Tài liệu Bảo hiểm thân tàu trong thương mại hàng hải so sánh pháp luật Việt Nam và pháp luật vài nước trên thế giới

  • Số trang: 120 |
  • Loại file: PDF |
  • Lượt xem: 291 |
  • Lượt tải: 0
nhattuvisu

Đã đăng 27125 tài liệu

Mô tả:

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA LUẬT NGUYỄN THỊ HOÀI QUY BẢO HIỂM THÂN TÀU TRONG THƯƠNG MẠI HÀNG HẢI SO SÁNH PHÁP LUẬT VIỆT NAM VÀ PHÁP LUẬT MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI CHUYÊN NGÀNH: LUẬT BIỂN VÀ QUẢN LÝ BIỂN MÃ SỐ: 50512 LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS. TS. NGUYỄN BÁ DIẾN HÀ NỘI - 2005 1 MỤC LỤC MỞ ĐẦU ………………………………………………………………….. 1 CHƢƠNG 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ BẢO HIỂM THÂN TÀU BIỂN ...……………………………………………………. 7 1.1 Khái niệm bảo hiểm thân tàu ……………………………………….. 7 1.1.1 Định nghĩa bảo hiểm thân tàu ………………………………..….. 7 1.1.2 Các loại hình bảo hiểm thân tàu ……………………………..….. 9 1.1.2.1 Phân loại căn cứ vào thời hạn ……………………………… 10 1.1.2.2 Phân loại căn cứ theo phạm vi bảo hiểm …………………… 11 1.2 Rủi ro và tổn thất trong bảo hiểm thân tàu ………….…………….. 12 1.2.1 Rủi ro trong bảo hiểm thân tàu …………………………….……. 12 1.2.1.1 Phân loại rủi ro trong bảo hiểm thân tàu căn cứ vào nguồn gốc sinh ra rủi ro …………..……………………………….. 13 1.2.1.2 Phân loại rủi ro trong bảo hiểm thân tàu căn cứ vào nghiệp vụ bảo hiểm ………………..……………………………….. 14 1.2.2 Tổn thất trong bảo hiểm thân tàu ………………………………… 15 1.2.2.1 Phân loại tổn thất trong bảo hiểm thân tàu căn cứ khả năng bồi thường………………………..…………………………. 16 1.2.2.2 Phân loại tổn thất trong bảo hiểm thân tàu căn cứ vào mức độ …………………………………………………………… 16 1.2.2.3 Phân loại tổn thất trong bảo hiểm thân tàu căn cứ vào tính chất của tổn thất…………………………………………….. 18 1.3 Vai trò của bảo hiểm thân tàu ……………………….……………… 20 1.4 Lịch sử hình thành và phát triển bảo hiểm thân tàu ………………. 22 1.4.1 Lịch sử hình thành và phát triển bảo hiểm thân tàu thế giới .… 22 3 1.4.2 Lịch sử hình thành và phát triển bảo hiểm thân tàu Việt nam ... 29 1.5 Luật áp dụng trong bảo hiểm thân tàu biển ở Việt nam ….……….. 32 1.5.1 Pháp luật quốc gia …………………………………………….…. 33 1.5.1.1 Pháp luật chuyên ngành…………………………...………… 33 1.5.1.2 Các luật khác có liên quan trong hệ thống pháp luật Việt Nam ……………………………………………………...…. 34 1.5.2 Các điều ước quốc tế …………………………………………….. 35 1.5.3 Các tập quán và thông lệ quốc tế ………………………………… 36 CHƢƠNG 2: NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA BẢO HIỂM THÂN TÀU TRONG THƢƠNG MẠI HÀNG HẢI ..………………... 40 2.1 Khái niệm hợp đồng bảo hiểm thân tàu …………………...……….. 41 2.2 Đối tƣợng hợp đồng bảo hiểm thân tàu ……………………………. 44 2.3 Quyền lợi bảo hiểm ……………….……………………….………… 47 2.4 Giá trị bảo hiểm, số tiền bảo hiểm ………………………………….. 49 2.5 Kí kết hợp đồng bảo hiểm thân tàu …………………………………. 53 2.5.1 Yêu cầu bảo hiểm…………………………………………….…... 53 2.5.2 Chấp nhận bảo hiểm………………………………………….…... 56 2.5.3 Đóng phí bảo hiểm……………………………………………….. 56 2.5.4 Bằng chứng của hợp đồng bảo hiểm……………………………… 57 2.6 Nghĩa vụ các bên khi xảy ra tổn thất………………………….…….. 59 2.7 Phạm vi trách nhiệm bảo hiểm thân tàu ……………………………. 63 2.7.1 Các rủi ro được bảo hiểm ………………………………………… 65 2.7.1.1 Các hiểm họa được bảo hiểm……………………………….. 65 2.7.1.2 Rủi ro ô nhiễm…………………………………….………… 69 2.7.1.3 Trách nhiệm đâm va………………………………………… 70 2.7.1.4 Tổn thất chung và cứu hộ ………………………………….. 72 2.7.1.5 Chi phí tố tụng và đề phòng hạn chế tổn thất…………….… 72 4 2.7.2 Các rủi ro loại trừ …………………………………………….….. 73 2.7.2.1 Rủi ro chiến tranh…………………………………………… 74 2.7.2.2 Rủi ro đình công…………………………………….……… 74 2.7.2.3 Các hành động ác ý…………………………………………. 78 2.7.2.4 Rủi ro phóng xạ, hạt nhân…………………………………… 75 2.7.2.5 Các hiểm hoạ loại trừ……………………………………….. 