Tài liệu Bàn về các phương pháp giá thành sản phẩm trong các doanh nghiệp sản xuất

  • Số trang: 27 |
  • Loại file: DOC |
  • Lượt xem: 29 |
  • Lượt tải: 0
tructuyentailieu

Tham gia: 25/05/2016

Mô tả:

Đề án chuyên ngành GVHD: Cô Hà Phương Dung LỜI MỞ ĐẦU Kể từ năm 1986 cho đến nay, nền kinh tế Việt Nam đã bước sang một hướng mới, đó là chuyển từ nền kinh tế với cơ chế quản lý tập trung sang nền kinh tế thị trường. Trong bối cảnh như vậy các doanh nghiệp sản xuất đang đứng trước những thử thách gay gắt của quy luật cạnh tranh. Do vậy trong điều kiện hiện nay, muốn tồn tại và phát triển được trong sự khắc nghiệt của nền kinh tế thì doanh nghiệp phải nắm bắt được thị trường, tạo chỗ đứng cho sản phẩm của mình trên thị trường. Để đạt được mục đích tiêu đó, các doanh nghiệp cần phải có một hệ thống quản lý tài chính cung cấp thông tin chính xác để ra quyết định đứng đắn trong quá trình hoạt động kinh doanh của mình. Trong đó, hạch toán kế toán là một bộ phận chức năng, một công cụ có tầm quan trọng với vai trò “ Thực hiện kiểm tra và xử lý thông tin cung cấp cho lãnh đạo và các cơ quan quản lý kinh doanh phục vụ cho công tác quản lý. Hạch toán kế toán như một phần thông tin kinh tế quan trọng cấu thành hệ thống thông tin kinh tế của đơn vị”. Và để có thể tạo chỗ đứng cho sản phẩm và cạnh tranh được với các doanh nghiệp trên thị trường thì doanh nghiệp phải quan tâm đến các khâu của quá trình sản xuất kinh doanh, đặc biệt là chất lượng sản phẩm v.v... Không những thế doanh nghiệp còn phải tổ chức tốt hạch toán chi phí sản xuất và tính giá sản phẩm nhằm đánh giá được mọi khía cạnh và chi tiết của các nhân tố ảnh hưởng đến chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm, từ đó tìm ra nguyên nhân và có những biện pháp thích hợp phát huy các yếu tố tích cực, hạn chế các yếu tố tiêu cực để tiết kiệm chi phí sản xuất nhằm hạ giá thành sản phẩm một cách có hiệu quả. Có như vậy, doanh nghiệp mới đạt chỉ tiêu lợi nhuận và có thể mở rộng sản xuất để có thể tăng sức cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường. Trong công tác quản trị doanh nghiệp, kế toán được coi là một công cụ quan trọng nhất phục vụ đắc lực cho các nhà quản trị doanh nghiệp, trong đó công tác tính giá thành sản phẩm là một phần kế toán quan trọng đối với tất cả các doanh nghiệp sản xuất bởi thông qua khâu này, doanh nghiệp xác định được hao phí bỏ ra trong quá trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp tốt hay xấu. Nhận thức được vai trò và tầm quan trọng của phân kế toán này nên em đã chọn đề tài “Bàn về các phương pháp giá thành sản phẩm trong các doanh nghiệp sản xuất” làm đề án cho mình. Nội dung đế án gồm 02 phần: Chương I: Tính giá thành sản phẩm trong các doanh nghiệp theo chế độ kế toán hiện hành. ChươngII: Một số kiến nghị hoàn thiện hệ thống phương pháp tính giá thành sản phẩm trong các doanh nghiệp. SV: Trần Thị Thanh Huyền, BH182914 1 Đề án chuyên ngành GVHD: Cô Hà Phương Dung Chương I: Tính giá thành sản phẩm theo chế độ kế toán hiện hành I. CÁC VĂN BẢN SỬ DỤNG - Giáo trình “ Kế toán tài chính doanh nghiệp”. - “Chế độ kế toán Việt Nam”. - “Kế toán chi phí giá thành”. - “ Kế toán quản trị” II. GIÁ THÀNH SẢN PHẨM. 2.1. Bản chất và nội dung kinh tế của giá thành sản phẩm. Giá thành sản phẩm là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ các khoản hao phí về lao động sống và lao động vật hoá có liên quan đến khối lượng công tác, sản phẩm, lao vụ đã hoàn thành. Giá thành sản phẩm là một phạm trù của sản xuất hàng hoá, phản ánh lượng giá trị của những hao phí lao động sống và lao động vật hoá đã thực sự chi cho sản xuất và tiêu thụ sản phẩm. Giá thành sản phẩm chỉ bao gồm những chi phí tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào quá trình sản xuất, tiêu thụ phải được bồi hoàn để tái sản xuất ở doanh nghiệp mà không bao gồm những chi phí phát sinh trong kỳ kinh doanh của doanh nghiệp. Những chi phí đưa vào giá thành sản phẩm phải phản ánh được giá trị thực tế của các tư liệu sản xuất tiêu dùng cho sản xuất, tiêu thụ và các khoản chi tiêu khác có liên quan tới việc bù đắp giản đơn hao phí lao động sống. Mọi cách tính toán chủ quan, không phản ánh đúng các yếu tố giá trị trong giá thành đều có thể dẫn đến việc phá vỡ các quan hệ hàng hoá- tiền tệ, không xác định được hiệu quả kinh doanh và không thực hiện được tái sản xuất giản đơn và tái sản xuất mở rộng. 2.2. Phân loại giá thành. Trong nền kinh tế thị trường, giá thành sản xuất là một phạm trù kinh tế, phản ánh mức hao phí lao động sản xuất ra sản phẩm hoặc hoàn thành sản phẩm dịch vụ. Hạ thấp chi phí sản xuất là điều kiện quan trọng để hạ giá thành sản phẩm. Xét về bản chất, giá thành sản xuất là lượng hao phí lao động kết tinh trong sản phẩm hoặc dịch vụ hoàn thành được bằng tiền. Giá thành vừa mang tính khách quan vừa mang tính chủ quan. Tính khách quan của giá thành sản phẩm dịch vụ thể hiện ở chỗ nó là sự dịch chuyển giá trị của những tư liệu sản xuất và sự hao phí lao động sống trong quá trình thực hiện sản phẩm dịch vụ. Tính chủ quan của giá thành thể hiện ở chỗ: việc tính toán đo lường hao phí lao động và việc phân bổ các hao phí lao động được thể hiện bằng tiền cho các đối tượng. Việc tính toán này có chính xác hay còn phụ thuộc rất nhiều vào người làm công tác kế toán ở doanh nghiệp. Trên góc độ quản lý doanh nghiệp, giá thành sản phẩm dịch vụ là chỉ tiêu kinh tế tổng hợp, phản ánh chất lượng công tác của doanh nghiệp. Mức hạ giá thành phản ánh tình hình tiết kiệm các loại vật tư, tiền vốn và tiết kiệm hao phí lao động của doanh nghiệp. Trên góc độ kinh tế, giá thành là thước đo chi phí và khả năng tạo ra lợi nhuận của doanh nghiệp. Sở dĩ như vậy là vì trong điều kiện giá bán không SV: Trần Thị Thanh Huyền, BH182914 2 Đề án chuyên ngành GVHD: Cô Hà Phương Dung đổi, hạ giá thành sẽ tăng lợi nhuận và ngược lại. Để nghiên cứu giá thành được tốt, trước hết phải nghiên cứu đánh giá được kết cấu giá thành sản phẩm dịch vụ. Kết cấu giá thành sản phẩm là tỷ trọng các khoản mục giá thành so với tổng giá thành sản phẩm. Mỗi loại sản phẩm, mỗi ngành nghề khác nhau có những đặc điểm khác nhau nên kết cấu giá thành cũng khác nhau. Do đó, trong quá trình quản lý và phân tích tính giá thành phải căn cứ vào đặc điểm của từng ngành cụ thể để đánh giá công việc. Để phục vụ cho công tác kế toán cũng như công tác quản lý tính giá