Tài liệu Chính sách bình đẳng giới tại huyện phú ninh, tỉnh quảng nam .

  • Số trang: 74 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 297 |
  • Lượt tải: 0
dangvantuan

Tham gia: 02/08/2015

Mô tả:

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI TRƯƠNG THỊ MỸ YẾN THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH BÌNH ĐẲNG GIỚI TỪ THỰC TIỄN HUYỆN PHÚ NINH, TỈNH QUẢNG NAM LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG HÀ NỘI, năm 2019 VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI TRƯƠNG THỊ MỸ YẾN THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH BÌNH ĐẲNG GIỚI TỪ THỰC TIỄN HUYỆN PHÚ NINH, TỈNH QUẢNG NAM Ngành: Chính sách công Mã số: 834.04.02 NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC PGS.TS. ĐẶNG THỊ HOA HÀ NỘI, năm 2019 LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan: Luận văn này là công trình nghiên cứu thực sự của cá nhân tôi, được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS. Đặng Thị Hoa. Các số liệu sử dụng trong luận văn có trích dẫn nguồn rõ ràng, không sao chép của người khác. Các phân tích và kết quả nghiên cứu trong luận văn được đúc kết từ kết quả nghiên cứu của cá nhân tôi và qua khảo sát thực tiễn tại huyện Phú Ninh. Tôi xin chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình./. Tác giả luận văn Trương Thị Mỹ Yến MỤC LỤC MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1 CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN NGHIÊN CỨU CHÍNH SÁCH BÌNH ĐẲNG GIỚI VÀ GIỚI THIỆU ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU ........................ 7 1.1. Các khái niệm cơ bản ................................................................................. 7 1.2. Cơ sở lý thuyết và khung phân tích............................................................ 9 1.3. Quy trình ban hành chính sách bình đẳng giới trong hệ thống chính sách công ................................................................................................................. 10 CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH BÌNH ĐẲNG GIỚI TẠI HUYỆN PHÚ NINH, TỈNH QUẢNG NAM ............................ 14 2.1. Giới thiệu chung về huyện Phú Ninh, tỉnh Quảng Nam .......................... 14 2.2. Các chính sách đang ban hành về BĐG tại huyện Phú Ninh, tỉnh Quảng Nam ................................................................................................................. 15 2.3. Thực trạng tổ chức thực hiện chính sách bình đẳng giới tại huyện Phú Ninh tỉnh Quảng Nam ..................................................................................... 16 2.4. Kết quả thực hiện chính sách bình đẳng giới tại huyện Phú Ninh, tỉnh Quảng Nam ..................................................................................................... 24 2.5. Đánh giá chung về việc tổ chức thực hiện chính sách bình đẳng giới tại huyện Phú Ninh, tỉnh Quảng Nam .................................................................. 34 CHƯƠNG 3. TĂNG CƯỜNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH BÌNH ĐẲNG GIỚI TỪ THỰC TIỄN HUYỆN PHÚ NINH................................ 47 3.1. Các yếu tố tác động trong quá trình thực thi chính sách BĐG ................ 47 3.2. Quan điểm thực hiện chính sách bình đẳng giới trong mục tiêu phát triển bền vững tại huyện Phú Ninh .......................................................................... 50 3.3. Các giải pháp tăng cường thực hiện chính sách bình đẳng giới .............. 56 KẾT LUẬN .................................................................................................... 