Tài liệu Cải cách thủ tục hành chính trong lĩnh vực tài nguyên và môi trường thuộc thẩm quyền quản lý của bộ tài nguyên và môi trường

  • Số trang: 101 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 42 |
  • Lượt tải: 0
nhattuvisu

Đã đăng 27125 tài liệu

Mô tả:

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA LUẬT NGUYỄN QUỲNH NHƯ CẢI CÁCH THỦ TỤC HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG THUỘC THẨM QUYỀN QUẢN LÝ CỦA BỘ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC HÀ NỘI - 2014 1 ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA LUẬT NGUYỄN QUỲNH NHƯ CẢI CÁCH THỦ TỤC HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG THUỘC THẨM QUYỀN QUẢN LÝ CỦA BỘ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG Chuyên ngành : Lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật Mã số : 60 38 01 LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC Người hướng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Hoàng Anh HÀ NỘI - 2014 2 Lêi cam ®oan T«i xin cam ®oan ®©y lµ c«ng tr×nh nghiªn cøu khoa häc cña riªng t«i. C¸c sè liÖu, vÝ dô vµ trÝch dÉn trong luËn v¨n ®¶m b¶o ®é tin cËy, chÝnh x¸c vµ trung thùc. Nh÷ng kÕt luËn khoa häc cña luËn v¨n ch-a tõng ®-îc ai c«ng bè trong bÊt kú c«ng tr×nh nµo kh¸c. T¸c gi¶ luËn v¨n NguyÔn Quúnh Nh- 3 MỤC LỤC Trang Trang phụ bìa Lời cam đoan Mục lục Danh mục các bảng MỞ ĐẦU 1 Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỦ TỤC HÀNH CHÍNH 6 VÀ CẢI CÁCH THỦ TỤC HÀNH CHÍNH 1.1. Những vấn đề chung về thủ tục hành chính 6 1.1.1. Khái niệm thủ tục hành chính 6 1.1.2. Vị trí, vai trò của thủ tục hành chính trong hệ thống hành chính nước ta 8 1.1.3. Các nguyên tắc xây dựng và thực hiện thủ tục hành chính 11 1.1.4. Các loại thủ tục hành chính 14 1.2. 17 Những vấn đề chung về cải cách thủ tục hành chính 1.2.1. Mục tiêu, yêu cầu của cải cách thủ tục hành chính 17 1.2.2. Đường lối của Đảng và Nhà nước về công tác cải cách thủ tục hành chính trong thời gian qua 19 Chương 2: CẢI CÁCH THỦ TỤC HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC 30 TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG THUỘC THẨM QUYỀN QUẢN LÝ CỦA BỘ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG 2.1. Tổng quan về Bộ Tài nguyên và Môi trường và thủ tục hành chính thuộc thẩm quyền quản lý của Bộ Tài nguyên và Môi trường 30 2.1.1. Ví trí, chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của Bộ Tài nguyên và Môi trường 30 4 2.1.2. Các thủ tục hành chính thuộc thẩm quyền quản lý của Bộ Tài nguyên và Môi trường 32 2.1.3. Nhu cầu cải cách thủ tục hành chính thuộc thẩm quyền quản lý của Bộ Tài nguyên và Môi trường 36 2.2. Thành tựu đạt được trong quá trình thực hiện công cuộc cải cách thủ tục hành chính của Bộ Tài nguyên và Môi trường 39 2.2.1. Một số thành tựu nổi bật trong cải cách hành chính tại Bộ Tài nguyên và Môi trường trước Quyết định số 30/QĐ-TTg ngày 10/01/2007 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án Đơn giản hóa Thủ tục hành chính trên các lĩnh vực quản lý nhà nước giai đoạn 2007 - 2010 (gọi tắt là Đề án 30) 39 2.2.2. Thành tựu đạt được trong công cuộc cải cách thủ tục hành chính tại Bộ Tài nguyên và Môi trường theo tinh thần Đề án 30 (Quyết định số 30/QĐ-TTg ngày 10/01/2007 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án Đơn giản hóa Thủ tục hành chính trên các lĩnh vực quản lý nhà nước giai đoạn 2007 - 2010) 44 2.3. Một số kết quả đạt được trong công tác cải cách thủ tục hành chính ở Bộ Tài nguyên và Môi trường 62 2.4. Những hạn chế và nguyên nhân trong cải cách thủ tục hành chính ở Bộ Tài nguyên và Môi trường 69 2.4.1. Những tồn tại, hạn chế 69 2.4.2. Nguyên nhân 74 Chương 3: THÁCH THỨC VÀ GIẢI PHÁP TIẾP TỤC ĐẨY MẠNH 76 CẢI CÁCH THỦ TỤC HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG THUỘC THẨM QUYỀN QUẢN LÝ CỦA BỘ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG 3.1. Một số giải pháp cải cách hành chính nói chung và cải cách hành chính ở Bộ Tài nguyên và Môi trường nói riêng trong thời gian hiện nay 5 76 3.1.1. Những giải pháp về thể chế 76 3.1.2. Những giải pháp về tổ chức bộ máy nhà nước 78 3.1.3. Những giải pháp về nguồn nhân lực 79 3.1.4. Những giải pháp về tài chính công 80 3.1.5. Những giải pháp về khoa học công nghệ 81 3.2. Một số giải pháp tiếp tục đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính trong lĩnh vực tài nguyên và môi trường thuộc thẩm quyền quản lý của Bộ Tài nguyên và Môi trường 82 KẾT LUẬN 89 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 91 6 DANH MỤC CÁC BẢNG Số hiệu Tên bảng Trang bảng 2.1 Thống kê thủ tục hành chính theo các đơn vị 7 48 MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Cải cách hành chính nhà nước là một trong những nội dung cơ bản của khoa học hành chính, luôn là một vấn đề được quan tâm phổ biến ở hầu hết các nước trên thế giới nhằm làm đòn bẩy để nâng cao hiệu quả quản lý của nhà nước trong việc phát triển kinh tế, phát huy dân chủ và tiếng nói của người dân trong hoạt động của bộ máy công quyền, củng cố và tăng cường tiềm lực về mọi mặt cho đất nước. Ở Việt Nam, song song với đổi mới cơ chế quản lý kinh tế, cải cách hành chính cũng được Đảng và Nhà nước quan tâm kịp thời. Ngay trong văn kiện của Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (1986) đã xác định rõ: "Để thiết lập cơ chế quản lý mới, cần thực hiện một cuộc cải cách lớn về tổ chức bộ máy của các cơ quan" [24], Hội nghị lần thứ 8 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng tháng 1/1995 cũng đã khẳng định lại một lần nữa tầm quan trọng của cải cách hành chính: "Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện nhà nước xã hội chủ nghĩa Việt Nam, trọng tâm là cải cách một bước nền hành chính" [25]. Cải cách hành chính ở Việt Nam phải bắt đầu với việc cải cách một bước thủ tục hành chính trong việc giải quyết các công việc của cá nhân, tổ chức. Thủ tục hành chính là cách thức tổ chức thực hiện hoạt động quản lý hành chính nhà nước được quy định trong các quy phạm pháp luật hành chính bao gồm trình tự thủ tục, nội dung, mục đích, cách thức tiến hành các hoạt động cụ thể trong quá trình giải quyết các công việc của quản lý hành chính nhà nước. Thủ tục hành chính rất đa dạng, nhưng có thể phân thành hai loại cơ bản: - Những thủ tục tiến hành những công việc thuộc quan hệ nội bộ các cơ quan nhà nước. 8 - Những thủ tục tiến hành những công việc thuộc quan hệ của cơ quan nhà nước đối với công dân và các tổ chức xã hội. Mỗi loại thủ tục bao gồm nhiều thủ tục riêng áp dụng trong từng loại việc, từng lĩnh vực quản lý. Thủ tục hành chính trong quan hệ với công dân gồm hai loại quan trọng. + Thủ tục hành chính trong việc