thành sản phẩm dịch vụ, cần phải nghiên cứu các loại giá thành sản phẩm dịch vụ. Thông thường người ta phân loại giá thành sản phẩm dịch vụ như sau: 2.2.1. Phân loại theo thời điểm tính giá và nguồn số liệu để tính giá thành. - Giá thành kế hoạch : Giá thành kế hoạch được xác định trước khi bước vào kinh doanh trên cở sở giá thành thực tế kỳ trước và các định mức, các dự toán chi phí của kỳ kế hoạch. - Giá thành định mức : Cũng như giá thành kế hoạch, giá thành định mức cũng được xác định trước khi bắt đầu vào sản xuất sản phẩm. Tuy nhiên khác với giá thành kế hoạch được xây dựng trên cơ sở các định mức bình quân tiên tiến và không biến đổi trong suốt cả kỳ kế hoạch, giá thành định mức được xác định trên cơ sở các định mức về chi phí hiện hành tại các thời điểm nhất định trong kỳ kế hoạch (thường là ngày đầu tháng) nên giá thành định mức luôn thay đổi phù hợp với sự thay đổi của các định mức chi phí đạt được trong quá trình sản xuất sản phẩm. - Giá thành thực tế : giá thành thực tế là chỉ tiêu xác định sau khi kết thúc quá trình sản xuất sản phẩm dựa trên cơ sở các chi phí thực tế phát sinh trong quá trình sản xuất sản phẩm. Cách phân loại này có tác dụng trong việc quản lý và giám sát chi phí, xác định được các nguyên nhân vượt (hụt ) định mức chi phí trong kỳ hạch toán. Từ đó, điều chỉnh kế hoạch hoặc hoạch định mức chi phí cho phù hợp. 2.2.2.Phân theo phạm vi phát sinh chi phí: Theo phạm vi phát sinh chi phí, chỉ tiêu giá thành được chia thành giá thành sản xuất và giá thành tiêu thụ. - Giá thành sản xuất (còn gọi là giá thành công xưởng): là chỉ tiêu phản ánh tất cả những chi phí phát sinh liên quan đến việc sản xuất, chế tạo sản phẩm trong phạm vi phân xưởng sản xuất . - Giá thành tiêu thụ (hay còn gọi là giá thành toàn bộ hay giá thành đầy đủ ): là chỉ tiêu phản ánh toàn bộ các khoản chi phí phát sinh liên quan đến việc sản xuất, tiêu thụ sản phẩm (chi phí sản xuất, quản lý và bán hàng). Giá thành tiêu thụ được tính theo công thức sau: Giá thành toàn bộ của sản phẩm tiêu thụ = Giá thành sản xuất Sản phẩm + Chi phí quản lý doanh nghiệp + Chi phí tiêu thụ sản phẩm Cách phân loại này có tác dụng giúp cho nhà quản lý biết được kết quả kinh doanh (lãi, lỗ) của từng mặt hàng, từng loại dịch vụ mà doanh nghiệp kinh doanh. Tuy nhiên, do những hạn chế nhất định khi lựa chọn tiêu thức phân bổ chi phí bán hàng và chi phí quản lý cho từng mặt hàng, từng loại dịch vụ nên cách phân loại này chỉ còn mang tính học thuật, nghiên cứu. SV: Trần Thị Thanh Huyền, BH182914 3 Đề án chuyên ngành GVHD: Cô Hà Phương Dung III. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM. 3.1. Xác định đối tượng tính giá thành sản phẩm. Do có sự khác nhau cơ bản về giới hạn tập hợp chi phí trong hạch toán chi phí sản xuất và sản phẩm hoàn thành cần phải tính giá thành một đơn vị, việc hạch toán quá trình sản xuất có thể phân thành 2 giai đoạn là giai đoạn xác định đối tượng tập hợp chi phí và xác định đối tượng tính giá thành sản phẩm. Về thực chất xác định đối tượng tính giá thành chính là việc xác định thành phẩm, bán thành phẩm, công việc lao vụ nhất định đòi hỏi phải tính giá thành một đơn vị. Đối tượng đó có thể là sản phẩm cuối cùng của quá trình sản xuất hay đang trên dây chuyền sản xuất tuỳ theo yêu cầu của hạch toán kinh tế nội bộ và tiêu thụ sản phẩm. Để phân biệt được đối tượng hạch toán chi phí sản xuất và đối tượng tính giá thành ngay cả khi chúng đồng nhất là một, cần dựa vào đặc điểm quy trình công nghệ sản xuất (giản đơn hay phức tạp), vào loại hình sản xuất (đơn chiếc, hàng loạt), vào yêu cầu và trình độ quản lý, tổ chức kinh doanh (cao hay thấp)… 3.2. Xác định phương pháp tính giá thành sản phẩm. Do có sự khác nhau cơ bản giữa đối tượng hạch toán chi phí sản xuất và đối tượng tính giá thành sản phẩm, về cơ bản, phương pháp tính giá thành bao gồm các phương pháp sau: a. Phương pháp trực tiếp (còn gọi là phương pháp giản đơn): - Điều kiện áp dụng: Phương pháp này được áp dụng trong các doanh nghiệp thuộc loại hình sản xuất giản đơn, số lượng mặt hàng ít, sản xuất với khối lượng lớn và chu kỳ sản xuất ngắn như các nhà máy điện, nước, các doanh nghiệp khai thác (quặng, than, gỗ…) Đối tượng hạch toán chi phí ở các doanh nghiêp này là từng loại sản phẩm hay dịch vụ. - Trình tự tính toán: Giá thành sản phẩm theo phương pháp này được tính bằng cách trực tiếp lấy tổng số chi phí sản xuất cộng (+) hoặc trừ (-) số chênh lệch giữa giá trị sản phẩm dở dang đầu kỳ so với cuối kỳ chia cho số lượng sản phẩm hoàn thành. -Ưu điểm: Đơn giản, dễ tính toán. - Nhược điểm: Không áp dụng được với loại hình doanh nghiệp phức tạp. b.Phương pháp tổng cộng chi phí: - Điều kiện áp dụng: Phương pháp này được áp dụng với các doanh nghiệp mà quá trình sản xuất sản phẩm được thực hiện ở nhiều bộ phận sản xuất, nhiều giai đoạn công nghệ, đối tượng hạch toán chi phí sản xuất là các bộ phận, chi tiết sản phẩm hoặc giai đoạn công nghệ hay bộ phận sản xuất. Phương pháp tổng cộng chi phí được áp dụng chủ yếu trong các doanh nghiệp khai thác, dệt, nhuộm, cơ khí chế tạo, may mặc… - Trình tự tính toán: Giá thành sản phẩm được xác định bằng cách cộng chi phí sản xuất của các bộ phận, chi tiết sản phẩm hay tổng chi phí sản xuất của các giai đoạn, bộ phận sản xuất tạo nên thành phẩm: Tổng giá thànhSX = Tổng cộng chi phí SX của sản phẩm, lao vụ đã tập hợp trong kỳ -Ưu điểm: Phương pháp này tương đối dễ dàng, chính xác. SV: Trần Thị Thanh Huyền, BH182914 4 Đề án chuyên ngành GVHD: Cô Hà Phương Dung c. Phương pháp hệ số: - Điều kiện áp dụng:Được áp dụng trong những doanh nghiêp mà trong cùng một quá trình sản xuất cùng sử dụng một thứ nguyên liệu và một lượng lao động nhưng thu được đồng thời nhiều sản phẩm khác nhau và chi phí không tập hợp riêng cho từng loại sản phẩm được mà phải tập hợp chung cho cả quá trình sản xuất. Theo phương pháp này, trước hết, kế toán căn cứ vào hệ số quy đổi các loại sản phẩm về sản phẩm gốc, từ đó, dựa vào tổng chi phí liên quan đến giá thành các loại sản phẩm đã tập hợp để tính giá thành sản phẩm gốc và giá thành từng loại sản phẩm: Giá thành đơn vị sản phẩm gốc (Z0i) Giá thành đơn vị sản phẩm I (Zi) = = Tổng giá thành sản xuất của các loại sản phẩm Tổng số sản phẩm gốc (Q0) Giá thành đơn vị Hệ số quy đổi x sản phẩm gốc (Zoi) sản phẩm I (Hi) Trong đó: Qo =∑Qi x Hi Và Qi là số lượng sản phẩm I (chưa quy đổi). Tổng giá thành