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản. Theo đó, 8 tiêu chí đo lường nghèo được xây dựng dựa trên cơ sở: Các tiêu chí về thu nhập, bao gồm: chuẩn mức sống tối thiểu về thu nhập, chuẩn nghèo về thu nhập, chuẩn mức sống trung bình về thu nhập; Mức độ thiếu hụt trong tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản, bao gồm: tiếp cận về y tế, giáo dục, nhà ở, nước sạch và vệ sinh, tiếp cận thông tin. Những quy định chính sách nói trên tạo cơ sở pháp lý cho việc chuyển đổi phương pháp tiếp cận đo lường nghèo từ đơn chiều sang đa chiều áp dụng cho chương trình giảm nghèo của nước ta trong giai đoạn 2016-2020. * Giai đoạn 2011 - 2015: Theo Quyết định số 09/2011/QĐ-TTg, ngày 30/01/2011 của Thủ tướng Chính phủ tiêu chí xác định chuẩn nghèo cụ thể như sau: - Hộ cậnnghèo: + Khu vực nông thôn: Có mức thu nhập từ 401.000-20.000đồng/người/tháng. + Khu vực thành thị: Có mức thu nhập từ 501.000–650.000 đồng/người/tháng. * Giai đoạn 2015 - 2020 bao gồm: + Ở nông thôn: người có thu nhập 700.000 đồng/người/tháng + Ở thành thị: người có thu nhập 900.000 đồng/người/tháng * Tiêu chuẩn nghèo giai đoạn 2016 – 2020 Theo Quyết định số 59/2015/QĐ-TTg, ngày 19/11/2015 của Thủ tướng Chính phủ tiêu chí xác định chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều cụ thể như sau: - Các tiêu chí xácđịnh + Các tiêu chí về thu nhập: Chuẩn nghèo: 700.000 đồng/người/tháng ở khu vực nông thôn và 900.000 đồng/người/tháng ở khu vực thành thị. Chuẩn cận nghèo: 1.000.000 đồng/người/tháng ở khu vực nông thôn và 1.300.000 đồng/người/tháng ở khu vực thành thị. + Tiêu chí mức độ thiếu hụt tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản Các dịch vụ xã hội cơ bản (05 dịch vụ): y tế; giáo dục; nhà ở; nước sạch và vệ sinh; thông tin; 9 Các chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt các dịch vụ xã hội cơ bản (10 chỉ số): tiếp cận các dịch vụ y tế; bảo hiểm y tế; trình độ giáo dục của người lớn; tình trạng đi học của trẻ em; chất lượng nhà ở; diện tích nhà ở bình quân đầu người; nguồn nước sinh hoạt; hố xí/nhà tiêu hợp vệ sinh; sử dụng dịch vụ viễn thông; tài sản phục vụ tiếp cận thông tin. - Chuẩn hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ có mức sống trung bình áp dụng cho giai đoạn2016-2020: + Hộ nghèo Khu vực nông thôn: là hộ đáp ứng một trong hai tiêu chí sau: Có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ đủ 700.000 đồng trở xuống; Có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 700.000 đồng đến 1.000.000 đồng và thiếu hụt từ 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản trở lên. Khu vực thành thị: là hộ đáp ứng một trong hai tiêu chí sau: Có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ đủ 900.000 đồng trở xuống; Có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 900.000 đồng đến 1.300.000 đồng và thiếu hụt từ 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản trở lên. + Hộ cận nghèo - Khu vực nông thôn: là hộ có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 700.000 đồng đến 1.000.000 đồng và thiếu hụt dưới 