75 2.7.2.6 Những chi phí không được bồi thường……………………… 76 CHƢƠNG 3: ĐỊNH HƢỚNG VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC THI PHÁP LUẬT BẢO HIỂM THÂN TÀU TRONG THƢƠNG MẠI HÀNG HẢI…………………………………………..……….…… 79 3.1 Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật bảo hiểm thân tàu Việt nam ……………………………………………………. 79 3.1.1 Những bất cập của pháp luật Việt nam hiện hành về bảo hiểm thân tàu..…………………………………………………………. 79 3.1.2 Thực tiễn kí kết hợp đồng bảo hiểm thân tàu và thực trạng thực thi pháp luật bảo hiểm thân tàu tại Việt nam ……….…………… 85 3.1.3 Mục tiêu phát triển kinh tế biển và chính sách hội nhập ……….... 89 3.2 Định hƣớng nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật bảo hiểm thân tàu tại Việt nam …………………………..…...……………………… 91 3.2.1 Hoàn thiện pháp luật về bảo hiểm thân tàu ……….…………..…. 92 3.2.2 Thực hiện chính sách hội nhập kinh tế quốc tế và mục tiêu tham gia Tổ chức Thương mại Thế giới ……..………….……………. 93 3.3 Các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật bảo hiểm thân tàu tại Việt nam ………………………………………….. 94 3.3.1 Hoàn thiện pháp luật bảo hiểm thân tàu…………...……………... 94 3.3.2 Nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật bảo hiểm thân tàu từ phía 5 các cơ quan tiến hành tố tụng …………………………………… 102 3.3.3 Nâng cao vai trò của người được bảo hiểm ……………………… 104 3.3.4 Nâng cao vai trò của các công ty bảo hiểm ……………..………. 106 3.3.5 Đẩy mạnh hợp tác quốc tế về bảo hiểm thân tàu …………….….. 107 KẾT LUẬN ……………………………………………………………….. 110 TÀI LIỆU THAM KHẢO ……………………………………………….. 112 6 MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Vận tải đường biển đóng một vai trò chủ đạo trong kinh tế thế giới, đứng đầu trong hệ thống vận chuyển quốc tế. Theo số liệu của Liên Hợp quốc, vận tải đường biển đảm nhận hơn 90% lượng hàng hoá lưu thông toàn cầu. Các tàu chở dầu chuyên chở khoảng 60% lượng dầu thô thế giới, loại năng lượng chính hiện nay của con người. Trong thế kỷ 21, vận tải đường biển vẫn sẽ tiếp tục giữ vai trò quan trọng và quyết định trong nền kinh tế toàn cầu. Vận tải bằng đường biển luôn tiềm ẩn những rủi ro có thể dẫn đến tổn thất và thiệt hại. Các trường hợp bất khả kháng hay hành vi sai sót của các nhân viên hàng hải có thể gây ra những tổn thất rất lớn. Bảo đảm an toàn hàng hải và giảm thiểu tai nạn trên tàu là một vấn đề phức tạp, bao gồm nhiều khía cạnh như kĩ thuật, tổ chức, nhân sự, kinh tế và pháp lí. Trong đó bảo hiểm hàng hải được xem là một biện pháp bảo đảm an toàn hiệu quả trong vận tải biển, vừa là một công cụ pháp lý vừa là một khái niệm kinh tế. Vận tải đường biển mang tính quốc tế, vì vậy bảo hiểm hàng hải cũng vượt ra ngoài lãnh thổ một quốc gia và nắm những nguồn tài chính khổng lồ tập trung ở những trung tâm tài chính quốc tế. Theo nghĩa rộng, bảo hiểm hàng hải được xem là biện pháp bảo đảm nghĩa vụ theo hợp đồng ký kết giữa các chủ thể tham gia vận tải biển. Quan điểm này xuất phát từ chỗ cho rằng vận tải biển luôn đi cùng với những rủi ro có thể gây ra những thiệt hại vật chất lớn, thiệt hại về tính mạng và những thảm họa môi trường khó khắc phục cũng như những hậu quả khác và bảo hiểm hàng hải là nguồn bồi thường những thiệt hại gây ra cũng như giảm thiểu hay ngăn ngừa những tổn thất có thể lường trước. 