sản xuất của các Giá trị = loại sản phẩm sản phẩm Tổng chi phí + sản xuất dở dang đầu kỳ Giá trị - phát sinh trong kỳ sản phẩm dở dang cuối kỳ - Ưu điểm: Thuận tiện cho những doanh nghiệp sản xuất những sản phẩm khác nhau nhưng cùng sử dụng một thứ nguyên liệu và nhân công. - Nhược điểm: Không tập hợp chi phí riêng cho từng loại sản phẩm được. d. Phương pháp tỷ lệ : - Điều kiện áp dụng: Trong các doanh nghiệp sản xuất nhiều loại sản phẩm có quy cách, phẩm chất khác nhau như : may mặc, dệt kim, đóng giầy, cơ khí chế tạo (dụng cụ, phụ tùng…)… để giảm bớt khối lượng hạch toán, kế toán thường tiến hành tập hợp chi phí sản xuất theo nhóm sản phẩm cùng loại. Căn cứ vào tỷ lệ giữa chi phí sản xuất thực tế với chi phí sản xuất kế hoạch (hoặc định mức), kế toán sẽ tính ra giá thành đơn vị và tổng giá thành sản phẩm cùng loại. - Trình tự tính toán: Giá thành thực tế đơn vị sản phẩm từng loại = Giá thành kế hoạch hoặc định mức đơn vị thực tế sản phẩm từng loại Tỷ lệ giữa chi phí thực tế so với chi x phí kế hoạch hoặc định mức của tất cả các loại sản phẩm - Ưu điểm: công tác tính toán nhanh gọn, giảm bớt được khối lượng hạch toán. - Nhược điểm: Độ chính xác không cao. e. Phương pháp loại trừ giá trị sản phẩm phụ: - Điều kiện áp dụng: Đối với các doanh nghiệp mà trong cùng một quá trình sản xuất, bên cạnh các sản phẩm chính thu được còn có thể thu được những sản phẩm phụ (các doanh nghiệp chế biến đường, rượu, bia, mì ăn liền…) SV: Trần Thị Thanh Huyền, BH182914 5 Đề án chuyên ngành GVHD: Cô Hà Phương Dung - Trình tự tính toán: Để tính giá trị sản phẩm chính kế toán phải loại trừ giá trị sản phẩm phụ ra khỏi tổng chi phí sản xuất sản phẩm. Giá trị sản phẩm phụ có thể được xác định theo nhiều phương pháp như giá có thể sử dụng, giá trị ước tính, giá kế hoạch, giá nguyên liệu ban đầu… Tổng giá thành = sản phẩm chính Giá trị sản phẩm chính dở dang đầu kỳ Tổng chi phí + sản xuất phát sinh trong kỳ Giá trị sản - phẩm phụ thu hồi Giá trị sản - phẩm chính dở dangcuối kỳ - Ưu điểm: Công việc tính toán nhanh gọn, chính xác. - Nhược điểm: Phạm vi áp dụng hẹp. f. Phương pháp liên hợp : - Điều kiện áp dụng: Trong những doanh nghiệp có tổ chức sản xuất, tính chất qui trình công nghệ và tính chất sản phẩm làm ra đòi hỏi việc tính giá thành phải kết hợp nhiều phương pháp khác nhau như các doanh nghiệp hoá chất, dệt kim, đóng giầy, may mặc… - Trình tự tính toán: Kế toán có thể kết hợp các phương pháp trực tiếp với tổng cộng chi phí, tổng cộng chi phí với tỷ lệ , hệ số với loại trừ sản phẩm phụ … - Ưu điểm: Do có thể kết hợp được nhiều phương pháp nên việc tính toán trở nên linh hoạt. - Nhược điểm: Dễ xảy ra sai sót. 3.3. Phương pháp tính giá thành sản phẩm trong một số loại hình doanh nghiệp chủ yếu. Trên cơ sở các phương pháp chung để tính giá thành sản phẩm, kế toán cần lựa chọn và áp dụng vào từng loại hình doanh nghiệp cho phù hợp với đặc điểm tổ chức sản xuất, đặc điểm qui trình công nghệ cũng như đối tượng hạch toán chi phí. Sau đây xin giới thiệu phương pháp tính giá thành sản phẩm áp dụng trong một số loại hình doanh nghiệp chủ yếu: 3.3.1. Doanh nghiệp sản xuất giản đơn. Doanh nghiệp sản xuất giản đơn thường là những doanh nghiệp chỉ sản xuất một hoặc một số ít mặt hàng với khối lượng lớn, chu kỳ sản xuất ngắn, sản phẩm dở dang không có hoặc có không đáng kể như các doanh nghiệp khai thác than, quặng, hải sản…; các doanh nghiệp sản xuất động lực ( điện, nước, hơi nước, khí nén , khí đốt…) Do số lượng mặt hàng ít nên đối tượng hạch toán chi phí sản xuất được tiến hành theo sản phẩm, mỗi mặt hành sản xuất được mở một sổ (hoặc thẻ) hạch toán chi phí sản xuất. Công việc tính giá thành thường được tiến hành vào cuối tháng theo phương pháp trực tiếp (giản đơn) hoặc phương pháp liên hợp. - Điều kiện áp dụng: Đối với những doanh nghiệp thuộc loại hình sản xuất giản đơn, có số lượng mặt hàng ít, sản xuất với khối lượng lớn, chu kỳ sản xuất ngắn. - Trình tự tính toán: SV: Trần Thị Thanh Huyền, BH182914 6 Đề án chuyên ngành GVHD: Cô Hà Phương Dung Tổng giá Chi phí sản Tổng chi phí sản xuất Chi phí sản xuất dở thành sản = xuất dở dang + phát sinh trong kỳ dang cuối kỳ phẩm chính đầu kỳ Giá thành đơn vị Tổng giá thành sản xuất của các loại sản phẩm = sản phẩm Tổng số sản phẩm hoàn thành - Ưu điểm: Tính toán nhanh, đơn giản, không đòi hỏi trình độ cao. - Nhược điểm: phạm vi áp dụng hẹp. 3.3.2. Doanh nghiệp sản xuất theo đơn đặt hàng. - Điều kiện áp dụng: Phương pháp này được áp dụng đối với những doanh nghiệp có tổ chức sản xuất theo đơn chiếc hoặc là hàng loạt mặt hàng, sản phẩm nhiều nhưng không ổn định, sản xuất theo đơn đặt hàng của người mua sau 1 lần sản xuất không sản xuất lại nữa. -Phương pháp tính giá thành tuỳ theo tính chất và số lượng sản phẩm của từng đơn sẽ áp dụng phương pháp thích hợp như phương pháp trực tiếp, phương pháp hệ số, phương pháp tổng cộng chi phí hay phương pháp liên hợp … Đặc điểm của việc hạch toán chi phí trong các doanh nghiệp này là toàn bộ chi phí sản xuất phát sinh đều được tập hợp theo từng đơn đặt hàng, không kể số lượng sản phẩm của đơn đặt hàng nhiều hay ít, quy trình công nghệ giản đơn hay phức tạp. Đối với các chi phí trực tiếp (nguyên vật liệu, nhân công) phát sinh trong kỳ liên quan trực tiếp đến đơn đặt hàng nào thì hạch toán trực tiếp cho đơn đặt hàng đó theo các chứng từ gốc (hay bảng phân bổ chi phí). Đối với chi phí sản xuất chung, sau khi tập hợp xong sẽ phân bổ cho từng đơn theo tiêu chuẩn phù hợp (giờ công sản xuất, nhân công trực tiếp…) Việc tính giá thành ở trong các doanh nghiệp này chỉ tiến hành khi đơn đặt hàng hoàn thành nên kỳ tính giá thành thường không nhất trí với kỳ báo cáo. Đối với những đơn đặt hàng đến kỳ báo cáo cho hoàn thành thì toàn bộ chi phí đã tập hợp theo đơn đó đều coi là sản phẩm dở dang cuối kỳ chuyển kỳ sau. Đối với những đơn đặt hàng đã hoàn thành thì tổng chi phí tập hợp được theo đơn đó chính là tổng giá thành sản phẩm của đơn vị và giá thành đơn vị sẽ tính bằng cách lấy tổng giá thành sản phẩm của đơn vị chia cho số lượng sản phẩm trong đơn. Tuy nhiên, trong một số trường hợp cần thiết, theo yêu cầu công tác quản lý cần xác định khối lượng công việc hoàn thành trong kỳ thì đối với những đơn đặt hàng chỉ mới hoàn thành một phần, việc xác định sản phẩm dở dang của đơn vị đó có thể dựa vào giá thành kế hoạch (hay định mức) hoặc theo mức độ hoàn thành