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơbản. - Khu vực thành thị: là hộ có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 900.000 đồng đến 1.300.000 đồng và thiếu hụt dưới 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản. Tóm lại, quan niệm về đói nghèo ở Việt Nam ngày càng phản ánh đúng bản chất của đói nghèo. Nếu như nhu cầu hỗ trợ của người nghèo vào những năm 90 của thế kỷ 20 chỉ giới hạn đến nhu cầu "ăn no, mặc ấm", thì ngày nay, người nghèo còn có nhu cầu được hỗ trợ về nhà ở, giáo dục, y tế, văn hóa ... Tiếp đến là nhu cầu 10 được trợ giúp để hạn chế rủi ro, quan trọng hơn là được quyền tham gia nhiều hơn và có hiệu quả hơn vào các hoạt động của xã hội. Trên cơ sở 5 chiều cạnh nghèo, Bộ Lao động TB&XH đã xây dựng và đề xuất 10 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt trong nghèo đa chiều tương ứng là: giáo dục người lớn, giáo dục trẻ em, khám chữa bệnh, bảo hiểm y tế, nhà ở, nước sạch, hố xí, dịch vụ viễn thông, tài sản phục vụ tiếp cận thông tin. Các chỉ số đo lường này được trình bày trong bảng dưới đây: Xác định nghèo đa chiều ở Việt Nam [5] Chiều nghèo Chỉ số đo lường Mức độ thiếu hụt Cơ sở pháp lý Hiến pháp 2013 1.1 Trình độ giáo dục của người lớn Hộ gia đình có ít nhất 1 thành viên đủ 15 tuổi sinh từ năm 1986 trở lại không tốt nghiệp trung học cơ sở và hiện không đi học 88/2001/NĐ-CP) 1) Giáo dục 2) Y tế NQ 15/NQ-TW Một số vấn đề chính sách xã hội giai đoạn 2012-2020. Nghị quyết số 41/2000/QH (bổ sung bởi Nghị định số 1.2 Tình trạng đi học của trẻ em Hộ gia đình có ít nhất 1 trẻ em trong độ tuổi đi học (5 - 14 tuổi) hiện không đi học Hiến pháp 2013. Luật Giáo dục 2005. Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em. NQ 15/NQ-TW Một số vấn đề chính sách xã hội giai đoạn 2012-2020. 2.1 Tiếp cận các dịch vụ y tế Hộ gia đình có người bị ốm đau nhưng không đi khám chữa bệnh (ốm đau được xác định là bị bệnh/ chấn thương nặng đến mức phải nằm một chỗ và phải có người chăm sóc Hiến pháp 2013. Luật Khám chữa bệnh 2011. 11 Chiều nghèo Chỉ số đo lường Mức độ thiếu hụt Cơ sở pháp lý tại giường hoặc nghỉ việc/học không tham gia được các hoạt động bình thường) 2.2 Bảo hiểm y tế Hộ gia đình có ít nhất 1 thành viên từ 6 tuổi trở lên hiện tại không có bảo hiểm y tế Hộ gia đình đang ở trong nhà thiếu kiên cố hoặc 3.1. Chất lượng nhà ở nhà đơn sơ (Nhà ở chia thành 4 cấp độ: nhà kiên cố, bán kiên cố, nhà thiếu kiên cố, nhà đơn sơ) 3) Nhà ở Hiến pháp 2013. Luật bảo hiểm y tế 2014. NQ 15/NQ-TW Một số vấn đề chính sách xã hội giai đoạn 2012-2020. Luật Nhà ở 2014. NQ 15/NQ-TW Một số vấn đề chính sách xã hội giai đoạn 2012-2020. Luật Nhà ở 2014. 4) Điều kiện sống Quyết định 2127/QĐ-Ttg của Thủ tướng Chính phủ Phê duyệt Chiến lược phát triển nhà ở quốc gia đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030 3.2 Diện tích nhà ở bình quân đầu người Diện tích nhà ở bình quân đầu người của hộ gia đình nhỏ hơn 8m2 4.1 Nguồn Hộ gia đình không được NQ 15/NQ-TW Một số vấn nước sinh hoạt tiếp cận nguồn nước hợp vệ sinh đề chính sách xã hội giai đoạn 2012-2020. 