các cơ quan nhà nước xét, giải quyết những quyền chủ quan hợp pháp của công dân, trong việc công dân kiện một cơ quan nhà nước. + Thủ tục hành chính trong việc các cơ quan có thẩm quyền xét vấn đề trách nhiệm hành chính và xử phạt các vi phạm của công dân. Loại thủ tục này còn được gọi là thủ tục xử lý vi phạm hành chính, hoặc tố tụng hành chính. Trong đời số ng hàng ngày , người dân và doanh nghiê ̣p phải tuân thủ rất nhiều các quy định về thủ tu ̣c hành chính . Thủ tục hành chính trên nhiều lĩnh vực đang là rào cản đối với hoạt động kinh doanh và đời sống nhân dân , gây tố n kém, ảnh hưởng đến năng lực ca ̣nh tranh của nề n kinh tế . Đơn giản hóa thủ tục hành chính đang là mục tiêu của Chính phủ, các ngành, các cấp, các địa phương, trong đó, mục tiêu chính là bảo đảm sự thuận tiện, giảm thiểu được thời gian cũng như chi phí cho người dân, tổ chức khi tiến hành các thủ tục hành chính. Bộ Tài nguyên và Môi trường là cơ quan của Chính phủ được thành lập theo Nghị định số 21/2013/NĐ-CP ngày 04/3/2008 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Tài nguyên và Môi trường, theo đó, Bộ thực hiện chức năng quản lý nhà nước trong các lĩnh vực: đất đai; tài nguyên nước; tài nguyên khoáng sản; địa chất; môi trường; khí tượng thủy văn; đo đạc, bản đồ; quản lý tổng hợp và thống nhất về biển và hải đảo; quản lý nhà nước các dịch vụ công trong các lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý của Bộ. Công cuộc cải cách hành chính của Bộ mang đặc thù riêng của ngành. 9 Hiện nay, Bộ Tài nguyên và Môi trường đang tích cực tiến hành đổi mới, cải cách thủ tục hành chính theo chủ trương chính sách pháp luật của Đảng và Nhà nước cũng như phù hợp với tính đặc thù riêng của ngành. Tuy nhiên trên thực tế thủ tục hành chính hiện nay trong lĩnh vực tài nguyên và môi trường vẫn còn nhiều bất cập, vướng mắc gây không ít khó khăn, phiền hà cho người dân đòi hỏi phải tiếp tục đẩy mạnh cải cách hơn nữa để thủ tục hành chính thực sự đơn giản góp phần xây dựng một nền hành chính dân chủ , chuyên nghiê ̣p , hiê ̣u quả và có hiê ̣u suấ t cao , góp phần phòng chống tham nhũng và lãng phí thông qua việc đơn giản hoá loa ̣i bớt các thủ tu ̣c hành chiń h rườm rà, không cần thiết, cắt giảm đáng kể chi phí trong thực hiện các thủ tu ̣c hành chính cho người dân và doanh nghiệp . Vì vậy, tác giả chọn vấn đề: "Cải cách thủ tục hành chính trong lĩnh vực tài nguyên và môi trường thuộc thẩm quyền quản lý của Bộ Tài nguyên và Môi trường" làm đề tài nghiên cứu luận văn thạc sĩ. Tuy nhiên, trong khuôn khổ hạn hẹp, luận văn chỉ giới hạn phần lớn vấn đề nghiên cứu tập trung vào công tác triển khai Đề án 30 với hy vọng đóng góp một cách nhìn mới trên cơ sở lý luận cũng như thực tiễn về cải cách thủ tục hành chính trong lĩnh vực tài nguyên và môi trường thông qua việc nghiên cứu, đánh giá, tổng hợp và tiếp thu các báo cáo chuyên ngành. 