64 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Bình đẳng giới luôn là một trong những vấn đề được hầu hết tất cả các quốc gia trên thế giới quan tâm và xem đây là một trong những chỉ tiêu quan trọng trong mục tiêu phát triển của mỗi quốc gia. Luật Bình đẳng giới ra đời năm 2006 là một trong những cơ sở luật pháp quan trọng để thực hiện bình đẳng giới ở nước ta. Sau 10 năm Luật Bình đẳng giới ra đời, việc tổ chức thực hiện các chính sách về bình đẳng giới, địa vị của người phụ nữ trong xã hội đã tạo bước chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức nhằm thúc đẩy các cấp, các ngành và toàn xã hội thay đổi hành vi thực hiện bình đẳng giới, từng bước thu hẹp khoảng cách giới và nâng cao vị thế của phụ nữ trên các lĩnh vực, vấn đề bình đẳng giới đã được cải thiện và đạt được những tiến bộ đáng kể. Qua thực tế cho thấy, tại huyện Phú Ninh, tỉnh Quảng Nam, tuy số lượng phụ nữ tham gia quản lý nhà nước tăng lên, tỷ lệ mất cân bằng giới tính khi sinh khá cao, tỷ lệ nữ tham gia cấp ủy đảng, chính quyền, đại biểu dân cử vẫn còn thấp, chưa ổn định, việc tiếp cận với giáo dục của trẻ em gái và phụ nữ vùng dân tộc thiểu số còn gặp nhiều trở ngại, tồn tại một lực lượng lớn cả nam và nữ đều coi nam giới là trụ cột gia đình, xem công việc chăm sóc gia đình hiển nhiên là trách nhiệm và vai trò dành riêng cho người phụ nữ... Thực trạng bất bình đẳng giới tại huyện Phú Ninh, tỉnh Quảng Nam vẫn còn tồn tại khá phổ biến trên nhiều lĩnh vực khác nhau, phụ nữ thường chịu nhiều thiệt thòi hơn trong các mối quan hệ, nên các nổ lực nhằm khôi phục thế cân bằng thường được tập trung nhiều hơn vào phụ nữ. Vấn đề về bình đẳng giới đã được quan tâm rất lớn, chính sách thúc đẩy bình đẳng giới được Đảng bộ huyện Phú Ninh ban hành nhiều văn bản nhưng kết quả đem lại chưa cao. 1 Nguyên nhân của thực trạng này là do tư tưởng trọng nam khinh nữ còn kéo dài, cán bộ có chuyên môn còn thiếu,... Xuất phát từ những yêu cầu và tình hình thực tế việc thực hiện chính sách bình đẳng giới từ thực tiễn huyện Phú Ninh, tỉnh Quảng Nam, tôi nhận thấy vấn đề thực thi chính sách bình đẳng giới cần được quan tâm và có những chính sách phù hợp thì mới có thể thực hiện tốt hơn công tác bình đẳng giới ở địa phương. Đây là lý do mà tôi chọn đề tài “Chính sách bình đẳng giới tại huyện Phú Ninh, tỉnh Quảng Nam” để làm luận văn tốt nghiệp chương trình thạc sĩ của mình. 2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài Nghiên cứu về bình đẳng giới là chủ đề được nhiều nhà khoa học ở nhiều nước trên thế giới quan tâm. Các nghiên cứu ở nhiều góc độ từ hướng tiếp cận, quan điểm lý thuyết, phương pháp nghiên cứu đến đánh giá thực trạng về bình đẳng giới đã được quan tâm từ nhiều góc nhìn khác nhau. Một số nghiên cứu cũng đã làm rõ, sự có mặt của phụ nữ trong các vị trí lãnh đạo và quản lý rõ ràng sẽ hứa hẹn mang đến những cơ hội để làm thay đổi những tập quán không mang tính công bằng nhưng nếu những phụ nữ này chỉ là một số người được lựa chọn ra trong một nhóm nhỏ, nếu họ được mời thay vì được bầu cử ra từ cấp cơ sở để đại diện cho người dân thì sự có mặt của họ cũng chỉ mang tính biểu tượng. Khi những mối quan tâm đến bình đẳng giới bắt đầu được khởi xướng trong các thảo luận chính sách, có rất nhiều các ý kiến tập trung vấn đề trao quyền cho phụ nữ. Vấn đề bình đẳng giới được các nhà nghiên cứu Việt Nam quan tâm từ những năm 80 của thế kỷ XX. Kể từ khi Việt Nam ký công ước CEDAW (1980), một loạt các nghiên cứu về bình đẳng giới ở Việt Nam được thực hiện. Đáng chú ý là các công trình nghiên cứu của Trung tâm nghiên cứu phụ nữ, tiền thân của Viện Nghiên cứu Gia đình và Giới hiện nay. Các công trình nghiên cứu tập trung chủ yếu xác định những vấn đề cơ bản trong nghiên cứu 2 khoa học về phụ nữ [4], hay các quan điểm cơ bản nghiên cứu về Giới, thực trạng phụ nữ và bình đẳng giới trong giáo dục và phát triển nguồn nhân lực. Báo cáo khoa học [6], của tác giả Lê Trần Thị Vân Anh. Một số công trình nghiên cứu lý luận về bình đẳng giới trong những năm gần đây đã tập trung nhiều hơn vào các lĩnh vực mới của bình đẳng giới như: Giới và lồng ghép giới trong sức khoẻ và đào tạo y khoa, giới và lồng ghép giới trong các hoạt động của Quốc hội (Lê Ngọc Hùng và cộng sự, 2009) [8], những vấn đề lý luận về bình đẳng giới trong bối cảnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, dân chủ hoá với bình đẳng giới ở Việt Nam (Lê Quốc Lý và cộng sự, 2012). GS. Võ Khánh Vinh (chủ biên)- Viện khoa học xã hội Việt Nam: “Những vấn đề lý luận và thực tiễn của nhóm quyền dân sự, chính trị” - Nxb khoa học xã hội Việt Nam [48], “Cơ chế bảo đảm và bảo vệ quyền con người”, Nxb Khoa học xã hội, năm 2011[49] “Những vấn đề lý luận và thực tiễn của nhóm quyền kinh tế, văn hóa, xã hội”; Phạm Thị Mộng Hoa; trưởng nhóm công tác Ngân hàng Thế giới “Đánh giá tình hình giới ở Việt Nam”, TS Nguyễn Thị Hồi “Vấn đề bình đẳng giới trên thế giới”, TS Lê Thị Vinh Thi “Chính sách xã hội đối với phụ nữ nông thôn”, Hoàng Bá Thịnh (2002), Vai trò của người phụ nữ nông thôn trong công nghiệp hoá nông nghiệp, nông thôn; Nxb Chính trị Quốc gia [41]; Viện Nghiên cứu Gia đình và Giới, Cơ quan Liên hiệp quốc về Bình đẳng giới và Trao quyền cho Phụ nữ (UN Women) và Bộ Ngoại giao và Thương mại Australia (DFAT), 2016. Phụ nữ hoạt động nông nghiệp và tăng trưởng toàn diện ở Việt Nam. – Hà Nội: UN [50]; ngoài ra còn rất nhiều các công trình nghiên cứu viết về các chính sách bình đẳng giới. Đánh giá tình hình giới ở Việt Nam đã được tiến hành 3 lần vào năm 2006, 2011 và 2016. Cuộc đánh giá về tình hình giới tại Việt Nam năm 2006 (CGA) đã phân tích nhiều chiều cạnh về bình đẳng giới ở các lĩnh vực kinh tế - xã hội nói chung. Năm 2011, đánh giá tình hình giới ở Việt Nam 3 tập trung nhiều hơn vào các mục tiêu của Thiên niên kỷ dựa trên các chỉ tiêu của chiến lược bình đẳng giới trên các lĩnh vực: nghèo đói, y tế, giáo dục, việc làm và tham chính. Đánh giá giới năm 2016 với chủ đề “Hướng tới Bình đẳng giới ở Việt Nam: Để tăng trưởng bao trùm có lợi cho phụ nữ” đã tập trung đánh giá mô hình tăng trưởng kinh tế hiện nay của Việt Nam. Đánh giá giới năm 2016 cho thấy mặc dù phụ nữ đang góp một phần lớn trong phát triển kinh tế, việc đạt được mô hình tăng trưởng bao trùm vẫn là một thách thức đối với Việt Nam. Những công trình, đề tài nghiên cứu trình bày như trên, chúng ta có thể khẳng định rằng: Vấn đề bình đẳng giới có ý nghĩa hết sức quan trọng, đã đề cập đến nhiều khía cạnh khác nhau liên quan đến chính sách bình đẳng giới và pháp luật về quyền của phụ nữ. 3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 3.1 Mục đích nghiên cứu Mục đích nghiên cứu của luận văn là xây dựng cơ sở lý luận nghiên cứu về chính sách bình đẳng giới, đánh giá thực trạng thực hiện chính sách nhằm hoàn thiện việc tăng cường thực thi chính sách bảo đảm bình đẳng giới tại huyện Phú Ninh, tỉnh Quảng Nam hiện nay. 3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu Luận văn nghiên cứu cơ sở lý luận về chính sách bình đẳng giới tại Việt Nam, nêu lên các quan điểm, mục tiêu, phương hướng và đề xuất các giải pháp hoàn thiện việc thực thi chính sách về bình đẳng giới tại huyện Phú Ninh, tỉnh Quảng Nam hiện nay. Phân tích thực trạng, nêu giải pháp nâng cao vị thế của phụ nữ trong gia đình và làm cho các chính sách góp phần thực hiện mục tiêu bình đẳn g giới một cách bền vững từ thực tiễn huyện Phú Ninh, tỉnh Quảng Nam. 4 4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4.1. Đối tượng nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu của luận văn là thực trạng thực hiện chính sách bình đẳng giới tại huyện Phú Ninh, tỉnh Quảng Nam. 4.2. Phạm vi nghiên cứu + Về không