7 Tàu biển là phương tiện có thể nói duy nhất trong vận tải đường biển. Là một cấu trúc nổi phức tạp về công nghệ, mỗi con tàu đã hạ thủy và qua chạy thử vào thời điểm hiện nay trung bình có giá trị tương đối lớn, khoảng 30-40 triệu đô la Mỹ đối với tàu của các nước phát triển. Tàu biển Việt nam thường có giá trị khoảng 2-3 triệu đô la Mỹ, so với các nước là nhỏ, nhưng so với khả năng tài chính của các doanh nghiệp vận tải biển Việt nam, đây là một con số không nhỏ. Do đó những rủi ro xảy ra với con tàu trong quá trình hành thủy có nguy cơ khiến các chủ tàu phải gánh chịu những thiệt hại vật chất rất lớn, thường vượt quá khả năng tài chính của họ. Bảo hiểm thân tàu sẽ giúp các chủ tàu được bảo vệ khi con tàu gặp những hiểm họa của Biển cả và Đại dương và khi có tổn thất xảy ra, sẽ giúp họ nhanh chóng khắc phục hậu quả của các rủi ro, đưa con tàu trở về trạng thái làm việc bình thường. Hiện nay bảo hiểm thân tàu ngày càng trở nên cấp thiết bởi tai nạn trên biển tuy có giảm về số lượng nhưng tác hại của chúng lại ngày càng lớn và đôi khi tổn thất thường dẫn đến phá sản và bảo hiểm thân tàu giúp giảm nhẹ gánh nặng do những tai nạn có thể gây ra. Bảo hiểm thân tàu là loại bảo hiểm lớn, cả gói, bao gồm những rủi ro đặc biệt phát sinh trong qua trình vận hành tàu biển, đòi hỏi kinh nghiệm, quan hệ quốc tế, sự hiểu biết tường tận công việc hàng hải, các đặc điểm kĩ thuật trong khai thác tàu biển và nhiều kiến thức khác. Bảo hiểm hàng hải Việt nam nói chung cũng như bảo hiểm thân tàu tại Việt nam nói riêng còn đang trên con đường hình thành và phát triển, lại đang đứng trước những thách thức to lớn của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế và tham gia toàn cầu hóa. Trước tình hình đó, việc nghiên cứu đề tài pháp luật bảo hiểm thân tàu ở Việt nam là hết sức cần thiết. Việc nghiên cứu sâu về bảo hiểm thân tàu trong thương mại hàng hải là một việc làm quan trọng và cấp bách, bởi có liên quan chặt chẽ với thực tiễn hoạt động hàng ngày của 8 thuyền trưởng và thuyền viên, chủ tàu. Hiểu rõ về bảo hiểm thân tàu sẽ giúp nâng cao hiệu quả kinh tế trong sử dụng tàu và ngăn ngừa được những thiệt hại có thể xảy ra, góp phần tích cực trong việc phát triển kinh tế biển và thương mại hàng hải. 2. Tình hình nghiên cứu và những đóng góp của đề tài Như trên đã đề cập, bảo hiểm thân tàu Việt nam là một lĩnh vực tương đối mới mẻ và chưa được quan tâm đúng mức nên hiện nay hầu như chưa có công trình riêng nào nghiên cứu về vấn đề này. Dưới góc độ nghiệp vụ nói chung thì vấn đề bảo hiểm thân tàu được đề cập đến trong một số tài liệu mang tính chuyên ngành khác nhau như: chuyên ngành bảo hiểm, chuyên ngành ngoại thương… Dưới góc độ khoa học pháp lý, có thể khẳng định rằng cho tới thời điểm này chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách có hệ thống, toàn diện các khía cạnh pháp lý về bảo hiểm thân tàu ở Việt nam. Do đó nghiên cứu đề tài này trong thời điểm hiện nay là việc làm hoàn toàn mới, không có sự trùng lặp với bất cứ công trình khoa học nào hiện có trong lĩnh vực này ở Việt nam. Hy vọng rằng Luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo có giá trị trong việc giảng dạy, học tập và nghiên cứu khoa học pháp lý, cho việc hoàn thiện hệ thống pháp luật về bảo hiểm thân tàu và bảo hiểm hàng hải, đồng thời cung cấp những thông tin khoa học có giá trị để từ đó cơ quan có thẩm quyền cũng như các tổ chức cá nhân tham gia bảo hiểm thân tàu có hiệu quả cao hơn. 3. Mục đích và nhiệm vụ của việc thực hiện đề tài Mục đích của Luận văn là làm sáng tỏ cơ sở lý luận và thực tiễn của pháp luật về bảo hiểm thân tàu Việt nam, so sánh với pháp luật bảo hiểm thân tàu của một số nước láng giềng với Việt nam và các nước có nền công nghiệp 9 bảo hiểm thân tàu phát triển. Qua đó Luận văn đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về bảo hiểm thân tàu tại Việt nam. Do đây là một đề tài tương đối rộng và phức tạp, liên quan nhiều đến kỹ thuật hàng hải và kỹ thuật bảo hiểm, Luận văn này chỉ giới hạn trong việc tìm hiểu bảo hiểm thân tàu đối với các tàu biển chạy tuyến quốc tế, và tập trung tìm hiểu những vấn đề cơ bản của bảo hiểm thân tàu như khái niệm, các loại hình bảo hiểm thân tàu, ý nghĩa vai trò và lịch sử phát triển của bảo hiểm thân tàu Việt nam và thế giới, cơ sở pháp lý của bảo hiểm thân tàu, khái