2. Phạm vi nghiên cứu - Vấn đề lý luận về cải cách thủ tục hành chính trong lĩnh vực tài nguyên và môi trường thuộc thẩm quyền quản lý của Bộ Tài nguyên và Môi trường. - Thực tiễn công tác cải cách thủ tục hành chính trong lĩnh vực tài nguyên và môi trường thuộc thẩm quyền quản lý của Bộ Tài nguyên và Môi trường: thành tựu đạt được, hạn chế và chỉ ra những nguyên nhân của những hạn chế. 3. Mục đích, nhiệm vụ của luận văn Luận văn tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận của cải cách thủ tục hành chính trong lĩnh vực tài nguyên và môi trường thuộc thẩm quyền 10 quản lý của Bộ Tài nguyên và Môi trường qua đó làm rõ vai trò của công cuộc cải cách thủ tục hành chính trong lĩnh vực này đối với sự phát triển chung của đất nước. Nghiên cứu những bất cập của thủ tục hành chính trong lĩnh vực tài nguyên và môi trường qua thực tiễn thẩm quyền quản lý của Bộ Tài nguyên và Môi trường. Qua đó đưa ra các giải pháp, yêu cầu cụ thể, cũng như những kiến nghị nhằm thúc đẩy hơn nữa tiến trình cải cách hành chính trong toàn ngành. 4. Phương pháp nghiên cứu - Để đạt được mục tiêu đề ra, luận văn sử dụng phép duy vật biện chứng, duy vật lịch sử làm cơ sở phương pháp luận cho việc nghiên cứu. - Luận văn cũng đồng thời sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể khác như: nghiên cứu lý thuyết, phương pháp tổng hợp, phân tích, so sánh. 5. Điểm mới của luận văn Luận văn sẽ có những đóng góp về mặt lý luận cũng như thực tiễn cho việc cải cách thủ tục hành chính trong lĩnh vực tài nguyên và môi trường thuộc thẩm quyền của Bộ Tài nguyên và Môi trường hiện nay để thủ tục hành chính luôn phát huy hết vai trò trong quản lý nhà nước đối với các hoạt động kinh tế xã hội của đất nước. 6. Ý nghĩa của luận văn Hoàn thành luận văn này, tôi hy vọng những kiến thức khoa học trong nội dung luận văn sẽ là tài liệu phục vụ cho việc học tập, giảng dạy và nghiên cứu khoa học tại các cơ sở đào tạo Luật, Hành chính ở Việt Nam. Nội dung luận văn sẽ có ý nghĩa thiết thực, bổ ích, cần thiết, là tài liệu tham khảo hữu ích cho cá nhân, tổ chức trong, ngoài ngành tài nguyên và môi trường. 11 7. Kết cấu của luận văn Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương: Chương 1: Một số vấn đề lý luận về thủ tục hành chính và cải cách thủ tục hành chính ở Việt Nam hiện nay. Chương 2: Thực trạng công cuộc cải cách thủ tục hành chính trong lĩnh vực tài nguyên và môi trường thuộc thẩm quyền quản lý của Bộ Tài nguyên và Môi trường. Chương 3: Một số giải pháp tiếp tục đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính trong lĩnh vực tài nguyên và môi trường thuộc thẩm quyền quản lý của Bộ Tài nguyên và Môi trường. 12 Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỦ TỤC HÀNH CHÍNH VÀ CẢI CÁCH THỦ TỤC HÀNH CHÍNH 1.1. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ THỦ TỤC HÀNH CHÍNH 1.1.1. Khái niệm thủ tục hành chính Theo Từ điển tiếng Việt thông dụng, thủ tục là "cách thức tiến hành một công việc với nội dung, trình tự nhất định, theo quy định của nhà nước" [Dẫn theo 37, tr. 121]. Như vậy, hoạt động quản lý nhà nước nào cũng đều được tiến hành theo những thủ tục nhất định. Các hoạt động quản lý khác nhau cần có các thủ tục khác nhau để tiến hành. Tương ứng với ba lĩnh vực hoạt động của nhà nước: lập pháp, hành pháp, tư pháp là ba nhóm thủ tục: thủ tục lập pháp, thủ tục hành pháp, thủ tục tư pháp. Theo Điều 3 "Giải thích từ ngữ" của Nghị định số 63/2010/NĐ-CP ngày 08 tháng 6 năm 2010 về Kiểm soát thủ tục hành chính lại có cách hiểu khác về thủ tục hành chính: "Thủ tục hành chính" là trình tự, cách thức thực hiện, hồ sơ và yêu cầu, điều kiện do cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền quy định để giải quyết một công việc cụ thể liên quan đến cá nhân, tổ chức. "Trình tự thực