của đơn. - Ưu điểm: Việc tính toán giản đơn, chi phí sản xuất được tập hợp theo từng đơn đặt hàng do đó thuận tiện cho việc kiểm tra tình hình thực hiện kế hoạch sản xuất của đơn hàng. - Nhược điểm: Quy trình công nghệ sản xuất phức tạp. Chu kỳ sản xuất của đơn đặt hàng dài, do đó nó có hạn chế trong việc tính toán hiệu quả sản xuất, thời gian tính giá thành bị kéo dài. 3.3.3 Doanh nghiệp áp dụng hệ thống hạch toán định mức. SV: Trần Thị Thanh Huyền, BH182914 7 Đề án chuyên ngành GVHD: Cô Hà Phương Dung - Điều kiện áp dụng: Áp dụng với những doanh nghiệp có quy trình công nghệ sản xuất sản phẩm ổn định, đã xây dựng được các định mức kỹ thuật tương đối hợp lý và các định mức đã thực hiện có nề nếp thường xuyên. - Trình tự tính toán: Giá thành thực tế sản phẩm = Giá thành định + mức sản phẩm - Chênh lệch do thay đổi định mức + Chênh lệch so với định mức đã điều chỉnh - Ưu điểm: Thực hiện được việc kiểm tra thường xuyên, kịp thời việc thực hiện các định mức chi phí để phát hiện ra các khoản chi phí vượt định mức (là những chi phí chênh lệch so với định mức đã đề ra). 3.3.4 Doanh nghiệp sản xuất phức tạp theo kiểu chế biến liên tục . - Điều kiện áp dụng: Đối với doanh nghiệp sản xuất phức tạp theo kiểu chế biến liên tục, là doanh nghiệp có quy trình công nghệ chế tạo sản phẩm bao gồm nhiều bước (giai đoạn ) nối tiếp nhau theo một trình tự nhất định, mỗi bước tạo ra một loại bán thành phẩm và bán thành phẩm của bước trước là đối tượng hay nguyên liệu chế biến của bước sau. - Trình tự tính toán: Trong những doanh nghiệp này, phương pháp hạch toán chi phí thích hợp nhất là hạch toán theo bước chế biến (giai đoạn công nghệ) .Theo phương pháp này, chi phí sản xuất phát sinh thuộc giai đoạn nào sẽ được tập hợp cho giai đoạn đó. Riêng với chi phí sản xuất chung sau khi được tập hợp theo phân xưởng sẽ được phân bổ cho các bước theo tiêu thức phù hợp. Tuỳ theo tính chất hàng hóa của bán thành phẩm và yêu cầu công tác quản lý, chi phí sản xuất có thể tập hợp theo phương án có bán thành phẩm và theo phương án không có bán thành phẩm. Phương pháp tính giá thành thường là phương pháp trực tiếp kết hợp phương pháp tổng cộng chi phí hay hệ số (hoặc tỷ lệ). - Ưu điểm: Có thể kiểm tra chi phí sản xuất phát sinh ở bất kỳ giai đoạn nào. - Nhược điểm: Công việc tính toán tương đối phức tạp 3.3.4.1.Tính giá thành phân bước theo phương án hạch toán có bán thành phẩm. - Điều kiện áp dụng: Phương án hạch toán này thường được áp dụng ở các doanh nghiệp có yêu cầu hạch toán nội bộ cao hoặc bán thành phẩm bán ra ngoài. - Trình tự tính toán: Khi tập hợp chi phí sản xuất của các giai đoạn công nghệ, giá trị bán thành phẩm của các bước trước chuyển sang bước sau được tính theo giá thành thực tế và được phản ánh theo từng khoản mục cho đến bước cuối cùng tính ra giá thành thành phẩm nên còn gọi là kết chuyển tuần tự. (Mỗi công đoạn sản phẩm đều được tính giá thành theo phương pháp giản đơn trên cơ sở số liệu về chi phí sản xuất tập hợp được ở những tài khoản kế toán chi tiết trong từng công đoạn. Bán thành phẩm công đoạn trước kết chuyển sang công đoạn sau tuần tự đến giai đoạn cuối cùng. Nếu kết chuyển từ công đoạn nọ sang công đoạn kia là bán thành phẩm (gọi là kết chuyển tuần tự tổng hợp) thì đến công đoạn thành phẩm phải hoàn nguyên chi phía sản xuất cấu thành bán thành phẩm ở các công đoạn mới tính giá thành sản xuất của thành phẩm theo khoản mục giá thành. Nếu kết chuyển bán thành phẩm từ công đoạn SV: Trần Thị Thanh Huyền, BH182914 8 Đề án chuyên ngành GVHD: Cô Hà Phương Dung nọ sang công đoạn kia theo các khoản mục chi phí cấu thành giá (gọi là kết chuyển tuần tự từng khoản mục ) thì đến công đoạn cuối tính ngay được giá thành sản xuất của thành phẩm theo khoản mục. - Ưu điểm: Kế toán có thể tính được giá thành nửa thành phẩm tự chế ở mỗi giai đoạn công nghệ sản xuất, điều này thuận tiện cho việc tính toán kinh tế có hiệu quả ở từng giai đoạn phân xưởng, tổ sản xuất. Mặt khác, khi có nửa thành phẩm bán ra ngoài, doanh nghiệp có cơ sở để tính giá vốn hàng bán, quyết định giá bán và xác định kết quả kinh doanh. - Nhược điểm: Phạm vi áp dụng hẹp. 3.3.4.2. Tính giá thành phân bước theo phương án không có bán thành phẩm. - Điều kiện áp dụng: Sử dụng cho các doanh nghiệp chế biến phức tạp, liên tục và đối tượng tính giá thành là sản phẩm hoàn thành ở bước công nghệ cuối cùng - Trình tự tính toán: Theo phương án này, kế toán không cần tính đến giá thành bán thành phẩm hoàn thành trong từng giai đoạn mà chỉ tính giá thành thành phẩm hoàn thành bằng cách tổng, hợp chi phí nguyên vật liệu chính và các chi phí chế biến khác trong các giai đoạn công nghệ . Công đoạn 1 Công đoạn 2 Công đoạn hoàn tất - Ưu điểm: Tính giá thành nhanh, chính xác. - Nhược điểm: Do không tính giá thành nửa thành phẩm ở từng giai đoạn công nghệ nên không phân tích được hiệu quả sản xuất kinh doanh, không có được số liệu để kế toán nửa thành phẩm trong trường hợp có sản phẩm nhập kho. 3.3.5. Doanh nghiệp có tổ chức bộ phận sản xuất- kinh doanh phụ. Sản xuất phụ là ngành được tổ chức ra để phục vụ cho sản xuất, kinh doanh chính. Sản phẩm. Phương pháp tính giá thành sản phẩm, lao vụ của sản xuất kinh doanh phụ tuỳ thuộc vào đặc điểm công nghệ và mối quan hệ giữa các bộ phận sản xuất phụ trong doanh nghiệp, cụ thể là: - Trường hợp không có sự phục vụ lẫn nhau giữa các bộ phận sản xuất, kinh doanh phụ hoặc giá trị và khối lượng phục vụ không đáng kể. Chi phí sản xuất sẽ được tập hợp riêng theo từng bộ phận, từng hoạt động sản xuất kinh doanh phụ. Giá thành sản phẩm, lao vụ của từng bộ phận được tính theo từng phương pháp trực tiếp . - Trường hợp có sự phục vụ lẫn nhau đáng kể giữa các bộ phận sản xuất, kinh doanh phụ. Với các doanh nghiệp có tổ chức nhiều bộ phận sản xuất kinh doanh phụ và giữa chúng có sự phục vụ lẫn nhau thì có thể áp dụng một trong các phương pháp khác tính giá thành sau đây: - Phương pháp đại số: là phương pháp xây dựng và giải các phương trình đại số để tính giá thành sản phẩm, lao vụ của sản xuất -kinh doanh phụ phục vụ các đối tượng. - Phương pháp phân bổ lẫn nhau theo giá thành ban đầu : Theo phương pháp này trước hết tính giá thành đơn vị ban đầu của từng bộ phận sản xuất kinh doanh phụ và xác định giá trị phục vụ lẫn nhau giữa chúng. Tiếp theo, xác định giá trị sản phẩm, lao vụ của sản xuất phụ phục vụ cho các bộ phận khác theo giá thành