gian: Nghiên cứu trong phạm vi huyện Phú Ninh, tỉnh Quảng Nam. + Về Thời gian: Nghiên cứu trong khoản thời gian 10 năm; từ năm 20082018. + Về nội dung: Triển khai thực hiện các chính sách về bình đẳng giới tại huyện Phú Ninh. 5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 5.1. Cơ sở lý luận Luận văn vận dụng cách tiếp cận đa ngành, liên ngành xã hội và vận dụng triệt để các phương pháp nghiên cứu chính sách công như: phương pháp luận duy vật biện chứng của triết học Mác-Lênin; tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam. Các phương pháp này giúp cho việc nghiên cứu đề tài được hoàn thiện hơn việc thực thi chính sách bình đẳng giới tại huyện Phú Ninh, tỉnh Quảng Nam. 5.2. Phương pháp nghiên cứu - Phương pháp điều tra khảo sát thực địa: Sử dụng phương pháp điều tra thực địa nhằm so sánh, đánh giá, thu thập thông tin bổ sung các số liệu, tài liệu nhằm củng cố tính xác thực các số liệu thu thập được. - Phương pháp thu thập thông tin: Được sử dụng để thu thập, phân tích các thông tin từ các nguồn có sẵn liên quan đến đề tài nghiên cứu. - Phương pháp phân tích chính sách: Phân tích, đánh giá tính toàn vẹn, tính khả thi, tính thống nhất và hiệu quả của chính sách nhằm ngày càng hoàn 5 thiện chính sách phù hợp với thực tế. - Phương pháp thống kê: Là phương pháp thu thập số liệu, tính toán các đặc trưng của đối tượng nghiên cứu nhằm phục vụ cho quá trình phân tích, dự đoán và đề ra các quyết định. 6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn 6.1. Ý nghĩa lý luận Nghiên cứu chính sách bình đẳng giới là một trong những đề tài mới tại huyện Phú Ninh. Vì vậy, đây là công trình hoàn toàn mới, mang tính thực tế rất cao, phản ảnh thực trạng về tình hình thực hiện các chính sách về bình đẳng giới, đề xuất phương hướng, giải pháp hoàn thiện việc thực hiện chính sách về bình đẳng giới trong phạm vi huyện Phú Ninh, tỉnh Quảng Nam nhằm góp phần giảm thiểu bất bình đẳng, nâng cao nhân thức của người phụ nữ về vị thế, vai trò, quyền lợi và góp phần cho việc xây dựng các kế hoạch thực thi chính sách bình đẳng giới tại huyện Phú Ninh một cách có hiệu quả. 6.2. Ý nghĩa thực tiễn Luận văn hoàn thành có thể làm tài liệu tham khảo, tài liệu tuyên truyền về Bình đẳng giới ở các cơ sở và Chi, tổ Hội phụ nữ, đồng thời vận dụng trong quá trình xây dựng các văn bản thực thi các chính sách về bình đẳng giới tại huyện Phú Ninh hiện nay. 7. Kết cấu của luận văn Luận văn được kết cấu làm ba chương, cụ thể như sau: Chương 1. Cơ sở lý luận nghiên cứu chính sách bình đẳng giới và giới thiệu địa bàn nghiên cứu. Chương 2. Thực trạng thực hiện chính sách bình đẳng giới tại huyện Phú Ninh, tỉnh Quảng Nam. Chương 3. Tăng cường thực hiện chính sách bình đẳng giới tại huyện Phú Ninh, tỉnh Quảng Nam. 6 CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN NGHIÊN CỨU CHÍNH SÁCH BÌNH ĐẲNG GIỚI VÀ GIỚI THIỆU ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 1.1. Các khái niệm cơ bản - Giới Giới là nam giới và nữ giới có sự khác biệt nhau về tất cả các mặt trong đời sống xã hội và có các đặc điểm giới khác nhau. Vì vậy, giới rất đa dạng và có thể thay đổi được. - Giới tính Là giữa nam giới và nữ giới khác nhau về sinh học, một đưá trẻ sinh ra là đã có những đặc điểm đó rồi và không bao giờ thay đổi được. - Lồng ghép giới Lồng ghép giới là việc đưa các nhà lãnh đạo đưa ra quyết định, các văn bản quy phạm pháp luật mà trong đó việc thụ hưởng và khuyến khích nam giới và nữ giới trong việc tiếp cận, có cơ hội bình đẳng để đóng góp, tham gia vfa thụ hưởng công bằng như nhau. - Vai trò giới Vai trò giới là việc mà các hoạt động khác nhau của xã hội đều mong muốn nam giới và nữ giới thực hiện được. - Bình đẳng giới Bình đẳng giới: Là phụ nữ và nam giới được hưởng vị trí như