niệm hợp đồng bảo hiểm thân tàu và những nội dung cơ bản của hợp đồng bảo hiểm thân tàu. Đồng thời luận văn cũng đi sâu phân tích Điều kiện bảo hiểm thân tàu thời hạn - Institute Time Clause-Hull 1/11/1995 (ITC 1995) của Viện các nhà bảo hiểm Luân đôn (so sánh với Điều kiện bảo hiểm thân tàu thời hạn - Institute Time Clause-Hull 1/10/1983 (ITC 1983), là những điều khoản làm cơ sở cho các hợp đồng bảo hiểm thân tàu trên thế giới, đã và đang được áp dụng chủ yếu trong các đơn bảo hiểm thân tàu chạy tuyến quốc tế của Việt nam. Để đạt được mục đích trên, luận văn có những nhiệm vụ cụ thể sau: 1. Nghiên cứu khái quát về bảo hiểm thân tàu, ý nghĩa vai trò của bảo hiểm thân tàu và lịch sử hình thành, phát triển của bảo hiểm thân tàu trên thế giới cũng như ở Việt nam, cơ sở pháp lý của bảo hiểm thân tàu Việt nam 2. Nghiên cứu những vấn đề cơ bản của bảo hiểm thân tàu trong thương mại hàng hải như hợp đồng bảo hiểm thân tàu, phạm vi bảo hiểm thân tàu và một số điều khoản cơ bản trong hợp đồng bảo hiểm thân tàu theo quy định của pháp luật Việt nam và pháp luật một số nước trên thế giới, qua đó chỉ ra những hạn chế cần khắc phục trong hệ thống pháp luật bảo hiểm thân tàu Việt nam. 10 3. Đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật bảo hiểm thân tàu, góp phần nâng cao hiệu quả của bảo hiểm thân tàu đối với nền kinh tế. 4. Cơ sở phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu Cơ sở phương pháp luận được tác giả sử dụng là chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử. Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể như: phân tích, tổng hợp, so sánh, thống kê, xã hội học và các phương pháp khác, kết hợp lý luận và thực tiễn để giải quyết nội dung mà Luận văn đặt ra. 5. Cơ cấu của Luận văn Mở đầu Chƣơng 1: Khái quát chung về bảo hiểm thân tàu Trong chương này tác giả chủ yếu trình bày một cách khái quát về bảo hiểm thân tàu, đề cập đến cơ sở lý luận và cơ sở pháp lý của bảo hiểm thân tàu, trong đó xem xét khái niệm, vai trò và ý nghĩa của bảo hiểm thân tàu cũng như lịch sử hình thành và phát triển bảo hiểm thân tàu trên thế giới và ở Việt nam. Chƣơng 2: Nội dung cơ bản của bảo hiểm thân tàu trong thƣơng mại hàng hải Chương 2 được dành cho việc phân tích những nội dung cơ bản của bảo hiểm thân tàu trong thương mại hàng hải, như hợp đồng bảo hiểm thân tàu, đối tượng bảo hiểm thân tàu, giá trị bảo hiểm và số tiềm bảo hiểm, kí kết và chấm dứt hợp đồng bảo hiểm thân tàu, trách nhiệm của các bên khi xảy ra sự kiện bảo hiểm, phạm vi bảo hiểm thân tàu, các điều khoản bảo hiểm thân tàu thường được áp dụng cho các hợp đồng bảo hiểm thân tàu trên thế giới cũng như ở Việt nam. 11 Chƣơng 3: Định hƣớng và những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật bảo hiểm thân tàu Tại chương 3, tác giả đưa ra những căn cứ khoa học để khẳng định sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về bảo hiểm thân tàu đồng thời xác định những định hướng để nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật bảo hiểm thân tàu, qua đó đề xuất những giải pháp cụ thể nhằm khắc phục những hạn chế, nâng cao hiệu quả điều chỉnh của pháp luật bảo hiểm thân tàu ở Việt nam. Kết luận Danh mục tài liệu tham khảo 12 CHƢƠNG 1 KHÁT QUÁT CHUNG VỀ BẢO HIỂM THÂN TÀU 1.1 Khái niệm bảo hiểm thân tàu 1.1.1 Định nghĩa bảo hiểm thân tàu Bảo hiểm tàu biển là một loại hình bảo hiểm ra đời sớm nhất trong số các loại hình bảo hiểm. Đơn bảo hiểm cổ nhất còn lưu giữ được đến ngày nay là đơn bảo hiểm cấp năm 1347 cho tàu Santa Clara trong hành trình vận chuyển hàng hóa từ Genoa (Ý) đến quần đảo Majorca (Tây Ban Nha). Lịch sử bảo hiểm hàng hải nói chung, trong đó có bảo hiểm thân tàu, gắn liền với việc xuất hiện những thành phố-quốc gia của Ý trong thời trung cổ như Venice, Genoa và