đơn vị mới. SV: Trần Thị Thanh Huyền, BH182914 9 Đề án chuyên ngành Giá Tổng chi phí thành ban đầu = đơn vị Sản lượng mới ban đầu + - Giá trị lao vụ nhận của phân xưởng sản xuất phụ khác GVHD: Cô Hà Phương Dung Giá trị lao vụ phục vụ cho phân xưởng sản xuất phụ khác Sản lượng phục vụ phân xưởng sản xuất phụ khác và tiêu dùng nội bộ (nếu có) - Phương pháp phân bổ lẫn nhau theo giá thành kế hoạch: Trình tự tính giá thành tương tự như phương pháp trên, chỉ khác thay giá thành đơn vị ban đầu bằng giá thành đơn vị kế hoạch để tính giá trị phục vụ giữa các phân xưởng sản xuất - kinh doanh phụ. Tiếp theo xác định giá trị phục vụ cho các đối tượng khác theo giá thành đơn vị mới. 4.Các phương pháp đánh giá lại sản phẩm dở dang. Các doanh nghiệp sản xuất liên tục, sản phẩm của doanh nghiệp từ kỳ này sang kỳ khác thì cuối kỳ có sản phẩm dở dang trong dây chuyền sản xuất của doanh nghiệp.Vì vậy, muốn tính được giá thành sản xuất của thành phẩm sản xuất được trong kỳ thì cuối kỳ phải tiến hành kiểm kê, đánh giá sản phẩm dở dang chuyển sang kỳ sau. Sản phẩm dở dang do doanh nghiệp tự kiểm kê đánh giá có thể sử dụng các cách đánh giá sản phẩm dở dang sau: 4.1. Đánh giá sản phẩm dở dang theo chi phí nguyên vật liệu trực tiếp. - Điều kiện áp dụng: Cách tính này sử dụng chủ yếu trong trường hợp nguyên vật liệu đã vào sản xuất một lần, ngay từ công đoạn sản xuất đầu tiên. Chi phí nguyên vật liệu chiếm tỉ trọng lớn trong giá thành sản phẩm, khối lượng sản phẩm dở dang cuối kỳ ít và biến động không lớn so với đầu kỳ - Trình tự tính toán: Trị giá sản phẩm dở dang cuối kỳ được tính như sau: CPSP dở dang cuối kỳ CPSP dở dang đầu kỳ = (khoản mục NVLTT) + Số lượng SP hoàn thành + trong kỳ Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp phát sinh trong kỳ Số lượng SP dở dang cuối kỳ Số lượng x SP dở dang cuối kỳ - Ưu điểm: Phương pháp này tính toán đơn giản, dễ làm, xác định chi phí sản phẩm dở dang cuối kỳ được kịp thời, phục vụ cho việc tính giá thành sản phẩm được nhanh chóng. - Nhược điểm: Độ chính xác không cao vì không tính đến các chi phí chế biến khác. 4.2.Đánh giá khối lượng sản phẩm dở dang theo khối lượng sản phẩm hoàn thành tương đương . - Điều kiện áp dụng: Theo phương pháp này căn cứ vào mức độ hoàn thành và số lượng sản phẩm dở dang để quy sản phẩm dở dang thành sản phẩm hoàn thành. Tiêu chuẩn quy đổi thường dựa vào giờ công hoặc tiền lương định mức. Để đảm bảo tính chính xác của việc đánh giá, phương pháp này chỉ nên áp dụng để tính các chi phí chế biến (Chi phí nhân công trực tiếp, chi phí sản xuất chung) còn các chi phí nguyên vật liệu chính phải xác định theo số thực tế đã dùng. - Trình tự tính toán SV: Trần Thị Thanh Huyền, BH182914 10 Đề án chuyên ngành Giá trị NVL chính nằm = trong sp dở dang GVHD: Cô Hà Phương Dung Toàn bộ giá trị VL chính xuất dùng Số lượng Số lượng thành Số lượng dở x SP dở dang cuối + phẩm dang kỳ(không quy đổi) - Ưu điểm: Phương pháp này tính toán chính xác và khoa học hơn phương pháp trên. - Nhược điểm: Khối lượng tính toán nhiều, việc đánh giá mức độ chế biến hoàn thành của sản phẩm dở dang khá phức tạp và mang tính chủ quan. 4.3. Xác định giá trị sản phẩm dở dang theo 50% chi phí chế biến Thực chất đây là một dạng của phương pháp ước tính theo sản lượng hoàn thành tương đương trong đó giả định sản phẩm dở dang đã hoàn thành ở mức độ 50% so với thành phẩm: Giá trị sp dở dang chưa hoàn thành = Giá trị NVL chính nằm trong sp dở + dang 50% chi phí chế biến - Ưu điểm: Phương pháp này tính toán chính xác và khoa học. - Nhược điểm: Khối lượng tính toán nhiều, việc đánh giá mức độ chế biến hoàn thành của sản phẩm dở dang khá phức tạp và mang tính chủ quan. 4.4. Xác định giá trị sản phẩm dở dang theo định mức : - Điều kiện áp dụng: Phương pháp này chỉ áp dụng thích hợp với những doanh nghiệp có quy trình công nghệ sản xuất sản phẩm ổn định, đã xây dựng được các định mức kinh tế kỹ thuật tương đối hợp lý và các định mức đã thực hiện có nề nếp thường xuyên, việc tổ chức hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm có trình độ nghiệp vụ vững vàng, chế độ hạch toán ban đầu có nề nếp chặt chẽ. Đặc điểm nổi bật của phương pháp này là thực hiện được việc kiểm tra thường xuyên, kịp thời việc thực hiện các định mức chi phí để phát hiện ra các khoản chi phí vượt định mức (là những chi phí chênh lệch so với định mức đã đề ra)  Nội dung chủ yếu của phương pháp này: + Căn cứ vào định mức kinh tế kỹ thuật và dự toán chi phí đã được duyệt để tính ra giá thành định mức của sản phẩm. + Phải hạch toán riêng chi phí sản xuất phù hợp với định mức và số chênh lệch thoát ly định mức. + Khi có thay đổi định mức phải tính lại giá thành định mức và số chênh lệch do thay đổi định mức của sản phẩm làm dở. - Trình tự tính toán: Trên cơ sở của giá thành định mức số chênh lệch do thay đổi định mức, số chênh lệch do thoát ly định mức sẽ tính được giá thành thực tế của sản phẩm theo công thức: Giá thành thực tế sản phẩm = Giá thành định mức x Chênh lệch do thay đổi định mức x Chênh lệch do thoát ly định mức - Ưu điểm: Tính toán nhanh chóng, thuận tiện, đáp ứng yêu cầu thông tin tại mọi thời điểm. SV: Trần Thị Thanh Huyền, BH182914 11 Đề án chuyên ngành GVHD: Cô Hà Phương Dung - Nhược điểm: Độ chính xác của kết quả tính toán không cao, khó áp dụng vì thông thường khó xác định được định mức chuẩn xác. Ngoài ra trên thực tế, nguời ta còn áp dụng các phương pháp khác để xác định giá trị sản phẩm dở dang như phương pháp thống kê kinh nghiệm, phương pháp tính theo chi phí vật liệu chính và vật liệu phụ nằm trong sản phẩm dở dang v.v… 5. Kế toán tính giá thành. Theo chế độ kế toán hiện hành việc sử dụng các tài khoản kế toán để tổng hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản xuất của sản phẩm phụ thuộc vào doanh nghiệp sử dụng phương pháp kê khai thường xuyên hay phương pháp kiểm kê định kỳ hàng tồn kho. Sự khác nhau về sử dụng tài khoản kế toán và trình tự ghi chép kế toán được khái quát như sau: 5.1. Phương pháp kê khai thường xuyên. Sau khi đã hạch toán và phân bổ các loại chi phí sản xuất, cuối cùng, các chi phí đó phải được tổng hợp lại để tính giá thành sản phẩm. Tài khoản sử dụng để tập hợp chi phí sản xuất là Tài khoản 154 – Chi phí sản xuất kinh doanh dở dang. Nội dung tài khoản: Bên Nợ: Tập hợp chi phí sản xuất trong kỳ Bên Có: - Các khoản giảm chi phí sản xuất sản phẩm - Tổng giá