nhau, có cơ hội bình đẳng để tiếp cận, sử dụng các nguồn lực để mang lại lợi ích cho mình, phát hiện và phát triển tiềm năng của mỗi giới nhằm cống hiến cho sự phát triển của quốc gia và được hưởng lợi từ sự phát triển đó. - Chính sách bình đẳng giới Là các chính sách nhằm bảo đảm bình đẳng giới trong mọi lĩnh vực 7 chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội và gia đình; hỗ trợ và tạo điều kiện cho nam, nữ phát huy khả năng, có cơ hội như nhau để tham gia vào quá trình phát triển và thụ hưởng thành quả của sự phát triển. - Phụ nữ tham chính Là việc phụ nữ tham gia lãnh đạo, quản lý trong hệ thống chính trị là những người phụ nữ có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cao, phẩm chất đạo đức tốt, tiêu biểu, xuất sắc tham gia vào các cơ quan của Đảng, Nhà nước, Mặt trận và các tổ chức chính trị - xã hội cấp trung ương, đại diện cho quyền lợi cho phụ nữ và nhân dân cả nước thực hiện vai trò lãnh đạo, quản lý trong hệ thống chính trị. - Lồng ghép vấn đề bình đẳng giới Là sử dụng quan điểm Giới và Phát triển (GAD) nhằm xem xét một cách toàn diện hơn mối quan hệ giữa nam giới và nữ giới trong việc tiếp cận và kiểm soát các nguồn lực, ra quyết định, thụ hưởng và khuyến khích trong một hệ thống cụ thể. Hệ thống đó có thể là một tổ chức, một chính phủ hay một xã hội. Ðây là một quá trình diễn ra liên tục, là một phương pháp để quản trị, nhằm làm cho các mối quan tâm, kinh nghiệm của phụ nữ và nam giới trở thành một bộ phận không thể thiếu trong quá trình thiết kế, thực hiện kiểm tra và đánh giá các chính sách và chương trình trong tất cả các lĩnh vực của xã hội. - Biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới Biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới là biện pháp nhằm bảo đảm bình đẳng giới thực chất được thực hiện trong một thời gian nhất định và chấm dứt khi mục đích bình đẳng giới đã đạt được (khoản 6 Điều 5 Luật bình đẳng giới). - Luật Bình đẳng giới là bộ luật quy định nguyên tắc bình đẳng giới trong các lĩnh vực của đời sống xã hội và gia đình, biện pháp bảo đảm bình đẳng giới, trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, gia đình, cá nhân trong việc thực 8 hiện bình đẳng giới (nguồn” nghiên cứu gia đình và giới thời kỳ đổi mới”). - Chính sách pháp luật về bình đẳng giới Là hệ thống các qui phạm pháp luật do Nhà nước ban hành nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội về quyền bình đẳng của phụ nữ và nam giới trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Chính sách pháp luật về bình đẳng giới bao gồm Luật bình đẳng giới, các Nghị định của Chính phủ, thông tư liên bộ và các chính sách đặc thù của các bộ, ngành và các địa phương thực hiện các mục tiêu bình đẳng giới. Nghị định số 48/2009/NĐ-CP ngày 19/5/2009 của Chính phủ. Nghị định quy định các biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới, chính sách hỗ trợ hoạt động bình đẳng giới nhằm đạt tới sự bảm đảm bình đẳng giới thực chất trên các phương diện tham gia, thụ hưởng trong các lĩnh vực xã hội của phụ nữ và trong gia đình. 1.2. Cơ sở lý thuyết và khung phân tích 1.2.1. Nghiên cứu bình đẳng giới từ góc nhìn của chính sách công Lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật được xem là biện pháp chiến lược để thực hiện mục tiêu bình đẳng giới, xóa bỏ phân biệt đối xử về giới, bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp, phù hợp với đặc thù của mỗi giới; tạo cơ hội phát triển như nhau cho nam và nữ trong các lĩnh vực của đời sống xã hội và gia đình; bảo đảm bình đẳng giới thực chất giữa nam và nữ. Bình đẳng giới là việc nam, nữ có vị trí, vai trò ngang nhau, là một trong những tiêu chí quan trọng để đánh giá sự phát triển của một xã hội, một đất nước, tự nó là mục tiêu của sự phát triển và