những thành phố khác, những nơi trở nên giàu có nhờ việc buôn bán phát đạt ở Địa Trung Hải. Những thành phố cảng và bản thân các cảng biển trở thành trung tâm của đời sống thương mại và kinh tế. Chủ tàu hay người vận chuyển phải trả cho các nhà buôn một khoản “tiền rủi ro” theo điều kiện vay lãi, tùy thuộc vào loại tàu, tính chất và khối lượng hàng hóa vận chuyển cũng như thời gian dự tính của chuyến đi [41; 15-17]1. Từ đó xuất hiện khái niệm vay bảo đảm bằng tàu hay còn gọi là “vay mạo hiểm”, theo đó, trách nhiệm của người vay tiền sẽ được huỷ bỏ nếu tàu bị tổn thất. Dần dần với sự phát triển của nền kinh tế, đã xuất hiện một loại hợp đồng bảo hiểm hàng hải độc lập, dưới hình thức đơn bảo hiểm, không còn điểm nào chung với hợp đồng vay bảo đảm bằng tàu trước kia nữa. Bảo hiểm trong khái niệm chung nhất là một ngành kinh tế đặc biệt. Có nhiều định nghĩa khác nhau về bảo hiểm, song tựu chung lại bảo hiểm được 13 hiểu là sự cam kết của người bảo hiểm bồi thường cho người được bảo hiểm về những mất mát, hư hỏng thiệt hại của đối tượng được bảo hiểm do những rủi ro đã được thỏa thuận gây ra với điều kiện người được bảo hiểm đã mua bảo hiểm cho đối tượng đó và nộp một khoản tiền gọi là phí bảo hiểm. Bảo hiểm ra đời là do sự tồn tại khách quan của rủi ro. Tiền bồi thường bảo hiểm chủ yếu là để khắc phục hậu quả của rủi ro. Phí bảo hiểm thu được thường được gọi là phí bảo hiểm dùng để bồi thường tổn thất. Như vậy về bản chất, bảo hiểm là việc phân chia tổn thất của một hay một số người cho tất cả mọi người tham gia bảo hiểm cùng gánh chịu. Bảo hiểm hàng hải được xem là một biện pháp bảo đảm an toàn hiệu quả trong vận tải biển, đồng thời là một công cụ pháp lý và là một khái niệm kinh tế. Bảo hiểm hàng hải là bảo hiểm những rủi ro trên biển hoặc những rủi ro trên bộ, trên sóng, liên quan đến hành trình đường biển, gây tổn thất cho các đối tượng bảo hiểm chuyên chở trên biển. Có nhiều loại bảo hiểm hàng hải khác nhau, nhưng có 3 loại bảo hiểm chính: i) bảo hiểm thân và máy tàu (Hull and Machinery Insurance); ii) bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ tàu hay còn gọi là bảo hiểm dự phòng và bồi thường ((P&I Insurance); và iii) bảo hiểm hàng hóa vận chuyển bằng đường biển (Cargo Insurance). Bảo hiểm thân tàu là loại bảo hiểm tàu biển quan trọng. Bảo hiểm thân tàu có thể định nghĩa là bảo hiểm những thiệt hại vật chất xảy ra đối với vỏ tàu, máy móc và các thiết bị trên tàu đồng thời có thể bao gồm cả bảo hiểm cước phí, các chi phí hoạt động của tàu và một phần trách nhiệm mà chủ tàu phải chịu trong trường hợp tàu đâm va nhau (tuỳ theo thoả thuận giữa các bên trong hợp đồng bảo hiểm thân tàu). Đây là loại bảo hiểm lớn, cả gói, bao gồm những rủi ro đặc biệt phát sinh trong qua trình vận hành tàu biển, đòi hỏi phải 1 Chỉ tài liệu tham khảo số 41, trang 15-17 14 có nhiều kinh nghiệm, có quan hệ quốc tế, hiểu biết tường tận công việc của các công ty hàng hải, hiểu biết kĩ thuật khai thác tàu biển. Pháp luật về bảo hiểm thân tàu biển có mối liên quan rất chặt chẽ với nhiều chế định của pháp luật hàng hải và các ngành luật khác. Đối tượng bảo hiểm thân tàu là bản thân con tàu (vỏ, máy móc, trang thiết bị trên tàu). Cần lưu ý là trang thiết bị phụ tùng cần thiết của tàu vẫn được coi là đối tượng bảo hiểm ngay cả trong trường hợp những trang thiết bị và phụ tùng đó thuộc tài sản của chủ tàu hay do chủ tàu đi mượn, đi thuê, miễn là những trang thiết bị phụ tùng đó cần phải có trên tàu do yêu cầu bắt buộc của đăng kiểm hoặc cơ quan an toàn hàng hải. Ngoài ra còn tùy thuộc hợp đồng do hai bên kí kết, đối tượng bảo hiểm thân tàu còn có thể là bất kì một quyền lợi về tài sản nào gắn liền với hoạt động của con tàu (dầu, con-tenơ…). Tàu đang đóng cũng có thể là đối tượng của bảo