thành thực tế hay chi phí trực tiếp của sản phẩm hoàn thành Dư Nợ: Chi phí thực tế của sản phẩm chưa hoàn thành Tài khoản 154 được mở chi tiết theo từng nơi phát sinh chi phí hay từng loại sản phẩm của các bộ phận sản xuất Phương pháp hạch toán được thể hiện qua sơ đồ sau: TK 621 TK 154 TK 155 Chi phí NVL trực tiếp Giá thành thành phẩm nhập kho SV: Trần Thị Thanh Huyền, BH182914 12 Đề án chuyên ngành GVHD: Cô Hà Phương Dung TK 622 TK 157 Chi phí nhân công trực tiếp Giá thành sản phẩm gửi bán TK 627 TK632 Chi phí sản xuất chung Giá thành sản phẩm hoàn thành tiêu thụ 5.2 Phương pháp kiểm kê định kỳ Để tổng hợp chi phí sản xuất trong trường hợp doanh nghiệp áp dụng phương pháp kiểm kê định kỳ, kế toán sử dụng Tài khoản 631 – Giá thành sản xuất. Nội dung Tài khoản: Bên Nợ: Phản ánh trị giá sản phẩm dở dang đầu kỳ và các chi phí phát sinh trong kỳ liên quan đến chế tạo sản phẩm Bên Có: - Kết chuyển giá trị sản phẩm dở dang cuối kỳ - Tổng giá thành sản phẩm hoàn thành Tài khoản 631 cuối kỳ không có số dư và được chi tiết theo địa điểm phát sinh chi phí, theo loại sản phẩm và bộ phận sản xuất. Trình tự kế toán được thể hiện trong sơ đồ sau: TK 154 TK 631 Chi phí sản xuất dở dang đầu kỳ SV: Trần Thị Thanh Huyền, BH182914 13 Đề án chuyên ngành GVHD: Cô Hà Phương Dung TK 621 TK 632 Chi phí nguyên vật liệu TT Sản phẩm hoàn thành Giá thành thực tế thành phẩm nhập kho TK 622 Chi phí nhân công TT TK 627 Chi phí sản xuất chung 6. Lập bảng tính giá thành sản xuất của sản phẩm. - Bảng tính giá thành sản xuất của sản phẩm là phương tiện để kế toán ghi chép, phản ánh việc tính giá thành (chứng từ nghiệp vụ nội sinh) đồng thời là phương tiện cung cấp thông tin về sản lượng sản xuất và giá thành sản xuất của sản phẩm đã sản xuất được phục vụ cho yêu cầu quản lý sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. - Bảng tính giá thành sản xuất của sản phẩm nhằm phản ánh được kết quả sản xuất và tình hình thực hiện kế hoạch giá thành nên đòi hỏi kế toán phải lập các bảng tính giá thành cho từng loại sản phẩm sản xuất và các khoản mục giá thành (các khoản mục chi phí cấu thành giá) đã xác định hoặc quy định, thể hiện khi xây dựng kế hoạch giá thành. - Căn cứ để lập bảng tính giá thành sản xuất của sản phẩm: muốn lập được các bảng tính giá thành kế toán phải căn cứ vào Biên bản kiêm kê, đánh giá sản phẩm dở dang cuối kỳ đã kiểm kê đánh giá được. Trong biên bản kiểm kê phải ghi rõ chi phí cấu thành giá của sản phẩm dở dang đã tính được và căn cứ vào sổ chi tiết của chi phí SX phát sinh trong kỳ. - Bảng tính giá thành SX của toàn bộ thành phẩm sản xuất được trong tháng chỉ phản ánh tổng giá thành sản xuất thực tế của toàn bộ thành phẩm sản xuất được trong kỳ, số liệu trong bảng hoàn toàn phù hợp với số liệu ở tài khoản tính giá thành trên sổ kế toán doanh nghiệp. - Bảng tính giá thành của nhóm sản phẩm cùng loại chỉ phản ánh tổng giá thành sản xuất thực tế của nhóm sản phẩm cùng loại đã sản xuất được trong kỳ theo các khoản mục chi phí cấu thành giá, phản ánh được tỷ trọng của từng khoản mục chi phí cấu thành giá. Trong bảng tính giá thành này số liệu phải phù hợp với số liệu trên các tài khoản chi tiết của tài khoản giá thành (chi tiết TK154) . -Trong trường hợp này khi cần tính tổng giá thành sản xuất và giá thành đơn vị của từng loại sản phẩm trong nhóm đã sản xuất được trong kỳ kế toán sử dụng phương pháp toán (phương SV: Trần Thị Thanh Huyền, BH182914 14 Đề án chuyên ngành GVHD: Cô Hà Phương Dung pháp hệ số, phương pháp tỷ lệ ) để tính và lập được bảng tính giá thành sản xuất của từng loại sản phẩm. Các khoản mục chi phí cấu thành giá có tỷ trọng tương ứng với tỷ trọng các khoản mục chi phí cấu thành giá của nhóm sản phẩm cùng loại. - Bảng tính giá thành sản xuất của sản phẩm sản xuất được trong kỳ, được lập trên cơ sở tổng hợp số liệu ở các sổ chi tiết tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành mở cho loại sản phẩm này. Mẫu bảng tính giá thành như sau: BẢNG TÍNH GIÁ THÀNH SẢN XUẤT CỦA SẢN PHẨM. Tháng…..năm…… Tên sản phẩm, dịch vụ:………. Chỉ tiêu Tổng số tiền A 1. CP SXKD DD đầu kỳ 2. CP SXKD FS trong kỳ 3.Giá thành SP, DV trong kỳ 4. CP SXKD DD cuối kỳ 1 VL chín h 2 Chia ra theo khoản mục VL Tiền … … … phụ lương 3 4 5 6 … …. . 7 8 9 Ngày....tháng....năm... Người lập Kế toán trưởng (Ký, họ tên) (Ký, họ tên) Chương II : Hoàn thiện hệ thống phương pháp tính giá thành trong các doanh nghiệp sản xuất. I. ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG VẬN DỤNG CÁC PHƯƠNG PHÁP TÍNH GIÁ THÀNH HIỆN NAY TRONG CÁC DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT. Trong nền kinh tế thị trường, giá thành sản phẩm là một chỉ tiêu kinh tế tổng hợp, phản ánh chất lượng của sản xuất kinh doanh. Là cơ sở để xác định giá bán, tính trị giá vốn của SV: Trần Thị Thanh Huyền, BH182914 15 Đề án chuyên ngành GVHD: Cô Hà Phương Dung hàng bán và xác định kết quả sản xuất kinh doanh.Qua khảo sát thực tế ở một số doanh nghiệp sản xuất, các doanh nghiệp hiện nay có những ưu điểm sau: - Nhìn chung quá trình tính giá thành sản phẩm đã có những tiến bộ phù hợp với đặc điểm kinh doanh của từng doanh nghiệp và chấp hành chế độ, chính sách thể lệ về tài chính kế toán của Nhà nước. Các doanh nghiệp đều tôn trọng nguyên tắc giá phí trong việc xác định giá trị của các đối tượng cần tính giá; trị giá vốn thực tế của hàng xuất kho được tính toán theo các phương pháp chuẩn phù hợp với thực tế của đơn vị, đảm bảo nguyên tắc nhất quán quy định trong chế độ kế toán hiện hành. Đặc biệt giá thành sản phẩm đều được tính theo các khoản mục chi phí quy định trong chế độ kế toán bao gồm: chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp, chi phí sản xuất chung. Việc tổ chức công tác tính giá cho các đối tượng cần tính giá theo các yếu tố cấu thành giá mà các doanh nghiệp đang thực hiện là rất tốt, phù hợp. - Giá thành đã được tính toán một cách cụ thể chi tiết phục vụ cho yêu cầu quản trị của các doanh nghiệp và xác định kết quả kinh doanh đối với từng nghiệp vụ. - Đối tượng tính giá thành, kỳ tính giá thành được xác định một cách đứng đắn phù hợp với đặc điểm tổ chức quản lý kinh doanh của ngành và từng doanh nghiệp phù hợp chu kỳ sản xuất sản phẩm dịch vụ hoàn thành bởi mỗi doanh nghiệp đều nhận thức được vai trò quan trọng của công tác xác định đối tượng tính giá, kỳ tính giá đối với tổ chức kế toán tính giá thành sản phẩm