là yếu tố hỗ trợ, nâng cao khả năng tăng trưởng kinh tế và tiến bộ xã hội của quốc gia. 1.2.2. Vị trí, vai trò của vấn đề bình đẳng giới trong xây dựng và triển khai thực hiện chính sách công Quan hệ giữa phụ nữ với nam giới khi mà cơ hội và điều kiện phát triển 9 của phụ nữ còn thấp hơn nam giới và phụ nữ còn chịu những thiệt thòi từ gia đình thì phụ nữ cần được quan tâm đối xử là hết sức cần thiết, để họ đạt tới sự bình đẳng với nam giới. Để thực hiện được điều này thì các cấp có thẩm quyền cần có một cơ chế, chính sách đúng, có cái nhìn tốt hơn đối với phụ nữ, có thái độ ủng hộ thật sự đối với phụ nữ và mỗi phụ nữ chúng ta cũng cần ủng hộ cho nhau. 1.2.3. Khung phân tích áp dụng trong nghiên cứu Một số nghiên cứu trên thế giới cũng đã xây dựng các khung phân tích về bình đẳng giới. Các nghiên cứu này xác định, giới là trung tâm của nền kinh tế chính trị ở bất kỳ một xã hội nào và phân tích giới là trung tâm của bất kỳ một phân tích kinh tế chính trị nào. Có rất nhiều khung phân tích giới được xây dựng trong giai đoạn 1980-1990 cùng với sự thay đổi từ cách tiếp cận Phụ nữ trong phát triển (WID) sang cách tiếp cận Giới và Phát triển (GAD). Ngoài ra, có những mô hình phân tích và cách tiếp cận thu thập và phân tích các thông tin về giới. Một số khung phân tích giới được áp dụng trên thế giới như: -Khung phân tích Harvard: còn được gọi là Khung phân tích Vai trò Giới hay Khung Phân tích Giới. Khung này thường được sử dụng cho các nghiên cứu cơ bản hoặc các nghiên cứu phân tích tài liệu. - Khung kế hoạch giới Moser: khung này hiệu quả trong quá trình hoạch định phát triển, thu thập số liệu và đánh giá nhanh ở khu vực nông thôn - Khung phân tích trao quyền cho phụ nữ: được phát triển bởi chuyên gia giới Sara Hlupekile Longwe ở Zambia, được sử dụng để đánh giá một chương trình phát triển có thể hỗ trợ việc trao quyền cho phụ nữ như thế nào. 1.3. Quy trình ban hành chính sách bình đẳng giới trong hệ thống chính sách công Chính phủ: Chỉ đạo; tổ chức thực hiện lồng ghép chính sách Bình đẳng giới trong xây dựng các văn theo thẩm quyền; thanh tra, kiểm tra và phối hợp 10 với Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam và các cơ quan liên quan phổ biến, tuyên truyền, nâng cao ý thức của người dân về Bình đẳng giới. Cơ quan quản lý nhà nước về bình đẳng giới: Xây dựng và trình Chính phủ ban hành hoặc ban hành các hướng dẫn thực hiện chính sách Bình đẳng giới theo thẩm quyền văn bản quy phạm pháp luật; tham gia đánh giá việc thực hiện lồng ghép vấn đề Bình đẳng giới trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật. Thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm pháp luật đồng thời giải quyết các khiếu nại, tố cáo về thực hiện chính sách Bình đẳng giới. Bộ và cơ quan ngang bộ: Tiến hành rà soát các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành để bổ sung, sửa đổi, hủy bỏ và ban hành mới theo thẩm quyền nhằm thực hiện chính sách Bình đẳng giới trong lĩnh vực mà mình quản lý. Phối hợp với các cơ quan liên quan kiểm tra, xử lý vi phạm pháp luật và giải quyết khiếu nại, tố cáo về thực hiện chính sách Bình đẳng giới trong lĩnh vực mà mình quản lý. Uỷ ban nhân dân các cấp: Trên cơ sở các văn bản chỉ đạo của cấp trên, tiến hành xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện các chính sách về Bình đẳng giới trên địa bàn quản lý; trình HĐND ban hành hoặc ban hành văn bản quy phạm pháp luật về thực hiện Bình đẳng giới theo thẩm quyền. Thực hiện việc thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm pháp luật và giải quyết khiếu nại, tố cáo về thực hiện chính sách Bình đẳng giới Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Hội liên hiệp phụ nữ các cấp và các tổ chức thành viên: Tham gia xây dựng kế hoạch thực hiện chính