hiện" là thứ tự các bước tiến hành của đối tượng và cơ quan thực hiện thủ tục hành chính trong giải quyết một công việc cụ thể cho cá nhân, tổ chức. "Hồ sơ" là những loại giấy tờ mà đối tượng thực hiện thủ tục hành chính cần phải nộp hoặc xuất trình cho các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết thủ tục hành chính trước khi cơ quan thực 13 hiện thủ tục hành chính giải quyết một công việc cụ thể cho cá nhân, tổ chức. "Yêu cầu, điều kiện" là những đòi hỏi mà đối tượng thực hiện thủ tục hành chính phải đáp ứng hoặc phải làm khi thực hiện một thủ tục hành chính cụ thể [21]. Theo cách hiểu này, thủ tục hành chính giải quyết một công việc cụ thể cho cá nhân, tổ chức, tức là thủ tục hành chính giải quyết một công việc cá biệt, cụ thể. Tuy nhiên, hạn chế của định nghĩa này là ở chỗ không được áp dụng trong một số trường hợp quy định tại Khoản 2, Điều 1. Phạm vi điều chỉnh: "Thủ tục hành chính trong nội bộ của từng cơ quan hành chính nhà nước, giữa cơ quan hành chính nhà nước với nhau không liên quan đến việc giải quyết thủ tục hành chính cho cá nhân, tổ chức; Thủ tục xử lý vi phạm hành chính; thủ tục thanh tra và thủ tục hành chính có nội dung bí mật nhà nước" [21]. Theo tinh thần, nội dung các văn kiện của Đảng (Nghị quyết Đại hội lần thứ VII, Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 8 khóa VII, Nghị quyết Đại hội lần thứ VIII, IX, X) và các văn bản pháp luật (Nghị quyết của Chính phủ số 38/CP ngày 4/5/1994 về cải cách một bước thủ tục hành chính trong việc giải quyết công việc của công dân và tổ chức, Quyết định số 136/2001/QĐ-TTg ngày 17/9/2001 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2001 - 2010) thì thủ tục hành chính có nội dung rất rộng, bao gồm: - Số lượng các hoạt động cụ thể, mối liên hệ giữa các hoạt động đó; - Trình tự của các hoạt động cụ thể, mối liên hệ giữa các hoạt động đó; - Nội dung, mục đích của các hoạt động cụ thể; - Cách thức tiến hành, thời hạn tiến hành các hoạt động cụ thể. Đây có thể nói là cách hiểu đầy đủ nhất về thủ tục hành chính. Cách hiểu này cho phép đánh giá đúng ý nghĩa, vai trò của thủ tục hành chính trong quản 14 lý nhà nước, tạo điều kiện cho việc tìm hiểu nhu cầu, định ra phương hướng biện pháp thích hợp để cải cách thủ tục hành chính nhằm xây dựng nền hành chính hiện đại đáp ứng nhu cầu quản lý nhà nước trong điều kiện hiện nay. Do tính chất đa dạng của hoạt động quản lý hành chính nhà nước nên không thể có thủ tục hành chính duy nhất mà có rất nhiều thủ tục hành chính khác nhau tương ứng với từng hoạt động quản lý cụ thể. Tùy từng trường hợp mà thủ tục hành chính được dùng để tổ chức, điều hành các hoạt động mang tính nội bộ trong bộ máy nhà nước hay để trực tiếp giải quyết các công việc liên quan đến quyền, lợi ích của các cá nhân, tổ chức trong xã hội nên thủ tục hành chính không chỉ định ra cho các cơ quan, cán bộ, công chức nhà nước cách thực hiện nhiệm vụ trong quá trình giải quyết công việc thuộc thẩm quyền mà còn chỉ ra cho các cá nhân, tổ chức có liên quan các quyền, nghĩa vụ và cách thực hiện những quyền và nghĩa vụ đó trong mối quan hệ với cơ quan, cán bộ, công chức nhà nước. Vì vậy, thủ tục hành chính hợp lý sẽ tạo nên sự hài hòa, thống nhất trong bộ máy nhà nước, rút ngắn thời gian giải quyết công việc, góp phần thúc đẩy xã hội phát triển. Thủ tục hành chính bất hợp lý là mảnh đất tốt cho tệ tham nhũng, cửa quyền, làm giảm lòng tin của nhân dân vào chính quyền. 