hiểm thân tàu [1; đ 201]2, [2; đ 227]. Bảo hiểm thân tàu là một loại bảo hiểm quan trọng nhất về tàu biển, bởi tàu biển là một đối tượng đặc biệt. Tàu biển, theo quy định của Bộ Luật Hàng hải Việt nam, là cấu trúc nổi, có hoặc không có động cơ, chuyên dùng để hoạt động trên biển [2; đ 11], dùng để vận chuyển hàng hóa, hành khách, hành lý, thăm dò-khai thác-chế biến tài nguyên biển, lai dắt cứu hộ trên biển, trục vớt tài sản chìm đắm và thực hiện các mục đích kinh tế khác. Một con tàu thương mại hiện đại mới hạ thủy và đã qua chạy thử thường có giá trị lớn, chưa kể đến hàng hóa trên tàu, đôi khi còn vượt cả giá trị con tàu. Ở Việt nam hiện nay, tàu biển phần nhiều thuộc loại già cỗi, có tuổi tàu thường trên 15 năm. Do đó việc bảo hiểm tàu là rất cần thiết, bởi những con tàu loại này thường tiềm ẩn rất nhiều rủi ro khi hoạt động trên biển. 1.1.2 Các loại hình bảo hiểm thân tàu 15 1.1.2.1 Phân loại căn cứ vào thời hạn Căn cứ vào thời hạn, bảo hiểm thân tàu có thể chia thành hai loại, bảo hiểm theo thời hạn hay bảo hiểm theo chuyến: i) Bảo hiểm theo thời hạn (Hull Time Insurance) Bảo hiểm theo thời hạn là bảo hiểm thân tàu trong một thời gian nhất định. Loại hình bảo hiểm này thường áp dụng cho hầu hết các loại tàu. Thời hạn bảo hiểm theo hình thức này thường là 12 tháng hay ít hơn và phải được ghi rõ trong hợp đồng. Thời điểm bắt đầu và kết thúc hiệu lực của bảo hiểm cũng phải được quy định cụ thể. Trách nhiệm của người bảo hiểm bắt đầu từ 0 giờ và kết thúc vào 24 giờ của ngày ghi trên hợp đồng (thời gian tính theo nơi cấp đơn bảo hiểm). Chẳng hạn, các đơn bảo hiểm của Anh thường ghi “12 months from 1 February … to 31 January … both days inclusive” (12 tháng kể từ ngày 1 tháng 2… đến hết ngày 31 tháng 1). Luật Bảo hiểm hàng hải Anh 1906 quy định thời hạn bảo hiểm thân tàu không được quá 12 tháng. Quy tắc bảo hiểm thân tàu, ngư lưới cụ đối với tàu thuyền cá hoạt động trong vùng nội thủy và vùng biển Việt nam của Tổng công ty bảo hiểm Việt nam (Bảo Việt) năm 2001 và Quy tắc bảo hiểm thân tàu đối với tàu thuyền hoạt động trên sông hồ, vùng nội thủy, vùng biển Việt nam của Bảo minh năm 1999 quy định thời hạn bảo hiểm thân tàu không dưới 3 tháng và không quá 12 tháng. Tuy nhiên, trong tình hình cạnh tranh quyết liệt như hiện nay, bảo hiểm thân tàu một số nước như Na uy lại đưa ra những biện pháp nhằm lôi kéo khách hàng bằng cách chấp nhận bảo hiểm trong thời hạn đến 5 năm với phí bảo hiểm không đổi. Do phí bảo hiểm đang có xu thế giảm nên hầu như các chủ tàu không ký bảo hiểm thân tàu với thời hạn dài đến như vậy. 2 Chỉ tài liệu tham khảo số 1, điều 201 16 Hình thức bảo hiểm theo thời hạn là loại hình bảo hiểm thân tàu thường gặp và thường được áp dụng cho các loại tàu khác nhau: tàu buôn (thường từ 100 GRT3 trở lên); tàu đánh cá; tàu dưới 100 GRT; tàu đặc biệt: nạo vét đẩy, kéo, xà lan; tàu gỗ, dàn khoan cố định hay di động hoặc các cấu trúc khác trong khai thác dầu. ii) Bảo hiểm chuyến (Hull Voyage Insurance) Bảo hiểm chuyến là bảo hiểm con tàu trong thời gian đi từ cảng này đến cảng khác (at and from) hoặc bảo hiểm cho một chuyến khứ hồi (round trip). Hình thức này thường dùng để bảo hiểm cho tàu mới đóng để xuất khẩu hoặc tàu sửa chữa. Trách nhiệm bảo hiểm bắt đầu khi tàu nhổ neo từ cảng đi và kết thúc kể từ khi tàu thả neo an toàn tại cảng đến ghi trong hợp đồng bảo hiểm (nếu hai bên không có thỏa thuận khác). Đối với bảo hiểm thân tàu thời hạn hay theo chuyến, người bảo hiểm chỉ chịu trách trách nhiệm về những tổn thất xảy ra trong vùng hay hành trình hàng hải được ghi trong hợp đồng bảo hiểm thân tàu. Vì lẽ đó, thực tiễn quốc tế yêu cầu hợp đồng bảo hiểm thân tàu phải có điều khoản về giới hạn hành trình hàng hải của tàu. Điều khoản này có liên quan đến cấp tàu. Trong trường hợp tàu vượt ra ngoài địa phận quy định hay đi chệch với hành trình hàng hải, bảo hiểm sẽ chấm dứt. Bởi vậy các bên thường phải quy định rất rõ quyền và nghĩa vụ của mình trong khi thỏa thuận điều khoản về hành trình. 