4.2. Hố xí/nhà vệ sinh Hộ gia đình không sử dụng hố xí/nhà tiêu hợp vệ sinh 12 NQ 15/NQ-TW Một số vấn đề chính sách xã hội giai đoạn 2012-2020. Chiều nghèo Chỉ số đo lường 5.1 Sử dụng dịch 5) Tiếp cận thông tin vụ viễn thông 5.2 Tài sản phục vụ tiếp cận thông tin Mức độ thiếu hụt Cơ sở pháp lý Hộ gia đình không có Luật Viễn thông 2009. thành viên nào sử dụng thuê bao điện thoại và NQ 15/NQ-TW Một số vấn đề chính sách xã hội giai internet đoạn 2012-2020. Hộ gia đình không có tài Luật Thông tin Truyền thông sản nào trong số các tài 2015. sản: Tivi, đài, máy vi tính; NQ 15/NQ-TW Một số vấn và không nghe được hệ đề chính sách xã hội giai thống loa đài truyền thanh đoạn 2012-2020. xã/thôn - Đánh giá chính sách là xem xét nhận định về giá trị các kết quả được ban hành và thực thi một chính sách công. Để có thể đi vào cuộc sống, chính sách công được thể hóa thành các quy định của pháp luật, việc nhìn nhận và đánh giá chính sách do đó thường gắn với sự đánh giá những quy định pháp luật này có phù hợp với những yêu cầu của cuộc sống hay không và chúng được vận hành như thế nào trên thực tế. Chính sách công không chỉ thể hiện trong các quy định pháp luật mà chúng còn nằm trong các chương trình, kế hoạch, chủ trương hoạt động của Nhà nước. Do đó, đánh giá chính sách công phải bao quát việc xem xét về tổng thể các quyết định của Nhà nước trong việc giải quyết một vấn đề cấp thiết đặt ra trong quá trình quản lý nhà nước. Việc đánh giá chính sách không chỉ xem xét, nhận định về nội dung mà còn cả quá trình thực thi chính sách để trên cơ sở đó có giải pháp điều chỉnh cho phù hợp. Từ những lý luận nêu trên về đánh giá chính sách công, có thể đưa ra khái niệm Đánh giá chính sách giảm nghèo bền vững là: việc xem xét, đánh giá, nhìn nhận lại các giá trị, kết quả và hiệu quả đã đạt được trong quá trình triển khai thực thi chính sách giảm nghèo bền vững trên địa bàn thị xã. 13 * Đặc điểm của đánh giá chính sách giảm nghèo bền vững Đánh giá chính sách giảm nghèo bền vững là một trong những nội dung quan trọng cần phải được các cơ quan chuyên môn Nhà nước tiến hành thực hiện để rà soát, kiểm tra, đối chiếu lại kết quả đạt được từ lúc trước và sau khi triển khai thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững với nhiều nội dung khác nhau tùy theo mục đích, yêu cầu đánh giá, cụ thể như sau: Một là, đánh giá đầu vào của chính sách giảm nghèo bền vững: Đánh giá đầu vào nhằm tổng hợp, đo lường số lượng chi phí đầu vào của các chương trình, nội dung, hoạt động, yêu cầu liên quan đến giảm nghèo bền vững bao gồm tiền, của, công của Nhà nước và sự nỗ lực của đội ngũ cán bộ trong bộ máy nhà nước các cấp, của người dân, đặc biệt là hộ nghèo để hoàn thành mục tiêu giảm nghèo bền vững đề ra. Mục đích của đánh giá đầu vào là thiết lập một hệ thống cơ sở số liệu để sau này so sánh, đối chiếu với kết quả đạt được sau khi thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững. Hai là, đánh giá đầu ra (hay còn gọi là đánh giá thực thi) của chính sách giảm nghèo bền vững là xem xét kết quả đầu ra (số lượng hộ nghèo, hộ cận nghèo giảm) của thực