dịch vụ. Ngoài ra việc vận dụng các phương pháp tính giá thành trong các doanh nghiệp rất linh hoạt , phù hợp với từng loại hình sản xuất kinh doanh. - Hệ thống sổ sách kế toán được mở tương đối đầy đủ và phù hợp với việc ghi chép thờng xuyên đúng quy định hạch toán tạo điều kiện thuận lợi cho công tác kế toán trong việc đối chiếu. Bên cạnh những ưu điểm nói trên do tính chất phức tạp và đặc điểm, đặc thù kinh doanh của từng ngành nên quá trình kế toán tính giá thành cũng không tránh khỏi những tồn tại: - Việc sử dụng các tài khoản kế toán để tính giá thành sản phẩm dịch vụ còn mang tính gượng ép của hệ thống kế toán hiện hành, còn chưa phù hợp với đặc điểm của từng ngành, từng loại hình kinh doanh. - Trong quá trình tập hợp chi phí còn chưa thật đầy đủ và chưa thật chính xác do vậy nó có ảnh hưởng rất lớn tới việc cung cấp thông tin và tính giá thành cho từng loại sản phẩm là chưa chính xác. Những hạn chế này tồn tại chủ yếu là do: + Hệ thống kế toán mới ban hành và sửa đổi còn phải trải qua một quá trình nghiên cứu, thử nghiệm mới có thể dần dần đi vào nề nếp ổn định. + Trình độ tổ chức quản lý, trình độ kế toán trong các doanh nghiệp còn nhiều hạn chế và không đồng đều. SV: Trần Thị Thanh Huyền, BH182914 16 Đề án chuyên ngành GVHD: Cô Hà Phương Dung II. THAM KHẢO THÊM PHƯƠNG PHÁP « CHI PHÍ HOẠT ĐỘNG VÀ KINH NGHIỆM VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP «CHI PHÍ MỤC TIÊU » Ở NHẬT BẢN. Kế toán chi phí và tính giá thành sản phẩm truyền thống dựa trên các khái niệm đơn giản như chi phí trực tiếp/chi phí gián tiếp; chi phí cố định/chi phí biến đổi; chi phí định mức/chi phí thực tế. Cách phân chia chi phí này được sử dụng nhằm phục vụ cho việc ra quyết định như xác định kết quả theo sản phẩm hoặc quản trị hàng tồn kho. Sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ, của môi trường kinh tế, tổ chức sản xuất và quản lý trong những năm gần đây đã ảnh hưởng đáng kể các phương pháp kế toán chi phí truyền thống ở các nước trên thế giới và Việt Nam có lẽ cũng không nằm ngoài trào lưu đó mặc dù mức độ ảnh hưởng có nhiều khác biệt. Thật vậy, sự tiến triển của môi trường đã làm thay đổi điều kiện và yếu tố sản xuất: - Trừ nguyên vật liệu, biến phí trực tiếp với khối lượng sản xuất hoặc tiêu thụ càng ngày càng giảm; - Trong nhiều trường hợp, việc phân loại chi phí thành chi phí trực tiếp và chi phí gián tiếp là tương đối khó khăn đối với một doanh nghiệp sản xuất khi mà doanh nghiệp phân chia quá trình sản xuất thành nhiều giai đoạn có mức độ độc lập cao; - Khái niệm chi phí định mức chỉ có giá trị trong một môi trường tương đối ổn định. Trong môi trường được gọi là “biến động không ngừng” như hiện nay, việc điều chỉnh định mức sẽ diễn ra liên tục. Thực tế này dẫn đến sự xem xét lại thường xuyên định mức chi phí. Như vậy, những lý do trên đây giải thích sự tiến triển của kế toán chi phí từ phương pháp truyền thống thành những phương pháp hiện đại, được biết là phương pháp chi phí theo hoạt động (Activity Based Costing, viết tắt là ABC), phương pháp chi phí mục tiêu (target costing). Các phương pháp kế toán mới này được ứng dụng phổ biến ở những nước có công nghệ phát triển cao như Mỹ, Nhật, Canada. Ngay cả các nước đang phát triển như Trung Quốc cũng bắt đầu ứng dụng các phương pháp này. Hai phương pháp trên đây chưa được biết nhiều ở Việt Nam, nơi mà môi trường kinh tế chưa phát triển và công nghệ sản xuất còn thấp. Tuy nhiên, điều này không thể nói là các phương pháp mới này không được vận dụng ở các doanh nghiệp trong tương lai gần, đặc biệt là các doanh nghiệp liên doanh với nước ngoài. 2.1. Phương pháp “chi phí hoạt động” ( hay còn gọi là phương pháp ABC) Khác với phương pháp truyền thống, phương pháp ABC tập hợp toàn bộ chi phí gián tiếp trong quá trình sản xuất được tập hợp trên các tài khoản chi phí chung của kế toán tài chính, sau đó phân bổ các chi phí theo hoạt động này vào từng sản phẩm, dịch vụ tạo ra hoạt động đó theo các tiêu thức phân bổ thích hợp như: số giờ máy hoạt dộng, số giờ công lao động trực tiếp… Khoản chi phí gián tiếp này được phân bổ vào giá thành sản xuất cùng với chi phí nguyên vật liệu trực tiếp và chi phí nhân công trực tiếp. Các chi phí khác như: chi phí bán hang, chi phí quản lý doanh nghiệp được coi như chi phí thời kỳ không phân bổ cho sản phẩm hoặc được phân bổ cho sản phẩm theo thời gian lao động của công nhân trực tiếp hoặc chi phí nhân công trực tiếp. Nếu phân bổ ta sẽ có chỉ tiêu giá thành toàn bộ. Phương pháp ABC có thể được trình bày như sau: SV: Trần Thị Thanh Huyền, BH182914 17 Đề án chuyên ngành GVHD: Cô Hà Phương Dung HỌAT ĐỘNG -> CHI PHÍ CỦA HỌAT ĐỘNG -> SẢN PHẨM DỊCH VỤ Các bước thực hiện của phương pháp ABC - Thứ nhất, nghiên cứu các hoạt động tạo ra chi phí tại mỗi trung tâm chi phí, lập danh sách các hoạt động khác nhau. Sau đó, chi phí tại mỗi trung tâm sẽ được phân bổ cho mỗi hoạt động có quan hệ trực tiếp với hoạt động được phân bổ. - Thứ hai, trong từng loại hoạt động, cần xác định các tiêu chuẩn đo lường sự thay đổi của mức sử dụng chi phí. Các tiêu chuẩn này được xem là tiêu chuẩn phân bổ chi phí cho mỗi loại sản phẩm, dịch vụ hay các đối tượng chịu chi phí. Các tiêu chuẩn thường sử dụng để phân bổ là: số giờ lao động trực tiếp của công nhân, tiền lương công nhân trực tiếp, số đơn đặt hang, số đơn vị vận chuyển… - Thứ ba, các hoạt động có cùng tiêu chuẩn phân bổ phải được tập hợp tiếp tục vào một “trung tâm phân nhóm”. Tuỳ theo tính chất kỹ thuật của sản phẩm, dịch vụ hay đối tượng chịu chi phí mà tiếp tục phân thành các nhóm nhỏ để tính giá thành. Như vậy, có thể nói rằng, phương pháp ABC có thể biến một chi phí gián tiếp thành một chi phí trực tiếp với một đối tượng tạo lập chi phí xác định. Việc lựa chọn các hoạt động và tiêu chuẩn phân bổ chi phí hợp lý giúp các nhà quản trị doanh nghiệp có được những báo cáo về giá thành sản phẩm, dịch vụ với độ tin cậy cao hơn nhiều so với phương pháp truyền thống. Tóm lại, phương pháp kế toán chi phí dựa trên các hoạt động đã cải tiến các hệ thống xác định chi phí của một doanh nghiệp, đó là: - Phương pháp xác định chi phí này làm thay đổi căn cứ để phân bổ các chi phí chung cho các sản phẩm. Hay nói đúng hơn là thay vì các chi phí được phân bổ theo lao động trực tiếp thì chúng được phân bổ theo các phần của các nhân tố nguyên nhân được dung cho sản phẩm hoặc công việc đòi hỏi. - Phương pháp