1.1.2.2 Phân loại căn cứ theo phạm vi bảo hiểm Dựa trên phạm vi bảo hiểm thỏa thuận giữa các bên, bảo hiểm thân tàu có thể phân thành các loại sau: i) Bảo hiểm mọi rủi ro (All Risks): là loại hình bảo hiểm thường được áp dụng, với phạm vi bảo hiểm rộng, bao gồm các tổn thất, thiệt hại, hư hỏng của tàu, bảo hiểm một phần trách nhiệm của chủ tàu đối với bên thứ ba và bảo 3 GRT: hay GT, dung tích toàn phần tính theo tấn 17 hiểm các chi phí như đóng góp tổn thất chung, cứu nạn và các chi phí nhằm giảm thiểu tổn thất. ii) Bảo hiểm các hiểm họa nhất định (Named Perils): chỉ bảo hiểm một số hiểm họa quy định cụ thể trong hợp đồng bảo hiểm thân tàu dựa trên các điều kiện bảo hiểm gốc, như bảo hiểm tổn thất toàn bộ; bảo hiểm tổn thất bộ phận... iii) Bảo hiểm phụ: loại hình bảo hiểm này thường được áp dụng để bảo hiểm những rủi ro thường bị loại trừ trong gói bảo hiểm gốc, như bảo hiểm rủi ro chiến tranh, đình công. 1.2 Rủi ro và tổn thất trong bảo hiểm thân tàu 1.2.1 Rủi ro trong bảo hiểm thân tàu Rủi ro là một trong những khái niệm cơ bản của bảo hiểm. Có nhiều quan niệm khác nhau về rủi ro, nhưng tựu trung lại có thể định nghĩa rủi ro là những tai nạn, tai họa, sự cố xảy ra bất ngờ, ngẫu nhiên hoặc những mối đe dọa nguy hiểm khi xảy ra thì gây tổn thất cho đối tượng bảo hiểm. Bộ Luật Hàng hải Việt nam 1990 dùng “hiểm họa hàng hải” (điều 200), để chỉ những rủi ro hàng hải trong bảo hiểm thân tàu, tuy nhiên lại không giải thích rõ hiểm họa hàng hải là gì. Bộ Luật Hàng hải nước Cộng hòa Nhân dân Trung hoa 1992 dùng “hiểm họa được bảo hiểm” và định nghĩa đó là “bất kỳ hiểm họa hàng hải được thảo thuận giữa người bảo hiểm và người được bảo hiểm, kể cả các hiểm họa xảy ra trong vùng nội thủy hoặc trên đất liền liên quan đến hành trình đường biển” [7; đ 216]. Bộ Luật Thương mại Hàng hải Liên Bang Nga 1999 [37; đ 246] và Bộ luật Thương mại Hàng hải Ucraina 1995 [8; đ 239] lại dùng thuật ngữ “nguy hiểm và sự cố” để nói về rủi ro hàng hải, và cũng không nêu rõ “nguy hiểm và sự cố” đó cụ thể là gì. Luật hàng hải các nước Phương Tây và Mỹ đều dùng khái niệm “rủi ro hàng hải”. Theo tác giả, “rủi ro hàng hải” là phù hợp, bởi có ý nghĩa rộng hơn, bao quát được một 18 cách đầy đủ hơn những tai nạn, tai họa, sự cố bất ngờ có khả năng gây tổn thất cho đối tượng bảo hiểm, ở đây là tàu biển. Luật Bảo hiểm hàng hải Anh 1906 định nghĩa rủi ro hàng hải “là những rủi ro do hậu quả của việc lái tàu hoặc xảy ra trong việc lái tàu ở biển gây ra, nghĩa là những rủi ro ở biển, cháy, rủi ro chiến tranh, cướp biển, trộm cắp, bắt giữ, câu lưu và câu thúc của vua chúa, nhân dân, vứt hàng xuống biển, hành vi phi pháp và bất kỳ những rủi ro nào khác, những rủi ro thuộc loại tương tự hoặc những rủi ro có thể do hợp đồng quy định rõ ràng”[6; đ3]. Trong Bộ luật hàng hải Việt nam sửa đổi năm 2005 (có hiệu lực từ ngày 1/1/2006) nhắc đến khái niệm rủi ro hàng hải, và định nghĩa trên tinh thần chuyển đổi quy định trong Luật bảo hiểm hàng hải Anh 1906 như sau: “Rủi ro hàng hải là những rủi ro xẩy ra liên quan đến hành trình đường biển, bao gồm các rủi ro của biển, cháy, nổ, chiến tranh, cướp biển, trộm cắp, kê biên, quản thúc, giam giữ, ném hàng xuống biển, trưng thu, trưng mua, hành vi bất hợp pháp và các rủi ro tương tự hoặc những rủi ro khác được thỏa thuận trong hợp đồng bảo hiểm” (điều 226). Như vậy có thể thấy rủi ro hàng hải trước tiên là những rủi ro của biển, những rủi ro trên biển và những rủi ro trên bờ được quy định rõ ràng trong hợp đồng bảo hiểm hàng hải. Tuy nhiên để được bảo hiểm