thi chính sách giảm nghèo bền vững. Mục đích chính của đánh giá này là xem chính sách giảm nghèo bền vững đã, đang đem lại kết quả như thế nào và dự báo sẽ tạo ra những giá trị, hiệu quả gì cho người dân, cho hộ nghèo, cho xã hội. Đồng thời nếu trong quá trình thực thi phát hiện những vấn đề bất cập hoặc không còn phù hợp với thực tiễn thì phải có giải pháp điều chỉnh, bổ sung, có thể cho dừng hoặc tiếp tục thực thi chính sách để đảm bảo mục tiêu đề ra, đảm bảo yêu cầu thực tiễn. Ba là, đánh giá hiệu quả xã hội của chính sách giảm nghèo bền vững mang lại đối với người dân, hộ nghèo, đối với xã hội và hiệu quả bền vững của chính sách giảm nghèo bền vững khi mà Nhà nước không hỗ trợ nữa. Thông qua việc đánh giá này, nhìn nhận lại sự nhận thức, ý thức, trách nhiệm của cán bộ, của người dân, của hộ nghèo trong việc thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững. Đặc biệt là ý thức, trách nhiệm của hộ nghèo trong thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững. 14 Bốn là, đánh giá hiệu quả kinh tế của việc thực hiện chính sách giảm nghèo: Thông qua việc đánh giá này nhằm xem xét các chi phí của việc hỗ trợ chính sách giảm nghèo như vậy là phù hợp với điều kiện hiện có hay chưa. Các đánh giá đầu vào, đầu ra của chính sách giảm nghèo bền vững là cơ sở để đánh giá hiệu quả kinh tế của nó. Khi thực hiện đánh giá này thì yêu cầu phải thực hiện tốt việc phân tích đầu vào, đầu ra để đạt kết quả tương đối chính xác. Người ta có thể dùng một trong hai cách sau: Cách tính thứ nhất: lấy kết quả đầu ra chia cho chi phí đầu vào, nếu thương của phép chia này lớn hơn 1 thì có nghĩa là chính sách này thực hiện được; nếu bằng 1 thì có nghĩa là hòa vốn và nếu nhỏ hơn 1 thì không hiệu quả về phương diện kinh tế. Cách tính thứ hai: Lấy kết quả đầu ra trừ chi phí đầu vào. Nếu hiệu số của phép trừ này lớn hơn 0 thì có nghĩa là chính sách này thực hiện có hiệu quả; nếu bằng không nghĩa là hoà vốn và nếu nhỏ hơn 0 thì chính sách không hiệu quả về phương diện kinh tế. Tuy nhiên trong thực tế đối với chính sách giảm nghèo bền vững việc lượng hóa toàn bộ các tiêu chí để đánh giá cũng không phải là điều dễ dàng, bởi một số tiêu chí mang tính định lượng, hoặc cả hai vừa định lượng, vừa định tính. 1.1.2. Vai trò của đánh giá chính sách giảm nghèo bền vững Cùng với việc xây dựng và thực thi chính sách thì việc đánh giá chính sách là một khâu rất quan trọng của quy trình chính sách nói chung. Đối với chính sách giảm nghèo bền vững là một chính sách tổng thể bao gồm nhiều nội dung, nhiều lĩnh vực trên các mặt liên quan của kinh tế - văn hóa - xã hội - quốc phòng an ninh nên việc đánh giá quá trình hoạch định chính sách, thực thi chính sách cho đến kết quả, hiệu quả, tác động của chính sách giảm nghèo bền vững ở từng nội dung, từng lĩnh vực là hết sức cần thiết. Do vậy việc đánh giá chính sách giảm nghèo bền vững có vai trò quan trọng sau: Thứ nhất, qua việc đánh giá nhằm mục đích kiểm tra, rà soát lại chính sách đã ban hành và triển khai thực hiện có phù hợp hay chưa; chính sách đã đi vào thực 15
- Xem thêm -