xác định này thay đổi về bản chất rất nhiều loại chi phí sản xuất chung ở chỗ là những chi phí này được xem là có bản chất gián tiếp nhưng nay được gắn liền với các hoạt động riêng biệt và do vậy được tính trực tiếp vào từng sản phẩm. Tuy nhiên, phương pháp ABC khá phức tạp và tốn nhiều công sức hơn phương pháp truyền thống. Song, với khoa học công nghệ thông tin phát triển như hiện nay đã làm giảm nhiều thời gian, công sức cho việc áp dụng phương pháp này. Do vậy, phương pháp kế toán chi phí dựa trên hoạt động sẽ là tất yếu để các nhà quản trị doanh nghiệp vận dụng. 2.2 Phương pháp « chi phí mục tiêu » 2.2.1. Nội dung phương pháp Phương pháp chi phí mục tiêu có nguồn gốc từ Nhật Bản. Phương pháp này đã được áp dụng kể từ sau năm 1980 bởi các công ty lớn như Toyota, NEC, Sony và Nissan. Một tổ chức quốc tế được thành lập do một số các tập đoàn công nghiệp lớn, gọi là Consortium for Avanced Management-International (gọi tắt là CAM-I), để phát triển các phương pháp kế toán quản trị hiện đại đã định nghĩa về chi phí mục tiêu như sau: “Phương pháp chi phí mục tiêu là SV: Trần Thị Thanh Huyền, BH182914 18 Đề án chuyên ngành GVHD: Cô Hà Phương Dung tổng thể các phương pháp, công cụ quản trị cho phép đạt được mục tiêu chi phí và mục tiêu hoạt động ở giai đoạn thiết kế và kế hoạch hóa sản phẩm mới. Phương pháp cũng cho phép cung cấp một cơ sở kiểm soát ở giai đoạn sản xuất và bảo đảm các sản phẩm này đạt được mục tiêu lợi nhuận đã được xác định phù hợp với chu kỳ sống của sản phẩm” Một điểm lưu ý trong định nghĩa này là chi phí mục tiêu liên quan đến khả năng lợi nhuận của sản phẩm gắn với chu kỳ sống sản phẩm, một cách tiếp cận khác biệt với các phương pháp truyền thống. Theo Takao Tanaka (1993), “phương pháp chi phí mục tiêu là các nổ lực được thực hiện trong các giai đoạn kế hoạch hóa và sản xuất sản phẩm nhằm đạt được mục tiêu chi phí đã được xác lập... mục tiêu là cho phép sản xuất ra các sản phẩm với mục tiêu lợi nhuận trong suốt chu kỳ sống của sản phẩm”. Định nghĩa của Takao cho thấy, chi phí mục tiêu là một công cụ quản trị theo mục tiêu lợi nhuận có chú ý đến chu kỳ sống của sản phẩm. Như vậy, định nghĩa về phương pháp chi phí mục tiêu nhấn mạnh mục tiêu cần phải đạt được và thời gian phân tích là chu kỳ sống của sản phẩm. Điều này làm cho phương pháp chi phí mục tiêu khác với phương pháp chi phí theo định mức truyền thống. Từ đó chi phí mục tiêu trở thành một công cụ quản trị chi phí mà nhà hoạch định chính sách hoạt động sử dụng trong các giai đoạn thiết kế và sản xuất để cải tiến quá trình sản xuất, giảm chi phí sản xuất trong tương lai (Kaplan và Atkinson, 1998) Phương pháp chi phí mục tiêu được bắt đầu bằng việc ước tính giá bán của sản phẩm. Giá bán ước tính dựa vào công dụng và thuộc tính của sản phẩm, các đối thủ cạnh tranh trên thị trường. Trên cơ sở lợi nhuận mong đợi, doanh nghiệp phải xác định chi phí sản xuất và tiêu thụ có thể chấp nhận để tiến hành sản xuất sản phẩm. Chi phí mục tiêu được xác lập dựa vào chi phí có thể chấp nhận và chi phí ước tính theo các điều kiện sản xuất hiện có của doanh nghiệp. Mỗi giai đoạn phát triển sản phẩm sẽ được đánh giá nhằm đạt được mục tiêu chi phí đã xác định. Việc đánh giá này dựa trên phân tích giá trị nhằm đánh giá việc thiết kế sản phẩm và nhận diện các cơ hội có thể cải tiến giá trị của sản phẩm. Ba giai đoạn thực hiện phương pháp chi phí mục tiêu 1) Xác định chi phí mục tiêu theo các bộ phận sản phẩm sản xuất Chi phí mục tiêu phải được xác định theo từng bộ phận cấu thành sản phẩm. Việc xác định chi phí cho các thành phần này phải dựa vào mức độ quan trọng khác nhau về vai trò của các thành phần đối với sản phẩm, và từ đó xác định tỷ lệ chi phí của từng thành phần trong tổng số chi phí của sản phẩm theo tỷ lệ thuận với mức độ quan trọng của nó. Lấy ví dụ sản phẩm đồng hồ báo thức làm minh họa. Nhà quản trị phải xem xét tầm quan trọng (thông qua cho điểm) của mỗi một trong các ưu tiên sau để quyết định phân bổ chi phí: tính chính xác, mẫu mã, hoạt động yên lặng, chuông báo thức, độ bền vững. 2) Tổ chức thực hiện các mục tiêu chi phí đã xác định SV: Trần Thị Thanh Huyền, BH182914 19 Đề án chuyên ngành GVHD: Cô Hà Phương Dung Giai đoạn đầu liên quan đến quá trình phân tích. Giai đoạn thứ hai này liên quan đến tổ chức thực hiện. Quá trình thực hiện chi phí sản xuất cần phải phát hiện những thành phần của sản phẩm có chi phí quá cao so với tầm quan trọng được xác định ở bước thứ nhất. Quá trình sản xuất những bộ phận này phải được điều chỉnh, áp dụng các nguyên tắc và phương pháp quản lý nghiêm ngặt để giảm chi phí sản xuất. Bên cạnh đó, ở giai đoạn này cũng cần phát hiện các thành phần của sản phẩm có chi phí quá thấp so với tầm quan trọng của nó. Việc sản xuất các thành phần này cũng được điều chỉnh cho phù hợp với tầm quan trọng của nó trong sản phẩm sản xuất. 3) Đánh giá kết quả Thực hiện quá trình sản xuất theo phương pháp chi phí mục tiêu có thể dẫn đến một trong ba trường hợp sau: - Chi phí thực tế đạt đến chi phí trần: cần phải dừng lại các hoạt động ở giai đoạn hai vì sản phẩm sản xuất không mang lại lợi nhuận. - Chưa đạt đến chi phí trần nhưng đạt đến chi phí mục tiêu: trong trường hợp này, cần xem xét lại giai đoạn một và giai đoạn hai. Phải xem xét kỹ quá trình phác họa sản phẩm đã hợp lý chưa hoặc xem xét lại các bước trong giai đoạn sản xuất để giảm chi phí. Ví dụ các phương pháp có thể được vận dụng ở giai đoạn sản xuất nhằm làm cho chi phí thực tế nhỏ hơn chi phí mục tiêu o Kế hoạch hóa tốt hơn quá trình chế tạo sản phẩm; o Lựa chọn đầu tư hợp lý; o Lựa chọn công nghệ phù hợp mang lại hiệu suất cao; o Vận dụng hệ thống sản suất “kịp thời” (Just-in time) để loại trừ các chi phí phát sinh do chờ đợi các yếu tố sản xuất, chờ đợi một giai đoạn nào đó hoặc do dự trữ quá cao. o Hệ thống quản trị chất lượng tổng thể để tránh lãng phí chi phí. 2.2.2 Thực tế vận dụng Phương pháp ở Nhật Bản Phương pháp chi phí mục tiêu mang lại nhiều ích lợi cho hệ thống quản trị chi phí. Điều này được minh chứng qua số liệu về ứng dụng phương pháp này ở các doanh nghiệp Nhật Bản theo một nghiên cứu vào năm 1992. Lĩnh vực công nghiệp Công nghiệp ô tô Công nghiệp điện tử Sản xuất máy công cụ Thiết bị chính xác Sản phẩm hóa học, dược phẩm Thực phẩm SV: Trần Thị Thanh Huyền, BH182914 % Công ty áp dụng Phương pháp 100 88,5 82,5 75 31,3 28,6 20
- Xem thêm -