1.1.2. Vị trí, vai trò của thủ tục hành chính trong hệ thống hành chính nước ta Thủ tục hành chính có vai trò quan trọng trong đời sống xã hội, ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp và đời sống nhân dân. Thông qua thủ tục hành chính, cá nhân, tổ chức thực hiện được quyền lợi, nghĩa vụ của mình và đồng thời, các cơ quan hành chính nhà nước thực hiện chức năng quản lý nhà nước. Do đó, "cải cách thủ tục hành chính liên tục được Chính phủ xác định là nhiệm vụ trọng tâm trong chương trình cải cách hành chính của nước ta" [12]. Vai trò đó thể hiện trên những nét chủ yếu sau đây: 15 Thứ nhất: Thủ tục hành chính bảo đảm cho các quy phạm vật chất quy định trong các quyết định hành chính được thi hành thuận lợi. Ví dụ, các quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực môi trường phải tuân thủ quy định do các cơ quan quản lý về môi trường ban hành đồng thời không trái với quy định của Luật Xử phạt vi phạm hành chính. Do đó, trình tự, thủ tục trong các quyết định này càng rõ dàng, đơn giản thì việc đánh giá tính khả thi của quyết định càng cao. Thứ hai: Thủ tục hành chính bảo đảm cho việc thi hành các quyết định được thống nhất và có thể kiểm tra được tính hợp lý cũng như các hệ quả do việc thực hiện các quyết định hành chính tạo ra. Thủ tục hành chính sẽ làm cho tính chất nghiêm minh của pháp luật được nâng cao. Nó sẽ cho phép các cơ quan hành chính áp dụng các biện pháp thích hợp và thống nhất để thi hành một công vụ nhất định. Điều này được thể hiện rõ trong Nghị định số 63/2010/NĐ-CP. Theo Khoản 2, Điều 8: 2. Việc quy định một thủ tục hành chính cụ thể chỉ hoàn thành khi đáp ứng đầy đủ các bộ phận tạo thành cơ bản sau đây: a) Tên thủ tục hành chính; b) Trình tự thực hiện; c) Cách thức thực hiện; d) Hồ sơ; đ) Thời hạn giải quyết; e) Đối tượng thực hiện thủ tục hành chính; g) Cơ quan thực hiện thủ tục hành chính; h) Kết quả thực hiện thủ tục hành chính; i) Trường hợp thủ tục hành chính phải có mẫu đơn, mẫu tờ khai hành chính; mẫu kết quả thực hiện thủ tục hành chính; yêu cầu, 16 điều kiện; phí, lệ phí thì mẫu đơn, mẫu tờ khai hành chính; mẫu kết quả thực hiện thủ tục hành chính; yêu cầu, điều kiện; phí, lệ phí là bộ phận tạo thành của thủ tục hành chính [21]. Như vậy, các cơ quan có thẩm quyền muốn quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật một thủ tục hành chính cụ thể thì bắt buộc phải có đầy đủ các bộ phận trên. Điều này một mặt tránh được tình trạng ban hành tràn lan các thủ tục hành chính của các cơ quan quản lý nhà nước đồng thời có thể kiểm tra được tính hợp lý, hợp pháp của một thủ tục hành chính sau khi nó được ban hành, mặt khác nó cũng giúp cho người dân tiếp cận với thủ tục hành chính được dễ dàng hơn. Thứ ba: Thủ tục hành chính khi được xây dựng và vận dụng một cách hợp lý, sẽ tạo khả năng sáng tạo trong việc thực hiện các quyết định quản lý đã được thông qua, đem lại hiệu quả thiết thực cho quản lý nhà nước. Thủ tục hành chính liên quan đến quyền lợi của công dân. Do vậy, khi được xây dựng hợp lý và vận dụng tốt vào đời sống nó sẽ tạo ra mối quan hệ tốt giữa nhà nước và nhân dân. Trên thực tế, để giảm nhẹ thủ tục hành chính các cơ quan nhà nước tập trung vào thực hiện cơ chế "Một