sách, pháp luật và tham gia quản lý nhà nước về BĐG theo quy định. Tham gia giám sát việc thực hiện chính sách BĐG. Thực hiện chức năng đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của phụ nữ và trẻ em gái theo quy định của pháp luật. Các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội: 11 Bình đẳng trong việc làm, phúc lợi, đào tạo, đề bạt và bổ nhiệm; bảo đảm thực hiện chính sách BĐG trong cơ quan, tổ chức mình. Triển khai kế hoạch thực hiện chính sách BĐG cho toàn thể địa bàn huyện và có biện pháp khuyến khích cán bộ, công chức, viên chức, người lao động thực hiện Bình đẳng giới trong cơ quan, tổ chức và gia đình. Tiểu kết chương 1 Chính sách bình đẳng giới là một trong những chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước ta trong quá trình hội nhập và phát triển. Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản, chính sách quy phạm pháp luật thực hiện bình đẳng giới trong nỗ lực thực hiện các mục tiêu thiên niên kỷ từ khi tham gia ký công ước CEDAW. Các khái niệm, lý thuyết nghiên cứu về bình đẳng giới đã được quy định rõ trong các văn bản pháp luật và được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm. Tuy nhiên, cũng có nhiều cách nhìn khác nhau về vi trí, vai trò của phụ nữ trong sự nghiệp xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước. Chính vì vậy, việc nghiên cứu về bình đẳng giới, nhất là trong bối cảnh đất nước ta đang xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN, mở rộng dân chủ xã hội và hội nhập quốc tế là việc làm cần thiết. Trong phạm vi của luận văn này, nội dung chương 1 chỉ đề cập đến những vấn đề cơ bản nhất của bình đẳng giới, trong mối quan hệ tương quan với các quan hệ xã hội khác, theo phương pháp nghiên cứu so sánh thực tiễn tại huyện Phú Ninh với quan điểm của Đảng và Nhà nước ta. Từ đó bước đầu phát hiện rằng, bình đẳng giới là một vấn đề hiện nay có tính toàn cầu. Pháp luật luôn gắn với quyền lực và đấu tranh giai cấp. Hai yếu tố đó kết hợp và hòa quyện vào nhau, không tách rời tạo thành phạm trù quyền con người, quyền công dân. Quyền bình đẳng thuộc hệ thống các quyền con người là một trong những yếu tố quan trọng nhất để quyền bình đẳng giới được công nhận. 12 Tóm lại, Chương 1 của luận văn đã làm rõ được những vấn đề lý luận về bình đẳng giới, pháp luật bình đẳng giới, làm cơ sở cho việc phân tích thực trạng thực thi chính sách bình đẳng giới và đề xuất giải pháp để chính sách bình đẳng giới tại huyện Phú Ninh đi vào cuộc sống. 13 CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH BÌNH ĐẲNG GIỚI TẠI HUYỆN PHÚ NINH, TỈNH QUẢNG NAM 2.1. Giới thiệu chung về huyện Phú Ninh, tỉnh Quảng Nam 2.1.1. Đặc điểm về điều kiện tự nhiên Phú Ninh là một huyện được thành lập vào năm 2005 và là huyện được tách ra từ thành phố Tam Kỳ. Hiện nay có 10 xã và 1 thị trấn, với tổng diện tích 255,65 Km2. Phú Ninh có đại công trình thủy lợi Hồ Phú Ninh lớn, có chức năng điều hòa, cung cấp nước tưới cho toàn huyện và khu vực và có dung tích hơn 370 triệu m3. 2.1.2. Đặc điểm về kinh tế - xã hội Cuối năm 2018, Tỷ lệ hộ nghèo của huyện giảm còn 3,7%; Hộ cận nghèo giảm còn 5,28%; dân số Phú Ninh có 80,940 người dân, với mật độ dân số trung bình là 315 người/km2. Giảm tỷ suất sinh thô 0,75%o (KH giảm 0,37%o). 