thì những rủi ro hàng hải phải là những rủi ro xảy ra liên quan đến một hành trình đường biển. 1.2.1.1 Phân loại rủi ro trong bảo hiểm thân tàu căn cứ vào nguồn gốc sinh ra rủi ro Căn cứ vào nguồn gốc, có thể chia rủi ro hàng hải trong bảo hiểm thân tàu thành: i) Thiên tai (Act of God). Là những hiện tượng tự nhiên mà con người không chi phối được như biển động, bão, gió lốc, sét đánh, thời tiết xấu, sóng thần, động đất, núi lửa phun…; 19 ii) Tại họa của biển (Perils of the Sea) là những tai nạn xảy ra đối với con tàu ngoài biển, như tàu mắc cạn, đắm, cháy nổ, đâm va nhau, đâm va phải đá ngầm, đâm va phải vật thể khác, bị mất tích. Những rủi ro này gọi là những rủi ro chính; iii) Các tai nạn bất ngờ khác là những thiệt hại do tác động ngẫu nhiên bên ngoài không thuộc những tai họa của biển nói trên. Tai nạn bất ngờ có thể xảy ra trên biển, trên bộ trên không, trong quá trình vận chuyển… Đây được gọi là những rủi ro phụ; iv) Rủi ro do các hiện tượng chính trị, xã hội hoặc do lỗi của người được bảo hiểm gây ra như các rủi ro chiến tranh, rủi ro đình công và các hành động khủng bố do người khủng bố gây ra; v) Rủi ro do bản chất hoặc tính chất đặc biệt của đối tượng bảo hiểm hoặc những thiệt hại mà nguyên nhân trực tiếp là sự chậm trễ. 1.2.1.2 Phân loại rủi ro trong bảo hiểm thân tàu căn cứ vào nghiệp vụ bảo hiểm Căn cứ vào nghiệp vụ bảo hiểm, rủi ro trong bảo hiểm thân tàu có thể phân thành ba loại chính như sau: i) Rủi ro thông thường được bảo hiểm, là các rủi ro được bảo hiểm thông thường theo các điều kiện bảo hiểm gốc. Đây là những rủi ro có tính bất ngờ, ngẫu nhiên, xảy ra ngoài ý muốn của người được bảo hiểm như thiên tai, tai họa của biển, tai nạn bất ngờ khác gồm cả rủi ro chính và rủi ro phụ như mắc cạn, chìm đắm, đâm va, cháy…; ii) Rủi ro không được bảo hiểm, còn được gọi là rủi ro loại trừ là những rủi ro không được người bảo hiểm nhận hoặc không được người bảo hiểm bồi thường trong mọi trường hợp. Đó là loại rủi ro đương nhiên xảy ra, chắc chắn xảy ra, do lỗi cố ý của người được bảo hiểm, thiệt hại mà nguyên nhân trực 20 tiếp là chậm trễ, những rủi ro có tính chất thảm họa mà con người không lường trước được quy mô, mức độ và hậu quả của nó; iii) Rủi ro phải bảo hiểm riêng, là những rủi ro mà muốn được bảo hiểm thì phải thỏa thuận riêng. Loại rủi ro này bao gồm rủi ro chiến tranh, đình công, khủng bố. Trong bảo hiểm thân tàu, rủi ro thường có những đặc điểm sau: - nguyên nhân rủi ro rất đa dạng; - thiệt hại do rủi ro được bảo hiểm gây ra thường rất lớn, đôi khi mang tính thảm họa (thiệt hại do tổn thất toàn bộ một con tàu có trọng tải trung bình bị phá hủy cũng đã tương đương với thiệt hại do tổn thất toàn bộ của 5001,000 ô tô); - không thể có đánh giá tin cậy về khả năng xảy ra rủi ro, nói cách khác tổn thất trong bảo hiểm thân tàu là hầu như không thể lường trước được. Như vậy rủi ro hàng hải là những rủi ro xẩy ra liên quan đến hành trình đường biển, bao gồm các rủi ro của biển, cháy nổ, chiến tranh, cướp biển, trộmg cắp, kê biên, quản thúc, giam giữ, ném hàng xuống biển, trưng thu, trưng mua, hành vi bất hợp pháp và các rủi ro tương tự hoặc những rủi ro khác được thỏa thuận trong hợp đồng bảo hiểm. Rủi ro hàng hải có nguyên nhân đa dạng, thường gây thiệt hại rất lớn và hầu như không thể đánh giá được. 1.2.2 Tổn thất trong bảo hiểm thân tàu Tổn thất là những thiệt hại, hư hỏng mất mát của tàu do rủi ro gây ra. Nếu rủi ro là mối đe dọa, là nguyên nhân gây ra tổn thất thì tổn thất là cái đã xảy ra rồi và là hậu quả của rủi ro. Tổn thất là một khái niệm quan trọng trong bảo hiểm thân tàu, là cơ sở để bồi thường theo hợp đồng bảo hiểm. Tuy nhiên, người bảo hiểm chỉ bồi thường những tổn thất là hậu quả trực tiếp của những rủi ro hàng hải được bảo 21
- Xem thêm -