cửa" đã đạt được những kết quả đáng kể. Người dân tiết kiệm được rất nhiều thời gian, công sức và tiền của mỗi khi có nhu cầu thực hiện thủ tục hành chính tại các cơ quan nhà nước. ở những nơi này, căn bệnh cửa quyền, quan liêu cũng dần được cải thiện. Hiệu quả quản lý nhà nước được nâng cao rõ rệt, công việc được giải quyết nhanh chóng, thuận lợi. Mối quan hệ của nhà nước và nhân dân đã bắt đầu được củng cố. Thứ tư: Thủ tục hành chính cũng là một bộ phận của pháp luật về hành chính nên việc xây dựng và thực hiện tốt các thủ tục hành chính sẽ có ý nghĩa rất lớn đối với quá trình xây dựng và triển khai luật pháp. Hay nói cách khác thủ tục hành chính cũng là sự hướng dẫn một cách trình tự, cụ thể việc thực hiện những quy định của pháp luật. Ví dụ, khi Luật Khoáng sản quy định 17 các điều kiện để tổ chức hành nghề thăm dò khoáng sản thì cũng đồng thời quy định giao Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định chi tiết điều kiện hành nghề thăm dò khoáng sản. Tức là khi các doanh nghiệp muốn nghiên cứu, tìm hiểu để hành nghề thăm dò khoáng sản thì trước hết phải nghiên cứu Luật Khoáng sản, các văn bản hướng dẫn thi hành Luật và cụ thể hơn nữa là các văn bản quy phạm pháp luật về lĩnh vực khoáng sản của Bộ Tài nguyên và Môi trường. Thủ tục hành chính có ý nghĩa như một chiếc cầu nối quan trọng giữa cơ quan nhà nước với dân và các tổ chức khác. Chiếc cầu này có khả năng làm bền chặt các mối quan hệ, làm cho nhà nước ta thực sự là của dân, do dân, và vì dân. Nhưng nếu xây dựng thiếu tính khoa học, áp dụng tùy tiện vào đời sống thì chính thủ tục hành chính sẽ làm khoảng cách dân với nhà nước xa dần. 1.1.3. Các nguyên tắc xây dựng và thực hiện thủ tục hành chính Xây dựng thủ tục hành chính là nghiên cứu để đề ra những cách thức giải quyết công việc nhằm thực hiện các quy định nội dung của lập pháp và đáp ứng yêu cầu đòi hỏi của thực tế. Việc xây dựng các thủ tục hành chính được đặt trên những nguyên tắc cơ bản do Hiến pháp quy định. Những nguyên tắc này có thể trực tiếp liên quan đến việc xây dựng các thủ tục hành chính, nhưng cũng có thể chỉ được quy định trên những nguyên tắc chung và đòi hỏi phải được cụ thể hóa bằng các văn bản luật khác. Một là, nguyên tắc pháp chế. Theo nguyên tắc này chỉ có các cơ quan nhà nước có thẩm quyền mới được ban hành thủ tục hành chính. Đồng thời các thủ tục hành chính dù thuộc ngành nào cũng phải đảm bảo rằng chúng không trái hiến pháp, luật và không mâu thuẫn với văn bản của nhà nước cấp trên. Phải thực hiện đúng trình tự, phương thức, biện pháp và hình thức theo quy định của pháp luật. "Thủ tục hành chính phải được quy định trong văn bản quy phạm pháp luật do 18 Chính phủ ban hành hoặc trình Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành; do Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương ban hành" [21]. Hiện nay, thẩm quyền quy định thủ tục hành chính tập trung vào các cơ quan nhà nước ở Trung ương. Đối với các bộ, ngành Trung ương có thẩm quyền ban hành một số quy định thủ tục hành chính tuy nhiên cần phải có quy định riêng để phù hợp với đặc điểm của một số địa phương thì các bộ, ngành có văn bản ủy quyền cho Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương quy định. Các quy định này phải có sự thống nhất của các Bộ, ngành quản lý về cùng một lĩnh vực đó và phải được công bố