2.1.3. Tình hình phụ nữ và công tác phụ nữ Huyện Phú Ninh có 28.715 phụ nữ từ 18 tuổi trở lên, chiếm hơn 53% lực lượng lao động toàn huyện; chị em phụ nữ luôn giữ vững và phát huy truyền thống cách mạng, đoàn kết, sáng tạo, quyết tâm vượt qua khó khăn, thách thức, phấn đấu vươn lên trong cuộc sống, học tập và lao động; ngày càng xuất hiện nhiều cá nhân điển hình tiên tiến trong phong trào sản xuất, kinh doanh; lực lượng lao động nữ công nhân, viên chức ngày càng tăng về số lượng và chất lượng, nhất là ngành giáo dục, y tế; đội ngũ cán bộ nữ được trẻ hoá, có trình độ, năng lực và triển vọng. Thông qua cuộc vận động người công nhân viên chức “Trung thành, sáng tạo, tận tuỵ, gương mẫu” và phong trào “Giỏi việc nước, đảm việc nhà”, xây dựng gia đình hạnh phúc, gia đình văn hoá đã 14 xuất hiện nhiều phụ nữ tiêu biểu trong các phong trào thi đua. 2.2. Các chính sách đang ban hành về BĐG tại huyện Phú Ninh, tỉnh Quảng Nam Ngay sau khi được thành lập, thực hiện các văn bản chỉ đạo của Trung ương và các văn bản pháp luật, Huyện Phú Ninh đã ban hành nhiều chính sách cụ thể thực hiện BĐG, cụ thể là: Chương trình hành động số 17-CTHĐ/HU ngày 02-10-2007 của Ban Thường vụ huyện ủy Phú Ninh thực hiện Nghị quyết 11-NQ/TW của Bộ Chính trị về “Công tác phụ nữ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước”; Nghị quyết 05-NQ/HU về công tác cán bộ giai đoạn 2011-2015 và định hướng đến năm 2020. Nghị quyết 07-NQ/HU ngày 13/4/2007 về định hướng phát triển sự nghiệp giáo dục đào tạo giai đoạn 2007-2010 và nhiệm vụ giải pháp thực hiện đến năm 2020. Chương trình hành động số 01/CTHĐ-LHPN ngày 01-11-2007 của Hội LHPN về “Công tác phụ nữ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước”. Quy chế phối hợp số 01-QCPH/UBND-HỘI LHPN về việc ban hành quy chế phối hợp giữa UBND với Hội LHPN huyện trong việc đảm bảo cho Hội LHPN tham gia quản lý Nhà nước Chương trình hành động 09-CTr/TU ngày 26-6-2007 của Tỉnh ủy và các văn bản chỉ đạo của Trung ương, của Tỉnh ủy về công tác phụ nữ; Kế hoạch số 30-KH/TU, ngày 18/5/2016 của Tỉnh ủy về tổng kết 10 năm thực hiện Chương trình hành động số 09-CTr/TU, ngày 26-6-2007 của Tỉnh ủy về triển khai, thực hiện Nghị quyết số 11- NQ/TW, ngày 27/4/2007 của Bộ Chính trị (khóa X) về công tác phụ nữ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, 15 hiện đại hóa đất nước. 2.3. Thực trạng tổ chức thực hiện chính sách bình đẳng giới tại huyện Phú Ninh tỉnh Quảng Nam 2.3.1. Thực trạng xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện chính sách bình đẳng giới Tiếp thu tinh thần Nghị quyết 11-NQ/TW của Bộ Chính trị ngày 27-42007 về “Công tác phụ nữ thời kỳ đẩy mạnh cộng nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước” và Chương trình hành động 09-CTr/TU ngày 26-6-2007 của Tỉnh ủy và các văn bản chỉ đạo của Trung ương, của Tỉnh ủy về công tác phụ nữ; Ban Chấp hành Đảng bộ huyện Phú Ninh đã tổ chức hội nghị triển khai, quán triệt các văn bản trên cho đội ngũ cán bộ chủ chốt của huyện; xây dựng Chương trình hành động số 17-CTHĐ/HU ngày 02-10-2007 của Ban Thường vụ huyện ủy Phú Ninh thực hiện Nghị quyết 11-NQ/TW của Bộ Chính trị về “Công tác phụ nữ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước”; đồng thời chỉ đạo các tổ chức cơ sở Đảng, các cơ quan, ban, ngành, địa phương tổ chức quán triệt sâu rộng trong đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhân dân và xây dựng chương trình, kế hoạch cụ thể để triển khai thực hiện, nhất là chỉ đạo Hội Liên hiệp phụ nữ huyện ban hành Chương trình hành động số 01/CTHĐ-LHPN ngày 01-11-2007. Phần lớn các cơ quan chủ thể thực hiện chính sách bình đẳng giới trên địa bàn huyện Phú Ninh, tỉnh Quảng Nam đều xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện chính sách bình đẳng giới đúng theo tinh thần các văn bản chỉ đạo của cấp trên, cụ thể như: Quyết định số 1696/QĐ-TTg ngày 02/10/2015 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình hành động quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2016-2020, Kế hoạch số 73/KH-UBND ngày 18/5/2016 của UBND tỉnh Quảng Nam về việc thực hiện Chương trình hành động quốc gia về bình đẳng giới của tỉnh giai đoạn 20162020; các kế hoạch đều thể hiện những nội dung cơ bản như: mục đích, ý 16
- Xem thêm -