công khai như quy định thủ tục hành chính của Bộ, ngành. Nguyên tắc pháp chế đòi hỏi có sự thống nhất tương đối giữa các thủ tục hành chính của những hoạt động quản lý tương tự nhau. Về mặt lý thuyết, tất cả các thủ tục hành chính được pháp luật quy định đều là cần thiết và là quy trình hợp lý nhất để thực hiện các hoạt động quản lý trên thực tế. Mỗi thủ tục hành chính được thực hiện nhiều lần ở những thời điểm khác nhau, bởi các chủ thể khác nhau, sự tuân thủ các thủ tục hành chính tạo nên tính khoa học, đồng bộ, thống nhất trong quản lý hành chính nhà nước. Hai là, nguyên tắc khách quan. Việc ban hành thủ tục hành chính phải xuất phát từ nhu cầu khách quan không chỉ của hoạt động quản lý mà còn phải phù hợp với nhu cầu khách quan của sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước nhằm đưa ra quy trình hợp lý, thuận tiện nhất, mang lại kết quả cao nhất cho hoạt động quản lý. Những hoạt động quản lý phức tạp, có ý nghĩa quan trọng, tác động trực tiếp đến quyền và lợi ích chính đáng của Nhà nước, cộng đồng, tổ chức, cá nhân mà những sai sót cũng có thể gây hậu quả bất lợi cho xã hội thì thủ tục cần chặt chẽ, chi tiết để định ra từng khâu, từng bước, từng giai đoạn cụ thể của hoạt động đó. Và ngược lại những hoạt động quản lý đơn giản, gián tiếp tác 19 động đến những lợi ích khác nhau thì các thủ tục hành chính không cần quy định ở mức chi tiết, hạn chế khả năng sáng tạo của các chủ thể quản lý. Nguyên tắc này còn đòi hỏi khi thực hiện thủ tục hành chính ở tất cả các khâu, các bước, các giai đoạn đều phải dựa trên những căn cứ khoa học. Những quyết định đưa ra phải phù hợp với quy luật khách quan về sự tồn tại, vận động của các sự việc, các hiện tượng, các lĩnh vực xã hội. Thực hiện thủ tục hành chính phải đặt lợi ích của quản lý lên hàng đầu, không được tuyệt đối hóa lợi ích của chủ thể quản lý cũng như đối tượng quản lý. Thủ tục hành chính càng không được sử dụng để phục vụ những mục đích mang tính chủ quan của chủ thể quản lý. Ba là, nguyên tắc công khai, minh bạch, thuận lợi cho việc thực hiện. Hiện nay, đất nước ta đang trên con đường hội nhập quốc tế, nguyên tắc công khai, minh bạch thủ tục hành chính được coi là một trong những nguyên tắc pháp lý được nêu trong các văn bản pháp luật và các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên hoặc thừa nhận. Do đó yêu cầu về tính công khai, minh bạch của thủ tục hành chính càng cấp bách, đặc biệt là để thu hút được đông đảo nhân dân tham gia vào hoạt động quản lý hành chính nhà nước. Nguyên tắc này được thể hiện trước hết trong xây dựng thủ tục: Thứ nhất trong trường hợp cần thiết Nhà nước tạo điều kiện cho những đối tượng thực hiện thủ tục đóng góp ý kiến. Thứ hai, nội dung các thủ tục phải rõ ràng, dễ hiểu, dễ thực hiện. Thủ tục hành chính cần quy định rõ trình tự, cách thức thực hiện thủ tục; hồ sơ, biểu mẫu, các tài liệu cần thiết khác có liên quan… Thứ ba, các thủ tục hành chính phải được công bố cho người thực hiện thủ tục biết để có thể thực hiện một cách dễ dàng như quy định tại Khoản 2, Điều 78 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật cũng quy định: Văn bản quy phạm pháp luật phải được đăng Công báo; văn bản quy phạm pháp luật không đăng Công báo thì không có hiệu lực thi hành, trừ trường hợp văn bản có nội dung thuộc bí mật nhà nước 20
- Xem thêm -